TIỂU LUẬN VẤN ĐỀ CHỦNG TỘC
Trang 1Qua một quá trình lâu dài con người đã có mặt, di cư và phân bố rộngkhắp trên khắp trái đất, hình thành các chủng tộc người trên thế giới Cho đến nay, vấn đề chủng tộc luôn là đề tài được quan tâm ở cácquốc gia, được nghiên cứu ở nhiều phương diện khác nhau, phục vụ chocác mục đích khác nhau Chủng tộc học là khoa học nghiên cứu về cáccộng đồng tộc người Mác - xít nghiên cứu tất cả các cộng đồng tộcngười, không phân biệt dân tộc lạc hậu hay đã phát triển, trong đó nhiệm
vụ hàng đầu là nghiên cứu văn hóa các tộc người Để thực hiện tốt nhiệm
vụ và mục đích nghiên cứu, trước tiên Chủng tộc học phải giải quyếtnhững vấn đề về lý thuyết tộc người và bắt buộc phải phân loại được cáctộc người Khâu then chốt này vừa là mục tiêu, nhiệm vụ, lại vừa là cơ sở,nền tảng quyết định đến sự thành bại của Chủng tộc học
Đối với ngành khoa học Địa lý một khoa học nghiên cứu tổng hợp cảchiều về không gian và chiều về thời gian của các sự vật, hiện tượng, quátrình địa lí Do vậy nghiên cứu về chủng tộc phải tìm hểu đầy đủ nguồngốc, quá trình phát sinh, phát triển và phân bố của các tộc người trên mộtlãnh thổ nhất định Đồng thời làm rõ vấn đề chủng tộc xét trên phươngdiện con người vừa là thực thể sinh học vừa là tthực thể xã hội Từ đóthấy được chủng tộc chỉ là sự khác nhau thuần túy theo những đặc điểmthân thể bên ngoài chứ không phải là sự chênh lệch về trình độ trí tuệ Sựkhác nhau đó là kết quả của quá trình thích ứng lâu dài của con người với
Trang 2hoàn cảnh tự nhiên Do vậy, các chủng tộc trên thế giới sinh ra đều cóquyền như nhau, đặc biệt là quyền bình đẳng Sự phân biệt và kì thịchủng tộc là đáng lên án và thiếu tinh thần nhân văn.
Do quá trình tìm hiểu của nhóm còn nhiều hạn chế nên bài luận chắcchắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đónggóp ý kiến của quý thầy cô, cùng các bạn đọc quan tâm đến vấn đề này!
2 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ
2.1 Mục đích
Phân tích được khái niệm, sự ra đời của chủng tộc, các chủng tộc trênthế giới và Việt Nam cũng như sự phân bố của các chủng tộc Qua việctìm hiểu đó thấy rằng các chủng tộc có nguồn gốc xuất phát như nhau, sựkhác biệt chỉ là về đặc điểm bên ngoài, không phải là về trình độ trí tuệnên đều phải được hưởng quyền lợi như nhau, vấn đề phân biệt chủng tộc
Bài luận bao gồm 4 chương:
Chương 1 Khái quát chủng tộc và vấn đề nguồn gốc loài người
Chương 2 Đặc điểm phân loại và sự phân bố các chủng tộc trên thế giới.Chương 3 Các chủng tộc ở Đông Nam Á và Việt Nam
Chương 4 Vấn đề phân biệt chủng tộc
Trang 3CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHỦNG TỘC VÀ VẤN ĐỀ
NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI
1.1 LỊCH SỬ TIẾN HÓA LOÀI NGƯỜI
Loài người xuất hiện trên trái đất đánh dấu một sự kiện lớn lao nhấttrong lịch sử tiến hoá của sinh quyển Việc lý giải lịch sử tiến hoá của loàingười là một vấn đề phức tạp và đòi hỏi nhiều phương pháp nghiên cứu
cụ thể, thông qua hàng loạt các công trình nghiên cứu như nhiễm sắc thể
và nhóm máu, xác định niên đại các di cốt bằng phương pháp cacbonphóng xạ (14c) Đồng thời các nhà nhân chủng vẫn đang tìm tòi và trôngđợi nghiên cứu chủng tộc loài người ở các giai đoạn khác nhau tìm thấytrên nhiều vùng Châu lục rộng lớn của thế giới thì mới hiểu được nguồngốc loài người và các chủng tộc loài người Vì vậy, nguồn gốc loài người
và nguồn gốc các chủng tộc loài người là hai vấn đề liên quan mật thiếtvới nhau, là hai giai đoạn nối tiếp nhau (có thể nói là xen kẽ nhau) củaquá trình tiến hoá loài người
" Con người có một cấu trúc hết sức gần gũi với những loài khỉ lớn Vậy con người phải có họ hàng thực sự với chúng, con người xuất thân từ một trong các loài khỉ đó" Câu nói Thiên tài đó của Đacuyn năm 1871 về
nguồn gốc loài người đã dần dần được chứng minh cụ thể
Trái đất được hình thành cách đây khoảng 4,5 tỉ năm, và sự sống chỉbắt đầu trên địa cầu gần 2 tỉ năm sau đó, với những hình thức thô sơ, đơngiản như vi khuẩn Sau đó là các sinh vật bậc thấp đơn bào và động vậtkhông có xương sống Cho đến cách đây 500 triệu năm, động vật cóxương sống xuất hiện với các loài cá Do điều kiện thời tiết và khí hậutrái đất vào khoảng cách đây 400 triệu năm, cá đã chuyển vây thành chân
và mang thành phổi để trở thành chủ nhân thực sự của các lục địa Rồi từ
Trang 4đó, bò sát xuất hiện cách ngày nay khoảng 300 triệu năm với bước nhảyvọt về phát triển báo hiệu sự xuất hiện tiếp theo đó của loài có vú Rồiđến loài có vú cách đây khoảng 200 triệu năm với ba đặc điểm cơ bản: có
vú cho con bú sữa, nhiệt độ cơ thể không thay đổi và đẻ con Trong sốlớp động vật có vú đó, một loại tiến bộ hơn xuất hiện cách đây khoảng
100 triệu năm Đó là nhóm có nhau thai Trong số đó, loài người thuộc bộtiến hoá nhất : đó là bộ " Linh trưởng" xuất hiện cách đây 70 triệu năm
Bộ động vật linh trưởng (the primates)Đặc trưng quan trọng của bộ
động vật linh trưởng là sống trên cây và phụ thuộc vào các điều kiện củamôi trường sống Tay chân của chúng phát triển để nắm, chộp, thay chomóng vuốt, di chuyển bằng hai chi trước, giảm bớt chức năng ngửi,nhưng lại tập trung vào thị giác và thính giác và hoàn chỉnh xúc giác Sựthay đổi các cơ quan giác quan này đã làm cho não bộ của chúng có kíchthước lớn, nhờ đó chúng có thể luôn quan sát và săn sóc con cái.Hầu hếtcác Primate đều ăn thực vật và họ người đầu tiên có lẽ cũng vậy Nhưngcũng có bằng chứng hóa thạch cho rằng ít nhất ở Kỷ Pliocene đã có một
số loài người chuyển qua ăn tạp
Trang 5Australopithecus - Đặc điểm
của người vượn là đi bằng hai chân
nhưng còn khom, có thể tích não
khoảng 450-750cm3 Sống trên cạn
cùng với tư thế thẳng đứng và đi
bằng 2 chân cũng như những thay
đổi do lối sống trên cây đã dẫn đến
sự thay đổi vượt bậc trong tiến
hóa Việc di chuyển bằng 2 chân,
giúp giải phóng 2 chi trước khỏi chức năng di chuyển và dùng chúng vàoviệc khác Bằng hình thức hái lượm, người vượn sử dụng thực vật làmnguồn thức ăn chủ yếu, tác động rất ít vào môi trường Và loài vượn cổnày cách chúng ta khoảng 5 -6 triệu năm
Homo Habilis - “Người khéo léo” xuất hiện cách đây 2 triệu năm.
Kích thước sọ não đạt 600-850cm3 Tay được dùng để cầm nắm, chế tạo
và sử dụng công cụ được chế tạo Nhờ đặc điểm này mà chúng di chuyểnnhanh chóng trong môi trường sống và tìm được nhiều mồi hơn Công cụ
được sử dụng hiệnvẫn còn nhiều tranhcải Trong quá trìnhtiến hóa, để thíchnghi với điều kiệnkhí hậu nhiệt đới, cơthể loài người dầndần hình thành cáctuyến bài tiết để thoáthơi nước ở da (còn gọi là đổ mồ hôi) Ngoài ra, nhóm người này còn sốngdưới các bóng cây to, thu lượm trái, hạt và rễ, củ làm phần thức ăn quan
Trang 6trọng Ở thời kỳ này, hình thái kinh tế chủ yếu của con người là săn bắt hái lượm Săn bắt các động vật nhỏ như côn trùng, giun, ốc sên, kỳ nhông
-và đôi khi ăn cả trứng chim Sống thành đàn, khoảng -vài chục cá thể haynhiều hơn, nhưng chưa phải là đời sống xã hội Biết sử dụng gai nhọn củacây, chế tác một số công cụ từ xương, răng, sừng, từ đá Thường núp dướinhững cành cây rậm lá để nghỉ ngơi và quan sát đồng cỏ hay những vũngnước kế cận Các âm thanh và mùi được ghi nhận chính xác Họ ghi nhậncác tập tính của các loài vật khác, nhận biết các mùa và tri thức của họđược tích lũy dần Nhờ quan sát tốt, họ có thể săn bắt tốt, nên thức ăn cónhiều thịt hơn – góp phần đáng kể cho hoạt động tăng cường trí não.Trong cuộc sống dần dần xuất hiện sự phân công lao động sơ khai như cáthể nam đi xa săn bắt, cá thể nữ ở nhà sinh và nuôi con Mối quan hệphức tạp dần dần đòi hỏi sự phát triển ngôn ngữ giao tiếp Bắt đầu thíchnghi với sự trồng trọt Gia tăng khả năng tác động vào môi trường
Homo Erectus - “Người đứng thẳng” ở Châu Phi cách chúng ta khoảng 1.7 triệu năm Với lửa, dùng da động vật và nơi cư trú đơn giản
như là hang động, H erectus có thể định cư ở những nơi có khí hậu ônhòa Do sự phân hóa nên dần dần hình thành các nhóm người khác nhaunhư Người hiện đại; Người ở Châu Phi; Người ở Châu Âu; Người ở Úc;Người ở Mỹ Tuổi thọ trung bình khoảng 20-25 năm Sống thành từngnhóm khoảng 30 cá thể Hoạt động chính là săn bắt nên chinh phụcnhững không gian khá rộng Họ tấn công tất cả các loài động vật, chủ yếunhằm vào các con mồi nhỏ và thường dồn con mồi vào bẫy Nhiều công
cụ bằng đá được chế tạo Sự kiện quan trọng và có ý nghĩa lớn là người
H Erectus đã biết dùng lửacách đây 500.000 năm Loài H Erectus và H.Habilis đều thích đi xa, phân tán khá rộng khắp nơi trên thế giới Hìnhthái kinh tế chủ yếu của các tộc người ở thời kỳ đồ đá cũ (Palaeolithic) vàthời kỳ đồ đá giữa (Mesolithic) là hình thức săn bắt – hái lượm Thực chất
Trang 7việc này liên quan
đến vấn đề khai thác
nguồn tài nguyên
thiên nhiên đặc biệt
là săn bắt vì đòi hỏi
công cụ Giới hạn
quy mô dân số: kết
quả quan trọng của
lối sống săn bắt – hái
lượm là giới hạn quy mô dân số Hầu hết người đứng thẳng tập hợp thànhnhững nhóm nhỏ khoảng vài trăm cá thể hoặc ít hơn Điều này dẫn đếnnguồn gen và hệ sinh thái phong phú Dân số quy mô nhỏ nên các bệnhtruyền nhiễm dễ lan truyền sang những cá thể còn lại Điểm đặc trưng củahình thái săn bắt – hái lượm là chế độ dinh dưỡng nhiều cellulose, thiếumuối ăn Hậu quả, dẫn tới sự đói Tóm lại ở giai đoạn này, con người sửdụng công cụ ngày càng phức tạp hơn và biết sử dụng lửa Bắt đầu sửdụng động vật làm thức ăn và vì vậy tăng khả năng tác động vào môitrường
Homo Sapiens
-Những người H
Erectus điển hình coi
như biến mất trong
Trang 8rộng Giữa các nhóm có ngôn ngữ để giao lưu với nhau, bắt đầu hìnhthành các "bộ lạc" sơ khai Họ thường săn bắt và có dự trữ thực phẩm.Việc chế tạo các công cụ đồ đá được thực hiện với nhiều chủng loại khácnhau như dùng để săn bắt, mổ xẻ con mồi hay chế biến thức ăn Gỗ được
sử dụng nhiều hơn để chế tạo công cụ Lúc này quá trình đô thị hóa bắtđầu, tạo ra hiện tượng đông dân, đa dạng ngành nghề và phân hóa xã hội.Tóm lại, nhóm người này vẫn còn lấy thức ăn từ thiên nhiên và mở rộngnguồn thức ăn Tăng khả năng canh tác bằng hình thức phát triển nôngnghiệp Mở rộng nơi cư trú hình thành những bộ lạc với ngôn ngữ khácnhau, bắt đầu có tín ngưỡng, có lễ mai táng người chết Điều đó thể hiện
họ đã bước đầu có đời sống văn hóa tinh thần
Homo sapiens Sapiens - Mẫu người Neanderthal cuối cùng được tìm
thấy ở Palestine có niên đại cách nay 45.000 năm và người hiện đại xuấthiện và thay thế trong khoảng 40.000-35.000 năm nay Kim loại đầu tiênđược con người khám phá ra và sử dụng là đồng, thiếc, sắt Tiếp theo là
sự tăng dân số ở thời kỳ đồ đá mới và sự di dân Chăn nuôi phát triển vớilừa, ngựa, những đàn gia súc đông đến vạn con trên những thảo nguyên,hình thành lối sống du mục của các bộ lạc chăn nuôi Có sự sở hữu sắt.Con người biết chế tạo ra những công cụ bằng kim loại, có thể cầm nắm
hỗ trợ cho việc phá rừng để làm nông nghiệp Hình thức này vẫn còn phổbiến cho tới nay Trên các công cụ của họ (có niên đại khoảng 20.000năm trước) đã có dấu hiệu nghệ thuật thẩm mỹ lẫn tính huyền bí vàtruyền thống Trồng trọt và chăn nuôi đã có cách nay khoảng 10.000 năm
Từ thời điểm này, nền văn minh của loài người cũng phát triển và hoànthiện với tốc độ ngày càng nhanh Tóm lại, khi nền văn minh hình thành,con người có khả năng điều khiển môi trường, khả năng sử dụng cácnguồn tài nguyên để sản xuất các tài nguyên khác (bắt đầu cách đây10.000 năm), bắt đầu tác động vào môi trường Tiếp theo là sự văn minh
Trang 9và đô thị hóa (cách đây 6.000 năm), con người bắt đầu làm thoái hóa môitrường.
Quá trình tiến hóa của sinh vật dẫn đến loài sinh vật biết đi thẳng(với những cấu trúc tương ứng từ yêu cầu này) có não bộ phát triển vàhoạt động tư duy Trải qua giai đoạn tiến hóa khác nhau mà lịch sử loàingười vẫn còn được tranh cãi về những nấc phát triển tiến hóa của loàingười Loài người duy nhất hiện nay còn trên toàn cõi địa cầu là Homosapiens sapiens-loài người khôn ngoan Tuy màu da, nét mặt và hìnhdạng có khác nhau nhưng tất cả đều chung một loài Con người trước hết
là một sinh vật và sống là phương thức tồn tại với những thuộc tính đặcbiệt của vật chất trong những điều kiện nhất định của sinh quyển
Trong quá trình xuất hiện, phát triển, tiến hóa sự sống luôn gắn chặtvới môi trường mà nó tồn tại Không hề có sự sống ngoài môi trường vàcũng không hề có sự sống trong môi trường mà nó không thích hợp, thíchứng được
Con người có những đặc thù về cấu tạo, chức năng và quan hệ đặcbiệt với môi trường và môi trường sống của con người cũng chứa đựngnhiều đặc thù, khác với bất kỳ sinh vật nào khác
1.2 KHÁI NIỆM CHỦNG TỘC VÀ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
1.2.1 Khái niệm về chủng tộc
Trước hết chúng ta cần quan niệm các đặc điểm hình thái không chỉkhác nhau giữa những chủng tộc trong cùng một chủng tộc, các cá thểcũng có thể khác nhau Nhiều khi sự khác nhau giữa từng cá thể trongmột chủng tộc còn lớn hơn cả sự khác nhau giữa các chủng tộc nữa Vìvậy, những sự khác nhau về chủng tộc chỉ là những biến dị và di truyềntrong quá trình thích nghi của cơ thể loài người nói chung với môitrường Tất cả các chủng tộc loài người hiện nay đều ở cùng một mức độtiến hoá - đó là người khôn ngoan hiện đại (Homo sapiens )
Trang 10Trước đây, các nhà nhân học coi chủng tộc là một tập hợp cá thể cónhững đặc điểm hình thái tương đồng Hiện nay, những hạn chế của địnhnghĩa cổ điển về chủng tộc đã được bổ sung trên cơ sở những nhận thứcmới Đó là vai trò của khu vực địa lí trong quá trình hình thành chủng tộc.Các nhà khoa học đã có lí khi cho rằng, chủng tộc xuất hiện do kết quảcủa sự sống cách biệt của các nhóm người khác nhau trong những khuvực địa lí khác nhau Gần đây khái niệm về chủng tộc lai được hoànchỉnh hơn khi xác định chủng tộc không phải là một tập hợp cá thể gộplại, căn cứ vào những tương đồng mà là một tập hợp quần thể.
Buyppphông, nhà văn và là nhà sinh học Pháp nổi tiếng ở thế kỉ thứ
18 đã nói : " Con người, dù trắng ở Châu Âu, đen ở Châu Phi, vàng ở
Châu Á và đỏ ở Châu Mĩ cũng chỉ là một con người nhuộm màu da của khí hậu" Tuy nhiên, như ta đã thấy, thực tế vẫn có những đặc điểm hình
thái cho phép ta qui định một nhóm người này khác với nhóm ngườikhác Các đặc điểm này còn có tính duy truyền khá ổn định cho phépchung ta có cơ sở để phân biệt 7 tỉ người hiện nay thành các chủng tộckhác nhau
Đã có rất nhiều quan điểm được đưa ra từ các nhà nhân chủng tộchọc để bảo vệ cắn cứ khoa học của mình, nhưng rõ ràng họ cùng cónhững suy luận đặc điểm gần như tương đồng nhau, và cùng thống nhấttán thành định nghĩa sau:
" Chủng tộc là một nhóm tự nhiên bao gồm những người có một tập hợp các đặc điểm hình thái giống nhau, có tính chất duy truyền, không kể đến ngôn ngữ, phong tục tập quán và quốc tịch"
Như vậy, những đặc điểm hình thái không có tính chất duy truyềnkhông phải là đặc điểm chủng tộc mà là các đặc điểm của một người cóthể có do môi trường sống tạo nên và không duy truyền cho con cái nếucon cái sống ở một điều kiện môi trường khác
Trang 11Với định nghĩa trên, ta có thể chia dân số trên thế giới thành khánhiều các chủng tộc khác nhau Vì vậy, các nhà nhân chủng phải quy ướcnhiều mức độ để phân loại các chủng tộc Đó là các khái niệm đại chủng,tiểu chủng và các loại hình chủng tộc.
Đại chủng còn gọi là chủng tộc địa lí tương ứng với một số loài phụ
ở động vật Một đại chủng bao gồm những quần thể tức là những nhóm
cư dân sống cạnh nhau mà 75% các cá thể trong quần thể xếp được vàocác quần thể kia Với định nghĩa ấy, đa số các nhà nhân chủng học đãchia loài người hiện nay thành 4 đại chủng: Á ( Mongoloit), Úc(otxtraloit), Âu (Oropeoit) và Phi (Negroit)
Một đại chủng lại chia làm nhiều tiểu chủng Sự chia thành các tiểuchủng này khác nhau tuỳ từng tác giả Để minh họa, xin lấy một ví dụ.Theo trTreboxarop (Liên Xô 1951) đại chủng Môngoloit được chia làm
ba tiểu chủng: tiểu chủng Bắc Môngoloit, tiểu chủng Nam Môngloit, tiểuchủng Mỹ (Thổ dân Châu Mỹ)
Mỗi tiểu chủng lại được chia làm nhiều loại hình Ví dụ, các dân tộc
ở Việt Nam có thể bao gồm nhiều loại hình thuộc các tiểu chủng NamMongoloit hoặc các tiểu chủng thuộc đại chủng oxtraloit chẳng hạn Vàvấn đề về phân loại chủng tộc trên thế giới sẽ được làm rõ hơn ở chươnghai và ba
1.2.2 Sự khác nhau giữa khái niệm chủng tộc và khái niệm dân tộc
và quốc gia
Với định nghĩa về chủng tộc như trên, rõ ràng là chúng ta không nênlẫn lộn một chừng tộc với một nhóm người có cùng chung những đặcđiểm của một nền văn minh hoặc những người cùng sống chung lập ramột chính quyền, một Cộng đồng chính trị hoặc một quốc gia Một nhómcùng chung những đặc điểm của một nền văn minh được gọi là dân tộc và
đó là đối tượng nghiên cứu của ngành dân tộc học Một tập hợp ngườicùng sống trong một cộng đồng chính trị có chung một chính quyền thì
Trang 12gọi là quốc gia Những người đó có chung một Quốc tịch và là đối tượngnghiên cứu của môn học lịch sử Ví dụ, khi ta nói:" Người Việt Nam" đó
là nói những người có Quốc tịch Việt Nam, nhận Việt Nam làm tổ Quốccủa mình Người Việt Nam gồm nhiều dân tộc khác nhau: Kinh, Tày,Nùng, Mường, Thái, Mèo, Khmer, Rhade nghĩa là tất cả các dân tộc đa
số cũng như các dân tộc ít người đang sống và lập nên tổ Quốc Việt Namchung của họ Mỗi dân tộc ấy có thể thuộc cùng một chủng tộc cũng cóthể thuộc nhiều chủng tộc khác nhau Ví dụ, khi nói về dân tộc Việt cóngười nói họ thuộc loại hình Nam Á của tiểu chủng Nam Môngoloit, còncác dân tộc ít người ở Tây Nguyên thì thuộc loại hình chủng tộc khácchẳng hạn
Như vậy, một Quốc gia có thể có nhiều dân tộc thuộc nhiều chủngtộc Ngược lại, một chủng tộc có thể thuộc nhiều Quốc gia khác nhau.Trường hợp này thường xảy ra ở những phần ranh giới giữa các Quốc gia
Ví dụ, ta có dân tộc Thái, Khmer, Lào, Hoa, vì vậy, các danh từ : chủngtộc, dân tộc, và Quốc tịch là ba khái niệm hoàn toàn khác nhau và là bađối tượng nghiên cứu của ba môn học tuy có quan hệ hết sức mật thiếtvới nhau, nhưng khác nhau Đó là nhân chủng học, dân tộc học và mônlịch sử học Từ đó, cũng không nên lẫn lộn truyền thống đấu tranh giữnước và dựng nước của các dân tộc trong cùng một Quốc gia với nguồngốc chủng tộc có thể giống nhau hoặc rất khác nhau của họ
Sự hình thành nên các chủng tộc hoàn toàn có ý nghĩa sinh học làmột quá trình diễn biến lâu dài hàng vạn năm theo các quy luật di truyền
và tiến hoá sinh học Còn sự hình thành các Quốc gia, dân tộc là có ýnghĩa lịch sử, chính trị và xã hội và diễn biến theo các quy luật xã hội chứkhông phải quy luật sinh học
Cũng vì như vậy, khái niệm dân tộc và ngôn ngữ không liên quan gìđến khái niệm chủng tộc vì nhiều chủng tộc do sự hình thành lịch sử có
Trang 13thể có cùng chung một ngôn ngữ, một phong tục, tập quán và một nềnvăn minh
"Nhiều trung tâm"
1.3.1 Giả thuyết " Một trung tâm"
Thuyết một trung tâm đã được đề xướng ra từ đầu thế kỉ thứ 20.Ngày nay được các trường phái của các nhà nhân chủng Nga bổ sung vàphát triển
Theo thuyết này, con người hiện đại là kết quả của quá trình tiến hoánội tại và ngày càng hoàn thiện của cùng một dòng các họ người cổ trước
đó từ người tối cổ Pitecangtrop qua người thượng cổ Neangdectan tớingười tân cổ Cromanhong và sau cùng là người khôn ngoan hiện đạiđược phân hoá thành các chủng tộc như ngày nay
Để Minh họa cho thuyết này, chúng ta hãy cùng nhau nghiên cứu ýkiến của Y.Y Roghinski một nhà nhân chủng học Liên Xô nổi tiếng TheoRoghinski, có thể là trong giai đoạn chót của sự tiến hoá của ngườiNeangdectan thành người khôn ngoan hiện đại, cách ngày nay chừng 10vạn năm, Ở một vùng giáp ranh giữa ba Châu lục lớn là Châu Á, Châu
Âu và Châu Phi, nơi quê hương của người hiện đại, xuất hiện hai nhómchủng tộc cơ bản : nhóm Tây Nam và nhóm Đông Bắc Hai nhóm này bị