2-Những khó khăn về từng phương diện của học sinh: học tập; sức khỏe; hoàn cảnh gia đình; tâm lý cá nhân; không tự nhận thức, không định hướng được những giá trị đích thực; thiếu ho[r]
Trang 1Modul THCS 3: Phương pháp thu thập thông tin về HS cá biệt.
A GIỚI THIỆU TỐNG QUAN
Lứa tuổi HS THCS là lứa tuổi khủng hoảng trong sự phát triển tâm lí, chính vì vậy mà so với
HS ở bậcTiểu học, lứa tuổinày dễ xuất hiện những HS khó giáo dục Mâu thuẫn trong chínHSự phát triển tâm lí ở lứa tuổi này, cùng với thiếu sự giúp đỡ, hổ trợ kịp thời của người lớn do thiếu hiểu biết đặc điểm và những khó khăn của các em mà một số em đã không vượt qua được giai đoạn này một cách tích cực, hình thành những thái độ, hành vi không phù hợp
Những HS có những thái độ, hành vi không phù hợp với giá trị, nội quy, truyền thống của tập thể, không thực hiện tròn bổn phận và trách nhiệm của người HS, hoặc thiếu văn hóa, đạo đức trong quan hệ ứng xử với mọi người, đồng thời không có động cơ học nên kết quả học tập yếu, kém được lặp lại thưởng xuyên và trở thành hệ thống được coi là cá biệt
Trách nhiệm của GD nói chung và GV nói riêng là không được để tồn tại những HS có hành vi chưa phù hợp với bổn phận, trách nhiệm công dân, chưa phù hợp với giá trị xã hội, với những quy định chung của nhà trường, lớp học, cộng đồng Bời vì GD khác với các ngànHSản xuất là không cho phép tạo ra những phế phẩm về nhân cách - không mang lại hạnh phúc cho cuộc đời các em, mà còn có hại cho xã hội Hơn nữa, nếu trong lớp để tồn tại những HS cá biệt, luôn có những hành vi tiêu cực, không phù hợp thì sẽ ảnh hưởng đến tập thể, những thành viên khác Trong thực tế nhiều GV cảm thấy rất khó khăn, có khi là bất lực khi trong lớp có HS cá biệt Vì vậy, GV cần có những kĩ năng giúp những em này điều chỉnh, thay đổi niềm tin, thái độ, hành
vi của mình để các em có tương lại tốt đẹp hơn
Một trong những tư tưởng chủ yếu trong chiến lược phát triển giáo dục thế kỉ XXI của
UNESCO là GV phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức Tư tưởng đó nhấn mạnh người GV phổ thông trong thời đại mới phải biết phát triển ở người học ý thức về các giá trị đạo đức, tinh thần, thẩm mĩ, tạo nên bản sắc văn hóa truyền thống riêng của từng dân tộc GV hơn ai hết phải là nhà GD, bằng chính nhân cách của mình tác động tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của HS
Người GV trong nền giáo dục hiện đại cần phải là người phát triển cảm xúc, thái độ, hành vi của
HS, biết khơi gợi nhu cầu, hứng thú, của người học; là người giúp cho HS biết cách học, cách tự rèn luyện cả về phẩm chất và năng lực cá nhân, hướng tới mục đích hình thành những nhân cách phù hợp, đáp ứng những yêu cầu của xã hội GV giỏi là người biết tạo ra động lực và giúp đỡ HS tiến bộ
Module này sẽ trang bị cho GV những hiểu biết về kĩ năng cơ bản để tìm hiểu thông tin về HS
THCS cá biệt (Điều quan trọng nhất ở đây là,, những thông tin mà họ thu thập được không phải
là để phê phán mà là để giúp đỡ HS\ để giáo dục tham vấn giúp các em thay đổi thái độ, hành vi
cho phù hợp và đánh giá sự tiến bộ và kết quả học tập và GD các em
Nôi dung của module gồm các hoạt động chính:
- Tìm hiểu các nội dung cần thu thập thông tin về HS cá biệt
- Tìm hiểu cách thu thập thông tin về HS cá biệt
- Hướng lưu trữ, khai thác thông tin về HS cá biệt
Tìm hiểu các nguyên nhân cơ bản dẫn đến hành vi sai lệch của HS cá biệt
- Tìm hiểu cách thức GD HS cá biệt
- Tìm hiểu cách đánh giá kết quả học tâp, GD HS cá biệt
Module này cần được học sau khi đã học các module về tâm lí, giáo dục Hướng dẫn tự học
Bước 1
Người học dựa vào kinh nghiệm thức tiễn của bản thân để thực hiện một số yêu cầu của hoạt động
Bước 2
Trang 2Đổi chiếu những nội dung tự viết dựa trên suy nghĩ, hiểu biết của mình với thông tin phản hồi hoạt động và tự mình hoàn thiện những nội dung đã viết theo yêu cầu, câu hỏi mà hoạt động đặt ra
Bước 3
Đề kiểm nghiệm câu trả lời của mình cần chia sẻ với đồng nghiệp để các ý kiến được cọ xát, một lần nữa người học sẽ nhận thức được vấn đề sâu hơn, toàn diện hơn, chính xác hơn
B MỤC TIÊU
Sau khi học xong module này, GV có thể:
Về tri thức và kĩ năng
- Nắm được được các phương pháp thu thập thông tin về HS cá biệt; các PPGD và các phương pháp đánh giá kết quả rèn luyện của HS cá biệt
- Sử dụng và phối hợp được các phương pháp thu thập thông tin về HS cá biệt; các PPGD và các phương pháp đánh giá kết quả rèn luyện của HS cá biệt có tính đến đặc điểm lứa tuổi HS THCS và đặc điễm cá nhân
Về thái độ
- Tin tường rằng mọi HS đều có thể thay đổi theo hướng tích cực và tôn trọng HS cá biệt như là những nhân cách có giá trị
Cam kết giúp đỡ, hỗ trợ HS cá biệt thay đổi niềm tin và hành vi không mong đợi
C NỘI DUNG
I Tìm hiểu về học sinh cá biệt ở lứa tuổi Trung học cơ sở.
1-Những tác động tích cực và tiêu cực đến học sinh từ gia đình, bạn bè và môi trường
sống: ảnh hưởng của gia đình; ảnh hưởng của nhóm bạn; ảnh hưởng của môi trường sống
2-Những khó khăn về từng phương diện của học sinh: học tập; sức khỏe; hoàn cảnh gia
đình; tâm lý cá nhân; không tự nhận thức, không định hướng được những giá trị đích thực; thiếu hoặc mất niềm tin vào khả năng và giá trị của bản thân; bị lôi kéo, áp lực của nhóm bạn tự phát, những thói quen tiêu cực GV tìm hiểu để kịp thời hỗ trợ, khích lệ các em hành động đúng, tránh những hành vi không mong đợi
3-Những nhu cầu, sở thích, mong muốn, điểm mạnh của từng học sinh cá biệt:
- Theo quan điểm Gardner, con người có 8 dạng năng lực/ trí thông minh và theo nhà tâm lý học Maslow, con người 5 tầng nhu cầu (tài liệu trang 112,113)
Học sinh nói chung và học sinh cá biệt nói riêng đều có thể có đầy đủ hoặc một số các năng lực, các nhu cầu ở những mức độ đã nêu GV tìm hiểu để tạo điều kiện và hỗ trợ các em phát triển năng lực, đồng thời đáp ứng được những nhu cầu chính đáng, khích lệ các em
4- Niềm tin, quan niệm của học sinh về các giá trị trong cuộc sống. GV tìm hiểu để tác động làm thay đổi những niềm tin và giá trị không hợp lý đang chi phối hành vi ứng xử của các em
5- Khả năng nhận thức, nhu cầu, động cơ học tập GV tỉm hiểu để có chiến lược tiếp cận
phù hợp
6- Tính cách với những đặc điểm cơ bản GV coi trọng khám phá những nét tích cực để phát
huy nhằm triệt tiêu những nét tiêu cực
Trang 37- Hành vi, thói quen chưa tốt và những nguyên nhân GV hỗ trợ học sinh thay đổi thói quen, hành vi trên cơ sở khắc phục những nguyên nhân gây ra chúng
II Phương pháp thu thập thông tin về học sinh cá biệt.
1-Thực hành bài tập “Tự nhận thức bản thân” cho từng học sinh trên lớp, trong đó có học sinh cá
biệt
2- Trò chuyện với học sinh cá biệt ngoài giờ học: GV cần thể hiện sự quan tâm lắng nghe để hiểu
hơn là để đáp lại, giữ bình tĩnh và kiên nhẫn không cắt ngang, tránh tranh cãi hoặc phê phán, thể hiện thiện chí muốn lắng nghe
Năm yếu tố chính của lắng nghe tích cực:
- Tập trung chú ý
- Thể hiện rằng bạn đang lắng nghe
- Cung cấp thông tin phản hồi
- Không vội đánh giá
- Đối đáp hợp lý
-Cùng với lắng nghe tích cực giáo viên cũng cần dạy cho học sinh biết cách phản hồi hay bày
tỏ cảm xúc, chia sẻ cảm xúc của bản thân với những người khác Điều này sẽ giúp học sinh thoát khỏi tình trạng căng thẳng
3- Các phương pháp thu thập thông tin khác
- Tổ chức cho học sinh viết về những điều có ý nghĩa đối với bản thân và cuộc sống theo quan niệm riêng
- Quan sát các em trong quá trình cùng tham gia vào các hoạt động với học sinh
- Tìm hiểu về học sinh cá biệt thông qua nhóm bạn thân
- Tìm hiểu về học sinh thông qua gia đình, cán bộ lớp, các bạn ngồi xung quanh, các giáo viên bộ môn, những người hàng xóm…
III Hướng phối hợp xử lý, lưu trữ, khai thác thông tin về từng học sinh cá biệt.
1-Xử lý phân tích thông tin thu được: kết hợp, đối chiếu, so sánh thông tin thu được từ các
nguồn khác nhau, trên cơ sở đó, phân tích, đánh giá để giữ lại những thông tin được kiểm chứng từ nhiều nguồn, sau đó tổng hợp, khái quát hóa để có những nhận định cơ bản về học sinh Đây là cơ sở
để đánh giá chẩn đoán về một học sinh cụ thể
-Đánh giá chẩn đoán: là một thành phần quan trọng trong công tác giáo dục Chẩn đoán
trong giáo dục không chỉ để nhận dạng các khó khăn và các thiếu hụt trong kiến thức, nhân cách của học sinh mà còn để nhận dạng các điểm mạnh, các năng lực đặc biệt của học sinh GV chẩn đoán nhằm giúp học sinh học tốt hơn chứ không phải để “dán nhãn” học sinh
- Các kết quả của chẩn đoán được sử dụng để lập nên một kế hoạch dạy học, giáo dục nhằm loại bỏ các trở ngại của việc học và phát triển nhân cách các em Kế hoạch giáo dục cá nhân là văn
Trang 4bản xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức và các điều kiện thực hiện theo tiến độ thời gian để tiến hành giáo dục
2- Lưu giữ kết quả đánh giá để lập hồ sơ từng học sinh cá biệt Hồ sơ học sinh gồm có:
Phiếu đặc điểm gia đình học sinh; Phiếu theo dõi sự phát triển cá nhân từng học sinh qua từng tuần, tháng, học kỳ, năm học; Các kết quả /thông tin sau thu thập được về học sinh thông qua các phương pháp /kỹ thuật tìm hiểu đặc thù; Học bạ; Sổ liên lạc=> Các thông tin có thể lưu giữ dưới dạng các file mềm
3- Hướng khai thác thông tin về học sinh: thông tin về học sinh cá biệt được khai thác để
xác định biện pháp tác động, dự báo chiều hướng phát triển dưới tác động của các ảnh hưởng; dự kiến kết quả đạt được cũng như những nguy cơ để từ đó có biện pháp phòng ngừa
IV Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học sinh cá biệt.
1-Chưa có mục đích học tập rõ ràng, chưa nhận thức được trách nhiệm, bổn phận của bản thân: Học sinh chưa nhận thức được “ Học để làm gì? Vì điều gì mà phải học?”, hoặc chưa hài
hòa giữa quyền và bổn phận trách nhiệm của mỗi con người trong cuộc sống Do chưa được giáo dục đầy đủ hoặc chưa đúng cách, bản thân thiếu tự giác
chấp nhận những bổn phận, trách nhiệm của mình bên cạnh việc được hưởng thụ các quyền lợi từ gia đình, nhà trường, xã hội Các em đến trường , đi học là ý muốn của gia đình, cha mẹ, không nhận thức đi học là cơ hội để thành công và hạnh phúc sau này các em thiếu tự giác, thiếu trách nhiệm với việc học tập và tu dưỡng
2- Có niềm tin sai về giá trị của con người và cuộc sống:
Không tin vào việc học, quan niệm tiền bạc và quyền uy mới là những thước đo làm nên giá trị con người và cuộc sống
3- Chán nản: Chán nản về năng lực, tự đánh giá thấp bản thân, kém tự tin, không vượt qua
được khó khăn… không còn hứng thú hoạt động và động cơ hoạt động
- Chán nản vì cho rằng bản thân không thể nào đáp ứng được các mong mỏi của thầy cô, cha
mẹ hoặc thầy cô, cha mẹ không đánh giá mình đúng mức quyết định không đáp ứng lại các mong mỏi, các yêu cầu do người lớn đề ra, từ đó mất dần hứng thú và cố gắng
- Trong quá trình thích nghi với môi trường mới, nếu học sinh lỡ vi phạm, mắc lỗi, các em rơi vào cảm giác không an toàn giảm hứng thú, động cơ học tập thậm chí chán, bỏ học
- Phương pháp học tập không hiệu quả cũng là nguyên nhân gây chán nản và mất động cơ học tập
4- Rối loạn hành vi xã hội của học sinh cá biệt
*Các mức độ rối loạn hành vi xã hội:
- Dửng dưng trước tình cảm của những người xung quanh
- Coi thường các chuẩn mực cũng như các nghĩa vụ xã hội
Trang 5- Hung tợn, có thể dùng vũ lực
- Không có khả năng cảm nhận tội lỗi và không thể rút ra những bài học có ích từ kinh
nghiệm sống, ngay cả sau những lần bị phạt do phạm lỗi
- Có năng khiếu trong việc kết tội những người xung quanh hoặc biện hộ cho những hảnh động đi ngược lại chuẩn mực của mình
* Các biểu hiện của rối loạn hành vi xã hội:
- Côn đồ, rất thích đánh nhau
- Hung hãn, tàn bạo với mọi người và với súc vật
- Phá hoại mọi tài sản sở hữu
- Ăn cắp, ăn trộm, đốt phá
- Bỏ học, Bỏ nhà đi bụi
- Rất hay lên cơn thịnh nộ, giận dữ
- Hay khiêu khích, châm chọc mọi người xung quanh
- Thường xuyên và công khai không chịu nghe lời
* Phân loại rối loạn hành vi thành ba nhóm, gồm:
- Nhóm rối loạn hành vi được giới hạn bởi những điều kiện gia đình: thể hiện sự quậy phá
trong gia đình, nguyên nhân do cha mẹ đối xử với con cái quá khắc nghiệt, thô bạo hoặc chiều chuộng con cái quá mức; do các thành viên trong gia đình quá thờ ơ dửng dung với nhau; do gia đình có quá nhiều các vấn đề xã hội,
- Nhóm rối loạn hành vi không được chấp nhận bởi nhóm xã hội: côn đồ, thích đánh
nhau, tống tiền, tấn công bằng vũ lực, tàn bạo với động vật… Dạng rối loạn này là do sự tổn hại về các mối quan hệ của trẻ với nhóm bạn, trẻ bị cô độc hắt hủi, không được đón nhận trong cộng đồng
- Nhóm rối loạn hành vi được chấp nhận bởi nhóm xã hội: các rối loạn hành vi đi ngược
lại chuẩn mực xã hội, các hành động quậy phá của những trẻ thường ngày vẫn hòa nhập tốt với các bạn cùng trang lứa
Nhóm rối loạn hành vi thứ nhất nguyên nhân chủ yếu nằm ở chính gia đình gia đình học sinh, nhóm thứ hai và ba, nguyên nhân gia đình chỉ mang tính trung gian
*Đặc điểm của học sinh có nguy cơ cao bị rối loạn hành vi xã hội
- Các kiểu hành vi chống lại chuẩn mực xã hội thường gặp ở các em trai nhiều hơn các em gái
- Các học sinh có những rối loạn về thần kinh, đặc biệt là hội chứng tăng động
- Các học sinh có trình độ phát triển trí tuệ thấp, thường bị cha mẹ quở trách vì kết quả học tập kém.Để tìm kiếm sự cảm thông, các em ra bên ngoài và dễ dàng gia nhập vào bất cứ bang nhóm nào
-Các em có yếu tố di truyền từ gia đình( bố mẹ bị rối loạn hành vi, nghiện ma túy, tâm
thần…)
Trang 6- Do chính tính cách của học sinh( thô bạo, vô cảm, ích kỷ, tự ti, tự cao…)
Rối loạn hành vi xã hội rất hiếm khi được giải quyết nhanh chóng Việc điều chỉnh, chỉnh trị phụ thuộc vào nguyên nhân của rối loạn, theo đó hoặc sẽ thực hiện liệu pháp gia đình nếu rối loạn thuộc nhóm 1, hoặc thực hiện liệu pháp với nhóm bạn, giúp học sinh thay đổi hình ảnh bản thân nếu rối loạn thuộc nhóm 2 và 3
V Tìm hiểu cách thức giáo dục học sinh cá biệt.
1-Giáo viên phải tiếp cận cá nhân và xây dựng quan hệ tin cậy, tôn trọng, thân thiện với học sinh cá biệt
-Thể hiện sự hiểu biết, trân trọng, thông cảm và chấp nhận trẻ
-Tập trung vào điểm mạnh của trẻ
-Tìm điểm tích cực và nhìn nhận tình huống theo cách khác tích cực
-Tập trung vào những điểm cố gắng , tiến bộ của trẻ
-Thực hiện trước khi một hành động diễn ra, không chỉ khi thành công mà cả khi khó khăn hoặc thất bại
GV sẽ khơi dậy ở học sinh nhu cầu muốn khẳng định khả năng và giá trị của bản thân, muốn hoàn thiện nhân cách Từ đó các em được khích lệ để tự tin và có động cơ hoạt động
2- Giúp học sinh biết nhận thức đúng về điểm mạnh và điểm yếu của bản thân.
Để học sinh có những ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ, trong các tình huống, cần giúp
học sinh nhận thức đúng bản thân, trong đó phải xác định được “ Ta là ai? Ta có điểm mạnh, điểm yếu gì?”
* Nhận thức được những giá trị đối với bản thân: nhận thức được điều gì có ý nghĩa và quan trọng đối với bản thân, và những điều đó có phải thực sự là chân giá trị của con người và đời người không? Rất quan trọng nữa là cần nhận thấy bên cạnh những hạn chế nhất định, mình là người có giá trị thì học sinh mới có nhu cầu, động lực để hoàn thiện bản thân
* Tự tin về giá trị và những điểm mạnh của mình để làm điểm tựa cho những hành vi và ứng
xử một cách tích cực: Trên cơ sở làm cho học sinh nhận thức được những điểm mạnh, giá trị của bản thân, giáo viên cần khích lệ để các em tự tin phát huy những điểm mạnh và giá trị đó, đồng thời cố gắng khắc phục những hạn chế, những niềm tin vào những cái phi giá trị hoặc phản giá trị để thay đổi hành vi, thói quen xấu, tiêu cực theo hướng lành mạnh và tích cực lên
3- Giúp học sinh nhận thức được hậu quả của những hành vi tiêu cực và tất yếu phải thay đổi thói quen, hành vi cu.
Quá trình thay đổi hành vi là một quá trình khó khăn đòi hỏi sự kiên trì của học sinh cá biệt
và sự khuyến khích, hỗ trợ của giáo viên, gia đình, bạn bè Có thể chia quá trình đó ra 5 bước:
- Nhận ra hành vi có hại;
- Quan tâm đến hành vi mới;
Trang 7- Đặt mục đích thay đổi;
-Thử nghiệm hành vi mới;
- Đánh giá kết quả
4- Quan tâm, hỗ trợ các em vượt qua những khó khăn và đáp ứng nhu cầu chính đáng của học sinh cá biệt.
-Quan tâm giúp đỡ học sinh cá biệt khi gặp khó khăn; phụ đạo bồi dưỡng them để các em có thể nắm được những kiến thức, kỹ năng cơ bản, vận dụng phương pháp tự học bộ môn Điều này rất quan trọng vì nó giúp học sinh dần thành công trong từng nấc thang chiếm lĩnh kiến thức Từ đó từng bước tạo cho học sinh niềm vui, niềm tin về khả năng học tập của bản thân Giáo viên cùng học sinh đặt ra những mục tiêu phù hợp với khả năng học tập của học sinh và giúp học sinh đạt được những mục tiêu đó, giúp các em củng cố niềm tin có thể vươn lên trong học tập
Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu cho học sinh, giáo viên cần lưu ý:
-Thái độ, hành vi của giáo viên để học sinh thấy được An toàn; Yêu thương; Hiểu, Thông cảm;Tôn trọng, có Giá trị
5-Động viên, khích lệ, tạo động lực cho học sinh cá biệt tạo động lực học tập và hoàn thiện nhân cách
6-Tránh sử dụng củng cố tiêu cực
7- Sử dụng hệ quả tự nhiên và hệ quả logic
8-Phương pháp ứng xử đối với một số loại hành vi có mục đích điển hình
9- Lập kế hoạch phát triển cá nhân, khơi dậy hoài bão và ý thức tự giáo dục của học sinh 10- Áp dụng mô hình thay đổi nhận thức – hành vi để cải thiện niềm tin, suy nghĩ chưa hợp lý của học sinh cá biệt
11- Áp dụng biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực đối với cả tập thể lớp và học sinh cá biệt 12- Thiết lập mối quan hệ thân thiện, gần gũi, chặt chẽ giữa giáo viên với cha mẹ học sinh
VI Phương pháp đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh cá biệt
1-Đánh giá hành vi không đồng nhất với đánh giá nhân cách
2-Đánh giá theo quan điểm tích cực đối với học sinh cá biệt
3- Đánh giá sự tiến bộ của chính học sinh cá biệt theo quá trình
4-Đánh giá cuối cùng theo chuẩn quy định
Một số điểm cần lưu ý khi đánh giá:
Phải rõ ràng cụ thể
Thường xuyên và có kế hoạch
Hiệu quả
Đề xuất các giải pháp khắc phục những hạn chế
Sau khi nhận thức được điều này và HS có nhu cầu thay đổi hành vi, thói quen tiêu cực thì GVCN cần giúp các em xây dựng kế hoạch thay đổi hành vi, thói quen cũ Thay đổi thói quen, hành
vi tiêu cực không phải là chuyện dễ, không chỉ cần có kế hoạch thực hiện mà còn phải có ý chí, quyết tâm, kiên định thực hiện kế hoạch để biến kế hoạch thành hiện thực, do đó GVCN và tập thể
Trang 8lớp cần luôn dõi theo sự tiến bộ để khích lệ và phòng ngừa hoặc hổ trợ, giúp đỡ khi có dấu hiệu lặp lại thói quen cũ
Đồng thời cần huớng các em suy nghĩ tích cực và suy nghĩ trước khi hành động
Cùng với việc khắc phục những suy nghĩ, niềm tin, thói quen, hành vi tiêu cực của HS, GVCN cần tạo cho HS thói quen suy nghĩ trước cẩn trọng khi hành động để tránh những hành vi không mong đợi và các hậu quả đáng tiếc khác
Sử dụng môi trường tập thể thân thiện và các mối quan hệ trong tập thể để phát hiện kịp thời và tác động phù hợp đến từng cá nhân, tạo điều kiện tinh thần và sự hổ trợ đối với từng thành viên trong quá trình thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân HS
Modul THCS 18: Phương pháp dạy học tích cực
I Quan niệm về PPDH:
* Có nhiều định nghĩa về PPDH, từ đó có nhiều cách phân loại tập hợp PPDH Định nghĩa về PPDH của I.Lecne: “PPDH là một hệ thống tác động liên tục của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của HS để HS lĩnh hội vững chắc các thành phần và nội dung GD nhằm đạt được mục tiêu đã định”
- Đặc trưng của PPDH là tính hướng đích của nó PPDH tự nó có chức năng phương tiện PPDH
cũng gắn liền với tính kế hoạch và tính liên tục của hoạt động, hành động, thao tác vì vậy có thể cấu trúc hóa được
- PPDH có mối quan hệ chặt chẽ với các thành tố của quá trình DH: PP và mục tiêu; PP và nội dung; PP và phương tiện DH; PP và ĐGKQ Đổi mới PPDH không thể không tính tới những quan
hệ này
* Phương pháp dạy học tích cực:
Luật giáo dục, Điều 24.2, đã ghi: “ PP GDPT phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”
Để đạt được mức độ độc lập, sáng tạo trong nhận thức, giáo viên phải thường xuyên phát huy
tính tích cực học tập ở học sinh: nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập Tất cả các phương phương pháp nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của HS đều được coi là PPDH tích cực.
II Đặc trưng cơ bản của PPDH tích cực:
Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của HS.
Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác.
Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
III Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực:
1 Một số phương pháp dạy học tích cực:
Một số phương pháp được sử dụng theo định hướng đổi mới:
PP trò chơi
PP đàm thoại
Một số phương pháp được
sử dụng theo định hướng đổi mới
Trang 9PP trực quan PP phát hiện
và giải quyết vấn đề
PP hợp tác
PP luyện tập theo nhóm nhỏ
PP trò chơi
1.1 Phương pháp gợi mở- vấn đáp:
a Bản chất
• Là quá trình tương tác giữa GV và HS, được thực hiện qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời tương ứng về một chủ đề nhất định
• GV không trực tiếp đưa ra những kiến thức hoàn chỉnh mà hướng dẫn HS tư duy từng bước để
từ tìm ra kiến thức mới
• Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức của HS
- Vấn đáp tái hiện
- Vấn đáp giải thích minh hoạ
- Vấn đáp tìm tòi
• Xét chất lượng câu hỏi về mặt yêu cầu năng lực nhận thức
- Loại câu hỏi có yêu cầu thấp, đòi hỏi khả năng tái hiện kiến thức, nhớ lại và trình bày lại điều
đã học
- Loại câu hỏi có yêu cầu cao đòi hỏi sự thông hiểu, kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh…, thể hiện được các khái niệm, định lí…
b Quy trình thực hiện:
* Trước giờ học:
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học và đối tượng dạy học Xác định các đơn vị kiến thức kĩ năng cơ
bản trong bài học và tìm cách diễn đạt các nội dung này dưới dạng câu hỏi gợi ý, dẫn dắt HS
Bước 2: Dự kiến nội dung các câu hỏi, hình thức hỏi, thời điểm đặt câu hỏi , trình từ của các câu
hỏi Dự kiến nội dung các câu trả lời của HS, các câu nhận xét hoặc trả lời của GV đối với HS
Bước 3: Dự kiến những câu hỏi phụ để tuỳ tình hình từng đối tượng cụ thể mà tiếp tục gợi ý, dẫn
dắt HS
* Trong giờ học:
Bước 4: GV sử dụng hệ thống câu hỏi dự kiến (phù hợp với trình độ nhận thức của từng loại đối
tượng HS) trong tiến trình bài dạy và chú ý thu thập thông tin phản hồi từ phía HS
* Sau giờ học:
GV chú ý rút kinh nghiệm về tính rõ ràng, chính xác và trật từ logic của hệ thống câu hỏi đã được sử dụng trong giờ dạy
Ưu điểm, hạn chế của Phương pháp
*Ưu điểm
- Là cách thức tốt để kích thích tư duy độc lập của HS, dạy HS cách tự suy nghĩ đúng đắn
- Lôi cuốn HS tham gia vào bài học, làm cho không khí lớp học sôi nổi, kích thích hứng thú học tập và lòng tin của HS, rèn luyện cho HS năng lực diễn đạt
- Tạo môi trường để HS giúp đỡ nhau trong học tập
- Duy trì sự chú ý của HS; giúp kiểm soát hành vi của HS và quản lí lớp học
*Hạn chế
Trang 10- Khó soạn thảo và sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở và dẫn dắt HS theo một chủ đề nhất quán
- GV phải có sự chuẩn bị rất công phu, nếu không, kiến thức mà HS thu nhận thiếu tính hệ thống, tản mạn, thậm chí vụn vặt
d Một số lưu ý
-Câu hỏi phải có nội dung chính xác, rõ ràng, sát với mục đích, yêu cầu của bài học.Tránh tình trạng đặt câu hỏi không rõ mục đích, đặt câu hỏi mà HS dễ dàng trả lời có hoặc không
-Câu hỏi phải sát với từng loại đối tượng HS Nếu không nắm chắc trình độ của HS, đặt câu hỏi không phù hợp
-Cùng một nội dung học tập, với cùng một mục đích như nhau, GV có thể sử dụng nhiều dạng câu hỏi với nhiều hình thức hỏi khác nhau
-Bên cạnh những câu hỏi chính cần chuẩn bị những câu hỏi phụ Sự thành công của phương pháp gợi mở vấn đáp phụ thuộc nhiều vào việc xây dựng được hệ thống câu hỏi gợi mở thích hợp
1.2.Dạy học giải quyết vấn đề:
a Khái niệm vấn đề - dạy học giải quyết vấn đề:
- Vấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có quy luật sẵn cũng
như những tri thức, kỹ năng sẵn có chưa đủ giải quyết mà còn khó khăn, cản trở cần vượt qua
- Một vấn đề được đặc trưng bởi ba thành phần:
• Trạng thái xuất phát: không mong muốn
• Trạng thái đích: Trạng thái mong muốn
• Sự cản trở
* Ba tiêu chí của giải quyết vấn đề:
- Chấp nhận
- Cản trở
- Khám phá
* Tình huống có vấn đề:
Tình huống có vấn đề xuất hiện khi một cá nhân đứng trước một mục đích muốn đạt tới, nhận biết một nhiệm vụ cần giải quyết nhưng chưa biết bằng cách nào, chưa đủ phương tiện (tri thức, kỹ năng…) để giải quyết
b Dạy học giải quyết vấn đề:
- Dạy học giải quyết vấn đề dựa trên cơ sở lý thuyết nhận thức Giải quyết vấn đề có vai trò đặc
biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy và nhận thức của con người „Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề“ (Rubinstein)
- DHGQVĐ là một QĐ DH nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn
đề của học sinh Học sinh được đặt trong một tình huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức
b.1 Cấu trúc của quá trình giải quyết vấn đề: