* Với một vấn đề khoa học đặt ra, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giả thuyết nghiên cứu để kiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua từ những hiểu biết ba[r]
Trang 1CHUYÊN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT ”
TRONG DẠY HỌC MÔN TNXH LỚP 2,3
TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ LỢI
Phước Trà, ngày 19/12/2016
Trang 3“Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên “Bàn tay nặng bột” (NTNB) chú trọng đến hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra…
1 KHÁI NIỆM CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
“ BÀN TAY NẶN BỘT ”
Trang 4* Với một vấn đề khoa học đặt ra, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giả thuyết nghiên cứu để kiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua từ những hiểu biết ban đầu tiến hành các thí nghiệm, thảo luận,
so sánh, phân tích, tổng hợp kiến thức
* Cũng những phương pháp dạy học tích cực khác, BTNB luôn coi học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên
Trang 5Georges Charpak – Viện sĩ Viện Hàn lâm
Pháp- giải Nobel Vật lí 1992
BÀN TAY NẶN BỘT
-Phương pháp
dạy học tích cực
-Trên thí
nghiệm nghiên cứu
Trang 6- Tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu
và say mê khoa học của học sinh
- Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kĩ
năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh
- Giảng dạy khoa học dựa trên tìm tòi khám phá
2 MỤC TIÊU CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
“ BÀN TAY NẶN BỘT ”
Trang 7- Bản chất: Việc phát hiện tiếp thu kiến thức của học sinh thông qua việc GV giúp học sinh tự đi lại chính con đường mà các nhà khoa học đã nghiên cứu tìm ra chân lý (kiến thức):
3 ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG
PHÁP DẠY HỌC “ BÀN TAY NẶN BỘT ”
- Quá trình: Từ tình huống xuất phát để nêu
vấn đề, quan niệm về vấn đề đó như thế nào
để đặt câu hỏi khoa học (giả thuyết khoa học) đến đề xuất phương pháp nghiên cứu, thực
hiện phương pháp nghiên cứu để kiểm chứng giả thuyết và đưa ra kết luận
Trang 84 10 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC “ BÀN TAY NẶN BỘT ”
1 HS quan sát một sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, có thể cảm nhận được và tiến hành thực nghiệm về chúng.
2 Trong quá trình tìm hiểu, HS lập luận, bảo vệ ý kiến của mình, đưa ra tập thể thảo luận những
ý nghĩ và những kết luận cá nhân, từ đó có
những hoạt động, thao tác riêng lẻ
* Nguyên tắc về tiến trình sư phạm :
Trang 93 Những hoạt động do GV đề xuất cho HS được
tổ chức theo tiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập Các hoạt động này làm cho các chương trình học tập được nâng cao lên và dành cho HS một phần tự chủ khá lớn
4 Cần một lượng tối thiểu là 2 giờ/tuần trong
nhiều tuần liền cho một đề tài Sự liên tục của
các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảm bảo trong suốt thời gian học tập
5 Bắt buộc mỗi HS phải có một quyển vở thực hành do chính các em ghi chép theo cách thức
và ngôn ngữ của các em
Trang 106 Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần các khái niệm khoa học và kĩ thuật được thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói của HS.
7 Các gia đình hoặc khu phố được khuyến
khích thực hiện các công việc của lớp học
8 Ở địa phương, các cơ sở khoa học ( Trường Đại học, Cao đẳng, Viện nghiên cứu ) giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình
9 Ở địa phương, các viện đào tạo GV ( Trường Cao đẳng Sư phạm, Đại học Sư phạm) giúp các
GV về kinh nghiệm và phương pháp dạy học
* Nguyên tắc về những đối tượng tham gia :
Trang 1110 GV có thể tìm thấy trên internet các website có nội dung về những môđun kiến thức ( bài học)
đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, những giải pháp thắc mắc GV cũng có
thể tham gia hoạt động tập thể bằng trao đổi với các đồng nghiệp, với các nhà sư phạm và với các nhà khoa học GV là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp
mình phụ trách.
Trang 125 Vai trò của người giáo viên trong việc giảng dạy theo phương pháp “ Bàn tay nặn bột ”
- Vai trò của người giáo viên trong phương pháp
BTNB , cũng giống như đối với các phương pháp dạy học tích cực khác, đó là hướng dẫn.
+ Người giáo viên không phải là trung tâm của quá trình dạy học, chỉ nói và đặt câu hỏi mà ngược lại, giáo viên nên nói ít cũng như hạn chế đưa ra những câu hỏi chuẩn xác cho học sinh Điều quan trọng ở đây là giáo viên hướng dẫn cho học sinh thảo luận, giúp các em thấy sự thống nhất ý kiến và hướng dẫn học sinh thảo luận tích cực
Trang 13- Khi học sinh bế tắc trong thảo luận Giáo viên đưa
ra câu hỏi gợi ý thêm hoặc những câu khẳng định mang tính dẫn dắt
- Khi quá trình thảo luận mở …… câu hỏi vượt
ngoài tầm kiến thức thì vai trò của GV như thế nào ?
- HS thảo luận tự do Giáo viên HDHS đi tới các kết luận khoa học chính xác của bài học
Trang 146 Tiến trình dạy học theo phương pháp BTNB.
Trang 15Bước 1 : Tình huống xuất phát và câu hỏi
nêu vấn đề
- Là một tình huống do giáo viên chủ động đưa
ra như là một cách dẫn nhập vào bài học
- Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học
- Câu hỏi phải phù hợp với trình độ học sinh, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò
mò của học sinh
- Giáo viên phải dùng câu hỏi mở, tuyệt đối
không được dùng câu hỏi đóng
Trang 16Bước 2 : Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh
- Làm bộc lộ quan điểm ban đầu để từ đó hình thành các câu hỏi của học sinh là bước quan
trọng, đặc trưng của Phương pháp “Bàn tay
nặn bột”
- Giáo viên khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình về sự vật, hiện tưởng mới
- Giáo viên cho học sinh trình bày bằng nhiều hình thức: viết, vẽ, nói, …
- Giáo viên không nhất thiết phải chú ý tới các quan niệm đúng, cần phải chú trọng đến các quan niệm sai
Trang 21Bước 3 : Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và
thiết kế phương án thực nghiệm
3.1 Đề xuất câu hỏi.
- Từ những khác biệt và phong phú về biểu tượng
ban đầu, GV giúp HS đề xuất câu hỏi.
- GV cần khéo léo chọn lựa một số biểu tượng ban
đầu khác biệt trong lớp từ đó HS đặt câu hỏi liên
quan đế bài học.àđể giúp học sinh so sánh
3.2 Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu.
- Từ m để tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi đó
- GV ghi chú lên bảng các đề xuất của HS để các ý kiến sau không trùng lặp.
- Khuyến khích HS tự đánh giá ý kiến nhau hơn là ý kiến của GV nhận xét.
Trang 26Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – nghiên cưu.
- Quan sát tranh và mô hình và ưu tiên thực nghiệm trên vật thật
- Từ những khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu, GV giúp HS đề xuất câu hỏi
- GV cần khéo léo chọn lựa một số biểu
tượng ban đầu khác biệt trong lớp từ đó HS đặt câu hỏi liên quan đế bài học.àđể giúp
học sinh so sánh
Trang 31Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức.
- Sau khi thực hiện các thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu các câu trả lời dần dần được giải quyết, các giả thuyết được kiểm chứng, kiến thức được hình thành, tuy nhiên kiến thức chưa
có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học.
- Giáo viên có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi vào vở như là kiến thức của bài học
+ Trước khi kết luận nên yêu cầu một vài ý kiến của học sinh cho kết luận sau khi thực nghiệm
Trang 32+ Giáo viên khắc sâu kiến thức cho học
sinh bằng cách cho học sinh nhìn lại, đối
chiếu lại quan niệm ban đầu Như vậy
những quan niệm ban đầu sai lệch chính học sinh tự phát hiện ra và tự sửa chữa, thay đổi một cách chủ động, những thay đổi giúp học sinh khắc sâu hơn, ghi nhớ lâu hơn.
Trang 34Kết luận chung
- Bộc lộ quan điểm ban đầu có thể thu thập từ trước
đó (không nhất thiết phải bắt học sinh qua vẽ hình)
- Tránh lập lại mẫu từng bước Không nhất thiết phải theo 5 bước mà có thể chuyển đổi Phải có sự thay đổi các bước trước, sau cho học sinh hứng thú
- Hệ thống hoá kiến thức chính học sinh phải ghi lại
- GV là người tương tác, định hướng để học sinh đi
đúng hướng
- Điều kiện áp dụng : Nắm được tinh thần của phương pháp, chỉ áp dụng dạy trong những bài có thể