MỞ ĐẦU Nền văn minh nhân loại suy cho cùng là do sự phát triển đúng hướng của lực lượng sản xuất quyết định. Do đó việc nghiên cứu quy luật vận động và những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất là một vấn đề hết sức quan trọng . Thời kỳ quá độ lên chủ nghiã xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện và triệt để về mọi mặt. Từ xã hội cũ sang xã hội mới XHCN. Thời kỳ đó bắt đầu từ khi giai cấp vô sản lên nắm chính quyền. Cách mạng vô sản thành công vang dội và kết thúc khi đã xây dựng xong cơ sở kinh tế chính trị tư tưởng của xã hội mới. Đó là thới kỳ xây dựng từ lực lượng sản xuất mới dẫn đến quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất mới hình thành lên các quan hệ sở hữu mới. Từ cơ sở hạ tầng mới hình thành nên kiến trúc thượng tầng mới. Song trong một thời gian dài chúng ta không nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa xã hội về quy luật sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sau hơn 30 năm đổi mới, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Hiện nay, cần ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất hiện đại để tạo đà cho việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến, nhằm thực hiện mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế. Cùng với cả nước, huyện Bát Xát đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa với những đặc điểm riêng của mình. Là một huyện miền núi Tây Bắc, có nhiều dân tộc anh em, huyện Bát Xát có nhiều tiềm năng về kinh tế, có vị trí quan trọng về chính trị, quốc phòng và an ninh. Do vậy, việc tổng kết thực tiễn, vận dụng lý luận vào cuộc sống rút ra những bài học, kinh nghiệm để phát triển lực lượng sản xuất ở huyện Bát Xát trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết đối với cả lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ suy nghĩ trên, tôi chọn vấn đề: Thực trạng lực lượng sản xuất ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai hiện nay làm nội dung bài thu hoạch hết môn. NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận 1.1. Khái niệm lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất là sự thống nhất hữu cơ giữa người lao động với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động. Trong lực lượng sản xuất, chủ nghĩa duy vật lịch sử đánh giá cao vai trò của người lao động và công cụ lao động. Con người với tính cách là chủ thể của sản xuất vật chất, luôn sáng tạo ra công cụ tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất. Với ý nghĩa đó, người lao động là nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất. Khẳng định điều đó, V.I.Lênin viết: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động”. Công cụ lao động là khí quan vật chất “nối dài’’, “nhân lên’’ sức mạnh của con người trong quá trình biến đổi giới tự nhiên. Nó là yếu tố quyết định trong tư liệu sản xuất. Trình độ phát triển của công cụ vừa là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, vừa là tiêu chuẩn phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế kỹ thuật trong lịch sử. C.Mác viết: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào” . Khoa học, trước hết là khoa học kỹ thuật có vai trò to lớn trong việc phát triển lực lượng sản xuất. Đặc biệt ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, nó đã trở thành nguyên nhân trực tiếp của mọi biến đổi to lớn trong sản xuất vật chất mà ở những thế kỷ trước không có được. Có thể nói, chưa bao giờ tri thức khoa học được vật hoá, kết tinh, thâm nhập vào các yếu tố của lực lượng sản xuất một cách nhanh chóng và có hiệu quả như ngày nay. Lực lượng sản xuất do con người tạo ra nhưng nó luôn là yếu tố khách quan. Hay nói cụ thể hơn, lực lượng sản xuất là kết quả của năng lực thực tiễn của con người, nhưng bản thân năng lực thực tiễn này bị quyết định bởi những điều kiện khách quan trong đó con người sinh sống; bởi những lực lượng sản xuất đã đạt được do thế hệ trước tạo ra. Trình độ của lực lượng sản xuất dùng để chỉ năng lực, mức độ, hiệu quả chinh phục giới tự nhiên thông qua việc sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của con người. 1.2. Vai trò của lực lượng sản xuất đối với đời sống xã hội Để thoả mãn những nhu cầu đầu tiên, cơ bản của con người, Mác thấy con người phải chế tạo ra công cụ lao động, cái mà sau này Mác gọi bằng những khái niệm rộng hơn và chính xác hơn là tư liệu lao động, tư liệu sản xuất, lực lượng sản xuất. Như vậy loài người tồn tại và phát triển trên thế giới này, không phải do phép màu của một lực lượng huyyền bí hay ý chí của bậc vĩ nhân mà do sự tồn tại và phát triển của những phương thức kế tiếp nhau trong lịch sử. Vai trò của yếu tố con người đối với sự phát triển của xã hội Phải ý thức được rằng nhân tố hàng đầu trong lực lượng sản xuất là con người, là người lao động. Sự phát triển của lực lượng sản xuất xuất phát chủ yếu từ con người, chính con người làm nên những cuộc cách mạng to lớn trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế , văn hóa, chính trị; tạo nên sự biến đổi không ngừng xã hội loài người. Từ khi loài người xuất hiện, lao động là không thể thiếu trong sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Trong những bước đi chập chững đầu tiên, loài người đã biết dùng những công cụ thô sơ nhất để tác động vào tự nhiên làm ra sản phẩm nuôi sống bản thân. Chính nhờ có lao động và ngôn ngữ, con người trở thành loài động vật cao cấp nhất trong giới tự nhiên, biết dùng ý chí của mình để biến đổi thế giới. Cùng với quá trình phát triển của lịch sử, công cụ lao động đã dần dần được phát triển từ những công cụ thô sơ nhất như đồ đá, cung tên đến những công cụ bằng kim loại và ngày nay là máy móc vô cùng hiện đại. Tất cả những sự biến đổi lớn lao đó là do con người tạo ra. Dù cho khoa học kỹ thuật có phát triển đến mức độ nào, công cụ lao động có hiện đại đến đâu thì vai trò của con người là không thể phủ nhận. Con người vẫn luôn là chủ thể của sản xuất, chủ thể của xã hội; nếu thiếu con người xã hội sẽ không thể vận hành được.
Trang 1MỞ ĐẦU
Nền văn minh nhân loại suy cho cùng là do sự phát triển đúng hướng của lực lượng sản xuất quyết định Do đó việc nghiên cứu quy luật vận động và những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất là một vấn đề hết sức quan trọng
Thời kỳ quá độ lên chủ nghiã xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện và triệt để về mọi mặt Từ xã hội cũ sang xã hội mới XHCN Thời kỳ đó bắt đầu từ khi giai cấp vô sản lên nắm chính quyền Cách mạng vô sản thành công vang dội và kết thúc khi đã xây dựng xong cơ sở kinh tế chính trị tư tưởng của xã hội mới Đó là thới kỳ xây dựng từ lực lượng sản xuất mới dẫn đến quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất mới hình thành lên các quan
hệ sở hữu mới Từ cơ sở hạ tầng mới hình thành nên kiến trúc thượng tầng mới Song trong một thời gian dài chúng ta không nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa xã hội về quy luật sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Sau hơn 30 năm đổi mới, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể Hiện nay, cần ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất hiện đại để tạo đà cho việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật tiên tiến, nhằm thực hiện mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế
Cùng với cả nước, huyện Bát Xát đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa với những đặc điểm riêng của mình Là một huyện miền núi Tây Bắc, có nhiều dân tộc anh em, huyện Bát Xát có nhiều tiềm năng về kinh tế, có vị trí quan trọng về chính trị, quốc phòng và an ninh Do vậy, việc tổng kết thực tiễn, vận dụng lý luận vào cuộc sống rút ra những bài học, kinh nghiệm để phát triển lực lượng sản xuất ở huyện Bát Xát trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết đối với cả lý luận và thực tiễn
Xuất phát từ suy nghĩ trên, tôi chọn vấn đề: "Thực trạng lực lượng sản xuất ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai hiện nay" làm nội dung bài thu
hoạch hết môn
NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là sự thống nhất hữu cơ giữa người lao động với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động
Trang 2Trong lực lượng sản xuất, chủ nghĩa duy vật lịch sử đánh giá cao vai trò của người lao động và công cụ lao động Con người với tính cách là chủ thể của sản xuất vật chất, luôn sáng tạo ra công cụ tác động vào đối tượng lao động để tạo
ra của cải vật chất Với ý nghĩa đó, người lao động là nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất Khẳng định điều đó, V.I.Lênin viết: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động”
Công cụ lao động là khí quan vật chất “nối dài’’, “nhân lên’’ sức mạnh của con người trong quá trình biến đổi giới tự nhiên Nó là yếu tố quyết định trong tư liệu sản xuất Trình độ phát triển của công cụ vừa là thước đo trình độ chinh phục
tự nhiên của con người, vừa là tiêu chuẩn phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế - kỹ thuật trong lịch sử C.Mác viết: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”1
Khoa học, trước hết là khoa học kỹ thuật có vai trò to lớn trong việc phát triển lực lượng sản xuất Đặc biệt ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, nó đã trở thành nguyên nhân trực tiếp của mọi biến đổi to lớn trong sản xuất vật chất mà ở những thế kỷ trước không có được Có thể nói, chưa bao giờ tri thức khoa học được vật hoá, kết tinh, thâm nhập vào các yếu tố của lực lượng sản xuất một cách nhanh chóng và có hiệu quả như ngày nay
Lực lượng sản xuất do con người tạo ra nhưng nó luôn là yếu tố khách quan Hay nói cụ thể hơn, lực lượng sản xuất là kết quả của năng lực thực tiễn của con người, nhưng bản thân năng lực thực tiễn này bị quyết định bởi những điều
kiện khách quan trong đó con người sinh sống; bởi những lực lượng sản xuất đã đạt được do thế hệ trước tạo ra
Trình độ của lực lượng sản xuất dùng để chỉ năng lực, mức độ, hiệu quả chinh phục giới tự nhiên thông qua việc sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của con người
1.2 Vai trò của lực lượng sản xuất đối với đời sống xã hội
Để thoả mãn những nhu cầu đầu tiên, cơ bản của con người, Mác thấy con
người phải chế tạo ra công cụ lao động, cái mà sau này Mác gọi bằng những khái niệm rộng hơn và chính xác hơn là tư liệu lao động, tư liệu sản xuất, lực lượng sản xuất Như vậy loài người tồn tại và phát triển trên thế giới này, không phải do phép màu của một lực lượng huyyền bí hay ý chí của bậc vĩ nhân mà do sự tồn tại
và phát triển của những phương thức kế tiếp nhau trong lịch sử
* Vai trò của yếu tố con người đối với sự phát triển của xã hội
Trang 3Phải ý thức được rằng nhân tố hàng đầu trong lực lượng sản xuất là con người, là người lao động Sự phát triển của lực lượng sản xuất xuất phát chủ yếu
từ con người, chính con người làm nên những cuộc cách mạng to lớn trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế , văn hóa, chính trị; tạo nên sự biến đổi không ngừng xã hội loài người
Từ khi loài người xuất hiện, lao động là không thể thiếu trong sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Trong những bước đi chập chững đầu tiên, loài người đã biết dùng những công cụ thô sơ nhất để tác động vào tự nhiên làm ra sản phẩm nuôi sống bản thân Chính nhờ có lao động và ngôn ngữ, con người trở thành loài động vật cao cấp nhất trong giới tự nhiên, biết dùng ý chí của mình để biến đổi thế giới Cùng với quá trình phát triển của lịch sử, công cụ lao động đã dần dần được phát triển từ những công cụ thô sơ nhất như đồ đá, cung tên đến những công cụ bằng kim loại và ngày nay là máy móc vô cùng hiện đại Tất cả những sự biến đổi lớn lao đó là do con người tạo ra Dù cho khoa học kỹ thuật có phát triển đến mức độ nào, công cụ lao động có hiện đại đến đâu thì vai trò của con người là không thể phủ nhận Con người vẫn luôn là chủ thể của sản xuất, chủ thể của xã hội; nếu thiếu con người xã hội sẽ không thể vận hành được
* Vai trò của nền kinh tế tri thức, khoa học-công nghệ đối với xã hội
“Kinh tế tri thức” là một khái niệm mới đang được nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế bàn luận Tuy ý kiến còn khác nhau về cách định nghĩa, nhưng đều thống nhất rằng: kinh tế tri thức lấy yếu tố tri thức hiện đại của khoa học, công nghệ và quản lý làm nền tảng (với tỷ lệ đóng góp của yếu tố tri thức này trong tăng trưởng kinh tế, trong sản xuất các sản phẩm và dịch vụ khoảng từ 70% trở lên) Với sự phát triển của kinh tế tri thức, khoa học và công nghệ thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp làm ra sản phẩm ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực Sự hình thành và phát triển của kinh tế tri thức gắn chặt với những bước nhảy vọt về chất của cuộc cách mạng và công nghệ hiện nay, đặc biệt công nghệ thông tin (kỹ thuật số ), công nghệ sinh học (công nghệ gien ), công nghệ vật liệu mới (công nghệ Nanô ) Công nghệ có vai trò đặc biệt trong nền kinh tế tri thức và phát triển nhanh chóng, nhất là công nghệ thông tin Trong lịch sử khoa học công nghệ, cho tới nay, chưa có một lĩnh vực nào, phát minh khoa học nào lại
có tác động vào đời sống kinh tế, xã hội, chính trị và văn hoá lớn lao như công nghệ thông tin Bởi vì công nghệ đó tạo ra năng lực sản xuất mới, các loại dịch vụ mới, tạo ra tri thức mới và kinh tế mới
2 Đặc điểm chung về kinh tế - xã hội huyện Bát Xát
Trang 4Xác định từ năm 2020 là năm quan trọng thực hiện bứt phá, về đích các chỉ tiêu, kế hoạch đặt ra không chỉ của năm 2020 mà của cả một nhiệm kỳ (2015-2020) Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thiên tai, dịch bệnh, đặc biệt đại dịch Covid 19 bung phát đã làm ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch trên tất cả các lĩnh vực Nó ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động sản xuất kinh doanh và thu nhập của người lao động Với phương châm hành động “Đoàn kết, chủ động, sáng tạo, hiệu quả, hoàn thành toàn diện và vượt mức các mục tiêu Nghị quyết” Bát Xát từng bước vượt qua khó khăn, tận dụng thời cơ, thế mạnh cuả địa phương thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở mức cao nhất có thể Theo đó năm 2020, huyện Bát Xát đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch; kinh tế - xã hội của huyện phát triển ổn định; tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân năm 2020 đạt 13,4%, bằng 90,54% so với cùng kỳ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có sự thay đổi, tỷ trọng ngành nông - lâm nghiệp và thủy sản tăng từ 17,03% năm 2019 lên 18,48% năm 2020;
tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng giảm từ 60% năm 2019 xuống còn 59,49% năm 2020; tỷ trọng ngành thương mại - dịch vụ - du lịch giảm từ 22,97% năm 2019 xuống còn 22,03% năm 2020 Thu nhập bình quân đầu người đạt 39,8 triệu đồng/người/năm, tăng 6,9% so với cùng kỳ Giá trị sản phẩm thu hoạch/ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản ước hết năm 2020 đạt 69 triệu đồng, đạt 100% KH, bằng 106,15% so cùng kỳ
Năm 2021 có ý nghĩa hết sức quan trọng là năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng
bộ tỉnh lần thứ XVI và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp Với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, xây dựng huyện Bát Xát giàu đẹp, văn minh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Mục tiêu đặt ra tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn, bình quân đạt 13%; thu nhập bình quân đầu người đạt
47 triệu đồng/người/năm; giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản đạt 72 triệu đồng/ha; giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn (giá SS 2010): 3.500 tỷ đồng; Giá trị sản xuất Tiểu thủ công nghiệp (giá SS 2010): 295 triệu đồng; doanh thu du lịch: 66,3 tỷ đồng Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn (do Chi cục thuế quản lý thu): 200.000 triệu đồng; xây dựng 01 xã chuẩn quốc gia
về nông thôn mới (xã Trịnh Tường); Tỷ lệ giảm hộ nghèo đa chiều bình quân hàng năm: 4%; trường học đạt chuẩn Quốc gia 68%
Để đạt được các mục tiêu Nghị quyết đề ra, huyện Bát Xát đã đánh giá, dự báo những khó khăn, thuận lợi trong năm 2021 Xây dựng Nghị quyết, chương trình, kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của
Trang 5năm 2021 với quyết tâm phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế - xã hội Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện 09 Đề án của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, sát với tình thực tế của từng địa phương, đơn vị sao cho có hiệu quả cao nhất Tăng cường công tác tuyên truyền đưa Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp vào cuộc sống; tích cực nêu gương, biểu dương những điển hình tiên tiến, những cách làm hay, hiệu quả để lan tỏa phong trào thi đua, tạo khí thế hăng say, phấn khởi trong nhân dân
Xác định nhiệm vụ trọng tâm là phát triển nông – lâm nghiệp và thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới Bát Xát tập trung nguồn lực, phát huy tiềm năm thế mạnh của địa phương phát triển nông nghiệp của từng vùng, theo chuỗi giá trị hàng hóa, sản xuất ứng dụng công nghệ cao và ứng dụng một phần công nghệ cao, sản xuất nông nghiệp hữu cơ Tiếp tục nhân rộng các mô hinh kinh tế hiệu quá, quảng bá xây dựng các sản phầm OCOP, duy trì bảo tồn thương hiệu các sản phẩm của huyện… Thu hút doanh nghiệp đầu tư, liên kết với người nông dân, tạo thị trường tiêu thụ ổn định và chất lượng, xây dựng một hướng đi bền vững cho phát triển kinh tế nông nghiệp, tăng thu nhập cho nhân dân Tập trung phát triển sản xuất và hỗ trợ đầu tư hạ tầng nông thôn… Song song với đó, Bát Xát đã xây dựng lộ trình cụ thể để phát triển kinh tế du lịch tiếp tục là bước đột phá, là ngành kinh tế mới của huyện
Bên cạnh đó, để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ trọng tâm, cũng như các mục tiêu của năm, huyện tiếp tục đẩy mạnh cải các hành chính, tinh giản biên chế gắn với cải cách công vụ, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; bảo đảm công tác an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững
3 Lực lượng sản xuất của huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
3.1 Nguồn lao động
Thực hiện chủ trương đường lối của Đảng về phát triển nguồn nhân lực, một trong ba khâu đột phá đưa đất nước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh - xây dựng chủ nghiã xã hội và bảo vệ Tổ quốc, các cấp ủy đảng và chính quyền huyện Bát Xát đã nỗ lực, quan tâm chăm sóc nguồn nhân lực của huyện, nhờ đó trong thời gian qua đời sống mọi mặt kinh tế - xã hội của huyện được nâng lên đáng kể
Trang 6Người lao động ở Bát Xát đang là một vấn đề bức xúc, nhưng việc phân tích và đánh giá một cách đầy đủ, chính xác, khách quan, toàn diện còn là vấn đề khó khăn ở đây:
- Về số lượng nguồn nhân lực:
Theo số liệu thống kê từ năm 2016 đến 2020, dân số toàn huyện tăng liên tục và khá cao, đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho nguồn nhân lực
Nó là nguồn bổ sung quan trọng vào đội ngũ người lao động của huyện Tốc độ tăng dân số tự nhiên trung bình khoảng 1,4%/năm, tỷ lệ này còn khá cao so với mục tiêu nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ Bát Xát đề ra (1,2%/năm)
Nguồn lao động có xu hướng tăng lên hàng năm Trung bình từ năm 2016 đến năm 2020 là 4%/năm (năm 2016 là 68.055 người, năm 2020 là 83.450 người) Trong
đó số mất khả năng lao động hàng năm chỉ chiếm một tỷ lệ không đáng kể khoảng 0,77% Nhưng bên cạnh đó tham gia vào lực lượng lao động còn có số người ngoài
độ tuổi thực tế tham gia lao động, nhưng lực lượng này có xu hướng ngày một giảm Thực tế số người trong độ tuổi lao động vẫn chiếm tỷ lệ lớn 98% so với nguồn lao động (năm 2019 là 47.294 người Đây là lực lượng lao động dồi dào tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện nhưng cũng đặt ra khó khăn lớn trong giải quyết việc làm vì hiện tại nhiều lao động chưa được bố trí công việc hợp lý Số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng không làm việc, rồi số người có khả năng lao động và có nhu cầu nhưng không có việc làm có chiều hướng giảm, nhưng còn chiếm tỷ lệ cao (năm 2019 là 2,84%; 2020
là 2,32% so với số nguồn lao động)
Tóm lại, quy mô dân số và lực lượng lao động ở huyện Bát Xát gia tăng ở
mức cao, chưa đạt được chỉ tiêu do đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXII
đề ra là giảm tỷ lệ sinh xuống 0,3%/năm Với đà phát triển của dân số như hiện nay phải đến năm 2020 trở đi Bát Xát mới có thể giảm tỷ lệ tăng dân số, thì phải sau đó lực lượng lao động mới cân đối và tiến tới ổn định về quy mô dân số, trong
sự phát triển đồng bộ tương đối lực lượng sản xuất
- Về cơ cấu nguồn lực:
Theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 thì dân số trong độ tuổi lao động tăng trung bình từ 56% lên 63,2% Lao động trong các ngành kinh tế quốc dân tăng từ 65.290 người năm 2016 lên 46.890 năm 2020, so với lao động trong độ tuổi tăng từ 86,4% lên 88,4% Số liệu này cho thấy, lực lượng lao động tăng lên nhanh chóng, nhưng số lao động trong khu vực nhà nước trên địa bàn huyện thì lại rất ít, chiếm tỷ lệ không lớn
Trang 7Tổng số lao động thuộc khu vực nhà nước có trên địa bàn huyện: 2016 chiếm khoảng 3,8% dân số; năm 2020 chiếm 4,7% Cứ hơn 10 người dân thì có 1 người làm việc trong khu vực nhà nước Trong số người làm việc ở các cơ quan nhà nước thì số lao động được đào tạo bồi dưỡng hàng năm ngày một tăng lên Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động dần được đáp ứng so với nhu cầu việc làm Năm 2019 giải quyết được 1.000 lao động, đến 2020 khoảng 1.500 lao động, bình quân một năm giải quyết được 500 lao động
Là một huyện miền núi phức tạp về địa hình, nhiều dân tộc cùng sinh sống,
số dân sống ở khu vực nông thôn chiếm tỷ lệ lớn, thì công tác đào tạo, dạy nghề giải quyết việc làm hàng năm là một việc vô cùng khó khăn Số lao động nông thôn chưa được đào tạo ngành nghề còn chiếm đa số Sự phân bố lao động có trình độ cao không hợp lý, chủ yếu tập trung ở thị trấn Còn các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa chiếm tỷ lệ rất thấp Đa số các xã cán bộ đó và đang phổ cập trình độ Đại học, nhất là ở vùng sâu, vùng xa Chủ yếu theo cách là "Thiếu gì học đấy, cần gì học đó" Trình độ về chuyên môn nghiệp vụ còn thiếu, thời gian sử dụng lao động nông thôn có tăng lên nhưng mới chỉ đạt tới 79% (năm 2020) Đây
là một trở ngại lớn cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
- Về chất lượng lao động ở huyện Bát Xát hiện nay.
Chất lượng người lao động với đúng nghĩa của từ đó bao gồm sức khỏe, tri thức, tình cảm, trí tuệ kỹ năng và kỹ xảo Chỉ với chí tuệ không thôi thì chưa đủ
mà người lao động còn cần đến một cơ thể khỏe mạnh ở Bát Xát việc chăm lo sức khỏe của người lao động, chăm lo đời sống vật chất, phát triển trí tuệ và tri thức luôn được quan tâm một cách đặc biệt
Các đơn vị Y tế trên địa bàn huyện bao gồm: Cơ quan quản lý nhà nước: Văn phòng HĐND và UBND huyện Các đơn vị sự nghiệp: Trung tâm Y tế, Bệnh viện Đa khoa, 02 phũng khỏm đa khoa khu vực và 23 trạm Y tế xã, thị trấn
- Dân trí:
Trình độ của người lao động ở Bát Xát so với các huyện và Thành phố khác trong cả tỉnh nói chung là thấp Do sự chia cắt về địa hình, nhiều dân tộc khác nhau, Bát Xát vẫn nằm trong tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún Tư tưởng bảo thủ vẫn còn tồn tại khá nặng nề trong xã hội và ngay trong mỗi con người Bước vào cơ chế thị trường, việc đổi mới còn chậm chạp Tuy nhiên,
đã có những bước khởi sắc như tỷ lệ hộ đói nghèo giảm xuống từ 17% (2016) còn 15,09% (2020) Nhưng nhìn chung còn chậm phát triển Đời sống mặc dù
đã được cải thiện nhưng khó khăn còn là tiềm ẩn lớn Đảng bộ và nhân dân
Trang 8huyện Bát Xát rất quan tâm tới giáo dục và coi nó là một nhiệm vụ cốt yếu hàng đầu của huyện
3.2 Thực trạng tư liệu sản xuất
Tư liệu sản xuất được cấu thành từ nhiều yếu tố như công cụ lao động, đối tượng lao động, những phương tiện sản xuất nhất định
*Công cụ lao động
Trong lực lượng sản xuất, công cụ lao động thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người Bát Xát, công cụ lao động đã có sự thay đổi và phát triển nhưng chưa mạnh mẽ Trình độ của người lao động chưa tương xứng với tầm phát triển của khoa học công nghệ Có thể xem xét công cụ lao động trên từng lĩnh vực như sau:
Trong công nghiệp, đây là lĩnh vực có chỉ số tăng trưởng cao, tổng giá trị
tăng thêm GDP năm 2016 so với năm 2020 là 23,73% đứng sau xây dựng (15,44%) Là vùng có nhiều tiềm năng và nhiều lĩnh vực như công nghiệp khai thác mỏ, công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất và phân phối điện Công nghiệp đang trên đà phát triển, công nghiệp đầu tư trang bị để phát triển kinh tế phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa địa phương đã có tiến bộ đáng khích lệ
Mức tăng trưởng của công nghiệp trên địa bàn đã vượt mục tiêu đề ra Tuy nhiên, tiểu thủ công nghiệp phát triển còn chậm, Nhất là khu vực nông thôn, công
cụ sản xuất hay thiết bị công nghệ đã được đầu tư đổi mới nhưng một số cơ sở còn lạc hậu, sản phẩm ít cả về số lượng và chủng loại, sức cạnh tranh chưa cao Chủ yếu là ở khu vực nông thôn vùng sâu, vùng xa, nơi chưa có điều kiện phát triển cả trình độ của người lao động cùng với những yếu tố khác của lực lượng sản xuất
* Đối tượng lao động
Ở đây chỉ xét đối tượng lao động là dạng có sẵn trong tự nhiên như đất, nước, rừng, khoáng sản…
Với hơn 80% dân số sống bằng nông lâm nghiệp là chính, đất có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Nguồn đất ở đây có thể xem là đối tượng lao động cơ bản nhất, nên việc xem xét chất lượng nguồn đất, sử dụng đất là việc làm vô cùng quan trọng để giúp hoạch định đối sách, bố trí sử dụng, nuôi con gì, trồng cây gì ?
Theo số liệu, tình hình phân bố và sử dụng đất trên địa bàn huyện trong những năm qua thì diện tích đất nông nghiệp tăng lên từ năm 2016 - 2020 là giữ ở mức ổn định Đất lâm nghiệp ngày một tăng và chiếm tỷ lệ lớn (từ 37,59%
Trang 9-43,14%) Điều đó hợp lý xét theo cơ cấu chủ yếu là phát triển nông, lâm nghiệp Tuy nhiên, việc sử dụng đất còn lãng phí với non một nửa diện đất chưa sử dụng, mặc dù đã có sự giảm đi nhưng không đáng kể Từ 48,07% năm 2016 xuống 41,68% năm 2020 Đây là một sự lãng phí rất lớn đối với tiến trình phát triển kinh
tế - xã hội Thực tế này đòi hỏi Bát Xát phải có sự phát triển, nâng cao hơn nữa trình độ của người lao động để sử dụng một cách có hiệu quả và hợp lý nguồn đất đai phong phú và giàu tiềm năng này
Cùng với đất thì nguồn nước ở Bát Xát vô cùng phong phú và đa dạng, với diện tích nguồn nước nổi trên địa bàn huyện Hệ thống sông, suối trên địa bàn huyện khá dày và phân bố tương đối đều Sông Hồng là nguồn cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân dọc ven sông Nước sông Hồng có hàm lượng phù sa lớn từ 6000-8000g/m3 do đó các vùng đất ven sông được phù sa bồi đắp
có độ phì nhiêu màu mỡ thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp
Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng cũng là một thế mạnh của Bát Xát Bát Xát có nhiều tài nguyên khoáng sản quý đã và đang được đầu tư khai thác như: Mỏ đồng Sin Quyền có trữ lượng trên 50 triệu tấn, mỏ sắt Bản Vược, A Mú Sung, mỏ apatít, mỏ đá vôi, đất sét, cát, sỏi Ngoài ra còn có một số khoáng sản khác đang được thăm dò, khảo sát như: Đất Hiếm, Cao Lanh, vàng Sa Khoáng, Pen Pát Nguồn tài nguyên và khoáng sản đã và đang là nội lực
cơ bản trong phát triển kinh tế của huyện, đặc biệt là mỏ đồng sẽ là nguồn thu hút lao động lớn của huyện cũng như tăng nguồn thu ngân sách trên địa bàn
3.3 Thực trạng khoa học công nghệ ở Bát Xát
Một nền sản xuất với trình độ công nghệ lạc hậu thì sản xuất không thể phát triển mạnh mẽ Vì vậy, đã nhiều năm huyện đầu tư đổi mới trang thiết bị và ứng dụng công nghệ sản xuất tiên tiến vào các lĩnh vực sản xuất, kinh tế xã hội
Đối với nông, lâm nghiệp, huyện đã nghiên cứu sản xuất và nhập các giống cây, con có năng suất cao vào sản xuất, đồng thời kết hợp việc phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM nên năng suất sản lượng cây lương thực trong mấy năm gần đây tăng lên đáng kể, góp phần lớn vào chương trình an toàn lương thực trên địa bàn Trong chăn nuôi từng bước thử nghiệm lai tạo đàn bò lai sind, lợn nạc để góp phần tạo đàn gia súc cho năng suất, chất lượng cao… Song, việc sử dụng máy móc trang thiết bị hiện đại trong sản xuất nông lâm nghiệp còn hạn chế, chủ yếu
sử dụng công cụ lao động thủ công nên năng suất còn thấp so với tiềm năng của đất đai
Ngoài ra, huyện còn phối hợp với các cơ quan trung ương nghiên cứu xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường, xử lý rác thải, xóa cây thuốc phiện, trồng cây
Trang 10lương thực, tu sửa hệ thống thủy lợi, thủy điện và các tuyến giao thông Cùng với việc nghiên cứu đổi mới trang thiết bị công nghệ hiện đại, huyện rất quan tâm nghiên cứu nuôi con gì, trồng cây gì phù hợp và hiệu quả kinh tế cao, huyện còn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến dân tộc thiểu số của huyện từ đó có chính sách phát triển kinh tế phù hợp
Có thể thấy hoạt động khoa học công nghệ những năm qua đã hướng vào các lĩnh vực phát triển kinh tế, phục vụ đời sống và bảo vệ môi trường Đặc biệt
đã ứng dụng khoa học kỹ thuật, đưa giống mới và kỹ thuật canh tác tiên tiến vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi (lúa, chè, gia súc, gia cầm)
Huyện đã tạo điều kiện để các doanh nghiệp thực hiện đổi mới thiết bị công nghệ trong chế biến nông, lâm, khoáng sản, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Khoa học quản lý, khoa học xã hội và nhân văn đạt nhiều kết quả
4 NGUYÊN NHÂN, HẠN CHẾ, GIẢI PHÁP
4.1 Hạn chế và nguyên nhân
Thực tiễn trên cho thấy những yếu tố của lực lượng sản xuất ở huyện Bát Xát đã bước đầu gắn kết với nhau, song, chưa có cơ chế, chính sách phát huy tối
đa sự gắn kết "tự nhiên" đó trong sản xuất để thúc đẩy sự phát triển có hiệu quả nhất lực lượng sản xuất ở Bát Xát
Nguồn lao động của Bát Xát phong phú và dồi dào về số lượng, nhưng trình độ kỹ năng lao động nói chung là thấp, nhiều dân tộc thiểu số sống xen kẽ với nhau, có những phong tục tập quán riêng, phân bố dân cư không đồng đều, còn ảnh hưởng nhiều những hủ tục lạc hậu … nên sự phát triển lực lượng sản xuất ở Bát Xát còn rất nhiều khó khăn Vấn đề khó khăn, nan giải nhất của huyện chính là yếu tố con người
Đối tượng lao động của huyện là yếu tố thuận lợi vì có tiềm năng để phát triển nông, lâm nghiệp, công nghiệp, phát triển nghề rừng, cây dược liệu và chăn nuôi gia súc Hiện nay ở huyện vẫn chưa khai thác hết tiềm năng vốn có Do người lao động trình độ còn thấp, kết cấu hạ tầng phát triển chưa đồng bộ, khoa học công nghệ ứng dụng phát triển còn chậm chạp Vấn đề ô nhiễm môi trường, đất bạc màu, nguồn nước, rừng có nguy cơ ít dần đi và chất lượng không được tốt đang trở thành vấn đề nghiêm trọng của huyện và toàn khu vực
Phải nói đến kết cấu hạ tầng của huyện Nó chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường, của yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Điều kiện địa hình khó khăn, trình độ người lao động thấp, khoa học công nghệ chưa