Mặt khác Việt Nam có nền văn hóa lâu đời, thuộc nền văn hóa phương Đông nên mọi phong tục và tập quán, các lễ tết đều sử dụng Lịch âm trong sinh hoạt đời sống văn hóa tinh thần đều sử dụ
Trang 1ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KỸ SƯ CNTT
XÂY DỰNG PHẦN MỀM LỊCH VẠN NIÊN 1900 – 2100
GVHD : Th.S TrÇn ThÞ Kim Oanh SVTH : Vò Hïng Tµi
Líp 45K _ Khoa CNTT
Trang 2Lời Cảm Ơn
Suốt quá trình năm năm học tập trong Khoa Công nghệ thông tin - Tr-ờng
Đại học Vinh vừa qua, em đã đ-ợc các thầy, các cô cung cấp và truyền đạt nhiều kiến thức về chuyên môn cần thiết và quý giá nhất Ngoài ra, các thầy, các cô còn rèn luyện cho em một tinh thần học tập và t- duy để giải quyết các vấn đề trong lập trình và xử lý các bài toán trong thực tế Đây là điều kiện hết sức cần thiết để
em có thể thành công khi bắt tay vào nghề nghiệp t-ơng lai của mình
Qua thời gian làm đồ án đ-ợc sự h-ớng dẫn tận tình của cô giáo ThS Trần
Thị Kim Oanh cho đến nay đồ án của em đã hoàn thành Qua đồ án này đã giúp
em hiểu biết thêm rất nhiều chuyên môn, cũng nh- hiểu biết thêm một lĩnh vực rất thú vị Em đã thấy đ-ợc đã thấy đ-ợc công việc thực tế mà các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học đã và đang xây dựng các tính toán hoàn thiện về công tác làm Lịch
Có đ-ợc thành quả này, tr-ớc hết em xin chân thành cảm ơn đến cô giáo
ThS Trần Thị Kim Oanh ng-ời đã h-ớng dẫn em trong suốt quá trình làm Đề
tài thực tập cơ sở, Đề tài thực tập chuyên ngành, và cuối cùng là Đồ án tốt nghiệp
Con xin chân thành cảm ơn Ông, Bà, Cha, Mẹ và toàn thể đại gia đình đã luôn sát cánh động viên, tạo điều kiện thời gian, ủng hộ vật chất lẫn tinh thần trong suốt thời gian qua
Cháu xin chân thành cảm ơn Bác Trịnh Tiến Điều tr-ởng ban Lịch nhà
n-ớc Việt Nam, nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc đã giúp đỡ cung cấp các thông tin cần thiết trong quá trình xây dựng và tìm nguồn tài liệu
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô trong khoa Công nghệ thông tin nói riêng và các thầy cô giáo tr-ờng Đại học Vinh nói chung, những ng-ời đã dạy
dỗ và truyền đạt cho em rất nhiều kiến thức để có đ-ợc thành quả nh- ngày hôm nay
Tôi xin chân thành cảm ơn đến toàn thể anh, chị, em và bạn bè đã thông cảm, động viên, giúp đỡ về mọi mặt trong suốt quá trình làm đồ án
Cuối cùng Em rất mong nhận đ-ợc những ý kiến đóng góp và góp ý của các quý thầy cô và các bạn để phần mềm này ngày càng hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn tất cả mọi ng-ời!
Vinh, ngày 16 tháng 5 năm 2009
Vũ Hùng Tài
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 10
1.1 Lý do chọn đề tài: 10
1.2Cách tiếp cận đề tài: 10
1.3 Yêu cầu đề tài: 11
1.3.1 Mục đích: 11
1.3.2 Nội dung: 11
1.4 Phương pháp nghiên cứu: 11
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LỊCH PHÁP VIỆT NAM VÀ LỊCH VẠN NIÊN 12 2.1 Lịch Việt Nam qua các thời kỳ Lịch sử: 12
2.2 Lịch pháp là gì? 13
2.3 Lịch Việt Nam: 13
2.4 Sự khác nhau giữa Lịch Việt Nam và Lịch Trung Quốc: 14
2.5 Lịch Vạn niên: 15
2.6 Các đơn vị thời gian: 15
2.6.1 Ngày: 16
2.6.2 Tuần lễ: 16
2.6.3 Tháng: 17
2.6.3.1 Tháng Dương lịch: 17
2.6.3.2 Tháng Âm, tháng dương lịch: 17
2.6.4 Năm: 18
2.6.4.1 Năm dương lịch: 18
2.6.4.2 Năm âm lịch: 19
2.7 Tiết khí và Trung khí: 19
2.8 Phép đo lường thời gian theo hệ Can Chi: 21
2.8.1 Ý nghĩa của Can Chi: 21
2.8.2 Quy luật kết hợp Thiên Can và Địa Chi: 22
2.8.3 Điểm khởi đầu của hệ thời gian Can Chi: 22
Trang 42.8.3.1 Năm Giáp Tý đầu tiên: 22
2.8.3.2 Tháng Giáp Tý đầu tiên: 23
2.8.3.3 Ngày Giáp Tý đầu tiên: 23
2.8.4 Can Chi của giờ: 24
2.9 Trực của ngày: 24
2.9.1 Quy luật vận hành: 24
2.9.2 Tính chất của 12 trực 25
2.10 Ngũ hành của ngày: 27
2.11 Phép ghi 28 sao (Nhị thập bát Tú): 28
2.12 Giờ Hoàng đạo – Hắc đạo của ngày, tháng: 30
2.12.1 Giờ Hoàng Đạo: 30
2.12.2 Giờ Hắc đạo: 30
2.12.3 Bảng tổng hợp: 31
2.13 Ngày Hoàng Đạo - Hắc đạo: 32
2.14 Hướng tốt - xấu (Hướng Tài thần – Hướng Hỷ thần – Hướng Hạc thần): 33
2.15 Tuổi xung hợp với ngày: 35
2.15.1 Quy luật xung hợp hàng Can: 35
2.15.2 Quy luật xung hợp hàng Chi: 35
2.16 Sao tốt, Sao Xấu: 39
2.17 Một số khái niệm hỗ trợ cho việc tính toán lịch: 39
2.17.1 Lịch ngày Julius: 39
2.17.2 Điểm Sóc(New moon): 39
2.17.3 Khái niệm về Trung khí (Major solar term): 39
CHƯƠNG 3 : XÂY DỰNG CÁC ĐƠN VỊ TÍNH TOÁN CHO LỊCH 40
3.1 Xây dựng thuật toán đổi Dương lịch ra Âm lịch và ngược lại 40
3.1.1 Tính toán với số ngày Julius : 40
3.1.1.1 Đổi ngày dương lịch ra số ngày Julius : 41
3.1.1.2 Đổi ngày số ngày Julius ra dương lịch: 41
Trang 53.1.1.3 Chuyển đổi ngày số ngày Julius theo giờ Việt Nam (GMT + 7): 42
3.1.2 Tính thời điểm Sóc: 42
3.1.3 Tính vị trí của mặt trời tại một thời điểm: 43
3.1.4 Tính tháng âm lịch chứa ngày đông chí: 44
3.1.5 Đổi ngày dương lịch ra ngày âm lịch: 45
3.1.6 Đổi ngày âm lịch ra ngày dương lịch: 45
3.2 Xây dựng một số thuật toán tính toán Lịch Vạn Niên: 46
3.2.1 Tính Nhật thứ của ngày: 47
3.2.2 Tính Can Chi của năm: 49
3.2.3 Tính Can Chi của tháng: 49
3.2.4 Tính Can Chi của ngày âm lịch: 49
3.2.5 Tính Can chi của giờ đầu ngày: 50
3.2.6 Tính tháng nhuận hay không nhuận: 50
3.2.7 Tính tháng đủ hay thiếu: 51
3.2.8 Tính ngày tiết khí: 51
3.2.9 Tính ngày Trực: 52
3.2.10 Tính ngũ hành của ngày: 55
3.2.11 Tính sao nhị thập bát tú: 55
3.3 Tổ chức cơ sở dữ liệu: 56
CHƯƠNG 4: CÀI ĐẶT CHƯƠNG TRÌNH 57
4.1 Cài đặt chương trình: 57
4.2 Đăng ký tài khoản in ấn: 58
4.3 Một số chức năng của chương trình: 59
4.3.1 Giao diện chính của chương trình 59
4.3.2 Lịch ngày: 60
4.3.3 Giao diện lịch tháng: 60
4.3.4 Tra cứu lịch: 60
4.3.5 Chức năng tra cứu ngày sinh: 61
Trang 64.3.6 Một số công cụ mở rộng của chương trình: 61
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 63
5.1 Kết quả đạt được: 63
5.1.1 Về mặt lý thuyết: 63
5.1.2 Về mặt thực nghiệm: 63
5.1.3 Về mặt tái sử dụng và bảo trì: 64
5.2 Tự đánh giá:…… 64
5.2 Ưu điểm: 64
5.2.2 Hạn chế: 64
5.2.3 Hướng phát triển: 65
PHỤ LỤC 1: CÁC HÀM TÍNH TOÁN PHẦN MỀM LỊCH VẠN SỰ 66
PHỤ LỤC 2: TỤC CHỌN NGÀY CHỌN GIỜ 68
PHỤ LỤC 3 : DANH MỤC CÁC HÌNH 72
PHỤ LỤC 4 : DANH MỤC CÁC BẢNG 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, với sự phát triển của thế giới, công nghệ thông tin đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống con người Công nghệ thông tin đã đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia, tạo việc làm cho hàng triệu người trên thế giới, nâng cao đời sống, thay đổi lối sống của con người…
Ngành Công nghệ thông tin ngày nay đã trở thành một trong những ngành mũi nhọn Nó được ứng dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Có thể nói
sự vượt bậc của Công nghệ thông tin đã giúp con người hóa giải được rất nhiều bài toán phức tạp mà trước đây đã mất nhiều thời gian, tiền bạc, công sức mà kết quả đạt được lại
có thể không được như ý muốn Bây giờ nó đã đơn giản hơn, nhanh chóng hơn và độ chính xác cao hơn Điều này đã đánh dấu một bước ngoặt trong sự phát triển của tin học nói riêng cũng như của Khoa học nhân loại nói chung
Do đó, việc chú trọng phát triển công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Nhằm nâng cao khả năng tiếp cận, học tập, làm việc và khai thác tối đa các lợi ích của công nghệ thông tin vào sự phát triển con người Đáp ứng các nhu cầu của xã hội, nhiều chuyên gia máy tính, các nhóm lập trình và các hãng điều hành đã cho ra đời nhiều phần mềm ứng dụng phục vụ cho đời sống của con người được nâng cao hơn
Nhằm khai thác tối đa tính hiệu quả của Công nghệ thông tin Em đã mạnh dạn
tìm hiểu công tác làm Lịch và ứng dụng Công nghệ thông tin để thực hiện đề tài “Xây
dựng phần mềm Lịch Vạn Niên 1900 – 2100” Trên cơ sở kế thừa truyền thống văn
hóa của dân tộc và kết hợp với khoa học hiện đại em đã lựa chọn phần mềm này để làm
đồ án tốt nghiệp Đại học cho mình
Để giúp quý thầy cô và các bạn có cái nhìn tổng thể về công tác Lịch pháp, Lịch
sử Lịch pháp qua hàng nghìn năm tồn tại và phát triển Đồ án này có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu cho những người muốn tìm hiểu về lịch pháp Việt Nam
Trang 8Trước khi vào chương tiếp theo, kính mong các thầy cô, bạn bè và toàn thể những
ai quan tâm đến phần Lịch Vạn Niên hãy chú ý lời của tác giả Hoàng Tuấn ([5]) như sau:
“ Người Á Đông xưa rất coi trọng ảnh hưởng của chất lượng thời gian không những chỉ đến khí hậu thời tiết, đến được mất của mùa màng, mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tâm sinh lý con người và quyết định đến cả số mệnh của họ Cổ nhân coi thời điểm sinh của con người và thời cuộc, làm cơ sở cho những dự báo có thể xảy ra trong cuộc đời mỗi con người
Vì vậy nó rất lý thú vì không phải chỉ là loại lịch để đo đạc thời gian đơn thuần
mà còn bao gồm trong đó cả phép dự báo thời vận cổ Đúng sai ta cần phải bỏ công khảo sát trong thực tiễn mới có câu trả lời thỏa đáng, còn thực tế thì đây là một công trình trải qua nhiều đời học giả nối tiếp nhau mới hoàn thành và có tính logic chặt chẽ, hoàn toàn không phải vấn đề mê tín, chúng ta cần trân trọng”
Trang 9Nội dung đồ án bao gồm 5 Chương
Chương 1: Tổng quan về đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết Lịch pháp Việt Nam và Lịch Vạn Niên Chương 3: Xây dựng các đơn vị tính toán cho lịch
Chương 4: Cài đặt chương trình Chương 5: Kết luận
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
Mỗi năm hàng chục triệu cuốn lịch treo, lịch sổ, lịch bàn và sách lịch ra đời, đáp ứng
đủ mọi nhu cầu dùng lịch của nhân dân Mà đối tượng dùng lịch thì bao gồm rất nhiều tầng lớp nhân dân trong xã hội Từ thành thị, nông thôn, từ cơ quan nhà nước đến những người bình dân đều phải dùng lịch để làm việc Nhưng nhà nước không in lịch cho tất cả
các năm mà mỗi năm chỉ ban lịch một lần Vì vậy, Đồ án “Xây dựng phần mềm Lịch
vạn niên 1900 – 2100” ra đời để đáp ứng đến 2 đối tượng người dùng, đó là - Mọi tầng
lớp nhân dân sử dụng lịch và các Nhà xuất bản dùng để hỗ trợ cho việc in ấn phát hành lịch
Lịch Việt Nam gồm có 2 phần: Dương lịch và Âm lịch, hay lịch âm dương Việt Nam Mặt khác Việt Nam có nền văn hóa lâu đời, thuộc nền văn hóa phương Đông nên mọi phong tục và tập quán, các lễ tết đều sử dụng Lịch âm trong sinh hoạt đời sống văn hóa tinh thần đều sử dụng Lịch âm, còn Lịch dương là dùng chung với toàn thế giới Cách tính toán Lịch vạn niên là một lĩnh vực không phải là mới nhưng lại mới đối với sinh viên khi tiếp cận một vấn đề vừa mang tính khoa học, vừa mang tính xã hội này, nhất là nó còn liên quan đến nét văn hóa phương Đông, nét đặc thù về mặt tâm lý và văn hóa đời sống tinh thần người Việt
Mục đích chính của phần mềm là biểu diễn các quy luật trong cách tính Lịch để xây dựng nên thuật toán dưới dạng tin học
Trang 11Các tài liệu em tham khảo từ các Lịch gia Việt Nam, các nhà nghiên cứu Lịch trong
và ngoài nước cùng với kiến thức Tin học đã được đào tạo ở trường, em cố gắng biểu diễn các quy tắc, các quy luật làm Lịch dưới dạng Tin học để đưa ra một sản phẩm nhằm mục đích dễ dàng cho người sử dụng, hỗ trợ một phần nào đó cho các Nhà biên tập lịch rút ngắn thời gian trong công tác tính toán và in ấn Lịch hàng năm
1.3 Yêu cầu đề tài:
Một số sản phẩm còn có nhiều hạn chế đối với người dùng và các nhà xuất bản Chính
vì thế em muốn xây dựng một phần mềm có tính tiện sử dụng hơn cho người sử dụng cũng như hỗ trợ trong công việc in ấn Lịch hàng năm cho các Nhà xuất bản
1.3.2 Nội dung:
Nội dung của đồ án này chỉ tập chung giải quyết những vấn đề như sau:
- Chuyển đổi ngày tháng âm lịch, dương lịch
- Tính lịch Can Chi
- Tính lịch Tiết khí
- Tra cứu Lịch vạn niên
- Và một số các luật sinh các kết quả tương ứng bao gồm : 28 sao phương
Đông (Nhị thập bát tú), Âm dương ngũ hành, Ngày giờ Hoàng đạo,…
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thành được đồ án này em đã nghiên cứu và thực hiện theo các bước như sau:
- Tìm hiểu Cơ sở lý thuyết về Lịch pháp Việt Nam và Lịch Vạn Niên
- Xây dựng các đơn vị tính toán Lịch Vạn Niên
- Cài đặt chương trình
Trang 12CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT LỊCH PHÁP VIỆT NAM VÀ
LỊCH VẠN NIÊN
2.1 Lịch Việt Nam qua các thời kỳ Lịch sử:
- Thời Bắc thuộc: Lịch Trung Quốc được sử dụng tại Việt Nam
- Từ nhà Ngô đến đầu nhà Lý (khoảng 939-1078): Các vương triều đầu tiên của nước
Việt Nam độc lập vẫn dùng lịch Tàu
- Nhà Lý và nhà Trần (1080-1300): Việt Nam tự tính lịch riêng (theo một phép lịch thời
nhà Tống bên Trung Quốc) Có nhiều điểm khác biệt giữa lịch ta và lịch Trung Quốc trong giai đoạn này Nhưng hiện nay không có đủ tài liệu lịch sử để phục hồi lịch này
- Nhà Trần, Hồ và Lê (1306-1644): Thời kỳ này Việt Nam sử dụng lịch giống như lịch
nhà Nguyên và Minh dùng tại Trung Quốc (có thể người Việt đã học được phép lịch Thụ Thời khi đi sứ nhà Nguyên khoảng 1300 và sau đó có thể tự tính lịch) Ngay cả trong thời
kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh (1627 trở đi), các chúa Nguyễn ở miền Nam vẫn dùng lịch giống nhà Lê-Trịnh Năn 1384 nhà Minh ở Trung Quốc đổi tên lịch Thụ Thời thành Đại Thống nhưng vẫn giữ nguyên cách tính Cho đến hết đời Minh (1644) lịch ta và lịch Tàu không khác nhau
- Từ thời Trịnh-Nguyễn phân tranh đến đầu nhà Nguyễn (1645-1812): Việt Nam dùng
lịch riêng, tính theo phép lịch Đại thống Tại Trung Quốc, năm 1644 nhà Thanh lên ngôi
đã dùng phép lịch mới (lịch Thời Hiến) Lịch ta và lịch Tàu khác nhau nhiều
- Thời Tây Sơn (1789-1801): Không rõ nhà Tây Sơn dùng lịch gì vì các văn kiện thời Tây
Sơn sau bị phá hủy hết Có lẽ Tây Sơn đã chuyển sang dùng lịch giống lịch nhà Thanh bên Trung Quốc ([15], tr 949) Tại vùng chúa Nguyễn kiểm soát trong giai đoạn này vẫn
sử dụng lịch của nhà Lê (tính theo phép lịch Đại Thống) Sau khi Gia Long lên ngôi vẫn duy trì lịch cũ (tên là lịch Vạn Toàn) đến 1812
- Thời nhà Nguyễn và thuộc Pháp (1813-1945): Dùng lịch Hiệp Kỷ (tính theo phép lịch
Thời Hiến của nhà Thanh) Không có sự khác biệt giữa lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc
Trang 13- Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946-1954): Việt Nam không còn cơ quan tính
lịch riêng nên làm lịch theo sách Vạn niên thư của Trung Quốc Như thế lịch ta và lịch Tàu không khác nhau
- Thời kỳ hai miền chia cắt (1955-1975): Âm lịch tại hai miền Bắc Nam có chỗ khác
nhau (và khác với lịch Trung Quốc) do sử dụng các múi giờ khác nhau cho việc tính toán
Ở miền Bắc dùng múi giờ thứ 8 tới năm 1967 và múi giờ thứ 7 từ 1968 trở đi Tại miền Nam sử dụng múi giờ thứ 8
- Từ 1976 trở đi: Cả nước Việt Nam tính lịch âm theo múi giờ thứ 7 Do khác múi giờ
nên có nhiều điểm lịch ta và lịch Tàu khác nhau
2.2 Lịch pháp là gì?
Lịch pháp là công tác tính toán cho đúng và phù hợp với điều kiện nhân văn xã hội tại
đó Đó là cách tính chu kỳ tuần hoàn của mặt trời, mặt trăng và trái đất để soạn năm, tháng, ngày, giờ cho lịch Vì 3 đơn vị để soạn lịch không thông ước với nhau, nên 6000
năm nay con người không thể phối hợp được chúng với nhau, mà chỉ phối hợp được đúng 2 đơn vị : Năm mặt trời với ngày, hay tháng mặt trăng với ngày mà thôi Đó là nguyên nhân phát sinh ra hai hệ lịch khác hẳn nhau đó là Dương lịch và Âm lịch([3]) Trong mỗi hệ lịch như vậy, cách phối hợp lại tùy thuộc vào từng dân tộc, từng thời kỳ nên có nhiều loại lịch, như lịch cổ Ai Cập, lịch Julius, lịch Gregorius … là hệ lịch Dương, còn lịch cổ Trung Quốc, lịch Babilon, lịch cổ La Mã, lịch Do Thái … là hệ lịch
Âm
2.3 Lịch Việt Nam:
Lịch Việt Nam là loại lịch Âm Dương ([2]) Lịch Âm Dương quy định lấy ngày chứa điểm sóc (không trăng hoặc trăng mới) là ngày đầu tháng, mỗi tháng có 29 hoặc 30 ngày Năm thường có 12 tháng gồm 353; 354; hay 355 ngày Năm nhuận có 13 tháng, gồm 383, 384 hay 385 ngày Luận nhuận 7/19, nghĩa là cứ 19 năm thì có 7 năm nhuận (Thập cửu niên thất nhuận).Tháng nhuận là tháng không chứa Trung khí Tháng Tý luôn chứa tiết Đông Chí hàng năm Cơ sở tính lịch dựa trên múi giờ 7, có kinh độ 105o Đông
làm trung tâm
Trang 14Như vậy Âm lịch Việt Nam là một loại lịch thiên văn học Vì nó được tính toán dựa trên sự chuyển động của mặt trời, trái đất và mặt trăng Ngày tháng âm lịch được tính dựa theo các nguyên tắc sau: ([12])
Ngày đầu tiên của tháng âm lịch là ngày chứa điểm Sóc
Một năm bình thường có 12 tháng âm lịch, một năm nhuận có 13 tháng âm lịch
Đông chí luôn rơi vào tháng 11 âm lịch
Trong một năm nhuận, nếu có 1 tháng không có Trung khí thì tháng đó là tháng nhuận Nếu nhiều tháng trong năm nhuận đều không có Trung khí thì chỉ tháng đầu tiên sau Đông chí là tháng nhuận
Việc tính toán dựa trên kinh tuyến 105° đông
2.4 Sự khác nhau giữa Lịch Việt Nam và Lịch Trung Quốc:
Cách tính Âm lịch Việt Nam theo cách tính lịch cổ Trung Quốc, nhưng lại có sự khác biệt rõ rệt Nguyên nhân mà hai nước có lịch khác nhau đó là: Trung Quốc và Việt Nam
ở vị trí địa lý khác nhau, cụ thể như sau: Trung Quốc ở kinh tuyến 120o
Đông, tức 8h GMT, còn ở Việt Nam ở kinh tuyến 105oĐông, tức 7giờ GMT, như vậy khi ở nước ta mới 23h 00 hôm nay thì Trung Quốc là 00h 00 ngày tiếp theo Nếu ngày hôm đó lại là ngày cuối tháng hoặc cuối năm, thì ta còn ở tháng này hoặc năm này, còn ở Trung Quốc
đã là tháng sau hoặc là năm sau Việc chênh lệch nhau 1 giờ đồng hồ sẽ dẫn tới có lúc khác ngày, khác tháng, khác năm Sự chênh lệch giữa ngày tháng giữa lịch Âm Việt Nam
và lịch Âm Trung Quốc là có cơ sở ở sự tính toán khoa học([2])
Theo tài liệu của tác giả Lê Quý Ngưu ([3]) đã chỉ ra Từ năm 1968 – 2010 sẽ có 34 tháng thiếu đủ khác nhau, 29 tiết khác nhau, 2 tháng nhuận khác nhau(Năm Giáp Tý
1984 và Năm Đinh Mão 1987) Với 4 ngày Tết Nguyên Đán khác nhau
Bởi vậy ở nước ta có nhiều năm ăn tết sớm hơn Trung Quốc 1 ngày khác với Trung Quốc như tết Mậu Thân 1968, tết Kỷ Dậu 1969; hoặc ăn tết sớm hơn 1 tháng như tết Ất Sửu 1985 là điều không có gì lạ
Trang 152.6 Các đơn vị thời gian:
Chuyển động biểu kiến của mặt trời là: Hiện tượng Mặt Trời ở đúng đỉnh đầu lúc
12 giờ trưa (tia sáng Mặt Trời chiếu thẳng góc với tiếp tuyến ở bề mặt đất) được gọi là Mặt Trời lên thiên đỉnh Ở Trái Đất, ta thấy hiện tượng này chỉ lần lượt xảy ra tại các địa điểm từ vĩ tuyến 23o
27’N (ngày 22 – 12) cho tới 23o 27’B (ngày 22 – 6) rồi lại xuống vĩ tuyến 23o 27’N Điều đó làm ta có ảo giác là Mặt Trời di chuyển Nhưng trong thực tế, không phải Mặt Trời di chuyển mà là Trái Đất chuyển động tịnh tiến xung quanh Mặt Trời Chuyển động không có thực đó của Mặt Trời được gọi là chuyển động biểu kiến hằng năm của Mặt Trời
Chuyển động biểu kiến của mặt trời là do Trái đất tự quay chung quanh một trục xuyên qua cực bắc gần sao Bắc Đẩu Trái Đất tự quay quanh trục (nối Bắc Cực với Nam Cực) của nó, nếu xét so với nền sao, hết 23 giờ 56 phút và 4,09 giây (1 ngày thiên văn)
Vì thế từ Trái Đất các chuyển động biểu kiến của các thiên thể trên bầu trời (ngoại trừ hiện tượng sao băng là diễn ra trong bầu khí quyển cũng như các vệ tinh quỹ đạo thấp) là chuyển động về phía Tây với tốc độ 15°/h = 15'/phút, tương đương đường kính góc của Mặt Trời hay Mặt Trăng cứ mỗi hai phút
Trang 16Hình 2.6 Thiên cực của trái đất
2.6.1 Ngày:
Ngày nói chính xác là “Ngày – Đêm”, Ngày là đơn vị thời gian chủ chốt về lịch Một ngày bắt đầu từ điểm nửa-đêm và chia làm 12 giờ (Tý Hợi) Một giờ lại được chia thành hai khoảng: Sơ và Chính Một ngày không bắt đầu bằng giờ đầu tiên là giờ Tý mà
ở điểm bắt đầu của chính Tý Giờ Tý như thế có hai phần, nửa đầu thuộc ngày hôm trước
và nửa sau thuộc ngày hôm sau
2.6.2 Tuần lễ:
Ngày xưa các dân tộc Á Đông dùng tuần mười ngày, 3 tuần là một tháng Tuần lễ
7 ngày bắt nguồn từ dân tộc Babilon và Ai Cập xưa Họ lấy tên 7 hành tinh di chuyển và sáng nhất trên bầu trời đặt tên cho các ngày trong tuần Ta xem bảng sau:
Trang 17Tên theo Việt
Nam
Tên bảy hành tinh Tên theo La Tinh Tên theo Anh Ngữ Chủ Nhật Mặt trời Solis Sunday
Thứ 2 Mặt trăng Lunae Monday
Thứ 3 Sao Hỏa Martis Tuesday
Thứ 4 Sao Thủy Mercurii Wednesday
Thứ 5 Sao Mộc Jovis Thursday
Thứ 6 Sao Kim Veneris Friday
Thứ 7 Sao thổ Saturni Saturday
Trang 18cầu thì thấy nó chạy trên quỹ đạo gọi là BẠCH ĐẠO Chu kỳ của trăng để đi hết một vòng bạch đạo, từ điểm sóc này đến điểm sóc tới gọi là SÓC-SÁCH
Hình 2.6.3.2: Sự quan sát mặt Trăng từ trái đất
Ngày chứa điểm SÓC là ngày mồng một, là điểm gốc để bắt đầu một tháng Số ngày trong tháng được làm chẵn thành tháng đủ 30 ngày và tháng thiếu 29 ngày Nhưng thực chất tuần Sóc – Vọng chỉ khoảng 27,54 ngày, nên phải điều chỉnh cho hợp với chu
kỳ vòng quay của mặt trăng quanh trái đất
Điểm "phân" cuả Xuân và Thu ngày và đêm dài bằng nhau
Điểm "chí" của Hạ thì (đối với bắc bán cầu) ngày dài (nhất) so với đêm còn ở điểm Đông chí thì ngược lại (Xem Chương 2, Hình 2.6)
Trang 19Đứng về mặt vị trí trái đất mà nói thì ở điểm hạ chí trái đất nghiêng bắc bán cầu vào phía mặt trời và điểm đông chí thì ngược lại Từ bốn điểm mốc đó người ta phân nhỏ hơn thành 24 thời điểm gọi là KHÍ là các điểm mốc về thời tiết
Khí được phân làm hai loại ([Mục 2.7]) : TIẾT là ngăn chia, và TRUNG là giữa Như vậy ta có 12 trung khí và tiết khí xen kẽ nhau Chính ở khái niệm khí này mà ta thấy trong âm lịch có một hệ thống phân bổ "tháng" (khoảng giữa hai điểm trung hay tiết) song hành với dương lịch, nghĩa là với năm thời tiết Mỗi điểm khí có một ngày tương ứng trong dương lịch Tên gọi các khí mang ý nghĩa về thời tiết hay mùa màng
Ngày nay chu kỳ chính xác một vòng thời tiết là 365 ngày 5 giờ 48 phút 45,97
giây ([5]) Các nhà nhiên cứu lịch phương Đông xưa và nay nhờ tính toán, đo đạc và ghi
chép tính lịch đã phân chia các ngày tiết khí như sau: Trong một năm có 12 ngày Mặt trời
đi vào đầu các cung Hoàng Đạo ([5, Trang 12, 13]) gọi là 12 ngày tiết khí Còn 12 ngày mặt trời đi vào giữa các cung Hoàng Đạo gọi là 12 ngày trung khí
Nói tóm lại nó chia đường Hoàng Đạo ra 24 điểm khác nhau còn gọi là 24 tiết khí
Trang 20Hình 2.7: Tọa độ trái đất ở bốn mùa trong năm
Mùa Tên Tiết Khí Cá tính Dương lịch
XUÂN
Trang 21Bảng 2.7: Bảng 24 tiết khí
2.8 Phép đo lường thời gian theo hệ Can Chi:
2.8.1 Ý nghĩa của Can Chi:
Ý nghĩa của Can Chi chính là để chỉ các giai đoạn phát dục và sinh trưởng của cây
cỏ Xã hội nông nghiệp thời xưa rất coi trọng sự hiểu biết tường tận cây cỏ, các giai đoạn phát triển của chúng để có thể tiến hành gieo trồng có hiệu quả Ảnh hưởng sâu sắc triết
lý âm dương của Dịch học, cổ nhân cũng chia sự hình thành của cây cỏ ra hai phần âm dương: Những giai đoạn chúng lên khỏi mặt đất đến lúc tàn lụi là phần dương Những giai đoạn chúng bám vào đất, từ đất chui ra, từ đất mà trưởng thành cho đến khi trở về đất
là thuộc âm.([5, Trang 109])
Và người ta chia thành mười thiên can và mười hai địa chi với ý nghĩa xuất phát như vậy
Trang 222.8.2 Quy luật kết hợp Thiên Can và Địa Chi:
Quy luật kết hợp mười Thiên Can và mười hai Địa Chi được mô hình hóa như sau:
Can
Âm /Dương
- Giáp Sửu … (Sai)
Hình 2.8.2: Quy luật kết hợp Can – Chi + Tất cả những số chẵn đều mang trọng số “dương” hay gọi là dương Chi hoặc Dương Can
+ Tất cả những số lẽ đều mang trọng số “âm” hay gọi là Âm Chi hoặc Âm Can Quy luật vận hành kết hợp giữa chúng như sau: Dương Chi chỉ kết hợp với Dương Can,
Âm Chi chỉ Kết hợp với Âm Can
2.8.3 Điểm khởi đầu của hệ thời gian Can Chi:
2.8.3.1 Năm Giáp Tý đầu tiên:
Năm Giáp Tý đầu tiên là năm khởi đầu của lịch Can Chi Các Lịch gia cổ xưa đã lấy mốc thời gian đó là vào năm 2697 trước Công nguyên, nguồn gốc cách tính này của người Trung Quốc xưa, họ coi đó là năm Hoàng Đế nguyên niên
Theo Việt Nam Sử Lược ([8]) thì nước ta thành lập từ thời Hồng Bàng năm 2879
Trang 23trước công nguyên, trước thời Hoàng Đế Trung Quốc 182 năm Tính đến năm 2009 thì đất nước ta đã trải qua 81 vòng Giáp Tý và 26 năm của vòng giáp Tý thứ 82 Cũng có nghĩa nước ta đã trải qua 81*60 + 26 = 4886 năm lịch sử
2.8.3.2 Tháng Giáp Tý đầu tiên:
Năm Giáp Tý đầu tiên của kỷ nguyên Can Chi cũng phải chính là Tháng giêng của năm Giáp Tý của năm đó phải phù hợp với vòng tuần hoàn thời tiết của năm khởi đầu
Tên Địa Chi các tháng : Tháng giêng luôn luôn là tháng Dần, tháng 2 là tháng Mão,…
Địa Chi các tháng vận hành theo quy luật gọi là luật Ngũ Dần, tức là đổi các tháng dương lịch ra tháng âm lịch bằng cách lấy thiên Can tháng Giêng năm Can Chi tương ứng làm mốc để tính Can các tháng tiếp theo
Thiên Can Tháng Giêng Thiên Can các năm
Bảng 2.8.3.2: Bảng thiên Can của tháng Giêng
2.8.3.3 Ngày Giáp Tý đầu tiên:
Cùng theo chu kỳ 60 ngày của vòng Giáp Tý nối tiếp nhau liên tục, bắt đầu từ ngày Giáp Tý đầu tiên của tháng Giáp Tý và năm Giáp Tý khởi đầu, tính liên tục cho đến ngày nay Cứ 6 vòng Giáp Tý là 360 ngày, thêm 5 ngày nữa là đủ một năm (Năm nhuận thì thêm 6 ngày)
Trang 242.8.4 Can Chi của giờ:
Giờ Dương 23 – 1 1 – 3 3 – 5 5 – 7 7 – 9 9 – 11
Giờ Dương 11 – 13 13 – 15 15 – 17 17 – 19 19 – 21 21 – 23
Bảng 2.8.4-1: Bảng Chi của các khoảng giờ
Lịch Can Chi lấy giờ Tý – nửa đêm – làm giờ khởi đầu của một ngày Tính Thiên Can của giờ Tý mỗi ngày theo luật “Ngũ Tý”, hay còn gọi là “Ngũ Thử” như sau
Thiên Can của ngày Thiên Can giờ Tý
Bảng 2.8.4-2: Bảng Thiên Can của giờ đầu ngày
2.9 Trực của ngày:
2.9.1 Quy luật vận hành:
Trực của ngày bao gồm 12 trực theo trình tự từ Trực Kiến đến Trực Bế, mỗi ngày một trực theo thứ tự như sau:
Kiến – Trừ – Mãn – Bình – Định – Chấp – Phá – Nguy – Thành – Thu – Khai – Bế
Quy luật vận hành của 12 Trực như sau:
Trang 25Sau Tiết Khí Trực Kiến tại ngày
Trang 26Bảng 2.9.2: Tính chất của 12 trực([1])
Trang 27Thìn – Tuất – Sửu – Mùi Thổ
Đông – Đông Nam;
Bảng 2.10-2: Ngũ hành của 10 thiên Can Nhưng để tính ngũ hành cho ngày ta phải nạp âm cho ngày đó tương ứng với Can – Chi của từng ngày ([5])
Trang 28Ngày
tuần lễ Thứ 5 Thứ 6 Thứ 7 Chủ Nhật Thứ 2 Thứ 3 Thứ 4 Thống
Trang 29Bảng 2.11-2: Tính chất nhị thập bát tú([1])
Trang 302.12 Giờ Hoàng đạo – Hắc đạo của ngày, tháng:
2.12.1 Giờ Hoàng Đạo:
Để tính được giờ Hoàng Đạo ta phải dựa vào bảng sau của tác giả Tân Việt ([1])
Bảng 2.12.1: Quy luật vận hành giờ Hoàng Đạo
Từ bảng trên ta dễ dàng tính được giờ Hoàng Đạo của ngày Đối chiếu thấy Đ nằm
ở vị trí nào thì đó là giờ Hoàng Đạo của ngày can chi tương ứng
VD : Ngày có hàng chi là Dần, Thân thì giờ Hoàng Đạo là : Tý, Sửu, Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất
Trang 31Bảng 2.12.2: Quy luật vận hành của giờ Hắc Đạo
2.12.3 Bảng tổng hợp:
Trang 32Bảng 2.12.3: Quy luật vận hành chung của giờ tốt, giờ xấu([1])
2.13 Ngày Hoàng Đạo - Hắc đạo:
Trang 33Bảng kê ngày Hoàng Đạo – Hắc đạo theo lịch can chi từng tháng:
Tháng âm lịch Ngày Hoàng đạo (tốt) Ngày Hắc đạo (xấu)
Năm, Mười một Thân, Dậu, Sửu, Mão Dần, Hợi, Mùi, Tỵ
Từ đây ta đã rút ra được quy luật vận hành của Ngày Hoàng Đạo và Hắc Đạo như sau:
- Ngày Hoàng Đạo của tháng giêng và tháng 7 âm lịch là những ngày: Tý, Sửu, Tị, Mùi
- Ngày Hắc Đạo của tháng giêng và tháng 7 âm lịch là những ngày: Ngọ, Mão, Hợi, Dậu
2.14 Hướng tốt - xấu (Hướng Tài thần – Hướng Hỷ thần – Hướng Hạc thần):
Hướng thần chỉ phương vị : Có 3 loại phổ biến thông dụng: Hỷ thần (Hướng tốt), Tài thần (Hướng tốt) và Hạc thần (Hướng xấu) Ba loại thần sát chỉ phương hướng đó thay đổi theo ngày can chi cả năm Khảo sát tài liệu thống kê của tác giả Tân Việt - Thiều Phong (Bàn về lịch vạn niên NXB VH Dân Tộc 2007 xem [1]) ta thấy :
Hướng Hỷ thần :
o Ngày Giáp – Kỷ : Hướng Đông Bắc;
o Ngày Ất – Canh : Hướng Tây Bắc;
o Ngày Bính – Tân : Hướng Tây Nam;
o Ngày Đinh – Nhâm : Hướng Nam;
o Ngày Mậu – Quý : Hướng Đông Nam;
Hướng Tài thần:
Trang 34o Ngày Giáp – Ất : Hướng Đông Nam;
o Ngày Bính – Đinh : Hướng Đông;
o Ngày Mậu : Hướng Bắc;
o Ngày Kỷ : Hướng Nam;
o Ngày Canh – Tân : Hướng Tây Nam;
o Ngày Nhâm : Hướng Tây;
o Ngày Quý : Hướng Tây Bắc
Trang 352.15 Tuổi xung hợp với ngày:
2.15.1 Quy luật xung hợp hàng Can:
4 cặp hàng Can xung nhau:
Giáp Canh; Ất Tân;
Bính Nhâm; Đinh Quý
5 Cặp hàng Can hợp nhau:
Giáp Kỷ; Ất Canh;
Bính Thân; Đinh Nhâm; Mậu Quý;
2.15.2 Quy luật xung hợp hàng Chi:
Xung theo kiểu tương xung:
Trang 36Thân Hợi; Dậu Tuất;
Trang 37Bảng 2.15.2-1: Kết hợp lục thập hoa giáp với Ngũ hành.([1])