LỜI MỞ ĐẦU Ngày nay, con người bằng trí thông minh và tinh thần lao động cần cù chăm chỉ của mình đã sáng tạo ra những của cải vật chất phục vụ tốt nhất cho cuộc sống của mình và đồng thời thỏa mãn khát vọng chinh phục tự nhiên của mình, đứng trên muôn loài, làm thay đổi cả giới tự nhiên. Để làm được điều đó con người đã biết cách đoàn kết, tập hợp nhau lại cùng thực hiện lao động và sáng tạo. Con người đã phát minh ra rất nhiều công cụ lao động phục vụ đắc lực cho quá trình lao động nhưng công cụ đắc lực nhất, hiệu quả nhất mà tạo hóa đã ban cho con người đó là Giao tiếp. Đây là công cụ thể hiện sự vượt trội của con người so với tất cả động vật còn lại đang tồn tại trên trái đất này. Các loài động vật trên trái đất này đều có giao tiếp với nhau nhưng đó chỉ là những giao tiếp sơ đẳng nhất, phục vụ cho mục đích sinh tồn của chúng mà thôi. Còn với con người, giao tiếp đã góp phần làm cho chúng ta ngày càng phát triển tiến bộ hơn. Con người ta giao tiếp thông qua nhiều phương tiện, như bằng lời nói, giao tiếp bằng hành động phi ngôn từ như: cử chỉ, hành động, bằng hệ thống tín hiệu, bằng chữ viết…Tất cả cũng chỉ nhằm mục đích kết nối mình với xung quanh. Và không chỉ dừng lại ở đó, con người còn phát triển giao tiếp trở thành Văn hóa, đây là quả thực là một sự tiến bộ vượt bậc của con người. Trên trái đất này tồn tại rất nhiều chủng tộc người, mỗi chủng tộc người này lại có những đặc trưng trong Văn hóa giao tiếp khác nhau và điều này thể hiện sự phong phú đa dạng của cuộc sống. Mỗi con người là một thực thể sống, tồn tại và phát triển, đều có suy nghĩ (trừ những người gặp khiếm khuyết về trí não hay những người bị tai nạn cướp đi khả năng tư duy) thì nhu cầu lớn nhất của con người ngoài việc thỏa mãn nhu cầu ăn, uống, mặc, ở để tồn tại thì nhu cầu được giao tiếp với người khác là nhu cầu lớn nhất. Chúng ta có những nỗi sợ lớn như: sợ cái chết, sợ bệnh tật, sợ những thế lực to lớn chèn ép, đàn áp…nhưng có lẽ nỗi sợ lớn nhất đó là nỗi sợ về sự cô đơn lạc lõng trong thế giới này. Và vì vậy con người đã tìm mọi cách để luôn giữ vững mối liên hệ với thế giới xung quanh. Không chỉ giao tiếp với những người trong cùng một cộng đồng của mình, cùng dân tộc, cùng tiếng nói của mình, con người luôn hướng ra ngoài đến với những dân tộc khác, những nền văn hóa khác. Dù đó là khó khăn đến từ sự khác việt về văn hóa, phong tục, ngôn ngữ…nhưng con người luôn biết cách học hỏi và sáng tạo để hòa nhập vào được trong cộng đồng đó, đây là khả năng đặc biệt mà chỉ con người mới có. Trong lịch sử phát triển của mình, khi khoa học phát triển tới những đỉnh cao, con người còn cảm thấy trái đất này đã hết sức nhỏ bé và ý tưởng tìm kiếm sự sống khác trong vũ trụ cũng là một ước mơ cháy bỏng. Chúng ta có khát vọng tìm hiểu xem có thực sự chúng ta là cô độc trong vũ trụ hay không? Và liên tục là những tín hiệu chúng ta phát ra ngoài vũ trụ để liên hệ với những thực thể sống xa lạ bên ngoài. Khát vọng của con người về giao tiếp là vô cùng lớn, còn bài tiểu luận nhỏ này chỉ xin phép được bàn tới “Văn hóa giao tiếp của các quốc gia trên thế giới hiện nay và sự giao thoa văn hóa của Việt Nam”. Và cũng chỉ khiêm tốn tìm chọn một số nước có nền văn hóa tương đồng và gần với Việt Nam hay những nước có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam như Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ…Sự giao thoa của văn hóa Việt Nam với các nước diễn ra trong suốt lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam và điều này đã góp phần tạo nên bản sắc riêng của Văn hóa Việt Nam. Bài tiểu luận này sử dụng phương pháp cơ bản là phương pháp nghiên cứu, tra cứu tài liệu, phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu. Sử dụng những kiến thức cơ bản của môn Kỹ năng giao tiếp đàm phán đã được dạy. Với ý tưởng như vậy, bài tiểu luận này sẽ có kết cấu như sau: LỜI MỞ ĐẦU NỘI DUNG I. Những lý thuyết cơ bản về Văn hóa giao tiếp 1. Văn hóa 2. Giao tiếp 3. Văn hóa giao tiếp tại Việt Nam. II. Một số điểm chú ý về Văn hóa giao tiếp của một số quốc gia 1. Đối với Văn hóa giao tiếp của Trung Quốc 2. Đối với Văn hóa giao tiếp của Nhật Bản 3. Đối với Văn hóa giao tiếp của Mỹ. 4. Đối với Văn hóa giao tiếp của một số quốc gia khác III. Sự giao thoa văn hóa của Việt Nam. KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO Bài tiểu luận này chắn chắn sẽ còn nhiều thiếu sót, kính mong nhận được sự quan tâm giúp đỡ, chỉ bảo của thầy cô để bản thân em sẽ ngày càng hoàn thiện hơn các kỹ năng giao tiếp và xây dựng được cho mình những chuẩn mực của văn hóa giao tiếp. Phục vụ tốt hơn cho công việc, góp phần xây dựng nền PR tại Việt Nam phát triển, giao tiếp có văn hóa với bên ngoài. Em xin chân thành cảm ơn! NỘI DUNG I. Những lý thuyết cơ bản về Văn hóa giao tiếp 1. Khái niệm Văn hóa Trong lịch sử loài người đã từng có rất nhiều định nghĩa về Văn hóa, người ta có thể định nghĩa Văn hóa theo các dạng sau: Các định nghĩa miêu tả: định nghĩa văn hóa theo những gì mà văn hóa bao hàm, chẳng hạn nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 - 1917) đã định nghĩa văn hóa như sau: văn hóa
Trang 1LỜI MỞ ĐẦUNgày nay, con người bằng trí thông minh và tinh thần lao động cần cùchăm chỉ của mình đã sáng tạo ra những của cải vật chất phục vụ tốt nhấtcho cuộc sống của mình và đồng thời thỏa mãn khát vọng chinh phục tựnhiên của mình, đứng trên muôn loài, làm thay đổi cả giới tự nhiên Để làmđược điều đó con người đã biết cách đoàn kết, tập hợp nhau lại cùng thựchiện lao động và sáng tạo Con người đã phát minh ra rất nhiều công cụ laođộng phục vụ đắc lực cho quá trình lao động nhưng công cụ đắc lực nhất,hiệu quả nhất mà tạo hóa đã ban cho con người đó là Giao tiếp Đây là công
cụ thể hiện sự vượt trội của con người so với tất cả động vật còn lại đang tồntại trên trái đất này
Các loài động vật trên trái đất này đều có giao tiếp với nhau nhưng đóchỉ là những giao tiếp sơ đẳng nhất, phục vụ cho mục đích sinh tồn củachúng mà thôi Còn với con người, giao tiếp đã góp phần làm cho chúng tangày càng phát triển tiến bộ hơn Con người ta giao tiếp thông qua nhiềuphương tiện, như bằng lời nói, giao tiếp bằng hành động phi ngôn từ như: cửchỉ, hành động, bằng hệ thống tín hiệu, bằng chữ viết…Tất cả cũng chỉ nhằmmục đích kết nối mình với xung quanh Và không chỉ dừng lại ở đó, conngười còn phát triển giao tiếp trở thành Văn hóa, đây là quả thực là một sựtiến bộ vượt bậc của con người Trên trái đất này tồn tại rất nhiều chủng tộcngười, mỗi chủng tộc người này lại có những đặc trưng trong Văn hóa giaotiếp khác nhau và điều này thể hiện sự phong phú đa dạng của cuộc sống
Mỗi con người là một thực thể sống, tồn tại và phát triển, đều có suynghĩ (trừ những người gặp khiếm khuyết về trí não hay những người bị tainạn cướp đi khả năng tư duy) thì nhu cầu lớn nhất của con người ngoài việcthỏa mãn nhu cầu ăn, uống, mặc, ở để tồn tại thì nhu cầu được giao tiếp vớingười khác là nhu cầu lớn nhất Chúng ta có những nỗi sợ lớn như: sợ cái
Trang 2chết, sợ bệnh tật, sợ những thế lực to lớn chèn ép, đàn áp…nhưng có lẽ nỗi
sợ lớn nhất đó là nỗi sợ về sự cô đơn lạc lõng trong thế giới này Và vì vậycon người đã tìm mọi cách để luôn giữ vững mối liên hệ với thế giới xungquanh Không chỉ giao tiếp với những người trong cùng một cộng đồng củamình, cùng dân tộc, cùng tiếng nói của mình, con người luôn hướng ra ngoàiđến với những dân tộc khác, những nền văn hóa khác Dù đó là khó khăn đến
từ sự khác việt về văn hóa, phong tục, ngôn ngữ…nhưng con người luôn biếtcách học hỏi và sáng tạo để hòa nhập vào được trong cộng đồng đó, đây làkhả năng đặc biệt mà chỉ con người mới có Trong lịch sử phát triển củamình, khi khoa học phát triển tới những đỉnh cao, con người còn cảm thấytrái đất này đã hết sức nhỏ bé và ý tưởng tìm kiếm sự sống khác trong vũ trụcũng là một ước mơ cháy bỏng Chúng ta có khát vọng tìm hiểu xem có thực
sự chúng ta là cô độc trong vũ trụ hay không? Và liên tục là những tín hiệuchúng ta phát ra ngoài vũ trụ để liên hệ với những thực thể sống xa lạ bênngoài
Khát vọng của con người về giao tiếp là vô cùng lớn, còn bài tiểu luận
nhỏ này chỉ xin phép được bàn tới “Văn hóa giao tiếp của các quốc gia trên
thế giới hiện nay và sự giao thoa văn hóa của Việt Nam” Và cũng chỉ
khiêm tốn tìm chọn một số nước có nền văn hóa tương đồng và gần với ViệtNam hay những nước có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam như Trung Quốc,Nhật Bản, Mỹ…Sự giao thoa của văn hóa Việt Nam với các nước diễn ratrong suốt lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam và điều này đã góp phầntạo nên bản sắc riêng của Văn hóa Việt Nam
Bài tiểu luận này sử dụng phương pháp cơ bản là phương pháp nghiêncứu, tra cứu tài liệu, phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu Sử dụngnhững kiến thức cơ bản của môn Kỹ năng giao tiếp đàm phán đã được dạy
Trang 3Với ý tưởng như vậy, bài tiểu luận này sẽ có kết cấu như sau:
3 Văn hóa giao tiếp tại Việt Nam
II Một số điểm chú ý về Văn hóa giao tiếp của một số quốc gia
1 Đối với Văn hóa giao tiếp của Trung Quốc
2 Đối với Văn hóa giao tiếp của Nhật Bản
3 Đối với Văn hóa giao tiếp của Mỹ
4 Đối với Văn hóa giao tiếp của một số quốc gia khác
III Sự giao thoa văn hóa của Việt Nam.
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢOBài tiểu luận này chắn chắn sẽ còn nhiều thiếu sót, kính mong nhậnđược sự quan tâm giúp đỡ, chỉ bảo của thầy cô để bản thân em sẽ ngày cànghoàn thiện hơn các kỹ năng giao tiếp và xây dựng được cho mình nhữngchuẩn mực của văn hóa giao tiếp Phục vụ tốt hơn cho công việc, góp phầnxây dựng nền PR tại Việt Nam phát triển, giao tiếp có văn hóa với bên ngoài
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4NỘI DUNG
I Những lý thuyết cơ bản về Văn hóa giao tiếp
1 Khái niệm Văn hóa
Trong lịch sử loài người đã từng có rất nhiều định nghĩa về Văn hóa,người ta có thể định nghĩa Văn hóa theo các dạng sau:
Các định nghĩa miêu tả: định nghĩa văn hóa theo những gì mà văn hóabao hàm, chẳng hạn nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor
(1832 - 1917) đã định nghĩa văn hóa như sau: văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của
xã hội
Các định nghĩa lịch sử: nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội, truyềnthống dựa trên quan điểm về tính ổn định của văn hóa Một trong những địnhnghĩa đó là của Edward Sapir (1884 - 1939), nhà nhân loại học, ngôn ngữhọc người Mỹ: văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những ngườihoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợpcủa tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống.
Các định nghĩa chuẩn mực: nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị,chẳng hạn William Isaac Thomas (1863 - 1947), nhà xã hội học người Mỹcoi văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (cácthiết chế, tập tục, phản ứng cư xử ).
Các định nghĩa tâm lý học: nhấn mạnh vào quá trình thích nghi vớimôi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của conngười Một trong những cách định nghĩa như vậy của William GrahamSummer (1840 - 1910), viện sỹ Mỹ, giáo sư Đại học Yale và AlbertGalloway Keller, học trò và cộng sự của ông là: Tổng thể những thích nghicủa con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn
Trang 5minh Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợpnhững thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa.
Các định nghĩa cấu trúc: chú trọng khía cạnh tổ chức cấu trúc của vănhóa, ví dụ Ralph Linton (1893 - 1953), nhà nhân loại học người Mỹ địnhnghĩa: Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức củacác thành viên xã hội; Văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tốcủa nó được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kếthừa
Các định nghĩa nguồn gốc: định nghĩa văn hóa từ góc độ nguồn gốccủa nó, ví dụ định nghĩa của Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889 - 1968),nhà xã hội học người Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đạihoạc Havard: Với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo
ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều
cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong
xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương khóaVII đã khẳng định: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao
và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giátrị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiênnhiên Nó vừa là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, vừa làmột trong những mục tiêu của chúng ta
Vào thế kỉ 19, thuật ngữ Văn hóa được coi là đồng nghĩa với cụm từ
Nền văn minh phương Tây.
Trang 6Ngày nay, văn hóa không còn đồng nhất với bất kì quốc gia nào nữa.
Theo Jandt (An Introduction to Intercultural Communication - Identities in a Global Community), Văn hóa là từ dùng để chỉ các nội dung như sau:
- Một cộng đồng lớn có khả năng sản sinh ra các thế hệ kế tiếp màkhông phụ thuộc vào thành viên của các cộng đồng khác
- Những điểm chung về suy nghĩ, kinh nghiệm, hành vi ứng xử củacộng đồng đó, các khái niệm, giá trị, giả định về cuộc sống có tác động đếnhành vi của họ, và cách thức mà những yếu tố trên phát triển khi có sự tươngtác với những nền văn hóa khác
- Quá trình chuyển giao các suy nghĩ và hành vi đó từ khi con ngườimới được sinh ra trong gia đình và trong nhà trường qua các thế hệ
Tôi không muốn ngôi nhà của mình bị vây kín giữa những bức tường
và những khung cửa sổ luôn luôn bịt chặt, tôi muốn văn hóa của mọi miền đất tự do thổi vào ngôi nhà đó Nhưng tôi sẽ không bị cuốn đi bởi bất cứ ngọn gió nào – Mahatma Gandhi.
Văn hóa là sự mở mang trí óc và tâm hồn –Jawaharlal Nehru.
Văn hóa là tất cả các hình thái của nghệ thuật, tình yêu và suy nghĩ, những thứ mà trong sự tồi tệ cũng như trải qua bao nhiêu thế kỷ đã khiến cho con người trở nên ít bị nô dịch hơn – Andre Malraux.
Văn hóa là tiếng khóc của con người khi đối mặt với số phận – Albert
Camus
Trang 7Văn hóa là cái gì còn lại khi tất cả những cái khác bị quên đi, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả - Edouard Herriot.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi sinh tồn – Hồ Chí Minh.
Qua quá trình lịch sử đã cho thấy rằng, chúng ta không thể nói quốcgia này, hay dân tộc này có văn hóa hơn các quốc gia khác, dân tộc khác màchỉ là sự khác biệt về Văn hóa giữa các quốc gia dân tộc mà thôi Và để ngàycàng kế thừa và phát triển những tinh hoa văn hóa của nhân loại thì chúng tacần phải có sự giao thoa tiếp biến với các nền văn hóa, văn minh ở bên ngoàinhằm làm cho vốn văn hóa của dân tộc mình ngày càng phong phú và pháttriển
Giao tiếp là một trong những phạm trù trung tâm của tâm lý học Tưtưởng về giao tiếp được đề cập đến từ thời cổ đại qua thời kỳ Phục hưng vàđến giữa thế kỷ XX thì hình thành nên một chuyên ngành Tâm lý học giaotiếp Trên thế giới có khá nhiều định nghĩa về giao tiếp, ví dụ như: nhà tâm
lý học người Mỹ Osgood C.E cho rằng: Giao tiếp bao gồm các hành độngriêng rẽ mà thực chất là chuyển giao thông tin và tiếp nhận thông tin Theoông, giao tiếp là một quá trình hai mặt: Liên lạc và ảnh hưởng lẫn nhau Tuynhiên ông chưa đưa ra được nội hàm cụ thể của liên lạc và ảnh hưởng lẫnnhau Sau ông, nhà tâm lý học người Anh M.Argyle đã mô tả quá trình ảnhhưởng lẫn nhau qua các hình thức tiếp xúc khác nhau Ông coi giao tiếpthông tin mà nó được biểu hiện bằng ngôn ngữ hay không bằng ngôn ngữ
Trang 8giống với việc tiếp xúc thân thể của con người trong quá trình tác động qualại về mặt vật lý và chuyển dịch không gian Đồng thời, nhà tâm lý học MỹT.Sibutanhi cũng làm rõ khái niệm liên lạc - như là một hoạt động mà nó chếđịnh sự phối hợp lẫn nhau và sự thích ứng hành vi của các cá thể tham giavào quá trình giao tiếp hay như là sự trao đổi hoạt động đảm bảo cho sự giúp
đỡ lẫn nhau và phối hợp hành động Ông viết: “Liên lạc trước hết là phươngpháp hoạt động làm giản đơn hoá sự thích ứng hành vi lẫn nhau của conngười Những cử chỉ và âm điệu khác nhau trở thành liên lạc khi con người
sử dụng vào các tình thế tác động qua lại”
Các tác giả trên mới chỉ dừng lại ở sự mô tả bề ngoài của hiện tượnggiao tiếp
Cũng có nhiều ý kiến phản đối những cách hiểu trên, chẳng hạn nh¬ưnhà nghiên cứu người Ba Lan Sepanski đưa ra sự phân biệt giữa tiếp xúc xãhội và tiếp xúc tâm lý (không được phép đồng nhất giữa liên lạc và ảnhhưởng lẫn nhau) Đồng quan điểm với ông có một số nhà nghiên cứu khácnhư P.M.Blau, X.R.Scott…
Các nhà tâm lý học Liên Xô cũ cũng rất quan tâm tập trung vàonghiên cứu hiện tượng giao tiếp Có một số khái niệm được đưa ra như giaotiếp là sự liên hệ và đối xử lẫn nhau (Từ điển tiếng Nga văn học hiện đại tập
8, trang 523 của Nxb Matxcơva); giao tiếp là quá trình chuyển giao tư duy
và cảm xúc (L.X.Vgôtxki) Còn X.L.Rubinstein lại khảo sát giao tiếp d¬ướigóc độ hiểu biết lẫn nhau giữa người với người
Trường phái hoạt động trong tâm lý học Xô Viết cũng đưa ra một sốkhái niệm về giao tiếp như là một trong ba dạng cơ bản của hoạt động conngười, ngang với lao động và nhận thức (B.G.Ananhev); giao tiếp và laođộng là hai dạng cơ bản của hoạt động của con ngời (A.N.Lêônchep); vàgiao tiếp là một hình thức tồn tại song song cùng hoạt động (B.Ph.Lomov)
Một nhà tâm lý học nổi tiếng khác, Fischer cũng đưa ra khái niệm vềgiao tiếp của mình: Giao tiếp là một quá trình xã hội thường xuyên bao gồm
Trang 9các dạng thức ứng xử rất khác nhau: Lời lẽ, cử chỉ, cái nhìn; theo quan điểm
ấy, không có sự đối lập giữa giao tiếp bằng lời và giao tiếp không bằng lời:giao tiếp là một tổng thể toàn vẹn
Tại Việt Nam Theo “Từ điển Tâm lý học” của Vũ Dũng Giao tiếp làquá trình thiết lập và phát triển tiếp xúc giữa cá nhân, xuất phát từ nhu cầuphối hợp hành động Giao tiếp bao gồm hàng loạt các yếu tố như trao đổithông tin, xây dựng chiến lược hoạt động thống nhất, tri giác và tìm hiểungười khác Giao tiếp có ba khía cạnh chính: Giao lưu, tác động tương hỗ vàtri giác
Theo “Từ điển Tâm lý học” của Nguyễn Khắc Viện Giao tiếp là quátrình truyền đi, phát đi một thông tin từ một người hay một nhóm cho mộtngười hay một nhóm khác, trong mối quan hệ tác động lẫn nhau (tương tác).Thông tin hay thông điệp được nguồn phát mà người nhận phải giải mã, cảhai bên đều vận dụng một mã chung
Theo “Tâm lý học đại cương” của Trần Thị Minh Đức (chủ biên).Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đíchnhận thức, thông qua sự trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, sự ảnhhưởng tác động qua lại lẫn nhau
Theo “Tâm lý học xã hội” của Trần Thị Minh Đức (chủ biên) Giaotiếp là sự tiếp xúc trao đổi thông tin giữa người với người thông qua ngônngữ, cử chỉ, tư thế, trang phục…
Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp, mỗi tác giảtuỳ theo phương diện nghiên cứu của mình đã rút ra một định nghĩa giao tiếptheo cách riêng và làm nổi bật khía cạnh nào đó Tuy vậy, số đông các tácgiả đều hiểu giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người nhằm traođổi thông tin, tư tưởng tình cảm…Giao tiếp là phương thức tồn tại của conngười
Nói tóm lại, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về giao tiếp, vànhư vậy dẫn đến rất nhiều phương pháp tiếp cận, nghiên cứu các vấn đề về
Trang 10giao tiếp Các quan điểm trên đây còn nhiều điểm khác nhau nh¬ưng đãphần nào phác họa nên diện mạo bề ngoài của giao tiếp Giao tiếp và hoạtđộng không tồn tại song song hay tồn tại độc lập, mà chúng tồn tại thốngnhất, chúng là hai mặt của sự tồn tại xã hội của con người Giao tiếp đượccoi như:
- Quá trình trao đổi thông tin
- Sự tác động qua lại giữa người với người
- Sự tri giác con người bởi con người
Đặc trưng cơ bản của giao tiếp Theo cuốn Tâm lý học đại cương
-Trần Thị Minh Đức (chủ biên), giao tiếp có những đặc trưng cơ bản sau
Mang tính nhận thức
Cá nhân ý thức được mục đích giao tiếp, nhiệm vụ, nội dung của tiếntrình giao tiếp, phương tiện giao tiếp; ngoài ra còn có thể hiểu đặc trưngđược của giao tiếp là khả năng nhận thức và hiểu biết lẫn nhau của các chủthể giao tiếp, nhờ đó tâm lý, ý thức con người không ngừng được phát triển.Nếu không giao tiếp với những người xung quanh, đứa trẻ không nhận thứcđược
Trao đổi thông tin
Dù với bất kì mục đích nào, trong quá trình giao tiếp cũng xảy ra sựtrao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, thế giới quan, nhân sinh quan Nhờđặc trưng này mà mỗi cá nhân tự hoàn thiện mình theo những yêu cầu, đòihỏi của xã hội, của nghề nghiệp, của vị trí xã hội mà họ chiếm giữ Cũng nhờđặc trưng này, những phẩm chất tâm lý, hành vi ứng xử, thái độ biểu hiệncủa con người được nảy sinh và phát triển theo các mẫu hình “nhân cách”
mà mỗi cá nhân mong muốn trở thành
Giao tiếp là một quan hệ xã hội, mang tính chất xã hội
Quan hệ xã hội chỉ được thực hiện thông qua giao tiếp người - người.Con người vừa là thành viên tích cực của các mối quan hệ xã hội vừa hoạtđộng tích cực cho sự tồn tại và phát triển của chính các quan hệ xã hội đó
Trang 11Giao tiếp giữa các cá nhân mang tính chất lịch sử phát triển xã hội.
Giao tiếp bao giờ cũng được cá nhân thực hiện với nội dung cụ thể,trong khung cảnh không gian và thời gian nhất định
Sự kế thừa chọn lọc
Giao tiếp bản thân nó chứa đựng sự kế thừa, sự chọn lọc, tiếp tục sángtạo những giá trị tinh thần, vật chất thông qua các phương tiện giao tiếpnhằm lưu giữ, gìn giữ những dấu ấn về tư tưởng, tình cảm, vốn sống kinhnghiệm của con người Giao tiếp được phát triển liên tục không ngừng đốivới cá nhân, nhóm xã hội, dân tộc, cộng đồng tạo thành nền văn hoá, vănminh của các thời đại
Trong cuốn Tâm lý học xã hội, giao tiếp còn có những đặc trưng cơbản khác như:
Tính chủ thể trong quá trình giao tiếp
Quá trình giao tiếp được thực hiện bởi các cá nhân cụ thể: một ngườihoặc nhiều người Các cá nhân trong giao tiếp là các cặp chủ thể - đối tượngluôn đổi chỗ cho nhau, cùng chịu sự chi phối và tác động lẫn nhau tạo thành
“các chủ thể giao tiếp” Mức độ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các chủ thể giaotiếp và hiệu quả giao tiếp phụ thuộc rất nhiều vào các đặc điểm cá nhân củachủ thể như vị trí xã hội, vai trò xã hội, tính cách, uy tín, giới tính, tuổi tác…cũng như các mối quan hệ và tương quan giữa họ
Sự lan truyền, lây lan các cảm xúc, tâm trạng.
Sự biểu cảm thể hiện đầu tiên bằng nét mặt có ý nghĩa tiến hoá sinhhọc cũng như ý nghĩa tâm lý - xã hội, nó phản ánh khả năng đồng cảm, ảnhhưởng lẫn nhau của con người Sự chuyển toả các trạng thái cảm xúc nàyhay khác không thể nằm ngoài khuôn khổ của giao tiếp xã hội
Các phương tiện giao tiếp
Giao tiếp là một quá trình xã hội thường xuyên bao gồm các ứng xửrất đa dạng và phong phú, thể hiện qua ngôn ngữ nói và viết: qua nét mặt, cửchỉ, tư thế, giọng nói, trang phục, cách sử dụng không gian trong giao tiếp…
Trang 12Đó là một hệ thống toàn vẹn, không có sự tách rời giữa biểu hiện ngôn ngữ
và phi ngôn ngữ trong giao tiếp
Các phương tiện giao tiếp là cách thức để biến những mục đích giaotiếp thành hiện thực trong thực tế
Giao tiếp ngôn ngữ
Giao tiếp ngôn ngữ là sự giao tiếp được tiến hành thông qua hệ thốngtín hiệu thứ hai: lời nói và chữ viết
Đây là hình thức giao tiếp đặc trưng cơ bản nhất trong hệ thống giaotiếp xã hội bởi nó có những chức năng: chức năng thông báo, chức năng diễncảm và chức năng tác động
Giao tiếp ngôn ngữ có thể được biểu hiện qua nhiều hình thức Tronggiao tiếp, tuỳ vào đối tượng, mục đích, hoàn cảnh… mà người ta sử dụng cáchình thức biểu đạt ngôn ngữ khác nhau Theo như cách chia của trường pháiPalo Alto thì có giao tiếp chỉ định và giao tiếp loại suy, hay bác sỹ NguyễnKhắc Viện thì lại gọi là giao tiếp nói chỉ (chỉ định) và giao tiếp nói ví (loạisuy) Trong tiếng Việt, tương ứng với các cách gọi như trên ta còn có thể gọi
là hiển ngôn (nói chỉ) hay hàm ngôn (nói ví)
- Kiểu chỉ nói theo những quy ước rõ ràng ngôn ngữ nói hay viết với
từ vựng, nghữ nghĩa nhất định Ngôn ngữ toán học, vi tính, chữ người mùthuộc kiểu này
- Kiểu ví vận dụng giọng nói, tư thế, cử chỉ tức những kênh cận ngônngữ hay phi ngôn ngữ diễn tả tình cảm, và những yếu tố chủ quan, quan hệcảm xúc giữa hai bên đối thoại Ở đây không có những chỉ báo nói rõ mạchlạc, khung cảnh, bối cảnh
=> Giữa hai kiểu này có thể ăn khớp hay không và mọi sự giao tiếpđều diễn ra trong một bối cảnh nhất định
- Ngôn ngữ tình thái nhằm phản ánh khía cạnh tâm lý, xã hội của chủthể, giúp cho đối tượng hiểu được tốt hơn ý nghĩa của nội dung thông tin.Ngôn ngữ tình thái phản ánh thái độ của người nói đối với thông tin mình
Trang 13nói ra, cách người đó đánh giá tính hiện thực hay không hiện thực, mức độcủa tính xác thực, tính tất yếu, tính khả năng, tính chất mong muốn hay đángtiếc của điều thông báo
Muốn hiểu được khía cạnh tâm lý xã hội của ứng xử ngôn ngữ tronggiao tiếp, ngoài các quy tắc sử dụng ngôn ngữ của mỗi dân tộc, đối tượnggiao tiếp còn phải tìm hiểu cách diễn đạt ngôn ngữ của mỗi cộng đồng, mỗinền văn hoá thông qua những thoả thuận ngầm về các quy tắc ứng xử củacác cộng đồng hay nền văn hoá đó
Việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp còn phụ thuộc vào hoàn cảnhgiao tiếp, chủ thể và đối tượng giao tiếp cũng như mối quan hệ giữa họ
Tin đồn là một phương thức giao tiếp ngôn ngữ phổ biến trong đờisống hàng ngày và trong các tổ chức xã hội Khi thông tin được truyềnmiệng từ người này sang người khác, các chi tiết bị quên lãng hoặc bị nhớthiếu chính xác, các ngôn ngữ bị thay thế khi kể truyền tiếp, nội dung vàcách hiểu câu chuyện phụ thuộc nhiều vào đặc điểm cá nhân mỗi người… vìthế tin đồn thường bị méo mó sai lệch, thiếu chính xác
Qua việc phân tích như trên, ta nhận thấy trong giao tiếp ngôn ngữ gặpphải một số hạn chế do cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủquan
- Chủ quan
+ Giữa các chủ thể và đối tượng giao tiếp đã không thể tạo ra đượcđiểm tương đồng do không xác định được những chuẩn mực ứng xử cá nhânhoặc do những ức chế tích dồn ở các cá nhân trong quá trình giao tiếp Kếtthúc dễ dẫn đến va chạm, xung đột
+ Qúa trình giao tiếp phân chia làm hai cực, mỗi bên - chủ thể và đốitượng giao tiếp - bảo vệ ý kiến riêng của mình, không có sự chấp nhận, dunghoà…Kết cục là không đem lại kết quả như mỗi bên mong muốn
+ Khi một bên đối thoại có những biểu hiện nổi loạn tâm lý, tư duy
“không bình thường”
Trang 14- Khách quan
+ Do sự khác nhau về phong tục tập quán, ngôn ngữ, trình độ pháttriển về văn hoá - xã hội ở các địa phương, các dân tộc và các quốc gia khácnhau
+ Môi trường giao tiếp: Tiếng ồn, nhiệt độ …
Giao tiếp phi ngôn ngữ
Giao tiếp phi ngôn ngữ được thể hiện thông qua sự vận động của cơthể như cử chỉ, tư thế, nét mặt; thông qua cách trang phục hoặc tạo ra khoảngkhông gian nhất định khi tiếp xúc
Giao tiếp phi ngôn ngữ ra đời trước giao tiếp ngôn ngữ, có cội nguồnsinh học dựa trên cơ sở hành vi bản năng gắn liền với quá trình tiến hoá, ditruyền từ thế giới động vật Trong giao tiếp phi ngôn ngữ, không phải lúcnào cũng có sự tham gi của ý thức, vì thế nên qua hình thức giao tiếp nàyngười ta thường bộc lộ chân thật các cảm nghĩ, thái độ, ý kiến… của mình,tuy nhiên lại không dễ hiểu được chúng Đây là kiểu giao tiếp được thể hiệnthông qua sự vận động của cơ thể như cử chỉ, tư thế, nét mặt, giọng nói;thông qua sự vận động của cơ thể như cử chỉ, tư thế, nét mặt, giọng nói.Thông qua cách trang phục hoặc tạo ra khoảng không gian nhất định khi tiếpxúc
Giao tiếp phi ngôn ngữ có hai chức năng cơ bản đó là:
- Chức năng biểu hiện trạng thái cảm xúc nhất thời: thông qua nét mặt,điệu bộ, giọng nói… chủ thể giao tiếp biểu hiện các tâm tư, sắc thái trạngthái cảm xúc khác nhau, các trạng thái cảm xúc này lan truyền sang đốitượng giao tiếp, làm ảnh hưởng rất lớn đến đối tượng giao tiếp
- Chức năng biểu hiện các đặc trưng cá nhân: Thông qua “ngôn ngữ cơthể” như cử chỉ, ánh mắt, giọng nói, điệu bộ, trang phục…một cách vô tìnhhay hữu ý, chủ thể giao tiếp nhận biết được đối tượng giao tiếp của mình là
ai, tính cách như thế nào, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội…của
họ ra sao
Trang 15Giao tiếp phi ngôn ngữ được phân thành hai loại: có chủ định vàkhông chủ định
- Giao tiếp không chủ định: Là những biểu hiện mang tính bản năngcủa các hành vi, tư thế, nét mặt…xuất hiện theo phản xạ, tự động; diễn rakhông có sự kiểm soát của ý thức Đó là những biểu hiện của hành vi vôthức Giao tiếp phi ngôn ngữ không chủ định thường xuất hiện ở trẻ em,những người văn hoá thấp…
- Giao tiếp phi ngôn ngữ có chủ định: Đó là những biểu hiện của cáchành vi, cử chỉ, các biểu cảm nét mặt có ý thức, có mục đích với sự cố gắngcủa ý chí Giao tiếp phi ngôn ngữ có chủ định thường diễn ra ở những người
có trình độ văn hoá cao, những người cao tuổi giàu kinh nghiệm…
Các kênh của giao tiếp phi ngôn ngữ gồm có: tư thế, giọng nói, âmthanh…Tất cả các yếu tố này đều có ảnh hưởng lớn trong quá trình giao tiếp
Như vậy, nếu chúng ta biết cách quan sát kỹ lưỡng, học được một số
kỹ năng sử dụng hiệu quả cử động cơ thể cũng như không gian… thì hiệuquả giao tiếp sẽ được nâng lên rất nhiều Qua giao tiếp phi ngôn ngữ, chúng
ta hoàn toàn có thể nhận ra được tính cách, tâm trạng hay vị trí xã hội củamột người dù ta mới tiếp xúc lần đầu Giao tiếp phi ngôn ngữ đã và đangđược sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học thuộc nhiều trườngphái tâm lý hội trên thế giới
Như vậy, Giao tiếp là một hình thức hoạt động của con người Thôngqua giao tiếp, những mối quan hệ giữa con người được kiến tạo Sự hiểu biết
và nắm những quy luật của giao tiếp góp phần làm tăng hiệu quả lao động vàđiều chỉnh các quan hệ xã hội
Giao tiếp xã hội là một chủ đề thu hút được sự quan tâm của mọingười trong xã hội, đặc biệt là của các nhà Tâm lý học Có biết bao quyểnsách dạy về ứng xử, giao thiệp xã hội, đắc nhân tâm, bí quyết thành côngtrong ứng xử, bí quyết thành công trong giao tiếp kinh doanh, ngôn ngữ cơthể…Tuy nhiên các nhà nghiên cứu vẫn luôn khẳng định với chúng ta rằng,
Trang 16để đạt được hiệu quả cao trong giao tiếp không hề dễ dàng Hiểu biết nhữngvấn đề chung về giao tiếp xã hội là cần thiết song chưa đủ Bạn đừng hyvọng sau khi đọc xong một cuốn sách nào đó dạy về nghệ thuật ứng xử xãhội mà sau đó có thể luôn thành công trong mọi cuộc giao tiếp Một cuộcgiao bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố khác nhau, biệt là các yếu tố chủ quan từ
cả hai phía tiến hành giao tiếp Quan trọng hơn cả là chúng ta đã dành chovấn đề này một sự quan tâm tìm hiểu đúng mức hay chưa và luôn cố gắnghoàn thiện tri thức cũng như nhân cách của mình Đó chính là bí quyết tốtnhất giúp bạn thành công trong giao tiếp, ứng xử xã hội, qua đó có cơ hội đểphát triển hài hoà hơn nữa về mọi mặt
3 Văn hóa giao tiếp tại Việt Nam.
Hiểu về Văn hóa giao tiếp, đơn giản đó là hoạt động trao đổi thông tingiữa hai chủ thể đã được nâng tầm và mang trong mình những yếu tố Vănhóa đặc trưng cơ bản nhất của người đó, của dân tộc đó và của đất nước đó.Văn hóa giao tiếp là những đặc điểm tốt đẹp nhất của dân tộc nào đó đượcthể hiện trong giao tiếp với các dân tộc khác, những đặc trưng cơ bản riêng
có để phân biệt dân tộc đó với những dân tộc khác Trong khuôn khổ bài tiểuluận nhỏ này, tác giả không có tham vọng đi tìm hiểu về văn hóa giao tiếpcủa các nước trên thế giới mà chỉ lấy những đặc trưng cơ bản nhất của Vănhóa giao tiếp của Việt Nam Bản chất con người chỉ bộc lộ ra trong giao tiếp.Chữ "nhân" với nghĩa là "tính người" bao gồm chữ "nhị" và bộ "nhân đứng"
- tính người bộc lộ trong quan hệ giữa hai người
Trước hết, xét về thái độ của người Việt Nam đối với việc giao tiếp,
có thể thấy được đặc điểm của người Việt Nam là vừa thích giao tiếp, lại vừarất rụt rè
Người Việt Nam do lối canh tác nông nghiệp sống phụ thuộc lẫn nhau
và rất coi trọng việc giữ gìn các mối quan hệ tốt với mọi thành viên trongcộng đồng, chính đó là nguyên nhân dẫn đến việc coi trọng giao tiếp Sự
giao tiếp tạo ra quan hệ : “Dao năng liếc thì sắc, người năng chào thì quen”.
Trang 17Sự giao tiếp củng cố tình thân : “Áo năng may năng mới, người năng tới năng thân” Năng lực giao tiếp được người Việt Nam xem là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá con người : “Vàng thì thử lửa, thử than - Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời” Vì coi trọng giao tiếp cho nên người Việt Nam
rất Thích Giao Tiếp Việc thích giao tiếp này thể hiện chủ yếu ở hai điểm:
Từ gốc độ của chủ thể giao tiếp, người Việt Nam có tính thích thăm viếng Đã là người Việt Nam, đã thân với nhau, thì cho dù hàng ngày có gặp
nhau ở đâu, bao nhiêu lần đi nữa, những lúc rảnh rỗi, họ vẫn tới thăm nhau.Thăm viếng nhau đây không do nhu cầu công việc (như ở Phươg Tây) mà làbiểu hiện của tình cảm, tình nghĩa, có tác dụng thắt chặt thêm quan hệ
Với đối tượng giao tiếp thì người Việt Nam có tính hiếu khách Có
khách đến nhà, dù quen hay lạ, thân hay sơ người Việt, dù nghèo khó đếnđâu, cũng cố gắng tiếp đón một cách chu đáo và tiếp đãi một cách thịnh tình,
dành cho khách các tiện nghi tốt nhất, các đồ ăn ngon nhất : “Khách đến nhà chẳng gà thì gỏi, bởi lẽ đói năm, không ai đói bữa” Tính hiếu khách càng
tăng lên khi về những miền quê hẻo lánh, những miền rừng núi xa xôi
Đồng thời với việc thích giao tiếp, người Việt Nam lại có một đặc tínhhầu như ngược lại là rất rụt rè - điều mà những người quan sát nước ngoài rất
hay nhắc đến Sự tồn tại đồng thời hai tính cách trái ngược nhau (tính thích giao tiếp và tính rụt rè ) này bắt nguồn từ hai đặc tính cơ bản của làng xã Việt Nam là tính cộng đồng và tính tự trị :
Đúng là người Việt Nam xởi lởi, rất thích giao tiếp, nhưng đó là khithấy mình đang ở trong phạm vi của cộng đồng quen thuộc, nơi tính cộngđồng (liên kết) ngự trị Còn khi đã vượt ra khỏi phạm vi của cộng đồng,trước những ngời lạ, nơi tính tự trị phát huy tác dụng thì người Việt Nam,ngược lại, lại tỏ ra rụt rè Hai tính cách tưởng như trái ngược nhau ấy không
hề mâu thuẫn với nhau vì chúng bộc lộ trong những môi trường khác nhau,chúng chính là hai mặt của cùng một bản chất, là biểu hiện cách ứng xử linhhoạt của người Việt Nam
Trang 18Xét về quan hệ giao tiếp, nguồn gốc văn hóa nông nghiệp với đặcđiểm trọng tình đã dẫn người Việt Nam tới chỗ lấy tình cảm - lấy sự yêu sự
ghét - làm nguyên tắc ứng xử : Yêu nhau yêu cả đường đi - Ghét nhau, ghét
cả tông ti họ hàng; Yêu nhau cau sáu bổ ba - Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười; Yêu nhau củ ấu cũng tròn - Ghét nhau bồ hòn cũng méo; Yêu nhau mọi việc chẳng nề - Dẫu trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng; Yêu nhau chín bỏ làm mười
Nếu trong tổng thể, người Việt Nam lấy sự hài hòa âm dương làmnguyên lí chủ đạo nhưng vẫn thiên về âm tính hơn, thì trong cuộc sống ngườiViệt Nam sống có lí có tình nhưng vẫn thiên về tình hơn Khi cần cân nhắc
giữa tình với lí thì tình được đặt cao hơn lí : “Một bồ cái lí không bằng một
tí cái tình; Đưa nhau đến trước cửa quan - Bên ngoài là lí, bên trong là tình ”
Với đối tượng giao tiếp, người Việt Nam có thói quen ưa tìm hiểu,quan sát, đánh giá Tuổi tác, quê quán, trình độ học vấn, địa vị xã hội, tìnhtrạng gia đình (bố mẹ còn hay mất, đã có vợ/chồng chưa, có con chưa, mấytrai mấy gái ) là những vấn đề người Việt Nam thường quan tâm Thói quen
ưa tìm hiểu này (hoàn toàn trái ngược với người phương Tây) khiến chongười nước ngoài có nhận xét là người Việt Nam hay tò mò Đặc tính này -
dù gọi bằng tên gọi gì đi chăng nữa - chẳng qua cũng chỉ là một sản phẩmnữa của tính cộng đồng làng xã mà ra
Do tính cộng đồng, người Việt Nam tự thấy có trách nhiệm phải quantâm đến người khác, mà muốn quan tâm thì cần biết rõ hoàn cảnh Mặt khác,
do phân biệt chi li các quan hệ xã hội, mỗi cặp giao tiếp đều có những cáchxưng hô riêng, nên nếu không có đầy đủ thông tin thì không thể nào lựa chọn
từ xưng hô cho thích hợp được
Tính hay quan sát khiến người Việt Nam có được một kho kinhnghiệm xem tướng hết sức phong phú : chỉ cần nhìn vào cái mặt, cái mũi, cáimiệng, con mắt, là đã biết được tính cách của con người Chẳng hạn, riêng
Trang 19về xem người qua con mắt đã có các kinh nghiệm : “Đàn bà con mắt lá dăm- Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền; Người khôn con mắt đen sì, Người dại con mắt nửa chì nửa thau, Con lợn mắt trắng thì nuôi - Những người mắt trắng đánh hoài đuổi đi, Những người ti hí mắt lươn - Trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người; Trên trời Phạm Nhan, thế gian một mắt”.
Biết tính cách, biết người là để lựa chọn đối tượng giao tiếp thích hợp:
“Tùy mặt gửi lời, tùy người gửi của; Chọn mặt gửi vàng” Trong trường hợp
không được lựa chọn thì người Việt Nam sử dụng chiến lược thích ứng một
cách linh hoạt : “ở bầu thì tròn , ở ống thì dài ; Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”
Tính cộng đồng còn khiến cho người Việt Nam, dưới gốc độ chủ thể
giao tiếp, có đặc điểm là trọng danh dự : “Tốt danh hơn lành áo; Đói cho sạch rách cho thơm; Trâu chết để da, người ta chết để tiếng” Danh dự được
người Việt Nam gắn với năng lực giao tiếp : Lời nói ra để lại dấu vết, tạothành tiếng tăm, nó được truyền đến tai nhiều người, tạo nên tai tiếng Khôngphải ngẫu nhiên mà từ "tiếng" trong tiếng Việt, từ nghĩa ban đầu là "ngônngữ" (ví dụ: tiếng Việt), đã được mở rộng ra để chỉ sản phẩm của ngôn ngữ
(ví dụ: “tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa”), và cuối cùng, chỉ cái thành quả
mà tác động của lời nói đã gây nên - đó là "danh dự, uy tín" (ví dụ: nổi tiếng)
Chính vì quá coi trọng danh dự nên người Việt Nam mắc bệnh sĩ diện:
“ở đời muôn sự của chung - Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi; Đem chuông đi dấm nước người - Không kêu cũng đấm ba hồi lấy danh; Một quan tiền công, không bằng một đồng tiền thưởng” Ở chốn làng quê, thói sĩ
diện thể hiện trầm trọng trong tục lệ ngôi thứ nơi đình trung và tục chiaphần Các cụ già tám mươi, tuy ăn không được, nhưng vì danh dự (sĩ diện),
vẫn có thể to tiếng với nhau vì miếng ăn : “Một miếng giữa làng, bằng một sàng xó bếp” Thói sĩ diện đã tạo nên giai thoại cá gỗ nổi tiếng
Về cách thức giao tiếp, người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sựhòa thuận
Trang 20Lối giao tiếp ưa tế nhị khiến người Việt Nam có thói quen giao tiếp
"vòng vo tam quốc", không bao giờ mở đầu trực tiếp, nói thẳng vào vấn đề
như người phương Tây Truyền thống Việt Nam khi bắt đầu giao tiếp là phải
“vấn xá cầu điền”, hỏi thăm nhà cửa ruộng vườn Cũng để tạo không khí, để đưa đẩy, người Việt Nam trước đây có truyền thống "miếng trầu là đầu câu chuyện" Với thời gian, trong chức năng "mở đầu câu chuyện" này, "miếng trầu"
từng được thay thế bằng chén trà, điếu thuốc, ly bia
Để biết người đối ngoại với mình có còn cha mẹ hay không, người
Việt Nam thường hỏi : “Các cụ nhà ta vẫn mạnh giỏi cả chứ?” Để biết
người phụ nữ đang nói chuyện với mình có chồng hay không, người Việt
Nam ý tứ sẽ hỏi : “Chị về muộn thế liệu anh nhà( ông xã) có phàn nàn không?” Còn đây là lời tỏ tình rất vòng vo của ngời con trai Nam Bộ - nơi
mà người Việt có tiếng là bộc trực hơn cả : “Chiếc thuyền giăng câu, Đậu ngang cồn cát, Đậu sát mé nhà, Anh biết em có một mẹ già, Muốn vô phụng dưỡng, biết là đặng không?” (Ca dao)
Lối giao tiếp "vòng vo tam quốc" kết hợp với nhu cầu tìm hiểu về đối tượng giao tiếp tạo ra ở người Việt Nam thói quen chào hỏi - "chào" đi liền với
"hỏi" : "Bác đi đâu đấy?", "Cụ đang làm gì đấy ?" Ban đầu, hỏi là để có thông
tin, dần dần trở thành một thói quen, người ta hỏi mà không cần nghe trả lời
và hoàn toàn hài lòng với những câu "trả lời" kiểu : "Tôi đi đằng này một cái" hoặc trả lời bằng cách hỏi lại : “Cụ đang làm gì đấy?” Đáp: “Vâng ! Bác đi đâu đấy?”
Lối giao tiếp ưa tế nhị, ý tứ là sản phẩm của lối sống trọng tình và lối
tư duy coi trọng các mối quan hệ (tư duy biện chứng) Nó tạo nên một thói
quen đắn đo cân nhắc kĩ càng khi nói năng : “Ăn có nhai, nói có nghĩ; Chó
ba quanh mới nằm, người ba năm mới nói; Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe; Khôn cũng chết, dại cũng chết, ai biết thì sống; Người khôn ăn nói nữa chừng, Để cho kẻ dại nữa mừng nữa lo” Chính sự đắn đo cân nhắc này khiến cho người Việt Nam có nhược điểm thiếu tính quyết
Trang 21đoán Để tránh phải quyết đoán, và đồng thời để không làm mất lòng ai, để
giữ được sự hòa thuận cần thiết, người Việt Nam rất hay cười Nụ cười làmột bộ phận quan trọng trong thói quen giao tiếp của người Việt; có thể gặp
nụ cười Việt Nam vào cả những lúc ít chờ đợi nhất
Tâm lý trọng sự hoà thuận khiến người Việt Nam luôn chủ trương
nhường nhịn : “Một sự nhịn chín sự lành; Chồng giận thì vợ bớt lời - Cơm sôi nhỏ lửa có đời nào khê”
Người Việt Nam có một hệ thống nghi thức lời nói rất phong phú.Trước hết, đố là sự phong phú trong hệ thống xưng hô bằng các từ chỉ
quan hệ họ hàng Hệ thống xưng hô này có các đặc điểm : Thứ nhất, có tính chất thân mật hóa (trong tình cảm), coi mọi người trong cộng đồng như bà con họ hàng trong một gia đình Thứ hai, có tính chất xã hội hóa, cộng đồng hóa cao - trong hệ thống từ xưng hô này, không có cái "tôi" chung chung.
Quan hệ xưng hô phụ thuộc vào tuổi tác, địa vị xã hội, thời gian, không giangiao tiếp - chú khi ni, mi khi khác Cùng là hai người, nhưng cách xưng hô
có khi đồng thời tổng hợp được hai quan hệ khác nhau : Chú con, bác con, bác - em, anh- tôi Lối gọi nhau bằng tên con, tên cháu, tên chồng; bằng thứ tự sinh (Cả, Hai, Ba, Tư ) Thứ ba, thể hiện tính tôn ti kĩ lưỡng: Người Việt Nam xưng và hô theo nguyên tắc xưng khiêm hô tôn (gọi mình thì khiêm nhường, còn gọi đối tượng giao tiếp thì tôn kính) Cùng một cặp
-giao tiếp, nhưng có khi cả hai đều cùng xưng hô là em và đều cùng xưng là
em và đều gọi nhau là chị Việc tôn trọng, đề cao nhau dẫn đến tục kiêng tênriêng : người ta chỉ gọi tên cái ra để chửi nhau; đặt tên con cần nhất là khôngđược trùng với tên của những người bề trên trong gia đình, gia tộc cũng như
ngoài xã hội Vì vậy mà trước đây có tục nhập gia vấn húy (vào nhà ai, hỏi
tên chủ nhà để khi nói nếu có động đến từ đó thì phải nói lệch đi)
Nghi thức lời nói trong lĩnh vực cách nói lịch sự cũng rất phong phú
Do truyền thống nặng về tình cảm và linh hoạt nên người Việt Nam không
có những từ cảm ơn, xin lỗi khái quát dùng chung cho mọi người trường hợp