1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo thực tế (sửa)

16 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 32,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tinh cấp thiết của đề tài Tổ chức Hội Nông dân có vị trí, vai trò rất quan trọng, là nơi rèn luyện, giáo dục, kết nạp hội viên, là cầu nối giữa Đảng với nông dân; nơi tuyên truyền vận động nông dân thực hiện các phong trào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa phương. Tổ chức các hoạt động hỗ trợ, tư vấn, dịch vụ giúp nông dân phát triển sản xuất, tuyên truyền các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới áp dụng trong sản xuất, tạo việc làm tăng thu nhập, chăm lo đời sống vật chất tinh thần của hội viên nông dân; nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng chính đáng của hội viên, nông dân với Đảng, chính quyền. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, hoạt động Hội và phong trào nông dân huyện Văn Bàn những năm qua có những tiến bộ nhất định, đã thu hút đông đảo nông dân vào công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng trên địa bàn huyện. Hội Nông dân từ huyện đến cơ sở đã thực hiện chủ trương đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, hướng về cơ sở, lấy cơ sở là trung tâm nòng cốt để thực hiện các phong trào của Hội, chú trọng củng cố, kiện toàn Hội cả về số lượng và chất lượng, tăng cường các hoạt động hỗ trợ để nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh như đẩy mạnh hoạt động tư vấn, hỗ trợ, giúp đỡ nông dân về vốn, giống, vật tư nông nghiệp, khoa học kỹ thuật, tổ chức dạy nghề, cung ứng vật tư nông nghiệ. Các phong trào thi đua trong nông dân như phong trào nông dân SXKD giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững, phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn ... Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vai trò của Hội Nông dân vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu trong việc vận động nông dân phát triển kinh tế, hoạt động Hội và phong trào nông dân ở Văn Bàn nhiều nơi còn mang tính hình thức, chất lượng hội viên chưa cao, vị trí vai trò của tổ chức cơ sở Hội nhiều nơi chưa được khẳng định rõ ràng; chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng còn hạn chế, kém hiệu quả; nội dung sinh hoạt còn nghèo nàn, thiếu hấp dẫn… Xuất phát từ những yêu cầu trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Vai trò của Hội Nông dân trong vận động hội viên phát triển kinh tế, tạo việc làm tăng thu nhập ở các xã Nận Xé, Võ Lao, Minh Lương huyện Văn Bàn”, làm đề tài nghiên cứu khoa học năm 2021. 2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu về Vai trò của Hội nông dân trong công tác vận động hội viên tham gia phát triển kinh tế và xây dựng tổ chức hội ở các xã Nậm Xé, Minh Lương, Võ Lao, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai giai đoạn 2005 – 2020. PHẦN NỘI DUNG 1. Vai trò của Hội nông dân trong công tác vận động hội viên tham gia phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập 1.1. Kết quả xã Nậm Xé 1.1.1. Công tác tuyên tuyền, vận động Tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, phổ biến, cập nhật về tình hình kinh tế xã hội của đất nước, của tỉnh, của huyện, của xã, ý nghĩa mục đích, nội dung chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và phong trào thi đua của hội, vệ sinh môi trường nông thôn giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển sản xuất, nâng cao giá trị kinh tế trên một đơn vị canh tác, tuyên truyền vận động cán bộ hội viên, thực hiện lòng yêu nước đúng cách, đúng pháp luật, cảnh giác trước những tin đồn của một số kẻ xấu lợi dụng tình hình để trục lợi và âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tinh cấp thiết của đề tài

Tổ chức Hội Nông dân có vị trí, vai trò rất quan trọng, là nơi rèn luyện, giáo dục, kết nạp hội viên, là cầu nối giữa Đảng với nông dân; nơi tuyên truyền vận động nông dân thực hiện các phong trào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa phương Tổ chức các hoạt động hỗ trợ, tư vấn, dịch vụ giúp nông dân phát triển sản xuất, tuyên truyền các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới áp dụng trong sản xuất, tạo việc làm tăng thu nhập, chăm lo đời sống vật chất tinh thần của hội viên nông dân; nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng chính đáng của hội viên, nông dân với Đảng, chính quyền

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, hoạt động Hội và phong trào nông dân huyện Văn Bàn những năm qua có những tiến bộ nhất định,

đã thu hút đông đảo nông dân vào công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng trên địa bàn huyện Hội Nông dân từ huyện đến cơ

sở đã thực hiện chủ trương đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, hướng về cơ

sở, lấy cơ sở là trung tâm nòng cốt để thực hiện các phong trào của Hội, chú trọng củng cố, kiện toàn Hội cả về số lượng và chất lượng, tăng cường các hoạt động hỗ trợ để nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh như đẩy mạnh hoạt động tư vấn,

hỗ trợ, giúp đỡ nông dân về vốn, giống, vật tư nông nghiệp, khoa học kỹ thuật, tổ chức dạy nghề, cung ứng vật tư nông nghiệ Các phong trào thi đua trong nông dân như phong trào nông dân SXKD giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững, phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vai trò của Hội Nông dân vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu trong việc vận động nông dân phát triển kinh tế, hoạt động Hội và phong trào nông dân ở Văn Bàn nhiều nơi còn mang tính hình thức, chất lượng hội viên chưa cao, vị trí vai trò của tổ chức cơ sở Hội nhiều nơi chưa được khẳng định rõ ràng; chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng còn hạn chế, kém hiệu quả; nội dung sinh hoạt còn nghèo nàn, thiếu hấp dẫn…

Xuất phát từ những yêu cầu trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Vai trò của Hội Nông dân trong vận động hội viên phát triển kinh tế, tạo việc làm tăng thu nhập ở các xã Nận Xé, Võ Lao, Minh Lương huyện Văn Bàn”, làm đề tài

Trang 2

2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về Vai trò của Hội nông dân trong công tác vận động hội viên tham gia phát triển kinh tế và xây dựng tổ chức hội ở các xã Nậm Xé, Minh Lương, Võ Lao, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai giai đoạn 2005 – 2020

PHẦN NỘI DUNG

1 Vai trò của Hội nông dân trong công tác vận động hội viên tham gia phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập

1.1 Kết quả xã Nậm Xé

1.1.1 Công tác tuyên tuyền, vận động

Tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, phổ biến, cập nhật về tình hình kinh tế xã hội của đất nước, của tỉnh, của huyện, của xã, ý nghĩa mục đích, nội dung chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và phong trào thi đua của hội, vệ sinh môi trường nông thôn giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển sản xuất, nâng cao giá trị kinh tế trên một đơn vị canh tác, tuyên truyền vận động cán bộ hội viên, thực hiện lòng yêu nước đúng cách, đúng pháp luật, cảnh giác trước những tin đồn của một số kẻ xấu lợi dụng tình hình để trục lợi và âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm phá hoại

khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân Hình thức tuyên

truyền chủ yếu là tuyên truyền miệng qua các buổi họp thôn và các buổi sinh hoạt hội Trong 5 năm qua Hội Nông dân xã đã phối hợp với các ban ngành, đoàn thể vào thôn tuyên truyền được 30 buổi với 1.500 lượt người tham gia

1.1.2 Công tác tổ chức đăng ký danh hiệu hộ nông dân SXKD giỏi

Hội Nông dân xã triển khai và tổ chức cho hội viên nông dân đăng ký danh

hiệu hộ nông dân SXKD giỏi các cấp, đầu năm 2015 đăng ký 20 hộ đến cuối năm đạt 18 hộ, năm 2016 đầu năm đăng ký 25 hộ đến cuối năm bình xét đạt 21 hộ, năm 2017 đầu năm đăng ký 35 hộ đến cuối năm bình xét đạt 24 hộ, năm 2018 đầu năm đăng ký 38 hộ đến cuối năm bình xét đạt 23 hộ, năm 2019 đầu năm đăng ký

31 hộ đến thời điểm 30/11/2019 đạt 21 hộ Số lượng hội viên, nông dân đăng ký đạt danh hiệu “ Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi” các cấp qua 5 năm: Tăng

03 hộ cấp 3, cấp xã

1.1.3 Kết quả thực hiện các giải pháp hỗ trợ phong trào

Trang 3

(Cơ chế, chính sách, đối thoại, hỗ trợ tập huấn kỹ thuật, tiếp cận thị trường, vốn, giống, vật tư nông nghiệp, xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu và quản lý nhãn hiệu, thương hiệu, )

Hàng năm Hội đã phát động phong trào thi đua

Kết quả bình quân trên năm 35 lượt hộ nông dân đăng ký thi đua; tổ chức bình xét, công nhận danh hiệu “Hộ sản xuất, kinh doanh giỏi” Kết quả năm 2019

có hộ đạt sản xuất kinh doanh giỏi các cấp, cấp tỉnh: 01 hộ; huyện: 06 hộ, cấp xã:

14 hộ) Các mô hình kinh tế được chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từng

bước theo vùng sản xuất đã từng bước đi vào sản xuất hàng hoá cung cấp thị trường trong và ngoài tỉnh Chăn nuôi lợn có ông Bùi Thế Đức thôn Tu Hạ, chăn nuôi trâu ông Lý A Váng thôn Tu Hạ, Chăn nuôi bò ông Lý A Dình thôn Ta Náng Phong trào Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi tạo động lực thúc đẩy sản xuất nông, lâm nghiệp phát triển, nâng cao vị thế có sức lan tỏa để mở rộng đã thu hút đông đảo hội viên tham gia

Tập huấn kỹ thuật chăn nuôi đại gia súc, kỹ thuật dùng phân bón, trồng rừng sản xuất đúng cách theo quy trình được 10 buổi cho 340 lượt hội viên tham gia Hội Nông dân xã nhằm tạo mọi điều kiện về vốn để nông dân phát triển sản xuất đã tín chấp cho hội viên vay vốn, các hộ vay vốn được đánh giá có hiệu quả cả về kinh tế,

xã hội đã tạo việc làm cho hàng trăm lao động góp phần giảm nghèo bền vững

1.1.4 Công tác kiểm tra, giám sát phong trào

Thực hiện Điều lệ Hội trong 5 năm qua BCH đã đẩy mạnh công tác kiểm tra Hằng năm Hội Nông dân xã đã xây dựng Chương trình, Kế hoạch kiểm tra đưa công tác kiểm tra vào nề nếp, Hội đã kiểm tra 15 lượt chi Hội Hội tham gia giám sát cùng với Hội đồng nhân dân, MTTQ xã Phát huy vai trò giám sát cộng đồng của hội viên nông dân đối với các công trình xây dựng trên địa bàn các thôn bản, các mô hình sản xuất Phối hợp với các đoàn thể giải quyết đơn thư, hòa giải

và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

1.1.5 Kết quả công tác bình xét hộ sản xuất kinh doanh giỏi các cấp

* Về số lượng hộ sản xuất, kinh doanh giỏi giai đoạn 2015-2020

Thông qua công tác điều tra, bình xét, phân loại, tổng số hộ nông dân đạt danh hiệu “Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi” các cấp đến tháng 12 năm

2020 có 21 Hộ; tăng, so với năm 2015 là 03 Hộ, so với năm 2017 tăng 02 hộ;

Trang 4

Trong đó: Số “Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi” cấp tỉnh không tăng

so với kỳ tổng kết năm 2015 và rà soát, thống kê năm 2020 Số hộ “ Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi” cấp huyện tăng 1 hộ so với kỳ tổng kết năm 2015 và rà soát thống kê năm 2020 Số hộ “Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi” cấp xã tăng 2 hộ so với kỳ tổng kết năm 2015 và rà soát thống kê năm 2020

* Hoạt động các phong trào

Các địa phương có phong trào tốt như Phong trào xây dựng nông thôn mới; Phong trào giúp nhau làm giàu giảm nghèo bền vững như thôn Ta Náng

Một số gương điển hình hộ sản xuất giỏi tiêu biểu, xuất sắc tiêu biểu như: Ông Triệu Vạn Hiển Chăn nuôi, sản xuất gạch không nung và kinh doanh nhiều mặt hàng khác; ông Lý A Vắng, chăn nuôi trâu, trồng trọt, ở thôn Tu Hạ; ông Triệu Trung Ngân, chăn nuôi ngựa và trồng thào quả; Triệu Vạn Bảo, chăn nuôi trâu, trồng thào quả, thôn Ta Náng Số “ Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi” là

hộ nghèo vượt khó trong kỳ là không

Nguyên nhân tăng: Số hộ sản xuất giỏi do áp dụng kỹ thuật trong chăn nuôi sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi

1.1.6 Kết quả về chất lượng của phong trào

* Về thu nhập

Đánh giá sơ lược về các hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi có quy mô sử dụng vốn lớn, nhiều lao động và mang lại hiệu quả kinh tế cao

Hộ có thu nhập cao từ 300 - 400 triệu đồng có 03 hộ chiếm tỷ lệ 14% so với

hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi; Hộ có thu nhập từ 200 – 300 triệu đồng có

18 hộ chiếm tỷ lệ 85 % tăng so với kỳ tổng kết năm 2015 và rà soát năm 2020

* Về quy mô kinh tế hộ, quy mô kinh tế của hộ gia đình chủ yếu là chăn nuôi

đại gia xúc, trồng trọt và thủy sản, quy mô còn nhỏ lẻ, manh mún

1.1.7 Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi là người dân tộc thiểu số

Đánh giá số hộ nông dân SXKD giỏi là người dân tộc là 18/21 hộ tăng so với năm 2015 và năm 2017, trong đó chia ra: Dân tộc Mông có 5 hộ, tỷ lệ so với tổng số hộ nông dân SXKDG; giảm về số lượng, 8% so với năm 2015 và năm

2017 Dân tộc Dao có 13 hộ, tỷ lệ so với tổng số hộ nông dân SXKDG; tăng về

số lượng, 10 % so với năm 2015 và năm 2017 Dân tộc Kinh có 03 hộ, tổng số hộ nông dân SXKDG; tăng về số lượng, 4% từ năm 2015 đến năm 2019

1.2 Kết quả xã Minh Lương

Trang 5

1.2.1 Công tác tuyên tuyền, vận động

Tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, phổ biến, cập nhật về tình hình kinh tế xã hội của đất nước, của tỉnh, của huyện, của xã, ý nghĩa mục đích, nội dung chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và phong trào thi đua của hội, vệ sinh môi trường nông thôn giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển sản xuất, nâng cao giá trị kinh tế trên một đơn vị canh tác, tuyên truyền vận động cán bộ hội viên, thực hiện lòng yêu nước đúng cách, đúng pháp luật, cảnh giác trước những tin đồn của một số kẻ xấu lợi dụng tình hình để trục lợi và âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm phá hoại

khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân Hình thức tuyên

truyền chủ yếu là tuyên truyền miệng qua các buổi họp thôn và các buổi sinh hoạt hội Trong 5 năm qua Hội Nông dân xã đã phối hợp với các ban ngành, đoàn thể vào thôn tuyên truyền được 210 buổi với 5.262 lượt người tham gia

1.2.2 Công tác tổ chức đăng ký danh hiệu hộ nông dân SXKD giỏi

Hàng năm BTV Hội Nông dân xã trực tiếp tham mưu cho BCĐ xã, xây dựng kế hoạch phát động phong trào thi đua nông dân SXKD giỏi, đồng thời vận động cán bộ, hội viên tích cực tham gia đăng ký thực hiện phong trào, có 717 lượt

hộ nông dân tham gia đăng ký hộ SXKD giỏi các cấp, bình quân hàng năm có 143 lượt hộ nông dân đăng ký Năm 2015 có 105 hộ nông dân đăng ký đến năm 2019

có 134 hộ nông dân đăng ký, tăng 29 hộ so với năm 2015

1.2.3 Kết quả thực hiện các giải pháp hỗ trợ phong trào

Xác định rõ vấn đề vốn sản xuất vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế Trong 5 năm qua, Ban chỉ đạo phối hợp với chính quyền, các ngành đoàn thể và Ngân hàng trên địa bàn huyện cho nông dân được vay vốn với bình quân mỗi năm

50 trường hợp, tổng số dự nợ vay vốn tín dụng trên địa bàn là 20.355.650 đồng Các nguồn vốn vay trên đã góp phần tăng đầu tư trên lĩnh vực thương mại, dịch

vụ - tiểu thủ công nghiệp và đầu tư sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp

BCĐ phối hợp với cán bộ khuyến nông, vật tư nông nghiệp hỗ trợ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật tổ chức 05 cuộc hội thảo về kỹ thuật sản xuất ngô lai, lúa lai, nuôi gà thả vườn, có 570 người tham gia

1.2.4 Công tác kiểm tra, giám sát phong trào

Trang 6

Thực hiện Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam, trong 5 năm qua BCH đã đẩy mạnh công tác kiểm tra hằng năm Hội Nông dân xã đã xây dựng Chương trình,

Kế hoạch kiểm tra đưa công tác kiểm tra vào nề nếp, Hội đã kiểm tra 30 lượt chi Hội Hội tham gia giám sát cùng với Hội đồng nhân dân, MTTQ xã Phát huy vai trò giám sát cộng đồng của hội viên nông dân đối với các công trình xây dựng trên địa bàn các thôn bản, các mô hình tổ hội nghề nghiệp phối hợp với các đoàn thể giải quyết đơn thư, hòa giải và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

1.2.5 Kết quả công tác bình xét hộ sản xuất kinh doanh giỏi các cấp

* Về số lượng hộ sản xuất, kinh doanh giỏi giai đoạn 2015-2020

Thông qua công tác điều tra, bình xét, phân loại, tổng số hộ nông dân đạt danh hiệu “Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi” các cấp đến tháng 12 năm

2019 có 59 hộ, tăng 4 hộ so với năm 2015, tăng 18 hộ so với năm 2017; chiếm 5,72% so với số hộ nông nghiệp, nông dân Trong đó: Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp tỉnh là 02 hộ, cấp huyện là 11 hộ, giảm 10 hộ so với kỳ tổng kết năm 2015 và tăng 02 hộ so với rà soát thống kê năm 2020 Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp xã là 46 hộ, tăng 20 hộ so với kỳ tổng kết năm 2015 và tăng

31 hộ so với rà soát thống kê năm 2020

*Các phong trào giúp nhau làm giàu giảm nghèo bền vững

Từ phong trào đã xuất hiện nhiều nông dân dám nghĩ, dám làm, quyết tâm tìm tòi đưa vào một số loại cây, con mới vào sản xuất, góp phần đa dạng hóa sản phẩm, phát triển các ngành nghề, dịch vụ mới trong kinh tế nông thôn, đã có nhiều hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi tiêu biểu các hộ gia đình: Vương Thị Dương, Hoàng Văn Thưởng, Hoàng Quyết Thắng – Thôn 1, 3 Minh Thượng; Hộ Ông: Lương Văn Kiếm, Lương Văn Chớn – Thôn 1 Minh Chiềng và nhiều hộ gia đình khác với mô hình nấu rượu, nuôi lợn

“Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi” là hộ nghèo vượt khó trong kỳ: 03

hộ, chiếm 5,08 % so với “Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi”

Nguyên nhân tăng, giảm số hộ sản xuất giỏi, hộ sản xuất kinh giỏi cấp tỉnh, cấp huyện giảm so với năm 2015 do quy định về tiêu chí thu nhập cao, qua bình xét không đạt

1.2.6 Kết quả về chất lượng của phong trào

* Về thu nhập

Trang 7

Hộ có thu nhập cao từ 301 - 500 triệu đồng: 15 hộ, chiếm 25,4% so với hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi; tăng 8 hộ so với kỳ tổng kết năm 2015 và rà soát năm 2020 Hộ có thu nhập cao từ 151 - 300 triệu đồng: 40 hộ, chiếm 67,8 %

so với hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi; tăng 37 hộ tăng so với kỳ tổng kết năm 2015 và rà soát năm 2020 Hộ có thu nhập dưới 150 triệu đồng: 4 hộ, chiếm 6,7% so với hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi

* Về quy mô kinh tế hộ

Mô hình lĩnh vực trồng trọt: 42 hộ, chiếm 71 % so với “Hộ nông dân SXKD giỏi”, giảm 10 hộ so với kỳ tổng kết năm 2015

Mô hình lĩnh vực kinh doanh dịch vụ: 27 hộ, chiếm 45,7 % so với “Hộ nông dân SXKD giỏi”, tăng 27 hộ so với kỳ tổng kết năm 2015

1.2.7 Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi là người dân tộc thiểu số

Dân tộc Dao có 02 hộ, chiếm 3,3% so với tổng số hộ nông dân SXKDG; giảm 01 hộ so với năm 2015 Dân tộc Tày có 50 hộ, chiếm 84,7% so với tổng số

hộ nông dân SXKDG; so với năm 2015 giảm 01 hộ so với năm 2015 Dân tộc Kinh có 7 hộ, chiếm 11,8 % so với tổng số hộ nông dân SXKDG; tăng so với năm

2015 tăng 7 hộ

1.3 Kết quả xã Võ Lao

1.3.1 Về công tác tuyên truyền, vận động

Ban chỉ đạo thực hiện phong trào thi đua “nông dân sản xuất kinh doanh giỏi” đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, nhất là chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước về chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; tuyên truyền chính sách tín dụng về vay vốn ưu đãi đến toàn thể nông dân và tổ chức cho nông dân vay và hướng dẫn nông dân sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả đáp ứng yêu cầu về vốn cho nông dân đầu tư vào sản xuất Vận động nông dân chuyển dịch cơ cấu kinh tế, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, khai thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng, từng thôn bản, nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác, tạo ra những mô hình sản xuất kinh doanh đa dạng trên địa bàn xã, từ đó phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi đoàn kết giúp nhau làm giàu

và giảm nghèo bền vững ngày càng được nông dân hưởng ứng tham gia đăng ký năm sau cao hơn năm trước Hình thức tuyên truyền chủ yếu thông qua các buổi

Trang 8

sinh hoạt chi hội, họp thôn Trong 5 năm qua, đã tuyên truyền được 30 buổi, có 5.000 lượt người tham gia

1.3.2 Công tác tổ chức đăng ký danh hiệu hộ nông dân SXKD giỏi các cấp

Hàng năm BTV Hội Nông dân xã trực tiếp tham mưu cho BCĐ xã, xây dựng kế hoạch phát động phong trào thi đua nông dân SXKD giỏi, đồng thời vận động cán bộ, hội viên tích cực tham gia đăng ký thực hiện phong trào, có 1.500 lượt hộ nông dân tham gia đăng ký hộ SXKD giỏi các cấp, bình quân hàng năm

có 300 lượt hộ nông dân đăng ký Năm 2015 có 250 hộ nông dân đăng ký đến năm 2019 có 350 hộ nông dân đăng ký, tăng 100 hộ so với năm 2015

1.3.3 Kết quả thực hiện các giải pháp hỗ trợ phong trào

Trong hoạt động tạo vốn, Hội Nông dân xã đã ký hợp đồng ủy thác với Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Văn Bàn, Hội Nông dân xã quản lý 11 tổ TK&VV với dư nợ 12.365.500.000đ, với 446 hộ vay vốn; phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai cho hộ nông dân vay theo tinh thần Nghị định số 55/ 2015/ NĐ- CP về các chương trình cho vay hỗ trợ sản xuất nông nghiệp Dư nợ 11.018.188.000đ, với 400 hộ vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh, nhằm góp phần tạo việc làm tăng thu nhập, phát triển kinh tế gia đình, xây dựng mô hình sản xuất hàng hóa theo hướng liên kết, hợp tác giữa các

hộ vay Nhìn chung, công tác lãnh đạo, chỉ đạo phong trào của các cấp Hội từ công tác tuyên truyền, vận động, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ cho nông dân đến việc kiểm tra, tổng kết, phong trào đã dần đi vào nề nếp

BCĐ phối hợp với cán bộ khuyến nông, công ty phân bón, thuốc bảo vệ thực vật tổ chức 08 cuộc hội thảo về kỹ thuật sản xuất ngô lai, lúa lai, có trên 2.000 người tham gia

1.3.4 Kết quả công tác bình xét hộ sản xuất kinh doanh giỏi các cấp

* Về số lượng hộ sản xuất, kinh doanh giỏi giai đoạn 2015-2020

Thông qua công tác điều tra, bình xét, phân loại, tổng số hộ nông dân đạt danh hiệu “ Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi” các cấp đến tháng 12 năm

2019 có 199 hộ; giảm so với năm 2015 là 61 hộ, tăng so với năm 2017 là 77 hộ; chiếm 9,3% so với số hộ nông nghiệp, nông thôn Trong đó:

Số “ Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi” cấp Trung ương là 02 hộ, giảm

01 hộ so với kỳ tổng kết năm 2015 và bằng 100% so với rà soát, thống kê năm

2020 Số “ Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi” cấp tỉnh là 03 hộ, giảm về số

Trang 9

lượng 12 hộ so với kỳ tổng kết năm 2015 và bằng 100% rà soát, thống kê năm

2020

Số “Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi” cấp huyện là 15 hộ, giảm về số lương 86 hộ so với kỳ tổng kết năm 2015 và bằng 100% rà soát, thống kê năm

2020 Số “Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi” cấp xã giảm về số lương, số lượng là 287 hộ, 54,7% so với kỳ tổng kết năm 2015 và tăng về số lượng là 77 hộ,

163 % rà soát, thống kê năm 2020

Các thôn bản có phong trào tốt như: Thôn Thị tứ, thôn Bất 2, Én 2, Vinh 1, Vinh 2,

* Một số gương điển hình tập thể, hộ sản xuất giỏi tiêu biểu, xuất sắc

Từ phong trào đã xuất hiện nhiều nông dân dám nghĩ, dám làm, quyết tâm tìm tòi đưa vào một số loại cây, con mới vào sản xuất, góp phần đa dạng hóa sản phẩm, phát triển các ngành nghề, dịch vụ mới trong kinh tế nông thôn, đã có nhiều hộ nông dân sản xuất, kimh doanh giỏi tiêu biểu như: ông Lự Văn Tặng, Lự Văn Tốt, Lương Văn Chiếm, Lương Văn Kín

Số “ Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi” là hộ nghèo vượt khó trong kỳ

04 hộ, tỷ lệ 2% so với “Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi”

* Nguyên nhân tăng, giảm số hộ sản xuất giỏi

Hộ sản xuất kinh doanh giỏi các cấp giảm so với năm 2015 là do quy định

về tiêu chí thu nhập cao, qua bình xét tại các thôn bản không đạt

1.3.5 Kết quả về chất lượng của phong trào

* Về thu nhập

Hộ có thu nhập cao từ 501 - 800 triệu đồng là 03 hộ chiếm tỷ lệ 1,5% so với

hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi; giảm về số lượng là 02 hộ và tỷ lệ giảm 66% so với kỳ tổng kết năm 2015 và rà soát năm 2020

Hộ có thu nhập cao từ 301 - 500 triệu đồng 13 hộ chiếm tỷ lệ 6,5% so với hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi; tăng về số lượng và tỷ lệ tăng 130% so với kỳ tổng kết năm 2015 và rà soát năm 2020

Hộ có thu nhập cao từ 151 - 300 triệu đồng là 183 hộ chiếm tỷ lệ 92 % so với hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi; tăng về số lượng là 75 hộ và tỷ lệ tăng 59% so với kỳ tổng kết năm 2015 và rà soát năm 2020

* Về quy mô kinh tế hộ

Trang 10

Số mô hình lĩnh vực tổng hợp là 199 tỷ lệ 100% so với “Hộ nông dân SXKD giỏi”, giảm về số lượng là 61 hộ, 76,5% so với kỳ tổng kết năm 2015 và tăng 77 hộ, 61,3% so với rà soát, thống kê năm 2020

Số mô hình lĩnh vực trồng trọt là 112 hộ tỷ lệ 56,2% so với “Hộ nông dân SXKD giỏi”, giảm về số lượng là 100 hộ so với kỳ tổng kết năm 2015 và tăng 77

hộ so rà soát năm 2020

Số mô hình lĩnh vực chăn nuôi là 147 tỷ lệ 74 % so với “Hộ nông dân SXKD giỏi”, giảm về số lượng là 100 hộ, so với kỳ tổng kết năm 2015 và tăng 25

hộ rà soát năm 2020

Số mô hình lĩnh vực thủy sản là 147 tỷ lệ 74 % so với “Hộ nông dân SXKD giỏi”, giảm về số lượng 100 hộ so với kỳ tổng kết năm 2015 và tăng 25 hộ so rà soát năm 2020

Số mô hình lĩnh vực lâm nghiệp là 147 tỷ lệ 74 % so với “Hộ nông dân SXKD giỏi”, giảm về số lượng 100 hộ so với kỳ tổng kết năm 2015 và tăng 25 hộ

so rà soát năm 2020

Số mô hình lĩnh vực chế biến nông lâm sản là 19 hộ tỷ lệ 16% so với “Hộ nông dân SXKD giỏi”, tăng về số lượng 16 hộ so với kỳ tổng kết năm 2015 và rà soát năm 2020

Số mô hình lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp là 53 hộ tỷ lệ 0,21% so với “Hộ nông dân SXKD giỏi”, tăng về số lượng 18 hộ, 7 % so với kỳ tổng kết năm 2015

và rà soát năm 2020

Số mô hình lĩnh vực kinh doanh dịch vụ là 97 hộ tỷ lệ 49 % so với “Hộ nông dân SXKD giỏi”, tăng về số lượng 40 hộ so với kỳ tổng kết năm 2015 và rà soát năm 2020

1.3.6 Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi là người dân tộc thiểu số

Hộ nông dân SXKD giỏi là người dân tộc là 140 hộ tỷ lệ 70,3% so với hộ nông dân SXKD giỏi; giảm về số lượng là 80 hộ, 63% so với năm 2015 và tăng

52 hộ, 159% so với rà soát thống kê năm 2020 trong đó chia ra: Dân tộc Dao có

04 hộ, tỷ lệ 2,1% so với tổng số hộ nông dân SXKDG; giảm về số lượng 01 hộ, 80% so với năm 2015 và năm 2017 Dân tộc Tày có 136 hộ, tỷ lệ 68% so với tổng

số hộ nông dân SXKDG; giảm về số lượng là 84 hộ, 82 % so với năm 2015 và tăng năm 2017

Ngày đăng: 17/11/2021, 09:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w