1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

BANG MUC DO LY THUYET BAI TAP THUC HANH

3 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 16,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những kỹ xảo thực nghiệm có những kỹ xảo sau: Kỹ xảo sử dụng những dụng cụ đo (bao gồm cách mắc và cách đọc số chỉ của chúng) như dụng cụ đo khối lượng, đo thời gian, đo cường độ [r]

Trang 1

PHẦN THỨ NHẤT

MÔ TẢ VỀ CẤP ĐỘ TƯ DUY

Nhận biết

(cấp độ 1)

Học sinh nhớ được (bản chất) những khái niệm cơ bản của chủ đề và có thể

nêu hoặc nhận ra các khái niệm khi được yêu cầu

Thông hiểu

(cấp độ 2) Học sinh hiểu các khái niệm cơ bản và có thể sử dụng khi câu hỏi được đặt ragần với các ví dụ học sinh đã được học trên lớp

Vận dụng (thấp)

(cấp độ 3)

Học sinh vượt qua cấp độ hiểu đơn thuần và có thể sử dụng các khái niệm của chủ đề trong các tình huống tương tự nhưng không hoàn toàn giống như tình huống đã gặp trên lớp

Vận dụng ở cấp độ cao

(cấp độ 4) Học sinh có khả năng sử dụng các khái niệm cơ bản để giải quyết một vấn đềmới hoặc không quen thuộc chưa từng được học hoặc trải nghiệm trước đây,

nhưng có thể giải quyết bằng các kỹ năng và kiến thức đã được dạy ở mức độ tương đương Các vấn đề này tương tự như các tình huống thực tế học sinh sẽ gặp ngoài môi trường lớp học

PHẦN THỨ HAI

MÔ TẢ CẤP ĐỘ TƯ DUY CHO TỪNG LOẠI BÀI TẬP

Bảng mô tả về 4 mức độ yêu cầu cần đạt của một số loại câu hỏi, bài tập thông thường

Loại câu

hỏi, bài

tập

Mức độ yêu cầu cần đạt

Định tính Xác định được

một đơn vị kiến

thức và nhắc lại

được chính xác

nội dung của

đơn vị kiến thức

đó

Sử dụng một đơn vị kiến thức để giải thích

về một khái niệm, quan điểm, nhận định… liên quan trực tiếp đến kiến thức đó

Xác định và vận dụng được nhiều nội dung kiến thức có liên quan

để phát hiện, phân tích, luận giải vấn đề trong

tình huống quen thuộc.

Xác định và vận dụng được nhiều nội dung kiến thức có liên quan

để phát hiện, phân tích, luận giải vấn đề

trong tình huống mới

Định

lượng

Xác định được

các mối liên hệ

trực tiếp giữa

các đại lượng và

tính được các

đại lượng cần

tìm

Xác định được các mối liên hệ liên quan đến các đại lượng cần tìm và tính được các đại lượng cần tìm thông qua một số bước suy luận trung gian

Xác định và vận dụng được các mối liên hệ giữa các đại lượng liên quan để giải quyết một bài toán/vấn đề trong

tình huống quen thuộc.

Xác định và vận dụng được các mối liên hệ giữa các đại lượng liên quan để giải quyết một bài toán/vấn đề trong tình

huống mới.

Thực

hành, Thí

nghiệm

Căn cứ vào kết

quả thí nghiệm

đã tiến hành,

nêu được mục

đích và các

dụng cụ thí

nghiệm

Căn cứ vào kết quả thí nghiệm đã tiến hành, trình bày được mục đích, dụng cụ, các bước tiến hành và phân tích kết quả rút

ra kết luận

Căn cứ vào phương án thí nghiệm, nêu được mục đích, lựa chọn dụng cụ và bố trí thí nghiệm; tiến hành thí nghiệm và phân tích kết quả để rút ra kết luận

Căn cứ vào yêu cầu của thí nghiệm, nêu được mục đích, phương án thí nghiệm, lựa chọn dụng cụ và bố trí thí nghiệm; tiến hành thí nghiệm và phân tích kết quả để rút ra kết luận

PHẦN THỨ BA

KỸ NĂNG VÀ KỸ XẢO VẬT LÍ

Trang 2

I KỸ NĂNG VẬT LÍ

1.Kỹ năng Vật lí là những hành động thực hành mà người học có thể thực hiện được trên cơ sở

những kiến thức Vật lí đã thu nhận được và những hành động này lại giúp người học thu nhận được kiến thức Vật lí mới và những kiến thức khác nói chung Hoặc, kỹ năng Vật lí là sự vận dụng kiến thức Vật lí vào thực tiễn và là hoạt động tự bồi dưỡng kiến thức, làm cho ta biết cách vận dụng đúng kiến thức Vật lí

đã học

2.Tại sao phải rèn kỹ năng Vật lí?

+ Trước hết, việc rèn kỹ năng nói chung và kỹ năng Vật lí nói riêng là một điều tất yếu vì chúng được coi là một mặt của kiến thức bên cạnh mặt kia là kiến thức thuần tuý chỉ mang tính thông tin Hai mặt này bổ sung cho nhau và tạo thành một loại kiến thức hoàn chỉnh và đầy đủ Kiến thức thông tin chỉ được hiểu đầy đủ và sâu sắc nhờ kiến thức kỹ năng Kiến thức kỹ năng chỉ có thể thực hiện được trên cơ

sở kiến thức thông tin

+Thứ hai, do mục đích của hoạt động học tập là để có kiến thức và có khả năng hoạt động để đáp ứng được những yêu cầu ngày càng to lớn mà xã hội đặt ra Con người của thời đại mới không phải chỉ biết mà còn phải biết cách làm việc và làm việc có hiệu quả

+Thứ ba, việc rèn luyện kỹ năng Vật lí là một trong những phương pháp tốt nhất để rèn luyện khả năng sáng tạo và làm việc độc lập của người học Người học không thể sáng tạo chỉ bằng hoạt động nghe

và ghi nhớ Sự sáng tạo chỉ có được thông qua các hoạt động tay chân và trí óc cụ thể trên các đối tượng

cụ thể

3.Nội dung cơ bản của rèn luyện kỹ năng Vật lí:

-Rèn cho ta biết quan sát, phát hiện, giải thích các hiện tượng, quá trình Vật lí xảy ra trong

tự nhiên

-Biết vận dụng kiến thức Vật lí để giải các bài tập Vật lí

-Biết tiến hành các thí nghiệm Vật lí

-Tìm hiểu các nguyên lí hoạt động của các thiết bị, máy móc trong khoa học và đời sống -Biết vận dụng kiến thức Vật lí vào đời sống thực tiễn

-Biết được vai trò của Vật lí học trong sự phát triển của khoa học và trong đời sống

4.Phương pháp rèn luyện kỹ năng: Có 3 phương pháp cơ bản

1-Tạo hứng thú cho ta trong học tập Vật lí để ta có ý thức vận dụng kiến thức

2-Luyện tập Vật lí:

+Tự lực thực hiện và rèn luyện một số lớn các hành động thực tiễn

+Luyện tập Vật lí tuân theo nguyên tắc từ dễ đến khó, thấp đến cao

+Có 3 nội dung luyện tập Vật lí:

*Luyện tập quan sát các quá trình và hiện tượng Vật lí

*Luyện tập giải bài tập Vật lí

*Luyện tập thí nghiệm Vật lí

3-Rèn luyện kỹ năng gắng với đời sống thực tiễn:

+Sưu tầm các ví dụ và ứng dụng Vật lí trong thực tiễn

+Chọn những bài tập có yếu tố kỹ thuật để giải

+Tham gia thực hiện hoạt động ngoại khoá

+Tham gia các hoạt động có sử dụng kiến thức Vật lí

+Tham quan các cơ sở sản xuất, tìm hiểu nguyên lí hoạt động

II.KỸ XẢO VẬT LÍ

Kỹ xảo Vật lí là những hành động kỹ năng Vật lí do được lặp đi lặp lại nhiều lần đã trở thành tự

động hoá

Ví dụ: Do thực hiện nhiều lần việc giải bài toán về chuyển động thẳng đều hoặc chuyển động thẳng biến đổi đều mà ta hình thành được kỹ xảo chọn trục toạ độ và phép chiếu các véc tơ lên trục toạ độ đã chọn,

tức là ta có thể thực hiện được việc lựa chọn và chiếu trục một cách nhanh chóng mà hầu như không

cần suy nghĩ, nhưng vẫn chính xác

Hoặc như do nhiều lần thực hiện việc mắc mạch điện trong các thí nghiệm, ta có thể mắc các dụng cụ đo điện một cách nhanh chóng, chính xác mà cũng hầu như không phải suy nghĩ gì nhiều về nó Giữa kỹ năng và kỹ xảo Vật lí có mối quan hệ mật thiết Việc hình thành các kỹ xảo được thực hiện thông qua việc

Trang 3

rèn luyện các kỹ năng Vật lí, nhưng một khi đã có kỹ xảo thì việc rèn luyện kỹ năng lại trở thành đơn giản

và thuận lợi Ví dụ: Kỹ xảo đổi đơn vị trong các bài toán Vật lí chỉ được hình thành thông qua kỹ năng giải toán Vật lí Nhưng khi kỹ xảo đó đã được hình thành thì việc giải toán Vật lí sẽ được nhanh chóng và chính xác hơn

Trong Vật lí, chủ yếu có hai loại kỹ xảo là những kỹ xảo thực nghiệm và những kỹ xảo giải toán Vật lí Trong những kỹ xảo thực nghiệm có những kỹ xảo sau: Kỹ xảo sử dụng những dụng cụ đo (bao gồm cách mắc và cách đọc số chỉ của chúng) như dụng cụ đo khối lượng, đo thời gian, đo cường độ dòng điện, đo hiệu điện thế, đo lực, …; kỹ xảo đọc và thiết lập các thí nghiệm theo sơ đồ, theo hình vẽ; kỹ xảo

về an toàn thí nghiệm (an toàn về cháy nổ, an toàn về điện, về hoá chất, về phóng xạ,…); kỹ xảo về lấy dữ kiện và xử lý các dữ kiện; kỹ xảo xác lập các thông số và các đại lượng tương quan hàm số Ngoài ra, trong từng loại thí nghiệm lại có những kỹ xảo riêng Ví dụ trong các thí nghiệm về điện có những kỹ xảo

sử dụng các nguồn điện; trong các thí nghiệm về quang hình có kỹ xảo lắp đặt các nguồn sáng, các quang cụ; …

Trong những kỹ xảo giải toán Vật lí có những kỹ xảo sau: Kỹ xảo phân tích (tóm tắt) bài toán; kỹ xảo sử dụng và đổi đơn vị Vật lí; kỹ xảo vẽ hình và lập sơ đồ; kỹ xảo vẽ và đọc đồ thị; các kỹ xảo tính toán như tính toán với các phép tính số mũ, lấy lôgarít, khảo sát hàm số, tính các đại lượng trung bình, lập và giải phương trình, hệ phương trình, thực hiện các phép tính véc tơ, …Ngoài ra trong từng loại bài toán lại có những kỹ xảo riêng Ví dụ trong bài toán chuyển động cơ học có các kỹ xảo vẽ các véc tơ lực, kỹ xảo chọn trục toạ độ, kỹ xảo chiếu các véc tơ lên trục toạ độ, kỹ xảo phân tích và tổng hợp lực,…Trong các bài toán về dòng điện không đổi có các kỹ xảo vẽ lại mạch điện, kỹ xảo tính điện trở tương đương của mạch điện…

Con đường hình thành kỹ xảo chủ yếu do hành động được lặp đi lặp lại nhiều lần có chủ định Vì vậy, để hình thành kỹ xảo bắt buộc người học phải tự hành động nhiều lần Quá trình này phải được hình thành trong thời gian dài mà không thể nôn nóng Nó đòi hỏi sự kiên trì thực hiện

Cà Mau, tháng 8 năm 2016

Ngày đăng: 02/11/2021, 19:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w