Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể tiếp cận ngày càng đa dạng, và trong số các nguồn vốn phong phú ấy, doanh nghiệp cần phải chọn lựa được cho m
Trang 1BÀI 5 VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
Hướng dẫn học
Vốn kinh doanh là tiền đề quan trọng để doanh nghiệp tổ chức nên các hoạt động của mình Trong quá trình hoạt động, do môi trường kinh doanh luôn luôn thay đổi, các cơ hội đầu tư mới liên tục xuất hiện, nên không phải lúc nào số vốn mà doanh nghiệp đang có cũng đủ để đáp ứng nhu cầu đầu tư Doanh nghiệp muốn phát triển, tất yếu sẽ phải thường xuyên huy động vốn mới, bổ sung cho số vốn sẵn có của mình Bài học này sẽ tập trung vào việc cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản nhất về các nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể sử dụng để huy động tăng vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tư của mình
Để học tốt bài này,sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu:
1 Chương 5, trang 139 – 154, sách “Tài chính doanh nghiệp”, PGS.TS Lưu Thị Hương
và PGS.TS Vũ Duy Hào đồng chủ biên, Nxb ĐH Kinh tế Quốc dân, 2013
2 Chương 10 và 11, trang 263 – 326, sách “Giáo trình Tài chính doanh nghiêp”,
TS Bùi Văn Vần và TS Vũ Văn Ninh đồng chủ biên, Nxb Tài chính, 2013
3 Chương 17, 18, 19, 20 và 21, trang 424 – 542, sách “Quản trị Tài chính doanh nghiệp”,
Nguyễn Hải Sản, Nxb Thống kê, 2010
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học
Sau khi học xong bài học này, sinh viên có thể thực hiện được các việc sau:
Phân biệt được vốn lưu động với vốn cố định, nợ với vốn chủ sở hữu, vốn ngắn hạn với vốn dài hạn
Trình bày được các nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp, phân tích được ưu, nhược điểm của các nguồn vốn đó, đồng thời, chỉ ra được rằng ứng với từng nguồn thì trong điều kiện nào, doanh nghiệp nên sử dụng nguồn đó để huy động tăng vốn
Trang 2T ình huống dẫn nhập
Nền kinh tế đang phục hồi vững chắc
Tuy GDP Việt Nam năm 2013 chỉ tăng 5,42%, nhưng trước các khó khăn tích tụ và cộng hưởng
từ nhiều năm trước cùng sự vật lộn của kinh tế toàn cầu, thì đây vẫn là một thành công, cho thấy nền kinh tế đã từ từ thoát đáy, đang trên đà hồi phục, mở ra triển vọng lớn cho kinh tế nước ta từ năm 2014 Kết quả đó, một phần tới từ tác động lan tỏa của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, nâng cấp cơ sở hạ tầng, phòng chống tham nhũng, cùng nhiều biến đổi của kinh tế khu vực và thế giới đang diễn ra theo hướng có lợi Nhưng quan trọng nhất, là nhờ thể chế kinh tế đang được đổi mới
mạnh mẽ, và lãi suất giảm sâu tạo ra sinh khí mới cho khu vực sản xuất và cho các doanh nghiệp
Trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2012, lãi suất vay vốn mà các doanh nghiệp nước ta phải chịu luôn ở mức cao, thậm chí năm 2008 vượt 20%/năm – lớn hơn nhiều khả năng sinh lời của hầu hết các doanh nghiệp nước ta (với trình độ công nghệ, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh đều thấp), thế mà nhiều đối tượng dù rất muốn nhưng vẫn không thể vay được vốn Dưới tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, từ năm 2008, hầu hết doanh nghiệp nước ta khát vốn,
có doanh nghiệp phải vay cả vốn “chợ đen” để hoạt động, để mỗi năm có đến 5 – 6 nghìn doanh nghiệp phải ngừng hoạt động Từ cuối năm 2013, nhờ các thay đổi mạnh mẽ trong quản lý, điều hành nền kinh tế của Chính phủ, lãi suất huy động chỉ còn dưới 8%/năm, nhờ đó lãi suất cho vay
ra của ngân hàng chỉ còn chưa đến ½ so với đỉnh điểm trước đây Vì vậy, số doanh nghiệp phải ngừng hoạt động giảm mạnh, số tái hoạt động và thành lập mới tăng nhanh, và đó là cơ sở để Chính phủ dự định năm 2014, nền kinh tế nước ta sẽ tăng trưởng đến 5,8%/năm, dù bị bất ổn Biển Đông; và cả WB, HSBC, Fitch lẫn ADB đều đưa ra các nhận định tốt đẹp cho kinh tế nước ta
1 Tại sao số lượng doanh nghiệp phải ngừng hoạt động từ năm 2012 đến năm
Trang 35.1 Tổng quan về vốn của doanh nghiệp
Khái niệm vốn kinh doanh
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có các yếu
tố đầu vào cơ bản là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, để có được các yếu tố đó, đòi hỏi các doanh nghiệp phải ứng ra một lượng tiền nhất định, phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp Số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư mua sắm, hình thành nên các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được gọi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Như vậy, có thể nói, vốn kinh doanh của doanh
nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp phải bỏ ra để đầu tư hình thành nên các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Theo một cách diễn đạt khác ở khía cạnh kế toán, vốn kinh doanh được hiểu là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ, có khả năng huy động, khai thác và sử dụng vào hoạt động
sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời Nói cách khác, vốn là biểu hiện
bằng tiền của tài sản, còn tài sản là hình thái hiện vật của vốn tại từng thời điểm nhất định Lấy ví dụ: Doanh nghiệp đi vay vốn ngân hàng 200 triệu, nhận
bằng chuyển khoản Ta thấy: Ngay khi doanh nghiệp tiếp cận được với số vốn 200 triệu này, số vốn ấy đã gần như ngay lập tức chuyển hóa thành tài sản “Tiền gửi ngân hàng” của doanh nghiệp Trong quá trình kinh doanh, giả định doanh nghiệp
sử dụng toàn bộ số tiền này để mua sắm vật tư Hệ quả là quy mô “Tiền gửi ngân hàng” giảm xuống, nhưng giá trị “Hàng tồn kho” lại tăng lên một lượng tương ứng, quy mô tổng tài sản và quy mô vốn kinh doanh của doanh nghiệp vẫn vậy, điều khác biệt suy nhất là lúc trước, lượng vốn tín dụng ngân hàng 200 triệu đang tồn dạng dưới dạng tài sản “Tiền gửi ngân hàng”, thì nay, đã chuyển hóa sang một
hình thái biểu hiện mới là “Hàng tồn kho” (Vật tư tồn kho) Trên hệ thống báo cáo
tài chính, số vốn kinh doanh mà doanh nghiệp đang có tại từng thời điểm nhất định được thể hiện trên cả hai nửa của bảng cân đối kế toán Trong đó, nửa tài sản thể hiện các hình thái hiện vật của vốn, còn nửa nguồn vốn thể hiện các phương thức mà doanh nghiệp hiện đang sử dụng để hình thành nên số vốn kinh doanh hiện có
Vai trò của vốn kinh doanh
Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà còn là điều kiện tiền đề chomọi quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Nhờ có vốn kinh doanh, doanh nghiệp có thể đầu tư mua sắm các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu, lao động, trang thiết bị, nhà xưởng…, phục vụ cho các hoạt động trong kỳ của mình
Vốn kinh doanh cũng là một trong những yếu tố cần thiết, quyết định sự ổn định, liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp
Trang 4 Phân loại vốn kinh doanh:
o Theo theo đặc điểm lưu chuyển, có: Vốn lưu động và vốn cố định
Vốn lưu động là số vốn tiền tệ ứng trước dùng để mua sắm, hình thành, tài trợ cho các tài sản lưu động dùng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nói cách khác, vốn lưu động chính là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động (như nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm tồn kho, khoản phải thu, tiền mặt dự trữ ) của doanh nghiệp Đặc điểm cơ bản của vốn lưu động là: Thời gian luân chuyển nhanh (Vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển sau một hoặc chưa đến một chu kỳ kinh doanh) Hình thái biểu hiện của vốn lưu động thường xuyên thay đổi Giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ ngay trong một lần và được hoàn lại
toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh
Vốn cố định là số vốn đầu tư để xây dựng hoặc mua sắm các tài sản cố định sử dụng trong sản xuất kinh doanh Nói cách khác, vốn cố định chính là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định (như máy móc, thiết
bị, nhà xưởng, quyền sử dụng đất ) của doanh nghiệp Đặc điểm cơ bản của vốn cố định là: Thời gian luân chuyển chậm (Vốn
cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh mới hoàn thành xong một vòng chu chuyển Vốn cố định hoàn thành một vòng chu chuyển khi doanh nghiệp có thể tái sản xuất giản đơn được tài sản cố định về mặt giá trị) Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, vốn cố định chu chuyển giá trị dần dần từng phần và được thu hồi giá trị từng phần sau mỗi
chu kỳ kinh doanh
o Theo quan hệ sở hữu, có: Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu
Nợ phải trả là các khoản vốn phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm thanh toán trong
kỳ hạn nhất định cho các đối tác trong nền kinh tế (ngân hàng, nhà cung cấp, người lao động…) Việc doanh nghiệp huy động và sử dụng loại vốn này sẽ tạo ra áp lực về việc phải hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi vay đúng hạn cho các chủ nợ, đồng thời làm giảm mức độ tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp Nợ phải trả, dựa theo yếu tố thời hạn, bao gồm nợ ngắn hạn
và nợ dài hạn, còn theo yếu tố tính chất của khoản nợ, lại có thể được chia thành: vốn chiếm dụng hợp pháp (ví dụ: các khoản nợ nhà cung cấp chưa đến hạn trả, các khoản phải nộp ngân sách chưa đến hạn nộp, các khoản phải thanh toán cho cán bộ công nhân viên chưa đến hạn thanh toán), và vốn vay (bao gồm các khoản vay ngắn hạn, trung và dài hạn từ ngân hàng,
vay từ phát hành trái phiếu )
Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp Vốn chủ sở hữu là bộ phận vốn quan trọng, có tính ổn định cao, thể hiện sự tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp Tỷ trọng của loại vốn này trong tổng vốn càng lớn thì sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng cao và
ngược lại
Trang 5Bảng so sánh "Nợ phải trả" và "Vốn chủ sở hữu" của doanh nghiệp
Được trừ khỏi Thu nhập chịu thuế khi tính thuế TNDN
Thường thay đổi, phụ thuộc kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Không được trừ khỏi Thu nhập chịu thuế khi tính thuế TNDN
Khả năng tạo ra khoản tiết kiệm thuế TNDN, phát huy tác dụng khuyếch đại thu nhập CSH của đòn bẩy tài chính
Tạo ra khoản tiết kiệm thuế TNDN
Phát huy được tác dụng khuyếch đại thu nhập CSH của đòn bẩy tài chính
Không tạo ra khoản tiết kiệm thuế TNDN
Không tận dụng được đòn bẩy tài chính
Mức độ ảnh hưởng của việc huy động và sử dụng loại vốn này tới quyền lợi của các CSH hiện tại
Không làm thay đổi số lượng
và cơ cấu CSH của DN, từ đó, bảo vệ được quyền lợi của các CSH hiện tại
Làm thay đổi số lượng và cơ cấu CSH của doanh nghiệp, từ đó, ảnh hưởng tới quyền lợi của các CSH hiện tại
Mức độ rủi ro đối với doanh nghiệp
Rủi ro cao
Việc huy động Nợ làm giảm mức độ độc lập, tự chủ về mặt tài chính, tăng rủi ro tài chính, từ đó, giảm khả năng vay nợ trong tương lai của doanh nghiệp
An toàn
Việc huy động VCSH làm tăng mức độ độc lập, tự chủ
về mặt tài chính, giảm rủi ro tài chính, từ đó, tăng uy tín và khả năng vay nợ trong tương lai của doanh nghiệp
o Theo thời hạn sử dụng, có: Vốn ngắn hạn (vốn tạm thời) và vốn dài hạn (Vốn thường xuyên)
Vốn ngắn hạn là loại vốn mà doanh nghiệp được quyền nắm giữ và sử dụng trong một khoảng thời gian ngắn (thường là dưới 1 năm) Vốn ngắn hạn
bao gồm toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
Vốn dài hạn là loại vốn mà doanh nghiệp được quyền nắm giữ và sử dụng trong một khoảng thời gian dài (thường là trên 1 năm) Vốn dài hạn bao
4 Công cụ huy động Được mua bán, trao đổi trên thị
trường tiền tệ
Được mua bán, trao đổi trên thị trường vốn
Trang 65.2 Phương pháp lựa chọn nguồn vốn
Trong quá trình tồn tại và phát triển, để đảm bảo duy trì và không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đòi hỏi doanh nghiệp phải xử lý được rất nhiều các vấn
đề khác nhau Trong các vấn đề đó, có một vấn đề đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động của doanh nghiệp, đó chính là vấn đề về việc lựa chọn nguồn vốn Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể tiếp cận ngày càng đa dạng, và trong số các nguồn vốn phong phú ấy, doanh nghiệp cần phải chọn lựa được cho mình một hoặc một số nguồn vốn mà việc huy động và sử dụng vốn từ các nguồn ấy có thể đem lại lợi ích tối đa cho doanh nghiệp, phù hợp với sự phát triển của doanh nghiệp trong từng giai đoạn
Việc lựa chọn nguồn vốn thích hợp luôn luôn là thử thách khó khăn đối với mọi doanh nghiệp Dưới đây là một số yếu tố quan trọng mà các nhà quản trị tài chính cần phải đặc biệt cân nhắc trong quá trình lựa chọn nguồn vốn:
Sự phát triển của thị trường tài chính, mà đặc biệt là thị trường vốn
Trạng thái của nền kinh tế
Đặc điểm ngành nghề kinh doanh hay lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp
Uy tín của doanh nghiệp
Quy mô và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
Trình độ khoa học – kỹ thuật và trình độ quản lý
Chiến lược phát triển và chiến lược đầu tư của doanh nghiệp
Thái độ của chủ doanh nghiệp
Chính sách thuế
Tuy vậy, trên thực tế, người ta thường xem xét để lựa chọn nguồn vốn theo các xu hướng cơ bản sau:
Một là: Sử dụng toàn bộ nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tổng tài sản của doanh
nghiệp Chiến lược tài trợ này rủi ro rất thấp nhưng chi phí vốn rất cao
Hai là: Sử dụng nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho toàn bộ tài sản dài hạn và sử
dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho toàn bộ tài sản ngắn hạn Chiến lược tài trợ này có độ rủi ro cao nhưng chi phí thấp
Ba là: Toàn bộ tài sản dài hạn và một phần tài sản ngắn hạn được tài trợ bằng nguồn
vốn dài hạn, và nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để tài trợ cho phần tài sản ngắn hạn còn lại Chiến lược tài trợ này có độ rủi ro trung bình và chi phí trung bình Trong 3 cách tài trợ này, không phải lúc nào cách tài trợ thứ 3 cũng là tốt nhất mà lựa chọn cách nào là tuỳ thuộc vào mỗi doanh nghiệp trong từng thời kỳ khác nhau
5.3 Các nguồn vốn của doanh nghiệp và phương thức huy động
Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể, mỗi doanh nghiệp có thể có các phương thức huy động vốn khác nhau Trong điều kiện kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp được đa dạng hoá nhằm khai thác mọi nguồn vốn trong nền kinh tế Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, do thị trường tài chính chưa phát triển hoàn chỉnh nên việc khai thác vốn có những nét đặc trưng nhất định
Trang 75.3.1 Nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
Đối với mọi loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm các
do các đối tác tham gia liên doanh góp Với công ty cổ phần,các cổ đông góp vốn thông qua hình thức mua cổ phiếu của công ty
Phân biệt Vốn góp ban đầu với Vốn điều lệ, Vốn pháp định và Vốn chủ sở hữu:
Vốn điều lệ là số vốn do những người chủ sở hữu doanh nghiệp góp hoặc cam kết
góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào trong Điều lệ của doanh nghiệp Đây chỉ là số vốn ghi trên giấy tờ, không phải là số vốn mà doanh nghiệp thực có trong tay tại thời điểm mới thành lập
Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có
theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp hoạt động trong một số lĩnh vực đặc thù,
ví dụ như ngân hàng, hoạt động trong lĩnh vực
kinh doanh tiền tệ, vốn pháp định là 3.000 tỷ VNĐ
Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc về những
người chủ sở hữu của doanh nghiệp Nó bao gồm vốn góp ban đầu, phần vốn góp thêm của các chủ sở hữu sau này, quỹ lợi nhuận chưa phân phối và các quỹ chuyên dùng khác của doanh nghiệp
5.3.1.2 Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia
Lợi nhuận không chia hay lợi nhuận giữ lại (Retained Earnings) là phần lợi
nhuận sau thuế được doanh nghiệp sử dụng để tái đầu tư, mở rộng hoạt động sản
xuất - kinh doanh trong kỳ tới, thay vì được dùng để chi trả cho các chủ sở hữu (thành viên góp vốn, cổ đông…)
Ngoài việc trực tiếp giữ lại lợi nhuận (giữ lại tiền và không tiến hành chia lợi nhuận cho các chủ sở hữu hoặc cổ tức cho cổ đông), riêng với công ty cổ phần, việc giữ lại lợi nhuận còn có thể được tiến hành thông qua việc trả cổ tức bằng cổ phiếu
Trang 8 Điều kiện để giữ lại lợi nhuận
o Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận giữ lại chỉ có thể thực hiện được nếu như
doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận, được các chủ sở hữu cho phép giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư
o Đối với các doanh nghiệp Nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc không chỉ vào khả năng sinh lợi của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính sách khuyến khích tái đầu tư của Nhà nước
o Đối với các công ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận liên quan đến một số yếu
tố rất nhạy cảm Cụ thể: Khi công ty quyết định không chia hoặc chia ít cổ tức cho cổ đông, phần lớn lợi nhuận được giữ lại để phục vụ cho việc tái đầu tư trong tương lai, điều này có nghĩa là các cổ đông sẽ không nhận được hoặc nhận được cổ tức không nhiều, nhưng bù lại, họ có sẽ quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty Hệ quả, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ, từ đó khuyến khích cổ đông giữ
cổ phiếu lâu dài, nhưng đồng thời, tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ trước mắt (ngắn hạn) sẽ bị giảm đi do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn Nếu tỷ lệ chi trả cổ tức quá thấp, hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu có thể bị giảm sút Khi giải quyết vấn đề cổ tức và tái đầu tư, chính sách phân phối cổ tức của công ty cổ phần, cần phải lưu ý đến một số yếu tố có liên quan sau:
Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ
Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước
Sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của công ty, tâm lý và đánh giá của công chúng về cổ phiếu đó
Hiệu quả của việc tái đầu tư
Ưu điểm của phương thức giữ lại lợi nhuận:
o Mang đầy đủ các ưu điểm của việc huy động vốn chủ sở hữu nói chung, như: an toàn, vốn không xác định thời gian đáo hạn, tăng hệ số vốn chủ sở hữu, tăng mức độ độc lập, tự chủ
về mặt tài chính (đồng nghĩa với hạ thấp hệ
số nợ, giảm rủi ro tài chính), từ đó, tăng uy tín và khả năng vay nợ của doanh nghiệp
o Không làm thay đổi số lượng và cơ cấu các chủ sở hữu, từ đó, giúp bảo vệ quyền lợi của các chủ sở hữu hiện hành của doanh nghiệp
o Việc huy động được thực hiện cực kỳ dễ dàng, nhanh chóng (gần như là ngay lập tức)
Nhược điểm của phương thức giữ lại lợi nhuận:
o Mang đầy đủ các nhược điểm chung của việc huy động vốn chủ sở hữu như: Vốn có chi phí cao hơn so với chi phí nợ Không tạo ra khoản tiết kiệm thuế, không tận dụng được tác dụng khuếch đại thu nhập chủ sở hữu của đòn bẩy tài chính
o Quy mô tài trợ khá nhỏ so với các nguồn khác
Trang 95.3.1.3 Phát hành cổ phiếu
Chỉ có công ty cổ phần mới được phép huy động vốn thông qua hình thức phát hành
cổ phiếu
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp góp vốn, trong đó số vốn điều lệ của công
ty được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần Số vốn chủ sở hữu của công ty
cổ phần được hình thành thông qua việc phát hành cổ phiếu Việc góp vốn cổ phần được thực hiện dưới hình thức mua cổ phiếu Người nắm giữ cổ phiếu được gọi là cổ đông và là chủ sở hữu của công ty cổ phần
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành
Đối với công ty cổ phần, cổ phiếu là phương tiện để hình thành vốn chủ sở hữu ban đầu và cũng là phương tiện để huy động tăng thêm vốn chủ sở hữu
Phân loại cổ phiếu:
o Dựa vào tình hình phát hành và lưu hành, cổ phiếu của công ty cổ phần có thể được phân
biệt thành: cổ phiếu được phép phát hành, cổ
phiếu đã phát hành, cổ phiếu đang lưu hành và
cổ phiếu quỹ
Lưu ý: Sau khi phát hành, phần lớn những cổ
phiếu đã phát hành nằm trong tay các cổ đông
Những cổ phiếu này được gọi là những cổ
phiếu đang lưu hành trên thị trường Tuy nhiên,
có thể chính công ty phát hành đã mua lại một
số cổ phiếu của mình và giữ chúng nhằm mục đích nào đó Những cổ phiếu được công ty mua
lại như vậy gọi là cổ phiếu quỹ Những cổ phiếu này được coi như tạm thời
không lưu hành, chúng sẽ không bị hủy bỏ và sẽ được tái phát hành trở lại trong tương lai tùy điều kiện cụ thể Việc mua lại hoặc bán ra những cổ phiếu quỹ phụ thuộc vào một số yếu tố như:
Tình hình cân đối vốn và khả năng đầu tư
Tình hình biến động thị giá chứng khoán trên thị trường
Chính sách đối với việc sáp nhập hoặc thôn tính công ty (chống thôn tính)
Tình hình trên thị trường chứng khoán và quy định của các cơ quan quản lý Ngoài ra, các cổ phiếu quỹ do công ty nắm giữ không được nhận cổ tức, không
có quyền bầu cử hay tham gia chia phần tài sản khi công ty giải thể Khi chia
cổ tức cho các cổ phần, các cổ phiếu quỹ do công ty nắm giữ được coi là cổ phiếu chưa bán
o Dựa vào tính hữu danh của cổ phiếu, có thể phân biệt thành: Cổ phiếu ghi tên (hữu danh) và cổ phiếu không ghi tên (vô danh)
o Dựa vào quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho người nắm giữ, lại có thể chia
thành: cổ phiếu thường (cổ phiếu phổ thông) và cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu thường là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong công ty và cho phép
người sở hữu nó được hưởng các quyền lợi thông thường trong công ty cổ phần
Trang 10Cổ phiếu ưu đãi là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong công ty cổ phần,
đồng thời, cho phép người nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởng một số quyền lợi ưu đãi hơn so với cổ đông thường Cổ phiếu ưu đãi gồm các loại sau đây:
Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết: là loại cổ phiếu có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phiếu thường Số phiếu biểu quyết của một cổ phiếu ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định Chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập mới được quyền nắm giữ cổ phiếu ưu đãi biểu quyết Ở Việt Nam, Nhà nước quy định: Sự ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong ba năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Sau thời hạn đó, cổ phiếu ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập sẽ được chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông
Cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng những cổ phiếu đó cho người khác
Cổ phiếu ưu đãi cổ tức (Cổ phiếu ưu tiên – Preferred Stock) là loại cổ phiếu cho phép người nắm giữ được hưởng quyền ưu tiên về cổ tức và ưu tiên về thanh toán vốn góp khi công ty ngừng hoạt động Cụ thể: Cổ đông sở hữu
cổ phiếu ưu tiên có quyền được nhận cổ tức cố định theo một tỷ lệ lãi suất nhất định, không phụ thuộc kết quả kinh doanh của công ty Mặt khác, cổ đông ưu tiên còn được quyền thanh toán cổ tức trước các cổ đông thường Nếu số cổ tức chỉ đủ để chia cho các cổ đông của cổ phiếu ưu tiên thì các
cổ đông của cổ phiếu thường sẽ không được chia cổ tức của kỳ đó Việc giải quyết chính sách cổ tức luôn được nêu rõ trong điều lệ công ty Phần lớn các công ty cổ phần qui định rõ: công ty có nghĩa vụ trả hết số lợi tức chưa thanh toán của các kỳ trước cho các cổ đông ưu tiên, sau đó mới thanh toán cho các cổ đông thường Ngoài ra, khi công ty bị thanh lý hoặc giải thể thì cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu tiên còn được ưu tiên thanh toán giá trị phần vốn đầu tư trước các cổ đông thường Mặc dù vậy, khác với cổ đông thường, các cổ đông ưu tiên thường không được hưởng quyền bỏ phiếu để bầu ra Hội đồng quản trị, cũng như quyền biểu quyết thông qua các vấn đề quan trọng trong quản lý công ty
Cổ phiếu ưu đãi hoàn lại là loại cổ phiếu được công ty hoàn lại vốn góp bất
cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi trên tờ cổ phiếu đó Cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi hoàn lại không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát
Cổ phiếu ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định
Trong thực tiễn, cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu tiên là hai loại cổ phiếu được
sử dụng chủ yếu để huy động tăng vốn
Phát hành cổ phiếu thường
o Một số điểm cần lưu ý về cổ phiếu thường:
Là loại chứng khoán vốn
Không có thời gian đáo hạn (Không xác định thời hạn hoàn trả vốn gốc)
Cổ tức phụ thuộc vào kết quả kinh doanh, và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế của công ty
Trang 11 Đem lại cho các cổ đông thường (Người sở hữu cổ phiếu thường của công
ty cổ phần) các quyền chủ yếu sau:
- Quyền trong quản lý và kiểm soát công ty: Cổ đông thường được quyền
tham gia bỏ phiếu và ứng cử vào Hội đồng quản trị; được tham gia quyết định các vấn đề quan trọng đối với hoạt động của công ty
- Quyền đối với tài sản của công ty:
Cổ đông thường được quyền nhận phần lợi nhuận mà công ty chia cho
cổ đông hàng năm dưới hình thức lợi tức cổ phần Khi công ty bị giải thể hoặc phá sản, cổ đông thường được quyền nhận một phần giá trị còn lại của công ty sau khi đã thanh toán các khoản nợ, các khoản chi phí và thanh toán cho các cổ đông ưu tiên
- Quyền chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phần: Cổ đông thường
không được quyền rút vốn trực tiếp ra khỏi công ty, nhưng được quyền chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phần cho người khác dưới hình thức bán lại cổ phiếu, hoặc để lại cho người thừa kế
- Các quyền khác: Quyền được ưu tiên mua trước các cổ phần mới do
công ty phát hành, quyền được xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp điều lệ công ty, sổ biên bản họp Đại hội đồng cổ đông, các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, kiểm tra sổ sách kế toán theo quy định cụ thể trong điều lệ của công ty
o Các phương thức phát hành cổ phiếu thường mới để huy động tăng vốn của công ty cổ phần
Để đáp ứng nhu cầu tăng vốn mở rộng kinh doanh, công ty cổ phần có thể lựa chọn phương pháp huy động tăng vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu thường Việc phát hành thêm cổ phiếu thường mới để huy động tăng vốn có thể
được thực hiện theo một trong hai phương thức sau: Chào bán riêng lẻ (Phát
hành riêng lẻ) và Chào bán ra công chúng
Chào bán riêng lẻ
- Là phương thức phát hành, trong đó, chứng khoán được bán trong phạm
vi giới hạn một số lượng nhà đầu tư nhất định và không được sử dụng phương tiện thông tin đại chúng cho việc chào bán
- Phương thức chào bán này ít tốn kém hơn so với việc chào bán ra công chúng, ngoài ra, điều kiện và thủ tục để phát hành riêng lẻ cũng đơn giản hơn
- Trong thực tế, các công ty cổ phần thường sử dụng phương thức phát hành riêng lẻ để bán cổ phiếu cho các đối tác chiến lược của công ty Việc phát hành cổ phiếu theo phương thức này không những giúp công
ty tăng được quy mô vốn kinh doanh, đồng thời còn tạo ra sự gắn bó
Trang 12chặt chẽ hơn với những người thường xuyên có quan hệ hoặc có ý nghĩa quan trọng với công ty Tuy nhiên, lượng vốn huy động được theo phương thức này thường không lớn
Chào bán ra công chúng
- Là phương thức phát hành rộng rãi cổ phiếu ra cho công chúng (cho một số lượng lớn các nhà đầu tư hoặc một số lượng nhà đầu tư không xác định) và được sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng cho việc chào bán
- Phương thức phát hành này tạo điều kiện cho công ty cổ phần có thể huy động được một lượng vốn lớn Tuy nhiên, do việc chào bán này liên quan đến lợi ích của đông đảo công chúng, nên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, luật chứng khoán ở các nước đều quy định rất chặt chẽ các điều kiện và thủ tục chào bán ra công chúng
o Ưu điểm của phương thức huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu thường:
Mang đầy đủ các ưu điểm cơ bản của việc huy động vốn chủ sở hữu, như:
An toàn; Không tạo ra các căng thẳng về mặt tài chính như khi huy động nợ (Nguyên nhân: Không xác định thời gian đáo hạn vốn gốc, cổ tức trả cho các chủ sở hữu thay đổi phụ thuộc vào kết quả kinh doanh trong kỳ của công ty, những kỳ hoạt động kém hiệu quả, công ty có thể không cần trả cổ tức cho các cổ đông); Tăng hệ số vốn chủ sở hữu, tăng mức độ độc lập, tự chủ về mặt tài chính (đồng nghĩa với hạ thấp hệ số nợ, giảm rủi ro tài chính), từ đó, giúp tăng uy tín và khả năng vay nợ của công ty
Có khả năng huy động được lượng vốn rất lớn
Công ty hoàn toàn nắm quyền chủ động trong quá trình huy động vốn (Thời gian, quy mô, cách thức phát hành )
o Nhược điểm của phương thức huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu thường:
Mang đầy đủ các nhược điểm chung của việc huy động vốn chủ sở hữu, như: Vốn có chi phí cao hơn so với chi phí nợ Không tạo ra khoản tiết kiệm thuế, không tận dụng được tác dụng khuếch đại thu nhập chủ sở hữu của đòn bẩy tài chính
Việc chào bán cổ phiếu rộng rãi ra công chúng có thể làm thay đổi số lượng
và cơ cấu cổ đông, từ đó làm ảnh hưởng tới quyền lợi của các cổ đông hiện tại (Bên cạnh việc phải chia sẻ quyền quản lý, các cổ đông hiện tại còn phải chia sẻ quyền dự chia phần thu nhập cao, tăng thêm do công ty tạo ra với các cổ đông mới)
Phải đáp ứng được các điều kiện phát hành theo quy định của Nhà nước thì mới có thể huy động vốn theo phương thức này
Phát sinh nhiều chi phí (in ấn, quảng cáo, bảo lãnh )
Cổ đông của công ty phải đối mặt với hiệu ứng loãng giá cổ phiếu