1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUẢN TRỊ TRI THỨC và bản CHẤT ĐỘNG của TRI THỨC

24 393 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Trị Tri Thức Và Bản Chất Động Của Tri Thức
Tác giả Lờ Hữu Liờm, Trương Văn Hiệu, Lờ Vũ Ngọc Anh
Người hướng dẫn PGS TS. Phan Huy Khỏnh
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Công Nghệ Tri Thức
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.3.2.Biểu diễn tri thức bằng luật sản xuất: IF {Tập các giả thiết} THEN {Tập các kết luận} CF Giá trị CF cho biết độ chính xác của quan hệ giữa các sự kiện trong tập giả thiết và các

Trang 1

Giáo viên giảng dạy: PGS TS.PHAN HUY KHÁNH

Học viên thực hiện: Lê Hữu Liêm Trương Văn Hiệu

Lê Vũ Ngọc Anh Lớp : Cao học KHMT Khóa 11

Đà Nẵng, 04/2010

Trang 2

MỤC LỤC



LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN I: LÝ THUYẾT 2 PHẦN II: BÀI TẬP 18

LỜI MỞ ĐẦU



Công nghệ tri thức là một công nghệ tiên tiến đã và đang làm thay đổi có tính cách mạng trong rất nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, giao tiếp hệ thống, xử lý ký hiệu, tính toán hình thức.

Để có thể tiếp cận Công nghệ tri thức, chúng ta cần có những tri thức cơ bản kỹ thuật lập trình hàm và logic

Vận dụng những tri thức đã thu nhận trong quá trình học tập, tìm hiểu và nghiên cứu về môn Công nghệ tri thức, được sự phân công và hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Phan Huy Khánh, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài này để làm đề tài tiểu luận cho môn học.

Tiểu luận đề cập đến các vấn đề lý thuyết cơ bản về quản trị tri thức và bản chất động của tri thức và xây dựng hệ chuyên gia hướng dẫn thi tuyển sinh.

Xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Phan Huy Khánh đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn để chúng em hoàn thành đề tài này Chúng em cũng xin chân thành cảm ơn các bạn trong lớp đã động viên và chia sẻ kinh nghiệm trong học tập nghiên cứu và giúp đỡ trong quá trình làm đề tài Tuy nhiên vì thời gian cũng như tri thức còn hạn chế, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được mọi sự đóng góp ý kiến từ quý thầy cô và bạn bè.

Học viên thực hiện

Trang 3

PHẦN I: LÝ THUYẾT

ĐỀ TÀI: QUẢN TRỊ TRI THỨC VÀ BẢN CHẤT ĐỘNG CỦA TRI THỨC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TRI THỨC VÀ HỆ CHUYÊN GIA

1.1 Tri thức:

1.1.Khái niệm tri thức:

đó

1.1.2.Phân loại tri thức:

quyết vấn đề, nó cung cấp định hướng cho cách thực hiện một cái gì đó

về vấn đề Nó bao gồm các mệnh đề đơn giản đúng hoặc sai, một dãy các mệnh đề mô tả chi tiết một đối tượng hay một khái niệm nào đó

thức thích hợp Nó còn gọi là tri thức về tri thức (Knowledge about knowledge)

luận Tri thức này còn gọi là tri thức bóng (Shallow knowledge) Nó dựa vào kinh nghiệm và tri thức có được nhờ giải quyết những vấn đề trước đó

tượng và quan hệ giữa các đối tượng Loại tri thức này mô tả mô hình trí tuệ tổng quát của các chuyên gia con người

1.1.3.Các kỹ thuật biểu diễn tri thức:

của hệ thống Các phương pháp biểu diễn tri thức phổ biến:

1.1.3.1.Biểu diễn tri thức bằng bộ ba OAV (Object – Attribute – Value):

Trang 4

Phương pháp biểu diễn này chỉ ra rằng “Đối tượng” với “Thuộc tính” đã cho có một “Giá trị” nào đó Ví dụ:

(Quyển sách, Độ dày, 150 trang)

thành O – A – V – CF Trong đó CF là chỉ số Độ chắc chắn (Certainty Factor) có giá trị

từ -1 đến 1 Ví dụ:

Quyển sách gần như chắc chắn dày 150 trang

1.1.3.2.Biểu diễn tri thức bằng luật sản xuất:

IF {Tập các giả thiết} THEN {Tập các kết luận} CF Giá trị CF cho biết độ chính xác của quan hệ giữa các sự kiện trong tập giả thiết

và các sự kiện trong tập kết luận của luật

1.1.3.3.Biểu diễn tri thức bằng mạng ngữ nghĩa:

Trong đó, các nút biểu diễn các đối tượng và các cung biểu diễn mối quan hệ giữa chúng Ví dụ:

1.1.3.4.Biểu diễn tri thức bằng Frame:

Đây là phương pháp biểu diễn kết hợp của biểu diễn mô tả và biểu diễn thủ tục Một Frame có khuôn dạng như sau:

Wave

máy

13 triệu VND

97 cm khối Là

Dung tích

xi lanh

Giá thành

Trang 5

1.1.3.5.Biểu diễn tri thức bằng Logic:

Trong trường hợp đơn giản nhất, F(t1,…,tk) biểu diễn một sự kiện là có một đối tượng với các giá trị thuộc tính t1,…,tk trong cơ sở dữ liệu

thì sự kiện q cũng đúng (hay tồn tại)

Trường hợp 4: n ≥ 1, m > 1; Đây là dạng tổng quát nhất

p1∩…∩pn → q1U…Uqn

p1∩…∩pn∩ ¬q2∩…∩¬qm → q1p1∩…∩pn∩ ¬q1∩ ¬q3∩…∩¬qm → q2

Đối tượng 1 Đối tượng 2

Thuộc tính 1 Giá trị 1 Thuộc tính2 Giá trị 2 … …

Tên Frame Lớp

Thuộc tính

Trang 6

…p1∩…∩pn∩ ¬q1∩ … ∩¬qm-1→ qm

Logic vị từ được cấu thành bởi hai phần:

Tập các sự kiện F

Tập các luật R

hạng từ phụ thuộc vào các hạng thức x, y, z, …

thay chúng bởi một giá tri tượng trưng hoặc thực sự

trong pi và q đều phải gắn với lượng từ “Với mọi”

1.2 Hệ chuyên gia:

1.2.1.Khái niệm về hệ chuyên gia:

Hệ chuyên gia (Expert System) là chương trình máy tính được thiết kế để mô hình hoá khả năng giải quyết vấn đề của người chuyên gia

1.2.2.Cấu trúc hệ chuyên gia:

Một hệ chuyên gia thông thường bao gồm các yếu tố sau:

Trang 7

Các thông tin do người sử dụng nhập vào

Các thông tin được hệ thống suy diễn ra

1.2.2.3.Môtơ suy diễn:

Hệ chuyên gia mô hình hoá quá trình suy diễn của con người thông qua Môtơ suy diễn Môtơ suy diễn là thành phần trong hệ chuyên gia làm nhiệm vụ khớp các sự kiện trong bộ nhớ làm việc với các tri thức về lĩnh vực trong cơ sở tri thức để rút ra kết luận

1.2.2.4.Phương tiện giải thích:

Phương tiện giải thích là thành phần trong hệ chuyên gia có nhiệm vụ giải thích cho người sử dụng quá trình đi đến một kết luận của hệ thống Với phương tiện giải thích được thiết kế tốt, người sử dụng sẽ dễ dàng hiểu được lập luận của hệ thống

1.2.2.5.Giao diện:

Giao diện là thành phần đảm nhiệm quá trình tương tác giữa người sử dụng và hệ thống Yêu cầu đặt ra đối với người thiết kế hệ chuyên gia là phải đảm bảo tương tác này càng gần như tương tác giữa con người với con người càng tốt

1.2.3.Suy diễn trong hệ chuyên gia:

Hai cơ chế suy diến được sử dụng trong các hệ chuyên gia là Suy diễn tiến và Suy diễn lùi:

1.2.3.1.Suy diễn tiến:

Khái niệm: Suy diễn tiến là chiến lược suy diễn bắt đầu bằng tập hợp các Fact đã biết, tìm ra các Fact mới bằng cách sử dụng các luật có các giả thiết phù hợp với Fact Quá trình này cứ tiếp diễn cho đến khi đạt được một trạng thái đích hoặc không còn luật nào có các giả thiết phù hợp với Fact để suy ra Fact mới

Ưu điểm của chiến lược suy diễn tiến:

Hoạt động hiệu quả với các bài toán bắt đầu từ việc thu tập thông tin sau đó tìm ra các thông tin nào có thể suy diễn từ thông tin ban đầu này

Cung cấp lượng thông tin khổng lồ từ một số ít thông tin ban đầu

Nhược điểm của chiến lược suy diễn tiến:

Không có cách nào để nhận biết một sự kiện quan trọng hơn các sự kiện khác Hệ thống

có thể mất rất nhiều thời gian vào các thông tin không cần thiết

Hệ thống có thể đưa ra kết luận không quan hệ nhiều đến vấn đề người dùng quan tâm

1.2.3.2.Suy diễn lùi:

Khái niệm: Suy diễn lùi là chiến lược suy diễn cố gắng chứng minh một kết luận bằng cách thu thập các thông tin hỗ trợ

Ưu điểm của chiến lược suy diễn lùi:

Hoạt động hiệu quả với các bài toán bắt đầu bằng cách đưa ra một kết luận, sau đó tìm cách chứng minh kết luận này là đúng

Suy diễn lùi chú trọng vào goal được đưa ra Nó tạo ra hàng loạt các câu hỏi liên quan đến chủ đề này

Trang 8

Hệ thống chỉ tìm kiếm trong một phần bộ nhớ làm việc thích hợp với vấn đề đang xem xét

Suy diễn lùi thích hợp các bài toán chẩn đoán, gỡ rối

Nhược điểm của chiến lược suy diễn lùi:

Hệ thống vẫn tiếp tục theo dòng suy diễn mặc dù nó có thể dừng lại hoặc chuyển sang hướng suy diễn khác

1.2.3.3.Chiến lược giải quyết đụng độ trong quá trình suy diễn:

Trong quá trình suy diễn gặp trường hợp có nhiều hơn một luật có thể sử dụng để suy diễn thì hệ thống sẽ rơi vào tình trạng xung đột Một số biện pháp giải quyết:

Chọn luật đầu tiên phù hợp trong bộ nhớ làm việc

Chọn luật có mức ưu tiên cao nhất

Chọn luật có nhiều giả thiết nhất

Chọn luật có các giả thiết là các sự kiện mới thêm vào trong bộ nhớ làm việc

1.2.4.Hệ chuyên gia mờ (Fuzzy Expert System):

Trong thực tế cuộc sống ta thường gặp các sự kiện mờ, ví dụ như phát biểu sau:

“Chiếc xe chạy nhanh” Phát biểu này không rõ ràng vì đã sử dụng từ “nhanh”

Các mệnh đề mờ kết hợp với nhau tạo nên các luật mờ Để máy tính có thể xử lý các

sự kiện và các luật mờ, Logic mờ ra đời nhằm cung cấp các phương pháp cho việc biểu diễn và suy diễn các thuật ngữ không rõ ràng Các thuật ngữ không rõ ràng được biểu diễn trong các tập mờ Ví dụ:

Nếu chiếc xe chạy với tốc độ 40 km/h thì:

Với tập Trung bình thì mức độ tin tưởng MV (Membership Value) = 1

Với hai tập Cao và Thấp thì MV = 0.25

Trang 9

CHƯƠNG 2: QUẢN TRỊ TRI THỨC VÀ BẢN CHẤT ĐỘNG

2.1.2 Quá trình quản trị tri thức

Quản trị tri thức không là gì khác ngoài việc

quản trị dòng thông tin, nắm lấy thông tin chính xác

cho những người cần đến thông tin sao cho họ có

thể hành động nhanh chóng với thông tin (Bill

Gates).

Trang 10

2.1.2 Hạ tầng cơ sở CNTT và quản trị tri thức

2.2 Quản trị tri thức và bản chất động của tri thức

2.2.1 Giới thiệu

Tri thức đạt được bằng một trải nghiệm tương ứng.

Quản trị tri thức mô tả cả thực tiễn kinh doanh và lĩnh vực nghiên cứu lí thuyết Khát vọng chia sẻ tri thức là một điều rất tự nhiên đến nỗi nó dường như lạ lẫm mà quản trị tri thức nổi lên như là một điều được sáng chế bởi những tập đoàn Rõ ràng, suy nghĩ

về KM tập trung vào thương mại và công nghiệp và đó là nơi hầu hết những bài viết về chủ đề này được xuất bản, nhưng gần đây tài liệu quản trị tri thức bắt đầu vượt qua ra ngoài ranh giới và những nhà nghiên cứu trong nhiều môn học đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc trong việc sáng tạo tri thức, và giá trị và sức mạnh của nó khi nó được chia sẻ trong toàn tổ chức Bởi vì lý thuyết Quản trị tri thức vẫn đang phát triển đặc biệt nó phù

Trang 11

hợp với những tổ chức trong nghề công nghệ thông tin để kiểm tra KM và cung cấp những khuôn khổ phân tích mà co thể hướng dẫn những thói quen suy nghĩ suy nghĩ của con người

Ý định của bài báo này là thể hiện trung tâm của Quản trị tri thức liên quan đến bản chất động của tri thức như thế nào Những ý chính về Quản trị tri thức sẽ được khám phá ở đoạn kết Phần đầu của bài báo phân tích bản chất động của tri thức Nó tiếp tục thể hiện sự hiểu biết về bản thân nó như thế nào là điều then chốt đối với Quản trị tri thức hiệu quả Bài phê bình về những lĩnh vực khó hiểu của Quản trị tri thức theo sau Tóm lại, Những hàm ý về những chương trình Quản trị tri thức đáng tin cậy và lâu dài được liên kết với những phân tích về bản chất của tri thức và những tri thức do con người tạo ra được thể hiện sớm hơn trong bài báo

2.2.2 Bản chất động của tri thức

Công nghệ thông tin và khoa học thư viện, những hệ thống thông tin, khoa học máy tính, giao tiếp, khoa học nhận thức và khoa học tổ chức tuyên bố rằng mình có khả năng giải quyết một vài lĩnh vực trong quản trị tri thức Mặc dù có sự khác biệt, những người đang thực hiện những ngành học này có chung một sự quan tâm đối với tri thức

và chia sẻ tri thức Do đó, thật là có lý khi việc nghiên cứu quản trị tri thức nên bắt đầu với sự tự nghiên cứu chính nó Tri thwusc là sự nhận thức về một cái gì đó mà con người thu nhận được thông qua việc học, tranh luận, trải nghiệm hoặc sự liên tưởng, hoặc thông qua những kiểu học khác nhau Nó là sự hiểu biết ban đầu về khoa học, nghệ thuật hoặc kĩ thuật Từ điển Oxford định nghĩa từ tri thức như là sự thừa nhận sự nhận ra sự nhận thức sự hiểu biết đạt được thông qua việc học và nghiên cứu Những dạng động từ được sử dụng để định nghĩa tri thức thể hiện tri thức là kết quả của một tập hợp đa dạng bao gồm nhiều qui trình như thế nào, những qui trình đó cũng chỉ ra bản chất linh động của tri thức Khác với thông tin tĩnh có thể dược lưu giữ trong những

cơ sở dữ liệu và trên giấy, tri thức được dựa trên nhứng sinh vật có khả năng nhận thức hoặc bắt nguồn từ chúng., và vì vậy, nó luôn luôn thay đổi theo những trải nghiệm của con người Trong nhứng tổ chức nơi mà công việc phụ thuộc vào sự tương tác giữa cá nhân với nhau , tri thức vừa bao gồm khuôn khổ tích cực và xã hội

Tri tthức được vận chuyển, lưu thông và chuyển giao và được hấp thụ bởi những quan hệ cá nhân ngoài giờ Nó có một đời sông xã hội tích cực có nghĩa là tri thức luôn luôn thay đổi và ở trong tình trạng thay đổi liên tục Tri thức được xét trong ngữ cảnh và

Trang 12

chung là “ cho phép” và làm mới lại những cá nhân và những tổ chức để họ có thể đạt được mục đích và hoàn thành công việc một cách thành công.

Theo truyền thống, trong lý thuyết thông tin, tri thức được phân biệt bởi vị trí của

nó trên một thang phân cấp để định vị dữ liệu trên đáy cấp bậc, tiếp theo phụ thuộc vào thông tin, sau đó tri thức và cuối cùng là ở trên cùng là sự sáng suốt Tuy nhiên, trong việc kiểm tra bản chất của tri thức, không dễ để đặt nó trong những cấp bậc có giới hạn hoặc cách li những mức độ phân loại Tri thức không đơn thuần là một vật mà có thể được đặt và cũng không nên từ chối sự thay thế của tri thức trong tài liệu, cơ sở dữ liệu , nhưng nó cũng được xem như là một nhóm các quá trình mà cho phép việc học xuất hiện và sự hiểu biết được tiếp thu Tri thức đòi hỏi những người hiểu biết, vì vậy những quá trình của nó được đan xen vào nhau giữa hoạt động loài người và kinh nghiệm Chúng ta có thể tách rời thông tin và tri thức bằng cách nhận dạng thông tin về một vài vật trong những hình thức cố định như một tài liệu, một quyển sách, một băng video và tri thức như là mọt điều kiện tiến háo không ngừng được không ? Sự phác họa

đó có thể quá đơn giản nếu chúng ta tính đến việc những nhà nghiên cứu đa định nghĩa thông tin và tri thức Broadbent viết rằng “ tri thức được làm phong phú hơn bởi thông tin với những sâu xa trong ngữ cảnh của nó thể hiện thông tin và tri thức liên hệ chặt chẽ như thế nào và chúng được sử dụng để đinh nghĩa lẫn nhau như thế nào Nhìn vào tri thức từ khía cạnh quản lí, Broadbent xem tri thức như là cái mà một vài người biết và cô

ấy nói răng nó trở thành tri thức tổ chức khi có những quá trình ở những chỗ để chuyển tri thức ngụ ý sang tri thức rõ ràng, cho phép những người khác trong tổ chức sử dụng

nó để tạo ra một quyết định

Buckland xem xét thông tin như là một thuật ngữ có phần mơ hồ, nhưng bằng cách nhận biết thông tin được sử dụng như thế nào, ông ấy làm sáng tỏ những lĩnh vực khác nhau của thông tin và cung cấp một cửa sổ vào phong cảnh dùng chung của thông tin và tri thức Buckland chia thông tin thành 3 đơn vị nhận thức chủ yếu: thông tin như

là qui trình, thông tin như là tri thức và thông tin như là một vật Ông ấy nói, một đặc điểm của thông tin như là tri thức là không thể sờ thấy được Do đó, “ Tri thức, tín ngưỡng và ý kiến là khách quan, chủ quan và dựa trên các khái niệm Vì vậy, để giao tiếp với chúng, chúng phải được biểu diễn, được mô tả, hoặc được đại diện trong một vài phương pháp vật lí như là tín hiệu, văn bản hoặc sự giao tiếp Ở đây Buckland phát huy sự tập trung vào sự hiểu biết rằng tri thức giao tiếp là một quá trình chính nhưng để nắm bắt và chia sẻ tri thức một cách tiện dụng, những đại diện của nó thường được đặt trong một nơi lưu trữ và hệ thống phục hồi Những mục hoặc những vật mà đại diện cho tri thwusc trong những hệ thống này được biết đến như những tri thức nhân tạo hoặc những đơn vị tri thức Cũng như một nhà khoa học thông tin Buckland tạo ra một cách

có cơ sở cho sự phụ thuộc lẫn nhau của thông tin và tri thức và sự khác biệt giữa vật và quá trình

Sau đó, như ta đã thấy, tri thức liên quan đến hành động hoặc quá trình, Davenport và Prusak trang cãi rằng một lí do khiến tri thức có giá trị hơn dữ liệu hoặc thông tin là vì nó gắn bó chặt chẽ với hành động Trong cơ cấu tham khảo, hành động có nghĩa là những quyết định hoặc sự chuyển động được đảm nhận bởi tri thức có sẵn Đối với Davenport và Prusak, nhà lý luận về quản trị, tri thức bao gồm kinh nghiệm của một người, chân lý, sự phán đoán, và những qui luật hình ảnh, nhưng trong tất cả các trường hợp, ý kiến là tri thức phản ánh một bản chất tích cực Trong công trình trích dẫn thường kì, Davenport và Prusak định nghĩa tri thức như là một hỗn hợp dễ thay dổi của

Ngày đăng: 31/12/2013, 11:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình trên đại diện cho tính liên tục của tri thức,  minh họa bằng cách nào tri thức  chưa hiện hữu và tri thức đã hiện hữu tương tác với nhau thông qua các tiến trình bên  trong và bên ngoài giữa các cá nhân trong 1 tổ chức. - QUẢN TRỊ TRI THỨC và bản CHẤT ĐỘNG của TRI THỨC
Hình tr ên đại diện cho tính liên tục của tri thức, minh họa bằng cách nào tri thức chưa hiện hữu và tri thức đã hiện hữu tương tác với nhau thông qua các tiến trình bên trong và bên ngoài giữa các cá nhân trong 1 tổ chức (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w