1. Khái quát về phương pháp BTNB 1.1. Lịch sử ra đời của phương pháp BTNB 1.1.1. Sự ra đời và phát triển của phương pháp BTNB trên thế giới: Phương pháp dạy học khoa học dựa trên việc thực hành, thí nghiệm lần đầu tiên được thử nghiệm tại một khu phố nghèo ở Chicago, Mỹ. Năm 1995, giáo sư (GS) Georges Charpak cùng các nhà khoa học và các đại diện của Bộ Giáo dục quốc gia Pháp bắt đầu tiếp cận với phương pháp dạy học môn khoa học. Vào tháng 12 năm 1995, Viện nghiên cứu sư phạm quốc gia Pháp được đề nghị làm báo cáo về các hoạt động khoa học vùng Bắc Mỹ và sự phù hợp của các hoạt động này với điều kiện ở Pháp. Năm học 19951996, khoảng 30 trường thuộc 3 tỉnh ở Pháp tình nguyện áp dụng phương pháp dạy học khoa học dựa trên việc thực hành, thí nghiệm.
Trang 1CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT
1 Khái quát về phương pháp BTNB
1.1 Lịch sử ra đời của phương pháp BTNB
1.1.1 Sự ra đời và phát triển của phương pháp BTNB trên thế giới:
Phương pháp dạy học khoa học dựa trên việc thực hành, thí nghiệm lần đầu tiênđược thử nghiệm tại một khu phố nghèo ở Chicago, Mỹ Năm 1995, giáo sư (GS)Georges Charpak cùng các nhà khoa học và các đại diện của Bộ Giáo dục quốc giaPháp bắt đầu tiếp cận với phương pháp dạy học môn khoa học Vào tháng 12 năm
1995, Viện nghiên cứu sư phạm quốc gia Pháp được đề nghị làm báo cáo về các hoạtđộng khoa học vùng Bắc Mỹ và sự phù hợp của các hoạt động này với điều kiện ởPháp Năm học 1995-1996, khoảng 30 trường thuộc 3 tỉnh ở Pháp tình nguyện áp dụngphương pháp dạy học khoa học dựa trên việc thực hành, thí nghiệm
Một nhóm chuyên gia của Viện Hàn lâm khoa học và Viện Nghiên cứu sư phạmquốc gia Pháp được thành lập vào năm 1997 để thúc đẩy sự phát triển của việc dạy họckhoa học trong trường học Một năm sau đó, vào tháng 5/1998, dưới sự tài trợ của Bộ
Hình 1: Trang chủ trang web BTNB của Pháp
Trang 2Giáo dục quốc gia Pháp, trang web http://www.inrp.fr/lamap ra đời Trang web nàynhằm cung cấp thông tin, tài liệu để giúp đỡ giáo viên trong các hoạt động dạy họckhoa học trong nhà trường Từ khi có trang web, việc trao đổi thông tin giữa các giáoviên và trao đổi giữa các nhà khoa học với các giáo viên xung quanh hoạt động dạyhọc khoa học trở nên thuận lợi hơn.
Năm 1998, Viện Hàn lâm khoa học Pháp đã soạn thảo 10 nguyên tắc cơ bản củaphương pháp BTNB Hoạt động triển khai phương pháp BTNB được diễn ra mạnh mẽngay từ những ngày đầu tiên Năm 1998, Viện nghiên cứu sư phạm quốc gia Pháp(INRP) đã kêu gọi 21 Viện đào tạo giáo viên (IUFM) phối hợp nghiên cứu trong 3năm về vở thực nghiệm, về các trung tâm tư liệu, về sử dụng trang web BTNB và biênsoạn tư liệu phục vụ cho dạy học theo BTNB
Mạng lưới BTNB được thành lập từ các trang web BTNB ở các tỉnh Mạng lướinày hoạt động khá hiệu quả trong việc tương trợ nguồn tư liệu và thực nghiệm giữacác tỉnh với nhau
Tháng 6 năm 2000, Bộ Giáo dục quốc gia Pháp công bố một chương trình đổimới dạy học khoa học và công nghệ trong nhà trường Trong chương trình mới này,Phương pháp BTNB là phương pháp được khuyến khích sử dụng
Bên cạnh việc triển khai phương pháp BTNB trong các trường Tiểu học, Tổchức BTNB Pháp (LAMAP France) còn khuyến khích giáo viên ở các trường mẫugiáo và các trường Trung học cơ sở cũng áp dụng phương pháp này trong dạy học cácmôn khoa học
Song song với việc phát triển và truyền bá rộng rãi phương pháp BTNB trongnước, các hội thảo quốc tế về BTNB đã được Bộ Giáo dục quốc gia Pháp phối hợpcùng các cơ quan nghiên cứu, các bộ liên quan và Viện nghiên cứu Sư phạm quốc tế tổchức tại Paris Trong các hội thảo này, Việt Nam đều có đại diện tham dự
Phương pháp BTNB đã được tiếp nhận và truyền bá rộng rãi ngay từ khi mới rađời Viện Hàn lâm khoa học Pháp đã hợp tác với nhiều quốc gia trên thế giới trong đó
có Việt Nam thông qua Hội Gặp gỡ Việt Nam (Rencontres du Vietnam) Đến năm
2012, có khoảng hơn 40 nước tham gia trực tiếp vào chương trình BTNB thông quahợp tác với Viện Hàn lâm khoa học Pháp và Bộ Giáo dục quốc gia Pháp(hình 2)
Trang 3Hình 2: Bản đồ một số vùng, quốc gia tham gia phát triển phương
pháp BTNB trên thế giới (theo LAMAP France)
1.1.2 Phương pháp BTNB tại Việt Nam.
Vào năm 1993, Hội Gặp gỡ Việt Nam được thành lập do GS Jean Trần ThanhVân-Việt kiều tại Pháp làm Chủ tịch Hội Gặp gỡ Việt Nam tập hợp các nhà khoa học
ở Pháp với mục đích hỗ trợ, giúp đỡ Việt Nam trong các lĩnh vực khoa học, giáo dục;
tổ chức các hội thảo khoa học; trao học bổng khuyến học, khuyến khích tài năng cho
HS và sinh viên Việt Nam
Cùng với thời điểm phương pháp BTNB mới ra đời và bắt đầu thử nghiệm ápdụng trong dạy học ở Pháp, phương pháp này cũng bắt đầu được giới thiệu tại ViệtNam nhờ những cố gắng, nỗ lực to lớn của Hội Gặp gỡ Việt Nam Trong 15 năm từnăm 1995 đến 2010, lịch sử quá trình đưa phương pháp BTNB vào Việt Nam của HộiGặp gỡ Việt Nam có thể tóm lược như sau:
10/1995: Với lời mời của GS Jean Trần Thanh Vân, chủ tịch Hội Gặp gỡ ViệtNam, GS Georges Charpak (cha đẻ của phương pháp BTNB) đã sang Việt Nam tham
dự hội thảo quốc tế về Vật lý Năng lượng cao tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh Tạihội thảo quốc tế này, GS Georges Charpak đã hứa giúp đỡ Việt Nam trong việc đưaphương pháp BTNB vào các trường học
Trang 4 01/2000: Cuốn sách đầu tiên về phương pháp BTNB “BTNB-Khoa học trongtrường Tiểu học” được xuất bản tại Việt Nam Đây là cuốn sách do GS GeorgesCharpak viết và xuất bản năm 1996 tại Pháp
GS Trần Thanh Vân đã thành lập một nhóm các nhà khoa học làm việc chophương pháp BTNB tại Hà Nội
6/2000: Hội Gặp gỡ Việt Nam đã mời một nhóm phóng viên của kênh truyềnhình VTV1 của Việt Nam sang Pháp làm việc 2 ngày tại Vaulx en Velin để thực hiệnmột phóng sự về phương pháp BTNB phát trên truyền hình Việt Nam
11/2000: Hội Gặp gỡ Việt Nam với sự giúp đỡ của ông Léon Lederman đã gửi 5đại biểu của Việt Nam tham dự Hội thảo quốc tế về giảng dạy khoa học ở trường Tiểuhọc tại Bắc Kinh-Trung Quốc
Từ 2002 đến nay, dưới sự giúp đỡ của Hội Gặp gỡ Việt Nam, các lớp tập huấn vềBTNB đã được triển khai cho các giáo viên cốt cán và các cán bộ quản lý tại nhiều địaphương trong toàn quốc với hơn 1000 người Các giảng viên tập huấn là các GS tìnhnguyện người Pháp thuộc Viện đào tạo giáo viên (IUFM) của Pháp
8/2011: Lần đầu tiên Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Hội Gặp gỡ ViệtNam tổ chức Hội thảo cho các cán bộ quản lý giáo dục tiểu học và trung học cơ sở vàcác lớp tập huấn về phương pháp BTNB cho chuyên viên, giáo viên cốt cán của nhiềutỉnh, thành trên cả nước
11/2011: Bộ Giáo dục và Đào tạo ký ban hành Đề án triển khai phương phápBTNB trong trường phổ thông giai đoạn 2011-2015
1.2 Phương pháp BTNB là gì?
Như đã trình bày ở trên, BTNB là phương pháp dạy học được khởi sướng bởi
GS George Charpak (đạt giải Nobel Vật lí năm 1992) BTNB là cụm từ được dịch từcác thuật ngữ tiếng Pháp “La main à la pâte” (viết tắt là LAMAP) tương đương vớicụm từ tiếng Anh là Hand’s-on Phương pháp BTNB là phương pháp được áp dụng đểgiảng dạy các môn khoa học tự nhiên mà trong đó các kiến thức được xây dựng dựatrên cơ sở của quá trình tìm tòi – nghiên cứu Phương pháp BTNB giúp HS chiếm lĩnhcác kiến thức khoa học thông qua các thực nghiệm Dưới sự dẵn dắt, tổ chức các hoạtđộng học tập của giáo viên, HS thông qua các thao tác tìm tòi, nghiên cứu như thí
Trang 5nghiệm, quan sát, làm mô hình, nghiên cứu tài liệu,… chủ động tìm ra câu trả lời chocác vấn đề được đặt ra trong cuộc sống, tìm ra các chân lí khoa học …
Là một phương pháp dạy học dựa trên cơ sở của quá trình tìm tòi – nghiên cứu,phương pháp BTNB tạo ra cho HS tính tò mò, ham muốn được tìm hiểu, khám phánhững kiến thức khoa học, chân lí khoa học Trước một sự vật, hiện tượng nào đó, HSđặt ra những câu hỏi và những giả thuyết dựa trên những hiểu biết ban đầu của mìnhsau đó tiến hành các thao tác tìm tòi - nghiên cứu để kiểm chứng và rút ra được các kếtluận thông qua thảo luận và nhiều thao tác tư duy khác nhau như so sánh, phân tích,tổng hợp kiến thức Vì vậy, phương pháp BTNB còn tạo ra cho HS tình yêu và sự say
mê đối với khoa học, hướng các em chiếm lĩnh các tri thức khoa học bằng các hoạtđộng của một nhà khoa học Không những vậy, phương pháp BTNB còn chú ý nhiềuđến việc rèn luyện cho HS các kĩ năng suy nghĩ, tư duy logic, kĩ năng diễn đạt bằngngôn ngữ nói và viết
2 Đặc điểm của phương pháp dạy học BTNB
2.1 Dạy học dựa trên sự tìm tòi - khám phá
Phương pháp BTNB là phương pháp dạy học dành cho các môn Khoa học dựatrên sự tìm tòi - khám phá, trong đó quá trình dạy học được diễn ra dựa trên một sốkhía cạnh như: sự hiểu biết về các cách thức học tập của HS, bản chất của nghiên cứukhoa học và sự xác định các kiến thức khoa học cũng như kĩ năng mà HS cần nắmvững
Trong phương pháp BTNB, các kiến thức khoa học mà HS khám phá được dựatrên các thực nghiệm và nghiên cứu, cách thức học tập của HS là quá trình tò mò mộtcách tự nhiên Thông qua việc tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, HS có thể tiếpcận thế giới quan xung quanh mình Giữa các HS, các nhóm HS sẽ diễn ra quá trìnhtương tác với nhau nhằm mục đích tìm phương án giải thích cho các hiện tượng, thôngqua các hoạt động nghiên cứu, HS tự tìm kiếm và rút ra kiến thức cho riêng mình Việcdạy học khoa học dựa trên sự tìm tòi – khám phá đặc biệt chú trọng đến các suy nghĩban đầu của HS trước khi được học về một kiến thức nào đó, dù các suy nghĩ ban đầu
ấy là rất đơn giản, ngây thơ và thường sai về mặt khoa học
Trong phương pháp BTNB, con đường mà HS tìm ra kiến thức gần giống vớiquá trình tìm ra kiến thức mới của các nhà khoa học vì thế, tiến trình tìm tòi – nghiêncứu khoa học đóng vai trò quan trọng Các em tiếp nhận vấn đề đặt ra thông qua tình
Trang 6huống hoặc thông qua câu hỏi lớn của bài học; sau đó HS nêu các giả thuyết, các suynghĩ ban đầu của mình; từ đó đề xuất và tiến hành các thực nghiệm nghiên cứu; đốichiếu với các giả thuyết ban đầu đặt ra; đối chiếu với cách làm thực nghiệm và kết quảvới các nhóm khác; nếu không phù hợp, HS phải quay lại điểm xuất phát, tiến hành lạicác thực nghiệm hoặc thử làm lại các thực nghiệm như đề xuất của các nhóm khác đểkiểm chứng; rút ra kết luận và giải thích cho vấn đề đặt ra ban đầu Tham gia vào quátrình học tập như vậy, HS phải luôn động não, trao đổi với các HS khác trong nhóm,lớp, phải hoạt động tích cực để tìm ra kiến thức Qua đó, tư duy logic của HS được rènluyện, ngôn ngữ nói và viết cũng nhờ đó được phát triển ngày càng tốt hơn
2.2 Coi trọng việc xác định biểu tượng (quan niệm) ban đầu của HS
Một tính chất đặc trưng của phương pháp BTNB là việc xác định biểu tượngban đầu cho HS BTBĐ là những quan niệm ban đầu, ý kiến ban đầu của HS về sự vật,hiện tượng trước khi được tìm hiểu về chúng Các quan niệm này được hình thànhtrong vốn sống của HS, là các ý tưởng giải thích sự vật, hiện tượng theo suy nghĩ của
HS BTBĐ không phải là kiến thức cũ, kiến thức đã được học mà là quan niệm của HS
về sự vật, hiện tượng sắp học
Chẳng hạn, khi học Bài 46 Ánh sáng (Khoa học, lớp 4), BTBĐ của HS về ánh
sáng rất khác nhau và lí thú: Có ánh sáng ta sẽ nhìn thấy mọi vật; Ánh sáng có thểxuyên qua một số vật; Ánh sáng giúp cây cối phát triển; Không có ánh sáng, ta khôngnhìn thấy mọi vật; Ánh sáng quá mạnh sẽ có hại cho mắt; Có ánh sáng nhưng vật đó bịche lại thì ta không nhìn thấy; Ánh sáng có từ mặt trời, mặt trăng, đèn, lửa và nhiều vậtkhác; Ánh sáng rất nóng; Ánh sáng có nhiều màu …
Để tiết học bằng phương pháp BTNB trở nên sinh động với những ý tưởng hay,mới lạ, GV cần để HS tự suy nghĩ để đưa ra các suy nghĩ ban đầu của mình, cho dùcác ý tưởng ấy rất ngây ngô, có thể sai về mặt khoa học Thường thì BTBĐ của HS rất
đa dạng, phong phú và trong những BTBĐ đa dạng ấy có những nét tương đồng vớinhau Chính từ những nét tương đồng này, giáo viên có thể giúp HS nhóm lại các ýtưởng (BTBĐ) để từ đó đề xuất các câu hỏi cần tìm hiểu
BTBĐ thường là một chướng ngại trong quá trình nhận thức của HS và cầnphải được “phá bỏ” bằng các thực nghiệm để chứng minh quan niệm đó là không
Trang 7chính xác (Ví dụ: BTBĐ của HS : Mây do khói bay lên tạo thành cần phải được “phá
bỏ” vì đây là một suy nghĩ sai lầm) Các thực nghiệm phải được chính HS làm, tự HSrút ra kết luận, đối chiếu với quan niệm ban đầu để tự đánh giá quan niệm của mìnhđúng hay sai, khi đó kiến thức mới mới được hình thành ở học sinh
Trong phương pháp BTNB, HS được khuyến khích trình bày BTBĐ, thông qua
đó giáo viên trên cơ sở phân tích các điểm giống nhau và khác nhau của các nhómBTBĐ để có thể giúp HS đề xuất các câu hỏi và các thực nghiệm để chứng minh Đây
là một bước quan trọng trong tiến trình phương pháp BTNB
2.3 Kết hợp hình thành kiến thức khoa học với việc phát triển ngôn ngữ cho HS
Việc ứng dụng phương pháp BTNB trong dạy học khoa học ở tiểu học khôngchỉ chú trọng vào việc hình thành kiến thức khoa học, rèn kĩ năng tư duy lô gich màcòn quan tâm phát triển ngôn ngữ cho học sinh Ngôn ngữ vừa là công cụ vừa là sảnphẩm của tư duy và tư duy là hiện thực trực tiếp của ngôn ngữ Phương pháp BTNBvới những tính chất đặc thù của nó có thể giúp giáo viên rèn luyện các kỹ năng ngônngữ (nói, đọc, viết) cho HS đồng thời thông qua đó rèn luyện cho các em các kỹ năng
tư duy lô gich các vấn đề khoa học đặt ra cần nhận thức
Với phương pháp BTNB, HS được học khoa học thông qua một chuỗi các hoạtđộng như bộc lộ suy nghĩ ban đầu, đặt ra các câu hỏi, đề xuất các giả thuyết, tiến hànhcác thực nghiệm trên cơ sở tương tác giữa HS – HS , HS - nhóm và nhóm – nhóm.Trước sự kích thích của tình huống đặt ra ngay từ đầu bài học, HS ý thức được vấn đề,nhận ra các mâu thuẫn chứa đựng trong vấn đề và xuất hiện nhu cầu giải quyết cácmâu thuẫn ấy HS bắt đầu trải qua các giai đoạn của quá trình tư duy như xác định,trình bày vấn đề, huy động vốn tri thức cũ đã có, huy động các kinh nghiệm của bảnthân, sàng lọc, hình thành giả thuyết và kiểm tra giả thuyết cũng như việc sử dụng cácthao tác tư duy như phân tích - tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hóa Với phương pháp BTNB, tư duy sáng tạo của HS phát triển thông qua việc HS tự đềxuất phương án kiểm tra giả thuyết (HS có thể đề xuất nhiều phương án khác nhau) vàtiến hành kiểm tra giả thuyết (nếu phương án này không mang lại kết quả mong đợi,
HS sẽ kiểm tra bằng các phương án khác) Tư duy sáng tạo của HS cũng được pháttriển thể hiện trong việc tự làm ra các đồ dùng thực nghiệm để kiểm tra giả thuyết (tựlàm ra thiết bị lọc nước bẩn, tự tạo ra các mô hình điện chiếu sáng …) Trong quá trìnhkhám phá tri thức, các vấn đề mới, kiến thức mới nảy sinh liên tục, cuốn hút trẻ tiếptục hoạt động khám phá, làm cho khả năng tư duy của HS ngày càng phát triển
Trang 8Khi học tập theo phương pháp BTNB, HS cùng nhau xây dựng kiến thức trên
cơ sở tìm tòi – khám phá các chân lí khoa học chứ không phải thụ động tiếp nhận vàhọc thuộc lòng các kiến thức khoa học được cung cấp sẵn Thông qua quá trình tư duy
và sáng tạo liên tục, những kiến thức thu nhận được qua quá trình tìm tòi – khám phá
vì thế sẽ khắc sâu trong tâm trí của HS
Trong quá trình kiến thức khoa học được hình thành, HS cũng được rèn luyện
và phát triển ngôn ngữ Thông qua việc quan sát một hiện tượng của thế giới thực gầngũi với đời sống, HS sử dụng vốn ngôn ngữ để xây dựng những câu hỏi Mặt khác,thông qua việc HS tìm tòi, đề ra thí nghiệm, tiến hành các thực nghiệm kiểm chứng, tưduy và ngôn ngữ khoa học của HS được phát triển Trong suốt quá trình học tập, HSđược trao đổi, đưa ra các lí lẽ và lập luận để bảo vệ các ý kiến của mình trong quá trìnhtiến hành hoạt động Bằng lời nói và bằng cách viết trong vở thực nghiệm cá nhân, viếtvào bảng nhóm để chia sẻ ý kiến, đối chiếu quan điểm, dự đoán kết quả và khẳng địnhnhững kiến thức thu được sau hoạt động, khả năng ngôn ngữ của HS được rèn luyện
và phát triển
Phương pháp BTNB giúp HS nâng cao khả năng diễn đạt, phát triển ngôn ngữkhoa học Trong suốt quá trình học, HS sẽ phải suy nghĩ để tìm kiếm các từ ngữ, cáccâu văn, các cách thức khác nhau để diễn đạt suy nghĩ một cách ngắn gọn, rõ ràng và
dễ hiểu để mô tả, để bảo vệ ý kiến của cá nhân, của nhóm, để thuyết phục ngườinghe… Đồng thời phương pháp này cũng rèn luyện cho HS biết cách bảo vệ ý kiếncủa mình, lắng nghe ý kiến của người khác, làm cho HS mạnh dạn nói ra những hiểubiết cũng như những phát hiện mới của mình trước tập thể để chia sẻ, thảo luận Thôngqua đó, không những các em tích lũy thêm vốn từ khoa học do bạn bè, giáo viên đemlại mà còn nhanh chóng xây dựng được mối quan hệ sâu sắc giữa thuật ngữ và bảnchất của kiến thức Điều này giúp HS nâng cao khả năng giao tiếp, rèn luyện khả năngbộc lộ quan điểm, khả năng nhìn nhận đánh Qua đó, tư duy và óc phê phán của HS sẽđược rèn luyện và phát triển
3 Các nguyên tắc của phương pháp BTNB
3.1 Những nguyên tắc cơ bản của dạy học dựa trên cơ sở tìm tòi - nghiên cứu
3.1.1 Dựa trên cơ sở tự tiến hành các thao tác tìm tòi – nghiên cứu, HS tự phát hiện ra kiến thức khoa học
Trang 9Phương pháp BTNB coi trọng việc HS tự thực hiện và điều khiển các thao táctìm tòi – nghiên cứu của mình phù hợp với hiện tượng, kiến thức mà HS quan tâmnghiên cứu vì các thao tác tìm tòi – nghiên cứu là cơ sở cho việc phát hiện ra kiếnthức.
Như đã trình bày ở các phần trên, phương pháp BTNB coi trọng các suy nghĩban đầu (biểu tượng ban đầu) của HS Trước khi được học kiến thức nào đó, HSthường có những suy nghĩ ban đầu ngây ngô về sự vật, hiện tượng Đó là những quanniệm riêng của mỗi em thông qua vốn sống, vốn kiến thức thu nhận được ngoài trườnghọc Các BTBĐ của học sinh rất phong phú và đa dạng có những điểm giống và khácnhau, Các suy nghĩ ban đầu của HS có thể đúng hoặc sai Chính từ những điểm giống
và khác nhau này, HS tự đặt ra các câu hỏi thắc mắc để từ đó tự đề xuất các phương ántìm tòi – khám phá, tự thử nghiệm các phương án đã đề xuất để tìm câu trả lời và tự rút
ra các kết luận cần thiết cho nội dung cần tìm hiểu
Ví dụ: Biểu tượng ban đầu của HS trước khi tìm hiểu về cấu tạo của hạt đậu.
Trang 10Trong 5 BTBĐ trên, có thể nhận thấy các điểm giống nhau và khác nhau trongcác biểu tượng:
+ Giống nhau: Đều có vỏ, ruột (hình 4, hình 5), mầm (hình 2, hình 3), hạt (hình
1, hình 3)
+ Khác nhau: hình 4 không có vỏ hạt; số lượng và vị trí của hạt bên trong hạt(hình 1 có 1 hạt, hình 3 có 2 hạt); vị trí mầm (hình 2 và hình 3); vị trí và kích thướccủa ruột (hình 4 và hình 5)
Từ các điểm giống và khác nhau, GV có thể tổ chức cho HS đề xuất các câu hỏicần tìm hiểu về cấu tạo của hạt đậu như:
- Hật đậu có vỏ hay không?
-Trong hạt đậu có ruột không?
- Trong hạt đậu có mầm không?
- Trong hạt đậu có hạt không?
- Trong hạt đậu có bao nhiêu hạt? Hạt nằm ở đâu?
- Mầm nằm ở đâu trong hạt đậu?
- Ruột hạt nằm ở đâu? Ruột hạt to hay nhỏ?