ĐINH NGỌC ANH TÀI CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THEO QUAN HỆ LIÊN TƯỞNG TRONG CÁC TÁC PHẨM THƠ THUỘC CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 2018 NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 1ĐINH NGỌC ANH TÀI
CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THEO QUAN HỆ LIÊN TƯỞNG TRONG CÁC TÁC PHẨM THƠ THUỘC CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 2018
NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đà Nẵng- tháng 4 năm 2021
Trang 2ĐINH NGỌC ANH TÀI
CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THEO QUAN HỆ LIÊN TƯỞNG TRONG CÁC TÁC PHẨM THƠ THUỘC CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 2018
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC ThS TRỊNH QUỲNH ĐÔNG NGHI
Đà Nẵng- tháng 4 năm 2021
Trang 3trình nào khác hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ những trích dẫn
được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của tôi
Đà Nẵng, tháng 04 năm 2021
Tác giả khóa luận
Đinh Ngọc Anh Tài
Trang 4giảng viên khoa Ngữ Văn trường Đại học Đà Nẵng – Đại học Sư phạm lời cảm ơn
sâu sắc, bởi những kiến thức cũng như sự quan tâm giảng dạy tận tình của quý thầy
cô trong suốt bốn năm qua
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến ThS Trịnh Quỳnh Đông
Nghi, người đã nhiệt tình, sâu sát hướng dẫn em thực hiện luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song luận văn không
tránh khỏi những tồn tại, hạn chế và thiếu sót Vì vậy, em rất mong được nhận được
sự góp ý chân thành của quý thầy cô giáo
Đà Nẵng, tháng 04 năm 2021
Tác giả khóa luận
Đinh Ngọc Anh Tài
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 3
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Bố cục đề tài 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8
1.1 Các biện pháp tu từ theo mối quan hệ liên tưởng: 8
1.1.1 Khái quát về các biện pháp tu từ: 8
1.1.2 Các biện pháp tu từ theo mối quan hệ liên tưởng: 9
1.2 Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 22
1.2.1 Khái quát chương trình phổ thông mới môn Ngữ Văn: 22
1.2.2 Giới thiệu về các tác phẩm thơ trong chương trình mới: 23
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THEO QUAN HỆ LIÊN TƯỞNG TRONG NHỮNG TÁC PHẨM THƠ THUỘC CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 2018 24
2.1 So sánh tu từ: 25
2.2 Ẩn dụ tu từ: 29
2.2.1 Ẩn dụ chân thật: 30
2.2.2 Ẩn dụ tượng trưng: 31
2.2.3 Ẩn dụ bổ sung: 32
2.3 Hoán dụ tu từ: 33
2.3.1 Hoán dụ cải số 34
2.3.2 Hoán dụ cải dung: 35
2.3.3 Hoán dụ cải danh: 35
2.3.4 Hoán dụ bộ phận – toàn thể: 36
2.4 Nhân hóa: 37
Trang 6CHƯƠNG 3 TẦM TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THEO QUAN
HỆ LIÊN TƯỞNG TRONG CÁC TÁC PHẨM THƠ THUỘC CHƯƠNG
TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 2018 40
3.1 Tầm tác động về nội dung của các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng trong các tác phẩm thơ thuộc chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 40
3.2 Tầm tác động về nghệ thuật của các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng trong các tác phẩm thơ thuộc chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 49
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC: 59
Trang 7Bảng 1.1 Thống kê các tác phẩm thuộc chương trình giáo dục phổ
Bảng 2.1
Thống kê các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng trong những tác phẩm thơ thuộc chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
24
Bảng 2.2 Thống kê các dạng so sánh tu từ trong các bài thơ thuộc
Bảng 2.3 Thống kê các dạng ẩn dụ tu từ trong các bài thơ thuộc
chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 29
Bảng 2.4 Thống kê các dạng hoán dụ tu từ trong các bài thơ thuộc
chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 34
Bảng 2.5 Thống kê các dạng nhân hóa trong các bài thơ thuộc chương
Trang 8chất thơ là lời ít, ý nhiều, lời hết mà ý chưa cạn, nói như Lưu Trọng Lư: “Một câu thơ hay là một câu thơ có sức gợi” Đó chính là đặc trưng cơ bản nhất của ngôn ngữ
thơ Chính vì điều đó, nhà thơ thường sử dụng các biện pháp tu từ để làm đẹp ngôn ngữ và nội tại chuyên chứa ý nghĩa của từ có sức bộc và độ nảy
Các biện pháp tu từ có mối quan hệ liên tưởng là một trong những phương thức sáng tạo mang lại hiệu quả cao từ nội dung đến hình thức Các nhà thơ khi sáng tạo nghệ thuật sẽ vận dụng chúng để tạo nên khoảng không để thỏa sức sáng tạo Như Chế Lan Viên từng viết:
Bài thơ anh anh làm một nửa mà thôi Còn một nửa cho mùa thu làm lấy Cái xào xạc hồn anh chính là xào xạc lá
Nó không là anh nhưng nó là mùa
(Sổ tay thơ- Chế Lan Viên)
Tác phẩm khi còn là “phôi thai”, thi sĩ đã nhen nhóm những cảm xúc, triết lí, suy tư, những giá trị xuất phát từ cuộc sống để đắp dựng nên hình hài của văn bản
Và các biện pháp tu từ chính là chất phụ gia làm cho thông điệp của nhà thơ đến với bạn đọc không chỉ dừng lại ở nghĩa hiển ngôn mà còn là những lớp nghĩa hàm ẩn
Trang 9sâu sắc Thi nhân đã trao cho người đọc chiếc chìa khóa, từ đó độc giả lần mò giải
mã những thông điệp mà thi sĩ đã gửi gắm Hơn thế nữa, các biện pháp tu từ theo mối quan hệ liên tưởng không chỉ tạo nên giá trị độc đáo cho các tác phẩm mà còn góp phần khẳng định tư duy và tài năng của người nghệ sĩ
Hiểu biết văn học là cả một quá trình từ nhận thức đến cảm thụ và tư duy văn học Trong một xã hội, sự nhận thức vai trò tư duy văn học của mỗi người là khác nhau Nhận thức cơ sở và cảm nhận văn chương là cả một quá trình đằng đẵng, chặng đường ấy không hề đơn giản Văn học lấy chất liệu từ cuộc sống, nó mang sứ mệnh giáo dục nhân cách, đạo đức, tư duy, tình cảm của con người Vì lẽ đó, văn học được đưa vào giáo dục trong nhà trường với tên gọi Ngữ Văn, đây là sự kết hợp giữa ngôn ngữ và văn chương để giáo dục tư duy thẩm mĩ, nhận thức cho học sinh Đặc thù của giáo dục không giống những ngành nghề khác, sản phẩm của giáo dục
là con người Con người này phải đáp ứng được yêu cầu vận hành của xã hội Hiểu được sứ mệnh của mình, bộ Giáo dục đã và đang thực hiện việc thay đổi phương pháp dạy - học, thay đổi từ nội dung đến hình thức nhằm làm thay đổi những khuôn mẫu, sáo rỗng mà hiện thực giáo dục đang tồn đọng Tiếp nhận chương trình giáo dục phổ thông tổng thế 2018, chúng ta nhận ra môn Ngữ Văn đang được cởi trói khỏi những khuôn mẫu, sao chép Chương trình Ngữ văn mới hướng học sinh đến phương pháp tiếp cận văn chương hơn là đọc chép, áp đặt như trước đây Chính vì
lẽ đó, việc phân tích nghệ thuật (phương diện ngôn ngữ) được chú trọng hơn cả Tiếp cận văn học là quá trình vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật Với suy nghĩ như vậy, chúng tôi đề cao việc tìm hiểu thấu đáo các yếu tố nghệ thuật của tác phẩm trước khi lên lớp, rèn cho học sinh thói quen phân tích, đánh giá phương diện nghệ thuật của văn bản là việc làm ý nghĩa, rất cần thiết cho giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ Văn và người học
Với hi vọng sẽ đóng góp phần nào vào việc phân tích các tác phẩm thơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 ở khía cạnh phong cách học, đồng thời làm giàu hướng cảm thụ văn chương cho người đọc dưới góc độ ngôn ngữ, chúng
tôi đã chọn đề tài “Các biện pháp tu từ theo mối quan hệ liên tưởng trong các tác
Trang 10phẩm thơ chương trình giáo dục phổ thông mới 2018” để nghiên cứu, khám phá
Điều này, có giá trị làm tài liệu tham khảo trong công tác giảng dạy của bản thân nói riêng và các giáo viên Ngữ Văn nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Ở lĩnh vực ngôn ngữ, đặc biệt là phong cách học, khi xem xét về các biện pháp
tu từ theo mối quan hệ liên tưởng phải kể đến các nhà nghiên cứu sau:
Cù Đình Tú (1994), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, NXB Giáo
dục, Hà Nội, cuốn sách này dày 403 trang, phần trình bày về “Các cách tu từ tiếng Việt theo mối quan hệ liên tưởng” được viết từ trang 272 đến trang 307 Trong sách,
G.S cho rằng: “Đặc điểm chung của các cách tu từ cấu tạo theo quan hệ liên tưởng
là trong một văn cảnh cụ thể, từ ngữ có hiện tượng lâm thời chuyển đổi ý nghĩa Ở đây, nghĩa của từ ngữ vốn biểu thị đối tượng này (theo từ điển) nay được lâm thời chuyển sang biểu thị đối tượng khác dựa trên cơ sở một quan hệ liên tưởng nhất định…” [18, tr.272] Trong các cách tu từ tiếng Việt cấu tạo theo quan hệ liên tưởng
tác giả chia thành những nhóm nhỏ sau: So sánh tu từ; Ẩn dụ tu từ; Nhân hóa; Phúng dụ; Hoán dụ tu từ; Tượng trưng
Đinh Trọng Lạc (1994) có công trình 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt Trong cuốn sách này, tác giả đã liệt kê các phương tiện và biện pháp tu từ ngữ
nghĩa Tuy nhiên, cuốn sách này xếp so sánh vào nhóm biện pháp tu từ ngữ nghĩa
Và hoán dụ, ẩn dụ, phúng dụ, nhân hóa, vật hóa, tượng trưng vào nhóm phương tiện
tu từ ngữ nghĩa
Một công trình khác cũng đề cập đến vấn đề biện pháp tu từ theo mối quan hệ
liên tưởng này là của Đinh Trọng Lạc - Nguyễn Thái Hòa (2006), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Cuốn sách đề cập đến các phương diện tu từ ngữ
nghĩa và chia thành ba nhóm (mỗi nhóm có một phương thức tiêu biểu); Nhóm so sánh tu từ (còn gọi là nhóm tỉ dụ); Nhóm ẩn dụ tu từ; Nhóm hoán dụ tu từ Theo
nhận xét trong giáo trình Phong cách học tiếng Việt của PGS.TS Bùi Trọng Ngoãn, thầy cho rằng: “Khái niệm tu từ ngữ nghĩa được nhóm tác giả Đinh Trọng Lạc đưa
ra nhưng không nêu lên được một định nghĩa cụ thể mà chỉ có một định nghĩa
Trang 11chung về phương tiện tu từ” [10,tr.32] Những công trình nghiên cứu trên, các tác
giả đã đưa ra lí thuyết, phân tích về các biện pháp tu từ theo mối quan hệ liên tưởng
và đi sâu phân tích giá trị của nó trong tiếng Việt
Khóa luận này chúng tôi xác định mục đích cốt lõi của bài vẫn là học tập, trau dồi thêm kiến thức để vững vàng hơn trong chuyên môn Vì vậy, người viết sẽ dựa vào những kiến thức đã học ở đại học và quá trình tìm tòi của bản thân để hoàn
thành bài viết Lẽ đó, trong những kiến thức, người viết dựa vào bài giảng Phong cách học tiếng Việt của PGS TS Bùi Trọng Ngoãn để làm nền tảng, phát triển, và
hoàn thiện bài
Đề cập đến các biện pháp tu từ theo mối quan hệ liên tưởng được vận dụng vào tác phẩm văn chương, không phải là một đề tài quá mới mẻ Có thể kể đến luận
văn thạc sĩ của Lê Phan Quỳnh Trang với đề tài Các biện pháp tu từ liên tưởng và
tư duy thơ Chế Lan Viên qua ba tập Di cảo Luận văn này đã làm rõ được lí thuyết
về các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng Từ đó, tác giả khảo sát và đánh giá vai trò của các biện pháp tu từ theo mối quan hệ liên tưởng đối với tư duy thơ Chế Lan Viên trong ba tập Di cảo
Tuy nhiên, chúng tôi tiếp cận nhanh chóng sự đổi mới của chương trình giáo dục phổ thông mới 2018, quá trình khảo sát tiến hành trên 40 bài thơ (có đính kèm danh sách tác phẩm) – đây là nguồn ngữ liệu hết sức mới mẻ Tuy rằng, có những bài thơ đã được nhiều thế hệ đi trước khai phá nhưng cũng có những văn bản tựa cánh đồng chưa lần cày cấy Nhận thấy giá trị của biện pháp tu từ theo mối quan hệ liên tưởng tác động đến thơ ca và vấn đề cấp thiết cho sự “thay mình” của giáo dục hiện nay, chúng tôi nhận thấy đó là mảnh đất màu mỡ đang chờ sự khai phá Đó chính là lí do chúng tôi chọn đề tài
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Các biện pháp tu từ theo mối quan hệ liên tưởng trong các tác phẩm thơ thuộc chương trình giáo dục phổ thông mới 2018”, chúng tôi xác định
những mục đích cụ thể sau:
Trang 12- Xác định quan niệm về các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng: quan niệm, cơ chế của từng biện pháp tu từ
- Khảo sát, thống kê biểu hiện của các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng trong các tác phẩm thơ thuộc chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
- Phân tích tầm tác động của các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng đối với nội dung, nghệ thuật các tác phẩm thơ thuộc chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng: so sánh
tu từ, ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ, nhân hóa và tầm tác động đến các tác phẩm thơ Thuộc chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
- Phạm vi nghiên cứu: Các bài thơ Việt Nam hiện đại xuất hiện trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 (gồm 40 bài)
Bảng 1.1: Thống kê các tác phẩm thuộc chương trình giáo giục phổ thông mới 2018
STT Tên tác phẩm Tên tác giả
1 Bài thơ về tiểu đội xe không kính Phạm Tiến Duật
15 Hành trình của bầy ong Nguyễn Đức Mậu
Trang 1316 Khi con tu hú Tố Hữu
17 Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ Nguyễn Khoa Điềm
18 Lính đảo hát tình ca trên đảo Trần Đăng Khoa
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp như sau:
- Phương pháp thống kê- phân loại: Khóa luận này chủ yếu thống kê các biện pháp tu từ xuất hiện trong chương trình thơ giáo dục phổ thông mới 2018 Từ đây,
Trang 14chúng tôi tiến hành tìm hiểu và phân tích để tìm ra giá trị biểu đạt của biện pháp tu
từ đó
- Phương pháp phân tích miêu tả ngôn ngữ học: Phương pháp này được vận dụng trong suốt quá trình trình bày khóa luận để phân tích, miêu tả các ngữ liệu xuất hiện trong tác phẩm Sau khi thống kê, phân loại các biện pháp tu từ, chúng tôi tiến hành miêu tả ngôn ngữ kết hợp phân tích nội dung, ý nghĩa
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Mục lục, chúng tôi chia
bố cục khóa luận thành 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Khảo sát các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng trong những tác phẩm thơ thuộc chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
Chương 3: Tầm tác động của các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng trong các tác phẩm thơ thuộc chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
Trang 15NỘI DUNG CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Các biện pháp tu từ theo mối quan hệ liên tưởng:
1.1.1 Khái quát về các biện pháp tu từ:
1.1.1.1 Khái niệm:
Theo GS Cù Đình Tú nhận định trong Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt về cách tu từ: “Một trong những đóng góp đáng kể của Rhetorica (Mĩ từ pháp
cổ đại) là phát hiện ra các Figura – cách tu từ Trong tiếng Latin Figura có nghĩa
là hình thức, bóng bẩy Ở tiếng Việt, các nhà nghiên cứu ngữ văn đã dùng các thuật ngữ phép mĩ từ, biện pháp tu từ, cách tu từ” [18,tr.269]
Như vậy, ta có thể hiểu các biện pháp tu từ chính là những cách thức, hình thức thể hiện nhằm làm bóng bẩy, gợi cảm, tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn khi trình bày Điều này càng phát huy được những vẻ đẹp mà ngôn ngữ mang lại
1.1.1.2 Tác dụng:
Ở thời cổ Hi Lạp, người ta gắn các cách tu từ với nghệ thuật viết văn và nghệ thuật hùng biện Hay sau này, người ta quan niệm các cách tu từ thường gắn với ngôn ngữ văn chương Tuy nhiên, nhìn nhận một cách thực tế về sự diễn đạt của con người, ta có thấy hai quan điểm trên đang gò bó, chật hẹp đối với các cách tu từ Các biện pháp tu từ không có giới hạn cho bất kì một phong cách ngôn ngữ nào Tuy nhiên thực tế sử dụng, ta cũng nhận thấy các cách tu từ xuất hiện nhiều ở phong cách này thường ít xuất hiện ở những phong cách khác
Các biện pháp tu từ là con đường, cầu nối chủ yếu nhằm nâng cao giá trị biểu đạt của ngôn ngữ thơ Đặc biệt, ở ngôn ngữ nghệ thuật, người sáng tạo khi khai thác triệt để giá trị của biện pháp tu từ sẽ tạo nên những độc đáo, bất ngờ từ nội dung đến nghệ thuật Và khi người đọc tiếp nhận văn bản, họ sẽ đồng sáng tạo để đưa ra những giá trị nội tại bên trong mà ngôn ngữ mang lại Điều ấy không chỉ đem lại sự thành công cho tác phẩm mà còn khẳng định được tư duy và tài năng của người nghệ sĩ
Trang 16Trên phương diện quan hệ ngôn ngữ, người ta chi thành hai nhóm:
- Các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng
- Các biện pháp tư từ theo quan hệ tổ hợp
1.1.2 Các biện pháp tu từ theo mối quan hệ liên tưởng:
Đặc điểm chung của các biện pháp tu từ theo mối quan hệ liên tưởng là phụ thuộc vào văn cảnh cụ thể, từ ngữ có hiện tượng lâm thời chuyển đổi ý nghĩa Có thể hiểu, nghĩa của từ vốn biểu thị đối tượng này (nghĩa từ điển) nay lâm thời được biểu thị sang một đối tượng khác dựa trên một quan hệ liên tưởng nhất định Quan
hệ liên tưởng đó có thể là:
- Liên tưởng nét tương đồng (khía cạnh giống nhau)
- Liên tưởng có tính logic khách quan về mối quan hệ có thực xảy ra ở hai đối tượng
Định lí tổng quát về cấu tạo các cách tu từ theo mối quan hệ liên tưởng như sau:
- Dựa trên sự phát hiện về một quan hệ liên tưởng nào đó giữa A và B
- Phụ thuộc vào đặc trưng mối quan hệ liên tưởng giữa A và B
Những tổng quan trên là cơ sở để đánh giá tính chất đúng đắn và tính chất sáng tạo của việc sử dụng các cách tu từ theo mối quan hệ liên tưởng trong việc sáng tạo nghệ thuật nói riêng và thực tế nói viết nói chung
Trang 17Cũng dựa vào hai định lí tổng quát trên, người ta chia các biện pháp tu từ theo mối quan hệ liên tưởng theo các nhóm sau: nhóm tu từ so sánh, nhóm tu từ ẩn
dụ, nhóm tu từ hoán dụ, nhân hóa và vật hóa, phúng dụ, tượng trưng
1.1.2.1 So sánh tu từ:
a Khái niệm:
So sánh tu từ là cách nói công khai, đối chiếu hai hay nhiều đối tượng khác loại cùng có một nét chung nào đó (nét giống nhau) nhằm diễn tả hình ảnh đặc điểm của một đối tượng… Chính do mục đích diễn tả một cách hình ảnh mà các phép so sánh tu từ ít nhiều đều “khập khiễng”, đều mang tính chất khoa trương
( Nguyễn Tuân)
Hai chiếc răng
đen nhánh
lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp
như hai lưỡi liềm máy làm
việc (Tô Hoài)
Trong cấu trúc của phép tu từ so sánh, có thể vắng mặt yếu tố: cơ sở so sánh,
từ so sánh Chẳng hạn như:
- Trẻ em như búp trên cành (Vắng mặt yếu tố cơ sở so sánh)
- Hồn tôi giếng nước ngọt ngào
Trăng thu trong vắt biển chiều trong xanh (Vắng mặt yếu tố từ so sánh)
Tuy nhiên yếu tố: vế A và vế B nhất thiết phải có mặt trong cấu trúc này Xét
về mặt hình thức, so sánh tu từ khác với mọi cách tu từ theo quan hệ liên tưởng ở chỗ bao giờ cũng công khai phô bày hai vế A và B Nếu mất vế A sẽ nhầm lẫn sang
Trang 18biện pháp tu từ ẩn dụ Nguyên tắc của so sánh tu từ là dùng B để làm sáng tỏ A một cách hấp dẫn, cụ thể
Vế B: hoa đã lìa cành, con bướm lượn vành mà chơi
Áo chàng đỏ tựa ráng pha Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
(Chinh phụ ngâm- Đặng Trần Côn)
(Ca dao) Qua cầu ngả nón trông cầu
Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu
Trang 19Trong đó:
Vế A: Nguyễn Tuân
Vế B: cây đại cổ thụ trong khu rừng nhiệt đới
c.4 Kiểu A // B hay so sánh song hành
- Vui như tết, vui như trẩy hội, vui như mở cờ trong bụng
- Nhanh như sóc, nhanh như cắt, nhanh như điện…
- Xanh như da trời, xanh lá chuối, xanh lá mạ…
Trong văn chương, so sánh là phương thức tạo hình, gợi cảm Thường so sánh nghệ thuật được coi là đắt giá khi:
- Các đối tượng được đưa ra so sánh là khác loại nhau
- Nêu đúng những nét nghĩa giống nhau giữa hai đối tượng, gợi lên mối liên tưởng mới mẻ, độc đáo, bất ngờ
- Có nghĩa hàm ngôn phong phú, sâu sắc và có giá trị nhận thức cao
So sánh tu từ góp phần xây dựng hình ảnh trong văn chương, tạo nên tính hình tượng, làm nên sức hấp dẫn cho tác phẩm và góp phần quan trọng vào việc thể hiện
tư duy của người nghệ sĩ Chằng hạn như “ Phải có một thính giác nhạy bén, một
Trang 20tâm hồn tế nhị và sự thẩm âm như thế nào mới có thể nghe được cái trong trẻo của tiếng hát xa và chỉ có âm thanh trong trẻo mới vang xa không bị những âm thanh hỗn loạn nhấn chìm Tiếng suối của đêm khuya tịch mịch dưới vầng trăng cũng có sức vang xa đến thế
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng ( Trần Đăng Khoa)” [4,tr.192]
1.1.2.2 Ẩn dụ tu từ
a Khái niệm:
“Ẩn dụ tu từ (hay ẩn dụ nghệ thuật) là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối tượng này để biểu thị đối tượng kia trên cơ sở của mối quan hệ liên tưởng về những nét nghĩa tương đồng giữa hai đối tượng” [18,tr.279]
Ví dụ:
Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
(Sóng- Xuân Quỳnh) Trong những câu thơ trên, có hình ảnh của con sóng nhưng đó không chỉ là sóng của hiện thực khách quan mà đã là những cung bậc cảm xúc khi yêu của người phụ nữ Lắm lúc, sóng gầm gào trên mặt đại dương, lúc thì cuồn cuộn trong lòng biển Xuân Quỳnh đã mượn tính chất của con sóng ngầm và sóng trên mặt biển để hướng đến tình yêu của em Sóng là em, mà em cũng là sóng Tâm hồn em cũng vô vàng phức tạp như những con sóng kia
Không chỉ trong văn chương, mà ở trong đời sống hằng ngày, ta vẫn bắt gặp
các hình ảnh ấn dụ như: “Thằng khỉ gió…”, “Gấu mập…” Hay ta thường nghe nói:
“Hắn vừa mới chụp được một mẻ dịch vụ ra trò.”, “Đốt anh đi! Đùa dai mãi thế.”
Trang 21b Cấu trúc:
Trong cấu trúc của ẩn dụ tu từ, có hai yếu tố là cái được ẩn dụ và cái dùng để
ẩn dụ Tuy nhiên, trên bề mặt ngôn từ, cái được ẩn dụ không xuất hiện trực tiếp Do
đó, ẩn dụ còn được hiểu là so sánh ngầm
Ví dụ:
Gìn vàng giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời
(Nguyễn Du- Truyện Kiều) Lời dặn của Kim Trọng trước phút li biệt, tác giả đã mượn hình ảnh “vàng”,
“ngọc” ngầm thể hiện thân thể và phẩm hạnh của Thúy Kiều - đó cũng là niềm an
ủi cho người đi xa
c Các kiểu ẩn dụ tu từ:
Về mặt cấu tạo nội dung, ẩn dụ tu từ giống với so sánh tu từ ở chỗ cần phải liên tưởng rút ra được nét tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng, hoạt động, trạng thái, cảm giác Do đó, có bao nhiêu khả năng tương đồng thì sẽ có bấy nhiêu khả năng cấu tạo ẩn dụ tu từ
Có ba loại ẩn dụ tu từ chủ yếu: ẩn dụ chân thật, ẩn dụ bổ sung, ẩn dụ tượng trưng
- Ẩn dụ chân thật: là những ẩn dụ được cấu tạo bằng sự so sánh ngầm những nét tương đồng giữa các sự vật, các hoạt động, các tính chất, các trạng thái
Thuyền đi đâu về đâu
(Thuyền và biển – Xuân Quỳnh)
Trang 22Trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, hình ảnh “thuyền”, “biển” sẽ có
những ý nghĩa ẩn dụ khác nhau Tuy nhiên, trong bài thơ này, Xuân Quỳnh đã mượn sự sóng đôi, gắn liền giữa thuyền và biển để ẩn dụ cho anh và em
+ Ẩn dụ - tương đồng về tính chất
Tay bưng đĩa muối chén gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau
(Ca dao)
Tác giả dân gian đã mượn tính chất “cay”, “mặn” của gừng và muối để ẩn dụ
cho tình yêu đôi lứa đắng cay mặn nồng, trải qua bao khó khăn vẫn thủy chung bên nhau
+ Ẩn dụ - tương đồng về hoạt động
Làm trai cho đáng nên trai
Vót đũa cho dài, ăn vụng cơm con
(Ca dao)
Các hành động “vót đũa cho dài”, “ăn vụng cơm con” đối lập, ẩn dụ cho việc
làm người đàn ông tưởng chừng như đáng đấng nam nhi như thực chất việc làm lại nhỏ nhen, hèn nhát
+ Ẩn dụ - tương đồng về trạng thái
Nhưng bạn ơi ở bên trong vòng trắng
Là cái đầu bốc lửa ở bên trong
(Vòng trắng – Phạm Tiến Duật)
Câu thơ của Phạm Tiến Duật viết về những người lính, nhân dân tử nạn trong
đạn bom của không lực Hoa Kì “Cái đầu bốc lửa” và ý chí, lòng nhiệt thành của
người dân có trạng thái như nhau: sục sôi, quyết tâm…
- Ẩn dụ bổ sung ( ẩn dụ chuyển đổi cảm giác): là sự thay đổi một cảm giác này bằng một cảm giác khác trong nhận thức cũng như trong diễn đạt bằng ngôn ngữ [10,tr.34]
Trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, ta vẫn thường hay nghe “lời nói ngọt như đường”, “Trời hôm nay nghe có vẻ lạnh”, “giọng nói ấm áp”… Trong văn chương,
Trang 23ẩn dụ chuyển đổi cảm giác được sử dụng phổ biến và tạo ra hiệu quả nghệ thuật sâu sắc Chẳng hạn như:
Này lắng nghe em khúc nhạc thơm
Say người như rượu tối tân hôn
( Huyền diệu- Xuân Diệu) Chiều chúa nhật buồn
Nằm trong căn gác đìu hiu
Ôi tiếng hát xanh xao của một biển chiều
(Lời buồn thánh – Trịnh Công Sơn)
- Ẩn dụ tượng trưng: là những ẩn dụ mang tính biểu trưng, mang ý nghĩa biểu tượng [10,tr.35]
Ví dụ: “… Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém
giết những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của
Lê Hiền Anh đã từ nhận xét: “Ẩn dụ là một cấu tạo ngôn ngữ hết sức mềm dẻo… Đó là quy luật của một lối diễn đạt lấy cực nọ để biểu hiện cực kia: lấy xa nói gần, lấy vòng nói thẳng, lấy kín nói hở, lấy ít nói nhiều… Paul từng nhận định:
“Sức mạnh của so sánh là nhận thức, còn sức mạnh của ẩn dụ là cảm xúc”
[19,tr.105] Các ẩn dụ mang giá trị thẩm mĩ cao thường làm bùng nổ nhiều liên tưởng ngữ nghĩa kì thú cho người đọc, người nghe Ẩn dụ xuất phát từ cảm xúc, khơi gợi liên tưởng đối với người tiếp nhận nên đòi hỏi người tạo lập và người tiếp nhận căn cứ vào các yếu tố sau:
- Nhân tố văn cảnh:
- Nhân tố hợp logic (tính hợp lí)
Trang 24- Nhân tố thói quen thẩm mĩ
Có những ẩn dụ chứa đựng nội dung biểu hiện rất súc tích Nội dung biểu hiện này có thể hiểu theo nhiều cách, cách này gần gũi với cách kia, bổ sung cho cách kia mà vẫn không chống đối nhau, loại trừ nhau Vì lẽ đó, ẩn dụ tu từ là một phương tiện diễn đạt có sức hấp dẫn mạnh mẽ Các nhà văn, nhà thơ tài năng thường sáng tạo được những ẩn dụ bất ngờ, thú vị, có tính hàm súc cao, khơi gợi được nhiều liên tưởng thú vị
1.1.2.3 Hoán dụ tu từ
a Khái niệm:
“Hoán dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối tượng này dùng
để biểu thị đối tượng kia dựa theo mối quan hệ logic khách quan giữa hai đối tượng.” [18,tr.298]
Ví dụ:
“Thế là gần ba tháng trời, những sự đóng góp chi tiêu của một gia đình năm miệng ăn, hết thảy trông vào hai bàn tay của người đàn bà con mọn”
(Tắt đèn – Ngô Tất Tố)
“Năm miệng ăn”: chỉ đến năm người trong gia đình nhà chị Dậu
“Hai bàn tay”: hình ảnh lao động lam lũ, vất vả của chị Dậu
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)
c Các loại hoán dụ tu từ:
Cơ sở để tạo nên hoán dụ là quan hệ logic khách quan, quan hệ tiếp cận giữa các sự vật, hiện tượng, trạng thái, cảm giác Vì thế, có bao nhiêu mối quan hệ sẽ có bấy nhiêu khả năng cấu tạo hoán dụ tu từ Các loại hoán dụ thường gặp như sau:
Trang 25- Cải số: là phương thức chuyển nghĩa biểu thị mối quan hệ giữa số ít và số nhiều, giữa con số cụ thể và số tổng quát [4,tr.206]
“Nông thôn, thành thị”: những con người sống ở nông thôn và thành thị
- Cải danh: là phương thức chuyển nghĩa biểu thị mối quan hệ giữa tên chung
và tên riêng trong đó tên riêng thay thế cho tên chung và ngược lại [4,tr.206]
Những hồn Trần Phú vô danh
Sóng xanh biển cả, cây xanh núi ngàn
(Tố Hữu)
“Trần Phú”: những chiến sĩ cách mạng đã hi sinh
- Hoán dụ xây dự từ quan hệ giữa bộ phận với toàn thể
Sầu đong càng lắc càng đầy
Ba thu dồn lại một ngày dài ghê
(Truyện Kiều- Nguyễn Du)
“Ba thu”: mỗi năm là một mùa thu Dùng mùa thu trong năm để thay thế cho
cả năm
- Hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa vật sở thuộc với chủ thể
Giá đem lòng tôi đọc Nguyễn Du
Có phải đã hiểu nhân dân mình thêm một chút
(Đọc Kiều- Chế Lan Viên)
“Nguyễn Du”: tác phẩm Truyện Kiều
Trang 26- Hoán dụ xây dựng giữa nguyên nhân và kết quả
Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm
(Hoàng Trung Thông)
“Bàn tay”: khả năng lao động của con người
d Giá trị phong cách
Hoán dụ tu từ được dùng nhiều trong nhiều phong cách ngôn ngữ: khẩu ngữ tự
nhiên “chị tóc quăn”, “anh đeo kính”; cho đến phong cách chính luận “cả năm châu đại lục đều hưởng ứng”; phong cách ngôn ngữ văn chương “Khu Năm dằng dặc khúc ruột miền Trung”
Tác dụng chủ yếu của hoán dụ là nhận thức, khắc họa, nhấn mạnh một thuộc tính, dấu hiệu nổi bật, quan trọng, độc đáo về đối tượng miêu tả Biện pháp này đem lại sự mới mẻ trong cách gọi tên, tạo nên nhận thức khác lạ, mang nhiều giá trị nghệ thuật Đặc biệt, người sáng tạo văn chương khi sử dụng hoán dụ tu từ sẽ tạo nên nội tại mang sức “bộc phá” cho đứa con tinh thần Tại đây, nhà thơ có điều kiện thể hiện tài năng quan sát, phát hiện của riêng bản thân, từ đó sẽ đem đến cho người
đọc những suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ.“Một tiểu luận nghiên cứu về ngôn ngữ Truyện Kiều cho thấy Nguyễn Du đã trên 200 lần sử dụng hoán dụ trong số 3254 câu thơ Các tác giả hiện đại như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông… đều có những khám phá mới trong hoán dụ tu từ.” [18,tr.304]
1.1.2.4 Nhân hóa (Nhân cách hóa)
Trang 27Trong ngôn ngữ thường ngày, ta thường bắt gặp: “ Xe lửa chạy rồi!”; “lúa đang độ thì con gái”; “Điếu cày kêu sòng sọc”; “Cái bụng muốn đi mà chân không muốn bước”…
Trong ngôn ngữ văn chương, ca dao thường sử dụng nhiều nhân hóa:
Trâu ơi! Ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta
(Ca dao) Hay
Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa Mận hỏi thì Đào xin thưa Vườn hồng đã có nhưng chưa ai vào
(Ca dao) Không chỉ trong văn học dân gian, thơ văn hiện đại cũng áp dụng biện pháp nhân hóa một cách đắc dụng
Cứ thế, hai ba năm nay, rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho dân làng
(Rừng xà nu- Nguyễn Trung Thành)
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
(Viếng lăng Bác – Viễn Phương)
b.Phân loại:
Dựa vào mặt hình thức, ta chia nhân hóa ra làm hai loại:
- Loại thứ nhất: dùng những từ ngữ chỉ tính chất, hoạt động của con người, để biểu thị tính chất, hoạt động của đối tượng không phải người [18,tr.290]
Ví dụ:
Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
(Việt Bắc- Tố Hữu)
Trang 28Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi
(Bẽn lẽn- Hàn Mặc Tử)
- Loại thứ hai: Gọi các đối tượng không phải con người như con người và tâm tình trò chuyện với chúng [18,tr.290]
Ví dụ:
Nỗi niềm chi rứa Huế ơi?
Mà mưa xối xả, trắng trời Thừa Thiên…
(Tố Hữu)
Con cút cụt đuôi ai nuôi mày lớn
Dạ thưa bà, tôi lớn mình ên
(Ca dao Nam Bộ)
c Giá trị phong cách:
Nhân hóa là biện pháp nghệ thuật đưa thế giới khách quan của cuộc sống con người vào cảnh vật vô tri, vô giác, khiến nó sống động, mang linh hồn, suy nghĩ, sinh khí của một con người Nhân hóa yêu cầu cao sự nhìn nhận những nét tương đồng giữa người và vật để tạo lập được giá trị nghệ thuật khéo léo lồng ghép những tâm tư, tình cảm của người nói Vì vậy, nhân hóa đồng thời mang giá trị nhận thức
và giá trị biểu cảm Biện pháp này cấu tạo không quá phức tạp, lẽ đó, nó được sử
dụng rộng rãi trong nhiều phong cách: phong cách khẩu ngữ tự nhiên “Ông Trăng đêm rằm sáng quá!”, phong cách chính luận “Khi rượu vào, sự khiêm tốn đội nón
ra đi” ( Tục ngữ Italy) , phong cách ngôn ngữ văn chương “Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc”
Một nhân hóa được xem là “đắt” khi:
+ Tính logic của việc rút ra nét giống nhau giữa người và đối tượng không phải người
+ Tài năng quan sát riêng của người dùng: chỉ ra được những nét giống nhau
mà ít ai để ý, dẫn đến sự bất ngờ và giá trị nghệ thuật
Trang 291.2 Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
1.2.1 Khái quát chương trình phổ thông mới môn Ngữ Văn:
Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức
và đạt được những thành tựu to lớn mang ý nghĩa lịch sử Nước ta đã thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình Nhằm bảo đảm việc phát triển bền vững, nhiều quốc gia đã không ngừng đổi mới giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trang bị cho các thế hệ tương lai nền tảng văn hoá vững chắc và năng lực thích ứng cao trước mọi biến động của thiên nhiên và xã hội, đất nước ta không nằm ngoài quy luật ấy Đổi mới giáo dục
đã trở thành nhu cầu cấp thiết và xu thế mang tính toàn cầu Mục tiêu đổi mới được
ban hành trong Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh [17,tr.15]
Ngữ văn là môn học thuộc lĩnh vực giáo dục ngôn ngữ và văn học, được học
từ lớp 1 đến lớp 12 Ở tiểu học, môn học này có tên là Tiếng Việt; ở trung học cơ sở
và trung học phổ thông có tên là Ngữ Văn Thông qua các văn bản, học sinh bằng hoạt động đọc, viết, nói và nghe, đã khai thác được những giá trị cốt lõi từ nội dung đến nghệ thuật Môn Ngữ văn có vai trò to lớn trong việc giúp học sinh phát triển được những phẩm chất cao đẹp; khơi dậy những cảm xúc lành mạnh, biết tôn trọng cái đẹp; có đời sống tinh thần phong phú; một tâm hồn nhân hậu và lối sống nhân
Trang 30Tuy nhiên, ở từng giai đoạn học khác nhau sẽ có các mục tiêu cụ thể khác nhau Ngữ Văn là môn học vừa có tính thẩm mĩ, vừa có tính nhân văn, giúp học sinh hình thành, phát triển các năng lực chung và năng lực môn học như: năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mĩ… Người học không bị trói buộc trong giới hạn môn học, mà dựa vào các năng lực ấy có thể tự khai phá những góc khuất của bản thân Nhưng cốt lõi chủ yếu của chức năng môn học vẫn là giúp học sinh trang bị được những kĩ nhằm phục vụ cho cuộc sống của bản thân và yêu cầu của xã hội
1.2.2 Giới thiệu về các tác phẩm thơ trong chương trình mới:
Các tác phẩm mà chúng tôi lựa chọn thuộc chương trình Ngữ Văn cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông được đề ra trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 Phạm vi khảo sát của đề tài là các bài thơ thuộc giai đoạn văn học hiện đại Trong phạm vi ngữ liệu mà chúng tôi lựa chọn, có một số bài thơ thuộc chương
trình giáo dục hiện hành như: Sóng; Việt Bắc; Tây Tiến; Viếng lăng Bác; Mùa xuân nho nhỏ; Sang thu … Những tác phẩm này tuy quen thuộc, gần gũi với thế hệ học
sinh, nhưng nhìn nhận ở một góc độ khác, người viết nhận ra, các bài thơ ấy cũng còn những vấn đề rất hay mà chúng ta có thể tìm hiểu Bên cạnh đó, một số tác
phẩm như Hành trình của bầy ong; Tiếng vọng… thuộc chương trình tiểu học, được đưa vào chương trình cấp 2 Hay những tác phẩm hoàn toàn mới: Dặn con; Những cánh buồm; Chiều biên giới… Tuy nhiên, dù là tác phẩm đã được khai thác hay
chưa được khám phá đều đặt ra cho người viết những thử thách khác nhau Các tác phẩm quen thuộc, thì phải chọn được những nơi đắc địa để đào xới, tránh trường hợp trùng lặp Còn những tác phẩm mới, thì lại ít có “bóng người” nên sẽ khó khăn tiếp cận
Những tác phẩm thuộc chương trình giáo dục mới 2018 sẽ được chúng tôi tiếp cận dưới góc độ các biện pháp tu từ theo mối quan hệ liên tưởng Tất cả những sự tìm hiểu đều hướng đến mục đích phục vụ cho quá trình giảng dạy của người viết nói riêng và giáo viên Ngữ Văn nói chung Những tác phẩm thuộc chương trình giáo dục mới 2018 sẽ được chúng tôi tiếp cận dưới góc độ các biện pháp tu từ theo mối quan hệ liên tưởng
Trang 31CHƯƠNG 2:
KHẢO SÁT CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THEO QUAN HỆ LIÊN TƯỞNG TRONG NHỮNG TÁC PHẨM THƠ THUỘC CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 2018
Khảo sát những tác phẩm thơ thuộc chương trình giáo dục phổ thông mới
2018, chúng tôi nhận ra các biện pháp tu từ theo mối quan hệ liên tưởng được xuất hiện một cách dày đặc Các biện pháp so sánh tu từ, ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ, nhân hóa,… đều xuất hiện trong những tác phẩm thơ thuộc phạm vi khảo sát tuy nhiên các biện pháp tu từ xuất hiện theo mật độ ít nhiều đều khác nhau Chúng tôi chỉ khảo sát trong phạm vi 4 biện pháp: so sánh tu từ; ẩn dụ tu từ; hoán dụ tu từ và nhân hóa Vì trong quá trình tìm hiểu khái quát về các tác phẩm, người viết nhận ra các biện pháp vừa nêu ở trên xuất hiện rất nhiều, chắc chắn, chúng sẽ có sự tác động mạnh mẽ đến giá trị nội dung và nghệ thuật
Bảng 2.1: Thống kê các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng trong những
tác phẩm thơ thuộc chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
Biện pháp tu từ Số bài có sử dụng biện pháp/ số bài
thơ của chương trình giáo dục mới
Khi tiếp nhận bảng 2.1, ta có thể nhận ra:
- Các biện pháp được sử dụng ở mật độ như sau:
+ Ẩn dụ tu từ (95%)
+ Hoán dụ tu từ (70% )
+ So sánh tu từ (67.5%)
Trang 32+ Nhân hóa (65%),
Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận ra các biện pháp tu từ xuất hiện theo mật độ khác nhau Phạm vi đề tài khảo sát bao trùm trên nhiều tác giả, với nhiều phong cách văn chương, tư duy khác nhau Nên sẽ có những bài thơ sử dụng nhiều biện pháp tu từ, nhưng cũng có không ít bài thơ rất hạn trong việc khai thác mảnh đất màu mỡ của mĩ từ
Như đã đề cập, biện pháp được sử dụng nhiều là: ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ, so sánh tu từ… điều này đồng nghĩa với việc khả năng quan sát, đối chiếu, đối sánh sự
vật trong thơ của các nhà thơ hiện đại là vô cùng phong phú Paul từ nhận xét: “Sức mạnh của so sánh là nhận thức Sức mạnh của ẩn dụ là cảm xúc” Như vậy, ta có
thể nhận ra, các bài thơ được sử dụng trong chương trình giáo dục phổ thông mới đều hài hòa giữa nhận thức và cảm xúc, khơi gợi những tư duy trong nhận thức của học sinh Điều này không chỉ thể hiện được tài năng, trí tuệ, nhận thức xã hội của các nhà thơ mà còn phù hợp với mục tiêu, sứ mệnh của bộ môn Ngữ Văn mang lại: không khô khan, giáo điều, rất linh hoạt, nhân văn
2.1 So sánh tu từ:
Trong các bài thơ thuộc chương trình phổ thông mới 2018, biện pháp so sánh
tu từ xuất hiện với tần suất trung bình so với cấc biện pháp còn lại Tuy nhiên, các dạng so sánh không đồng đều nhau trong tần suất sử dụng Có thể theo dõi thông qua bảng 2.2 sau:
Bảng 2.2: Thống kê các dạng so sánh trong các bài thơ thuộc chương trình
Trang 33Trong bảng số liệu 2.2, ta có thể đánh giá được các dạng so sánh xuất hiện theo tỉ lệ giảm dần như sau:
- A như B: 96,2%
- A // B: 7,4%
- A bao nhiêu B bấy nhiêu: 3.7 %
- A là B: 0%
Dạng A như B được sử dụng nhiều nhất chứng tỏ tư duy thơ luôn có xu hướng
đối chiếu Bên cạnh đó, các dạng so sánh khác cũng xuất hiện, tuy nhiên chiếm tỉ lệ không quá lớn Các bài thơ trong phạm vi khảo sát được sử dụng thực hiện phép so sánh tu từ dưới dạng A như B với tần suất nhiều nhất Điều này đã thể hiện được tư duy hình ảnh của các nhà thơ hiện đại Hình ảnh trong thơ là hình ảnh đã được tác giả chắt lọc, tạo hình bằng ngôn từ Từ đó gợi lên trong nhận thức của người đọc của người đọc, thông qua việc đối chiếu các hình ảnh Có lẽ chính bởi vì hình ảnh không cụ thể, cho nên hình ảnh cần được so sánh đối chiếu với nhau để làm nổi bật lên giá trị nhận thức, suy nghĩ, tưởng tượng từ người tiếp nhận thơ ca Khi khảo sát, chúng tôi nhận thấy các tác giả khi đối chiếu so sánh các hình ảnh với nhau càng làm rõ hơn ngụ ý của bản thân mà tác giả truyền tải:
Anh nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên) Trong phạm vi khảo sát, người viết nhận ra có những bài thơ không sử dụng
biện pháp tu từ so sánh: Tây tiến – Quang Dũng; Tràng giang - Huy Cận; Viếng lăng Bác - Viễn Phương; Những cánh buồm – Hoàng Trung Thông; Mộ - Hồ Chí Minh; Quê hương – Giang Nam…
Bên cạnh đó, cũng có những bài thơ sử dụng dày đặc biện pháp so sánh: Việt Bắc của Tố Hữu sử dụng 7 lần so sánh Tình ca ban mai của Chế Lan Viên sử dụng
6 lần so sánh, với những hình ảnh khác nhau Hay bài thơ Tiếng hát con tàu cũng 6
lần so sánh nhưng đó là những so sánh liên hoàn… (Có thể tham khảo thêm tần suất
Trang 34xuất hiện biện pháp so sánh tu từ trong các bài thơ thuộc chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 tại phần phụ lục)
Ở phần này, vì số liệu khảo sát của dạng A bao nhiêu B bấy nhiêu; dạng A là B;
và A // B thấp, khó thể đánh giá được chính xác giá trị của dạng so sánh này tác động đến chỉnh thể thơ Vì vậy, chúng tôi tập trung phân tích số liệu ở hai dạng A như B
Dạng so sánh này là dạng so sánh quen thuộc trong ca dao và thơ ca truyền thống, chẳng hạn như:
Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân
(Ca dao)
Các nhà thơ hiện đại đã sử dụng thuần thục kiểu sánh này với tần số xuất hiện cao Thông qua bảng thống kê biện pháp tu từ so sánh xuất hiện trong các bài thơ thuộc chương trình phổ thông mới được đính kèm ở phụ lục, chúng tôi đánh giá khái lược những vấn đề như sau:
- Các hình ảnh sử dụng so sánh đều tự nhiên Học sinh khi tiếp nhận sẽ dễ dàng nhận ra được những tầng lớp đối chiếu mà tác giả gửi gắm Chẳng hạn như khi miêu tả trận chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp đã sử dụng nhiều so sánh đơn giản, dễ hiểu cho học sinh lớp 6 tiếp cận:
Tức thời nước sủi như reo Càng cua lởm chởm như mác (Sơn Tinh và Thủy Tinh, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp)
Những hình ảnh so sánh ấy như chất phụ gia, kích thích tư duy của học sinh khi tiếp cận bài thơ
- Khi khảo sát dạng so sánh A như B, chúng tôi nhận ra một số cách so sánh
được biến hóa, cách tân nhưng vẫn giữ cái gốc truyền thống Điều đáng chú ý, dạng
so sánh đơn được các tác giả sử dụng nhiều trong các bài thơ:
Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương
Trang 35Trong giấc ngủ thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm
(Bên kia sông Đuống- Hoàng Cầm) Một miếng cau khô
Khô gầy như mẹ
(Mẹ - Đỗ Trung Lai)
Tuy nhiên, ở một số bài thơ sử dụng hình ảnh so sánh phức hợp, ta tạm hiểu là một gốc A nhưng được so sánh với nhiều B Theo cách đánh giá của người viết, chúng tôi nhận thấy có những kiểu biến thể so sánh sau:
+ A như B1, như B2:
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)
Có nơi nào xanh hơn Như tiếng chim hót gọi Như chồi non cỏ biếc Như rừng cây yêu lá Như tình yêu đôi ta
(Chiều biên giới – Lò Ngân Sủn)
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng hoa trở biếc
(Tiếng hát con tàu- Chế Lan Viên)
“Đây là dạng so sánh liên hoàn” [19,tr.43], từ một cái được so sánh, hàng loạt
các hình ảnh so sánh xuất hiện, liên tiếp nhau, thể hiện được những liên tưởng nối tiếp nhau Cách so sánh như thế này gắn với những hình ảnh liên hoàn, có mối quan
hệ với nhau, từ đó liên kết thành một hệ thống hình ảnh phong phú để bổ sung nghĩa
cho cái được so sánh
Trang 36được cấu trúc A như B phổ biến và được nhiều tác giả sử dụng, khai thác Từ dạng
quy chuẩn, nhiều nhà thơ đã sáng tạo thành những kiểu khác nhau Tuy nhiên, tất cả đều thể hiện được một tư duy thơ; nhìn nhận sự vật ở thế so sánh, đối chiếu, với một khả năng liên tưởng, tưởng tượng với biên độ rộng và độc đáo
2.2 Ẩn dụ tu từ:
Theo số liệu khảo sát ở bảng 2.1, chúng tôi đánh giá biện pháp ẩn dụ tu từ được sử dụng nhiều trong “đứa con tinh thần” của các nhà thơ Trong phạm vi khảo sát 40 tác phẩm, có đến 38 bài thơ sử dụng biện pháp ẩn dụ tu từ Trong đó, có một
số bài sử dụng liên tiếp các hình ảnh ẩn dụ Dựa vào lí thuyết ở chương 1, chúng tôi
có bảng thống kê sau để phân loại các dạng ẩn dụ tu từ:
Bảng 2.3 Thống kê các dạng ẩn dụ tu từ trong các bài thơ thuộc chương trình
giáo dục phổ thông mới 2018
Trang 37do đó, người đọc có thể tiếp cận từ nhiều chiều của hình ảnh ấy để mặc sức tưởng tượng, liên tưởng - đúng như tính chất vốn có của biện pháp Đọc thơ nếu chỉ dừng lại đọc bề mặt, thì dường như chính người đọc đang đánh mất đi giá trị vốn có của văn chương Hời hợt, vội vã, là những từ không phù hợp với người yêu thơ Chỉ khi nào người đọc lắng lại, tâm hồn có chiều sâu luôn trăn trở trước những ý niệm ở đời, thì người tiếp nhận văn chương mới có thể đánh giá được hết những tầng vỉa mà biện pháp mang lại
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi, trời xanh thêm
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật) Trời xanh là hình ảnh chân thật, hình ảnh này có thể là tả thực về một ngày
bầu trời trong xanh, đẹp đẽ Nhưng màu xanh là tượng trưng cho sự hòa bình, màu
của hi vọng Và từ đây, hình ảnh trời xanh đã gợi về sự hi vọng, niềm tin của người
lính về một ngày hòa bình không xa, ngày mà trời trong xanh, đất nước bước ra khỏi những tối tăm của bom đạm chiến tranh Câu thơ như nguồn năng lượng tiếp thêm sức mạnh cho người lính tiếp tục hướng về miền Nam đang chờ
Hay trong thơ Nguyễn Bính:
Nào đâu cái yếm lụa sồi Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân
Nào đâu cái áo tứ thân Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen
(Chân quê – Nguyễn Bính)
Trang 38Rồi còn:
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi
(Sang thu- Hữu Thỉnh)
Trong hai ví dụ trên, các hình ảnh ẩn dụ đều nằm trong cùng một chỉnh thể thơ hợp lí, độc đáo, thể hiện được nét riêng của thi nhân và đem lai những suy tưởng mộc mạc, gần gũi cho người đọc
2.2.2 Ẩn dụ tượng trưng:
Trong ba loại ẩn dụ thì ẩn dụ tượng trưng chiếm tỉ lệ thứ hai với tần số xuất hiện trung bình Các nhà thơ triệt để khai thác những giá trị của biện pháp và truyền tải vào trong tác phẩm của mình Thực hiện được điều này, nhà thơ đã và đang đắp thêm những lớp nghĩa và chờ độc giả khai thác Dạng ẩn dụ, tượng trưng này phù hợp với giọng điệu của nhiều tác giả, và tạo nên giá trị nghĩa hàm ẩn đặc trưng của thơ ca:
Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều
(Đất nước – Nguyễn Đình Thi) Nguyễn Đình Thi đã ẩn dụ hình ảnh đồng quê chảy máu - kết hợp với biện
pháp nhân hóa nhằm tái hiện hình ảnh hiện thực người dân bị địch tàn sát, vết máu
loang trên mặt đất, máu nhuốm đỏ cả đất đồng Thi sĩ viết chảy máu thì khái quát
hơn, vừa nói được cánh đồng đẫm máu người bị giết Và sâu xa hơn, hình ảnh ấy còn nói được chuyện cánh đồng này cũng bị giặc “tàn sát” Lũ giặc giết người đã ác, chúng còn giết cả những cánh đồng, chúng còn hủy diệt cả thiên nhiên, đất đai, cây
cỏ Hình ảnh dây thép gai đâm nát trời chiều còn thể hiện được ý nghĩa sâu xa, trời
chiều thường có ráng đỏ, từ hình ảnh thực ấy, Nguyễn Đình Thi đã gợi một không gian đang ứa máu – là minh chứng cho những tội ác của giặc
Trong Tràng giang của Huy Cận:
Trang 39Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng
(Tràng giang- Huy Cận) Hình ảnh củi của tự nhiên, đó là một cành cây đã rụng, đã khô, cũng chẳng
còn một giá trị sử dụng nào Từ đó, người đọc nhận ra những kiếp người lầm than
đang ẩn mình trong hình ảnh củi Những kiếp người rẻ rúng, bèo bọt, nhỏ nhoi, bị vùi dập lênh đênh trên dòng đời vô định lạc mấy dòng
Phạm vi khảo sát của khóa luận được thực hiện trên nhiều tác phẩm, của nhiều tác giả, vì vậy, việc tìm được hình ảnh ẩn dụ tượng trưng xuất hiện trong những tác phẩm của cùng một tác giả sẽ không được thực hiện Nên việc khảo sát, đánh giá sẽ được dựa theo sự hiểu biết của người viết về phong cách văn chương của những tác giả ấy để đưa ra được ý kiến khách quan nhất
2.2.3 Ẩn dụ bổ sung:
Ẩn dụ bổ sung chiếm tỉ lệ thấp nhất trong ba dạng ẩn dụ (xem bảng 2.3) Tuy nhiên, dạng ẩn dụ này vẫn được một số tác giả khai thác và đạt được giá trị ý nghĩa nhất định Biện pháp này cùng lúc khai thác được nhiều giác quan để cùng nhau tiếp nhận hình ảnh một cách rõ ràng nhất
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi Nên bâng khuâng, tôi tiếc cả đất trời
i tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp núi sông vẫn than thầm tiễn biệt
(Vội vàng- Xuân Diệu) Tháng năm là thứ trừu tượng, chúng ta chỉ có thể đếm thời gian thông qua tuần hoàn của ngày đêm Nhưng ở đây, thời gian đi vào thơ Xuân Diệu bỗng có mùi, có
vị chia phôi Điều này đã thể hiện được ông hoàng thơ tình là người luôn bị ám ảnh
bởi bước đi của thời gian, mỗi thời khắc qua đi, như chính ông đau đớn, xót xa, chia
li trước những điều đẹp đẽ nhất của cuộc đời
Trang 40Ẩn dụ bổ sung xây dựng những tín hiệu thẩm mĩ bằng cách chuyển đổi cảm giác từ trường ý niệm trừu tượng sang trường cảm giác của giác quan cụ thể Cách thức thực hiện biện pháp này giúp cho ý thơ trở nên mềm mại, dễ tiếp thu hơn, như:
Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng
(Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải)
Từ tiếng chim hót trên bầu trời kia đã làm thay lòng thi sĩ, từ đó Thanh Hải đã thể hiện thái độ trân trọng, yêu quý trước vẻ đẹp của cuộc đời Nên ông đã chuyển hóa âm thanh của tiếng chim kia trở nên có hình, có khối Từ âm thanh cảm nhận bằng thính giác, nhà thơ xứ Huế đã làm cho tiếng hót chuyển động, rơi xuống Bằng tất cả tình yêu, quý mến trước vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên mùa xuân, Thanh Hải đã phơi bày cảm xúc trân trọng, và nâng niu những gì đẹp đẽ nhất, tinh túy nhất của cuộc đời
Một số câu thơ khác như:
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim
(Viếng lăng Bác- Viễn Phương)
Cha lại dắt con đi trên cát mịn
Ánh nắng chảy đầy vai
(Những cánh buồm – Hoàng Trung Thông)
2.3 Hoán dụ tu từ:
Theo bảng khảo sát 2.1, ta nhận ra hoán dụ tu từ được sử dụng với tần số cao Mỗi hình ảnh hoán dụ đều mang lại được ý nghĩa nhất định trong văn cảnh thơ Các dạng hoán dụ được dùng trong các bài thơ thuộc chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 đều xuất hiện với tần số chênh lệnh rõ rệt: Trong đó, được sử