1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện chứng giữa lực lượng sản và quan hệ sản xuất trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở việt nam gắn với phát triển kinh tế tri thức hiện nay

96 2,2K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện Chứng Giữa Lực Lượng Sản Xuất Và Quan Hệ Sản Xuất Trong Thời Kỳ Đẩy Mạnh Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Ở Việt Nam Gắn Với Phát Triển Kinh Tế Tri Thức Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Học
Thể loại Luận Văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 721,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã chỉ ra rằng, sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữa các yếu tố cấu thành quan hệ sản

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Lịch sử loài người không gì khác hơn là lịch sử phát sinh, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội Sự thay thế một hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác thường được thực hiện thông qua một cuộc cách mạng xã hội Nguyên nhân sâu xa của cuộc cách mạng đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mâu thuẫn này sớm hay muộn cũng sẽ được giải quyết nhằm xoá bỏ quan hệ sản xuất, thiết lập quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Vì thế, quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản, xuyên suốt, bao trùm toàn bộ lịch sử vận động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp lên cao Đây là nền tảng lý luận và phương pháp luận để giải thích các quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người

Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã chỉ ra rằng, sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữa các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất, giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ đem lại những phương thức liên kết có hiệu quả cao giữa người lao động với tư liệu sản xuất, thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội

Việt Nam tiến hành thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với xu thế của thời đại, phù hợp thực tiễn cách mạng Việt Nam, phù hợp với khát vọng của nhân dân Việt Nam, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ

Chí Minh Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến

bộ phù hợp” [4, tr.70] Để thực hiện được điều này thì phương hướng cơ bản đầu tiên của nước ta trong giai đoạn hiện nay là: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường” [4, tr.72]

Trang 2

Lịch sử phát triển xã hội loài người đã từng chứng kiến một bước ngoặt về tốc

độ phát triển kinh tế, về trình độ của lực lượng sản xuất thế giới Bước ngoặt mang tính cách mạng đó được tạo ra sau cuộc cách mạng công nghiệp (diễn ra đầu tiên ở Anh), từ đó, một dòng thác công nghiệp hóa đã lan nhanh cả bề sâu và bề rộng trên toàn thế giới Rất nhiều quốc gia đã trở thành cường quốc trên thế giới nhờ tiến hành thành công quá trình công nghiệp hóa Nhiều quốc gia khác đã “đuổi kịp” các nước phát triển, đưa đất nước thóat khỏi nghèo nàn, lạc hậu khi tiến hành thành công quá trình công nghiệp hóa Vì thế, tiến hành công nghiệp hóa là sự lựa chọn hàng đầu của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam

Hiện nay, thế giới đang chuyển từ giai đoạn văn minh công nghiệp sang văn minh hậu công nghiệp Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, đã và đang tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật của một nền kinh tế phát triển cao hơn hẳn nền kinh tế công nghiệp được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau như: kinh

tế số hóa, kinh tế thông tin, kinh tế tri thức Cùng với nó là quá trình toàn cầu hóa

và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra như là một trong những xu thế phát triển tất yếu của quan hệ quốc tế hiện đại và không một quốc gia nào có thể tránh khỏi sự ảnh hưởng mạnh mẽ của nó

Trong bối cảnh đó, vấn đề phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, sớm đưa đất nước đạt tới trình độ phát triển đồng đều với các nền kinh tế khu vực và thế giới là sự quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước và của cả dân tộc Việt Nam Muốn vậy, công nghiệp hóa nhất thiết phải được tiến hành đồng thời với quá trình hiện đại hóa, gắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với quá trình phát triển của nền kinh tế tri thức trên thế giới nhằm mục tiêu vừa phát triển nhanh và bền vững, Đó cũng là con đường duy nhất giúp chúng

ta “rút ngắn thời gian”, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Chính vì vậy, phương hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức của Đảng và Nhà nước là phù hợp với thực tiễn đất nước

và hoàn cảnh quốc tế Xét dưới góc độ lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, quá

Trang 3

trình này sẽ góp phần phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay đặc biệt là nguồn lực con người và công cụ sản xuất, từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động và cải thiện đời sống nhân dân

Sau 20 năm thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, và

10 năm tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm sau tăng cao hơn năm trước; kinh tế vĩ mô tương đối ổn định, các quan hệ và cân đối chủ yếu trong nền kinh tế được cải thiện việc huy động các nguồn nội lực và ngoại lực cho phát triển có chuyển biến tích cực Tổng vốn đầu tư vào nền kinh tế tăng nhanh đã làm tăng đáng kể năng lực sản xuất kinh doanh, tạo nhiều sản phẩm có sự cạnh tranh, hoàn thành và đưa vào sử dụng nhiều công trình lớn về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tăng cường tiềm lực

và cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền kinh tế

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vẫn còn nhiều hạn chế, khuyết điểm Chính

vì thế, việc tiếp tục nghiên cứu và vận dụng đúng đắn, sáng tạo nguyên lý mácxít về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất vào thực tiễn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong hoàn cảnh mới vẫn là một vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, tiến hành thành công công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

Với tính cấp thiết đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam gắn với phát triển kinh tế tri thức hiện nay” để làm luận văn thạc sĩ triết

học của mình

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI

Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất với đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Trong đó có một số công trình, tác phẩm có liên quan đến đề tài như sau:

Trang 4

“Mấy vấn đề về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ ở nước ta” của Nguyễn Đăng Quang (Tạp chí Giáo dục luận,

số 5 - 1987); “Mấy suy nghĩ về vai trò và sự tác động của các yếu tố trong quan hệ sản xuất với sự phát triển của lực lượng sản xuất” của TS.Nguyễn Văn Thức (Tạp chí Triết học, số 3 - 1987); “Biện chứng về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất trong thực tiễn cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nước ta” của PGS.TS.Nguyễn Tĩnh Gia (Tạp chí Triết học, số 1 - 1988); “Tìm hiểu khái niệm lực lượng sản xuất” của TS.Hồ Anh Dũng (Tạp chí Triết học, số 4 - 1993); “Tìm hiểu tư tưởng của C.Mác và Ph.Ănghen về quy luật phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất” của Trương Hữu Toàn (Tạp chí Triết học, số 3 - 1994); “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam và các nước trong khu vực” của Phạm Khiêm Ích và Nguyễn Đình Phan (Nxb Thống kê, Hà Nội, 1994); “Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội - cơ sở lý luận của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của PGS.TS.Nguyễn Thế Nghĩa (Tạp chí Cộng sản, số 1, tháng 1 - 1997); “Xây dựng quan hệ sản xuất trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Phan Thanh Phố (Tạp chí Cộng sản, số 2 -1998); “Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và quá trình đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” (Trường Đại học Khoa học Huế, Khoa Mác - Lênin, 1998); “Nền kinh tế tri thức: Nhận thức

và hành động” của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (Nxb Thống kê,

Hà Nội, 2000); “Tìm hiểu một số khái niệm trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng” của Vũ Hữu Ngoạn (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); “Giáo trình Triết học Mác - Lênin” của Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn (Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội 2002); “Chủ nghĩa Mác - Lênin và công cuộc đổi mới ở Việt Nam” của PGS.TS.Đặng Hữu Toàn (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002); “Phát triển kinh tế tri thức rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của GS.TS.Đặng Hữu (Tạp chí cộng sản, số 22 - 2002); “Vai trò nền tảng, động lực của khoa học và công nghệ đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển xã hội ở Việt Nam” của PGS.TS.Phạm Thị Ngọc Trầm (Tạp chí Triết học, số 7 - 2002); “Một số định hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam giai đoạn 2001 -

Trang 5

2010” của Nguyễn Xuân Dũng (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002); “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - Phát thảo lộ trình” của TS.Trần Đình Thiên (Nxb Chính trị quốc gia, 2002); “Kinh tế tri thức - xét từ góc độ lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất” của Phạm Ngọc Quang (Tạp chí Triết học, số 3 - 2003); “Học thuyết Mác với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2003); “Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Đoàn Quang Thọ (Tạp chí Triết học, số 3 - 2003); “Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực với đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của TS.Nguyễn Đình Hoà (Tạp chí Triết học, số 1 - 2004); “Kinh tế tri thức - thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam” của GS.Đặng Hữu (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004); “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - Phát thảo lộ trình” của Trần Đình Thêm (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004); “Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội và lý luận về con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở nước ta” của TS Phạm Văn Chung (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2005);

“Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ X” của Ban tư tưởng - văn hóa Trung ương (Nxb Chính trị quốc gia, 2006); “Thời đại kinh tế tri thức - cơ hội và thách thức đặt ra đối với các nước đang phát triển” của PGS.TS.Phí Mạnh Hồng (Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 2 - 2006); “Quan điểm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức - Bước phát triển mới trong đường lối tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đảng ta” của ThS Lê Ngọc Anh (Tạp chí Triết học, số 12 - 2006); “Học thuyết hình thái kinh

tế - xã hội và cuộc thử nghiệm trong thế kỷ XX” của Nguyễn Chí Dũng (Tạp chí triết học , số 1 - 2008); “Xây dựng và phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực con người trong công cuộc đối mới ở Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt (Tạp chí Triết học, số 6 - 2006); “Luận điểm khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của C.Mác và vấn đề phát triển kinh tế tri thức hiện nay” của PGS.TS Phạm Thị Ngọc Trầm (Tạp chí triết học, số 8 - 2008);

“Đổi mới tư duy của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của TS.Lê Quang Phi (Nxb Chính trị quốc gia, 2008);“Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ

Trang 6

sản xuất trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Thừa Thiên Huế (Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tuấn Ngọc, bảo vệ tại trường Đại học khoa học Huế năm 2008);“Học thuyết Mác và vấn đề hoàn thiện các yếu tố của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay” của PGS.TS.Nguyễn Hữu Khiển (Tạp chí triết học, số 5 - 2009); “Xu hướng phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế” của GS Nguyễn Trọng Chuẩn (Tạp chí Triết học, số 5 - 2009); “Thế nào là một nước công nghiệp” của GS.Đỗ Quốc Sam (Tạp chí Cộng sản, số 5 - 2009); “Một số rào cản đối với việc phát huy tính sáng tạo của con người Việt Nam trong yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” của PGS.TS Nguyễn Văn Hoà (Tạp chí Triết học, số 2- 2010); “Kinh tế tri thức và thực hiện phát triển kinh tế tri thức ở nước ta” của GS.TS.Trần Ngọc Hiên (Tạp chí Cộng sản, số 8 - 2010);“Tri thức khoa học - vốn và hàng hóa quý hiếm trong thị trường kinh tế tri thức” của GS.TS Dương Phú Hiệp (Tạp chí triết học, số 10 - 2010); “Luận điểm

“Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp” của C.Mác và sự vận dụng ở nước ta hiện nay” của TS.Trần Đắc Hiến (Tạp chí triết học, số 1 - 2011); “Công nghiệp hóa theo hướng hiện đại và sự phát triển bền vững” của GS.TS.Nguyễn

cho quá trình thực hiện đề tài luận văn: “Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam gắn với phát triển kinh tế tri thức hiện nay”

Trang 7

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là một trong những cơ sở khoa học đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và việc xây dựng phương hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức giai đoạn 2011 - 2015 Để đạt được mục đích này, nhiệm vụ của luận văn sẽ là:

- Phân tích và làm sáng tỏ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan

hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

- Trên cơ sở mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất vạch rõ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay là một tất yếu khách quan

- Làm rõ định hướng, giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Từ mục đích và nhiệm vụ của đề tài đã quy định đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là:

- Phương thức sản xuất vật chất và công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức hiện nay

- Vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay

5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý, những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phương thức sản xuất; về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức; về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ và văn minh; về đổi mới hệ thống chính trị, phát huy dân

Trang 8

chủ; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; về nguồn lực con người; về nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; về nâng cao sức chiến đấu của Đảng

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cùng các phương pháp chủ yếu để nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, so sánh và hệ thống hóa nhằm làm sáng tỏ biện chứng của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay

6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Từ mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, luận văn sẽ làm sáng tỏ cơ sở khoa học của việc tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam; vạch rõ định hướng và giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta giai đoạn 2011 - 2015

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương và 6 tiết

Chương 1: Phương thức sản xuất vật chất và công nghiệp hóa, hiện đại hóa

gắn với phát triển kinh tế tri thức hiện nay

1.1 Phương thức sản xuất

1.2 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.3 Kinh tế tri thức

Chương 2: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát

triển kinh tế tri thức hiện nay

2.1 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là cơ sở khoa học của đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức 2.2 Những điều kiện ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay

2.3 Thực trạng, định hướng và giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015

Trang 9

CHƯƠNG 1 PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT VẬT CHẤT

VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC HIỆN NAY

1.1 Phương thức sản xuất và quy luật vận động của nó

1.1.1 Khái niệm phương thức sản xuất

Con người và xã hội loài người được hình thành và phát triển trong quá trình sản xuất vật chất Lịch sử xã hội, do vậy trước hết là lịch sử của sản xuất vật chất

Vì vậy, khi nghiên cứu các hiện tượng xã hội, sản xuất của cải vật chất (sản xuất vật chất) là điểm xuất phát để tìm ra các quy luật vận động, phát triển khách quan của

xã hội

Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên để cải biến các dạng vật chất của tự nhiên thành của cải phục vụ cho đời sống xã hội Đây là hoạt động nền tảng, cơ bản và có ý nghĩa quyết định đối với

sự phát triển và tồn tại của xã hội, là cái khác biệt căn bản giữa con người và động vật, là tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại và phát triển của con người Trong quá trình sản xuất vật chất con người tạo ra tư liệu sinh hoạt nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển mình, đồng thời sáng tạo ra toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội với tất

cả sự phong phú và phức tạp của nó Chính trong quá trình này, con người đã từng bước làm biến đổi tự nhiên, biến đổi xã hội và biến đổi chính bản thân mình

Để giải quyết đúng đắn các vấn đề của đời sống xã hội thì cần phải tìm nguyên nhân cuối cùng của nó từ tình trạng phát triển của nền sản xuất vật chất của xã hội

đó mà căn bản là từ trình độ phát triển của phương thức sản xuất của nó - cái quyết định toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội của một xã hội nhất định

Với tính cách là phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương thức sản xuất

là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn nhất định của xã hội loài người Tương ứng với mỗi cách thức đó, trong lịch sử xã hội sẽ

hình thành nên những tính chất, kết cấu và đặc điểm tương ứng về mặt lịch sử

Trang 10

Và “phương thức mà con người sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho mình phụ thuộc trước hết vào tính chất của chính những tư liệu sinh hoạt mà con người thấy có sẵn và phải tái sản xuất ra” [18, tr.67] Nên, C.Mác đã viết:

“Không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấy một cách đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá nhân Mà hơn thế, nó là một phương thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của hoạt động sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ Hoạt động sống của họ như thế nào thì họ như thế ấy Do đó họ là như thế nào, điều đó

ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ sản xuất ra cũng như với cách họ sản xuất Do đó, những cá nhân là như thế nào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sự sản xuất của họ” [18, tr.67]

Vì thế, dựa vào phương thức sản xuất đặc trưng của mỗi thời đại lịch sử, người

ta có thể phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau, hiểu thời đại lịch sử đó thuộc về hình thái kinh tế - xã hội nào

Đối với sự vận động của lịch sử loài người cũng như sự vận động của mỗi xã hội cụ thể, sự thay đổi về phương thức sản xuất bao giờ cũng là sự thay đổi có tính chất cách mạng Trong sự thay đổi đó, các quá trình kinh tế, xã hội được chuyển sang một chất mới Và sự thay thế hợp quy luật khách quan của các phương thức sản xuất tạo nên quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên

Phương thức sản xuất là cách thức mà con người làm ra của cải vật chất cho

xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định Theo cách đó, con người có những quan hệ với tự nhiên và quan hệ với nhau trong sản xuất; hay nói cách khác, phương thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định với quan hệ sản xuất tương ứng Hai mặt này được hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất vật chất, có sự tác động qua lại lẫn nhau, được C.Mác gọi là “quan hệ song trùng” của bản thân sự sản xuất xã hội

Trong đó, lực lượng sản xuất là toàn bộ các lực lượng được con người sử dụng trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan

Trang 11

hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất Nó thể hiện năng lực hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất

Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với kỹ năng lao động của họ và

tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động Trong quá trình sản xuất, lao động của con người và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động kết hợp với nhau tạo thành lực lượng sản xuất

Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất thì con người - người lao động giữ vị trí hàng đầu và quyết định Người lao động cùng với sức lao động (thể lực và trí lực) thông qua hoạt động lao động tạo nên sức mạnh vật chất tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên nhằm phục vụ cho nhu cầu của bản thân và của toàn xã hội Đồng thời, cải biến chính bản thân con người và các quan hệ giữa con người với con người Qua đó, con người đã “tự nhân đôi mình lên một cách tích cực, một cách hiện thực” [10, tr.120], tự khẳng định và thể hiện vai trò của mình trong sự phát triển xã hội, từ đó tạo nên bước chuyển quan trọng của mình là trở thành con người theo đúng nghĩa của nó

Chính vì vậy, Ph.Ănghen khẳng định: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người” [12, tr.641] V.I.Lênin đã khẳng định: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là người công nhân,là người lao động”

[30, tr.430]

Trong lao động, con người không ngừng phát triển năng lực nhận thức và tư duy của mình, sức mạnh và kỹ năng lao động thần kinh - cơ bắp vì thế được nhân lên gấp nhiều lần Lao động của con người do đó ngày càng trở thành lao động có trí tuệ và lao động trí tuệ Hàm lượng trí tuệ trong lao động, đặc biệt trong điều kiện khoa học - công nghệ phát triển vượt bậc, nền kinh tế tri thức đang hình thành và phát triển mạnh mẽ như hiện nay, đã làm cho con người trở thành nguồn lực đặc biệt của sản xuất, là nguồn lực cơ bản, nguồn lực vô tận, giữ vai trò quyết định trong sự phát triển của nền sản xuất xã hội

Vì thế, sự phát triển của mỗi quốc gia, xét đến cùng, đều phụ thuộc vào sức mạnh của nguồn lực con người Nếu sức mạnh ấy được nuôi dưỡng, khơi dậy và

Trang 12

phát huy tốt thì đó chính là nền tảng sức mạnh của mỗi quốc gia Do vậy, muốn thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức thì một trong những đột phá mang tính chiến lược hiện nay là phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao

Trong cấu trúc của lực lượng sản xuất, con người không chỉ là một bộ phận cấu thành cơ bản mà hơn thế, còn đóng vai trò đặc biệt quan trọng - kết nối các yếu

tố cấu thành lực lượng sản xuất với nhau để chúng có thể phát huy tác dụng một cách có hiệu quả nhất

Yếu tố đầu tiên có sự liên kết chặt chẽ với người lao động là tư liệu sản xuất - tổng thể những yếu tố vật chất của quá trình lao động Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động

Tư liệu lao động là một vật hay toàn bộ những vật mà người lao động dùng để tác động vào đối tượng lao động nhằm sản xuất ra của cải vật chất Tư liệu lao động

là một trong những yếu tố giản đơn, cần thiết của quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất Tư liệu lao động bao gồm: Loại truyền dẫn hoạt động lao động của con người tới đối tượng lao động hay còn gọi là công cụ lao động; loại chứa đựng nguyên, nhiên, vật liệu, nửa thành phẩm, thành phẩm; những điều kiện vật chất tuy không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nhưng cũng chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình sản xuất (kho tàng, bến bãi )

Trong toàn bộ các thành tố cấu thành tư liệu lao động, công cụ lao động đóng vai trò quan trọng nhất và là một thành tố cơ bản của lực lượng sản xuất Mọi công

cụ sản xuất đều có ba bộ phận: động lực, truyền lực và công tác

Bộ phận công tác (còn gọi là bộ phận chấp hành hay tác động) trực tiếp tác động lên đối tượng lao động để làm ra sản phẩm Bộ phận truyền lực truyền năng lượng từ nguồn động lực đến bộ phận công tác Ở công cụ sản xuất thủ công, nguồn động lực là do sức cơ bắp của người lao động, còn bàn tay trực tiếp làm bộ phận công tác chuyển động Nếu bộ phận công tác giao cho máy thực hiện - gọi là máy công tác, thì ta có công cụ nửa cơ khí Khi nguồn động lực cũng do máy cung cấp thì đó là công cụ cơ khí Trong công cụ thủ công và cơ khí, cũng như các công cụ

Trang 13

được sản xuất ra nhờ ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại, việc điều khiển công cụ sản xuất hoạt động đều do người lao động đảm nhận

Công cụ lao động là “khí quan của bộ óc con người”, “là sức mạnh tri thức đã được vật thể hóa”, có tác dụng “nối dài bàn tay” và nhân lên sức mạnh trí tuệ của con người Nhờ có công cụ lao động mà người lao động có thể tác động trực tiếp đến đối tượng lao động, chế biến nó trong quá trình sản xuất Công cụ lao động có vai trò quyết định trong sản xuất Mức độ và trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo khả năng chi phối tự nhiên của con người Từ công cụ bằng đá thô

sơ đến những máy tự động phức tạp nhất hiện nay là con đường phát triển của công

cụ lao động mà con người đã thực hiện trong lịch sử sinh tồn của mình Chính sự chuyển đổi, cải tiến và hoàn thiện không ngừng của nó đã gây ra sự biến đối sâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất Xét đến cùng, nó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến cải xã hội

Nên để thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, để hoàn thành nội dung cơ khí hóa các ngành của nền kinh tế quốc dân, chúng ta cần chú trọng đến việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ vào cải tiến công cụ lao động, góp phần cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đạt tới năng suất lao động cao Muốn vậy, công nghiệp hóa phải đi liền với hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức Đây cũng là con đường phát triển tất yếu, khách quan của cách mạng nước ta trong giai đoạn hiện nay

Bên cạnh đó, công cụ lao động còn là dấu hiệu vạch rõ những quan hệ xã hội trong đó lao động được tiến hành Vì thế C.Mác đã khẳng định: “Đối với việc nghiên cứu những hình thái kinh tế của các xã hội đã qua, những di vật của những

tư liệu lao động cũng có một tầm quan trọng như sự cấu tạo của những xương hóa thạch đối với việc tìm hiểu tổ chức của các chủng loại đã tiêu vong” [9, tr.187]

Để tiến hành quá trình sản xuất vật chất, đối tượng lao động là một yếu tố không thể thiếu Đối tượng lao động là toàn bộ những vật mà trong quá trình lao động con người tác động vào bằng công cụ lao động để sản xuất ra của cải vật chất Đối tượng lao động có hai loại: Loại thứ nhất có sẵn trong tự nhiên như các khoáng

Trang 14

sản, đất, đá, thủy sản Loại thứ hai đã qua chế biến nghĩa là đã có sự tác động của lao động trước đó, ví dụ như thép phôi, sợi dệt, bông

Chính sự phong phú và đa dạng của đối tượng lao động là điều kiện vật chất quan trọng của quá trình sản xuất vật chất Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, những nguồn tài nguyên thiên nhiên mà tạo hóa đã ban cho loài người đang ngày một cạn kiệt dần Dù ai cũng biết, quốc gia nào cũng biết, vận mệnh của cả loài người, của từng quốc gia gắn liền với vận mệnh của những nguồn tài nguyên đó Vì thế, Việt Nam muốn phát triển nhanh và bền vững, cần gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với bảo vệ tài nguyên môi trường, khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái Phát triển nền kinh tế tri thức, ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại, phát hiện và sáng tạo ra nhiều đối tượng lao động mới, những nguyên liệu mới, phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tạo ra nhiều giá trị sử dụng mới, đáp ứng thỏa mãn nhu cầu xã hội ngày càng tốt hơn, giảm bớt việc khai thác các đối tượng lao động có sẵn trong tự nhiên

Một bộ phận nữa có vị trí quan trong trong lực lượng sản xuất là khoa học và

công nghệ C.Mác đã từng khẳng định: Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp với điều kiện khoa học được con người vận dụng và thông qua hành động của

con người đến mức độ nào đó hay khoa học phải tồn tại dưới dạng lao động vật hóa thành máy móc thì lúc đó nó mới trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Điều này được C.Mác viết trong “Tư bản”: “Có một lực lượng sản xuất khác mà tư bản không mất một khoản chi phí nào, đó là sức mạnh của khoa học Nhưng tư bản chỉ có thể chiếm hữu được sử dụng sức mạnh ấy của khoa học bằng cách sử dụng máy móc (phần nào cả trong quá trình hóa học) Sự gia tăng dân số là một lực lượng sản xuất

mà tư bản có được không phải chi phí gì cả Nhưng vì để có thể sử dụng được trong quá trình sản xuất trực tiếp, bản thân những lực lượng ấy cần đến một bản thể

do lao động tạo ra, nghĩa là tồn tại dưới dạng lao động vật hóa” [15, tr.483-484] Nói cách khác, khoa học phải được vật hóa trong đối tượng lao động, trong công cụ lao động mới có thể trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp”

Trang 15

Tuy nhiên, công cụ lao động dù hiện đại đến thế nào vẫn chỉ là những “vật chết” nếu không có con người sử dụng nó C.Mác viết: “Máy móc không dùng trong quá trình lao động thì trở thành vô ích Hơn nữa nó còn chịu tác dụng phá hoại của

sự trao đổi chất tự nhiên Lao động sống cần nắm lấy những vật ấy, làm cho chúng

từ chỗ chết thành sống, biến chúng từ chỗ chỉ là những giá trị sử dụng có tính chất khả năng thành những giá trị sử dụng thực tế” [9, tr.190]

Ngày nay, luận điểm này của C.Mác đã trở thành hiện thực Sự ra đời, phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và nền kinh tế tri thức là những minh chứng sống động nhất, toàn diện nhất và đúng đắn nhất Nền kinh tế mới này đòi hỏi khoa học phải tham gia vào quá trình sản xuất một cách tích cực, chủ động, phải nhanh chóng vật hóa tri thức khoa học trở thành những công cụ sản xuất mới, và trực tiếp tham gia vào các quá trình sản xuất, giải quyết những vấn đề bức xúc do thực tiễn sản xuất và thực tiễn xã hội đặt ra Và như thế là khoa học đã góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, qua đó khoa học cũng phát triển theo

Thực tiễn cho thấy, nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển trên thế giới chủ yếu dựa vào tri thức khoa học và các tiến bộ khoa học và công nghệ Trong điều kiện hiện nay, bất kỳ quốc gia nào muốn trở thành nước phát triển, nước hiện đại thì không thể không chú trọng hàng đầu vấn đề này Như vậy, để tiến hành thành công quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, phát triển mạnh khoa học học và công nghệ là một tất yếu khách quan Để phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế, nâng cao năng suất lao động

Các yếu tố của lực lượng sản xuất quan hệ hữu cơ với nhau trong đó người lao động và công cụ lao động là hai yếu tố cơ bản nhất Trên cơ sở sự thống nhất biện chứng giữa các yếu tố cấu thành nên nó, lực lượng sản xuất là kết quả khách quan

của hoạt động thực tiễn của con người, được hình thành trong lao động và biến đổi cùng lao động Đồng thời, lực lượng sản xuất biểu hiện năng lực thực tiễn của con

người trong quá trình chinh phục tự nhiên vì nhu cầu của con người, là thước đo quan trọng của sự tiến bộ xã hội

Trang 16

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đã thúc đẩy quá trình phân công lao động

xã hội Đồng thời mỗi bước tiến của sự phân công lao động xã hội lại có tác dụng thúc đẩy lực lượng sản xuất của xã hội phát triển Lực lượng sản xuất của xã hội phát triển cùng với nó là sự cải tiến không ngừng công cụ lao động, tư liệu sản xuất

mở rộng, đối tượng lao động ngày càng đa dạng lại thúc đẩy phân công lao động phát triển, năng suất lao động xã hội cao Theo C.Mác, “những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào” [14, tr.269]

Điều này cho thấy rằng, việc tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam là yêu cầu phát triển khách quan của lực lượng sản xuất, để nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất, nâng cao năng

suất lao động, nâng cao được trình độ kinh tế - kỹ thuật, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền sản xuất xã hội Muốn thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải chú trọng vào xây dựng, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người - nhân tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất, áp dụng những thành tựu khoa học - công nghệ vào quá trình sản xuất, cải tiến công cụ lao động, gắn với đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển nhanh và bền vững Lực lượng sản xuất là nhân tố cơ bản, tất yếu tạo thành nội dung vật chất của quá trình sản xuất; không một quá trình sản xuất hiện thực nào có thể diễn ra nếu thiếu một trong hai nhân tố là người lao động và tư liệu sản xuất Tuy nhiên, chỉ

có lực lượng sản xuất vẫn chưa thể diễn ra quá trình sản xuất hiện thực được bởi

“trong sản xuất, người ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên Người ta không thể sản xuất nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và

để trao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất được người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất, chỉ diễn ra trong khuôn khổ những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó” [17, tr.552] Những quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất được gọi là quan hệ sản xuất, một mặt khác của phương thức sản xuất

Trang 17

Trong hệ thống các quan hệ xã hội hết sức phức tạp, quan hệ sản xuất hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất, là quan hệ cơ bản của xã hội, là

cơ sở của các quan hệ xã hội khác Quan hệ sản xuất bao gồm: các quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất; các quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất; các quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động

Trong đó, quan hệ sở hữu là quan hệ cơ bản, xuất phát, trung tâm của các quan

hệ sản xuất; là quan hệ quy định tính chất của quan hệ sản xuất và từ đó quy định luôn đặc trưng của một phương thức sản xuất nhất định Sở hữu được hình thành từ

sự chiếm hữu đối tượng để tiến hành sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người Sở hữu biểu hiện mối quan hệ giữa tập đoàn người này với tập đoàn người khác trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tư liệu sản xuất xã hội trong nền sản xuất xã hội mang tính chỉnh thể

Lịch sử phát triển xã hội loài người tồn tại hai hình thức sở hữu cơ bản đối với

tư liệu sản xuất: sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng Sở hữu tư nhân trao quyền quyết định về quyền chiếm hữu và quyền buộc người khác phải phục tùng những quy định do mình đưa ra vào tay một số ít người nắm trong tay tư liệu sản xuất xã hội Số ít người đó có “quyền tự do chi phối sức lao động của người khác” [18, tr.86], quyền chiếm lấy hầu hết của cải xã hội, còn phần đông những người khác không có tư liệu sản xuất Các quan hệ xã hội, do vậy, trở thành bất bình đẳng Đối lập với sở hữu tư nhân, sở hữu công cộng là loại hình sở hữu mà trong đó

tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên trong cộng đồng, là tài sản chung của cả cộng đồng Hình thức sở hữu này tồn tại trong chế độ công xã nguyên thủy và chế

độ cộng sản chủ nghĩa với hai trình độ khác nhau Chế độ sở hữu trong xã hội cộng sản chủ nghĩa được thực hiện ở giai đoạn mà lao động trở thành nhu cầu của mỗi người và sự phát triển của các cá nhân thành những cá nhân hoàn chỉnh với sự xóa

bỏ tính tự phát và các cá nhân “liên hợp” chiếm hữu “tổng thể những lực lượng sản xuất”, lúc này chế độ tư hữu bị thủ tiêu

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta được tiến hành gắn với quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã

Trang 18

hội chủ nghĩa Về sở hữu, vẫn sẽ phát triển theo hướng còn tồn tại các hình thức sở hữu khác nhau, nhiều thành phần kinh tế khác nhau Các hình thức sở hữu hỗn hợp đan kết với nhau hình thành nên các tổ chức kinh tế đa dạng Tuy nhiên, việc xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất cũng như việc xóa bỏ chế độ tư hữu một cách phù hợp được quan tâm hàng đầu, vì đây là nhiệm vụ quyết định tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển kinh tế đất nước

Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định quan hệ giữa từng tập đoàn về mặt tổ chức và quản lý quá trình sản xuất và quyết định luôn phương thức phân phối sản phẩm cho các tập đoàn người theo địa vị của họ đối với hệ thống sản xuất xã hội Bên cạnh đó, quan hệ tổ chức quản lý sản xuất với vai trò đặc thù của nó quyết định tính hiệu quả của việc kết hợp các nguồn lực vật chất trong sản xuất, từ đó hình thành nên cơ cấu sản xuất hợp lý từ đó quyết định quy mô, tốc độ, xu hướng của một nền sản xuất cụ thể Do đó, nó có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm các quá trình khách quan của sản xuất Việc thực hiện tốt và sử dụng hợp lý các quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất, vì thế, sẽ cho phép toàn bộ hệ thống quan hệ sản xuất vươn tới tối

ưu Và ngược lại, các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội

Thế nên, trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chúng ta cần hoàn thiện quan hệ quản lý, điều hành sản xuất theo hướng phù hợp và tiến bộ Hình thành quan hệ tổ chức, quản lý trên cơ sở luật pháp xã hội chủ nghĩa

Về vĩ mô, nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà nước, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện tốt nhất để nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, kế hoạch, chính sách đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý kinh

tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy tính tích cực

và hạn chế những mặt tiêu cực, khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của người lao động và toàn thể nhân dân

Thành tố thứ ba cấu thành quan hệ sản xuất là quan hệ phân phối về mặt sản phẩm lao động Quan hệ này có sự tác động trực tiếp vào người lao động về mặt lợi

Trang 19

ích Xét cho cùng lợi ích, mà chủ yếu là lợi ích kinh tế, là động lực sâu xa thúc đẩy con người hoạt động vì thế nó cũng là một trong những động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, xã hội phát triển Nên dù quan hệ phân phối chịu sự quy định của quan

hệ sở hữu, và phụ thuộc vào quan hệ tổ chức và quản lý nhưng nó có thể là nhân tố góp phần đẩy nhanh tốc độ của quá trình sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống xã hội, và ngược lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất, kìm hãm sự phát triển của xã hội

Ở nước ta, việc giải quyết tốt quan hệ phân phối, thực hiện đa dạng hóa các hình thức phân phối có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức Chúng ta đã nhanh chóng chuyển hướng từ cơ chế bao cấp sang cơ chế phân phối sản phẩm theo lao động và kết hợp các cách phân phối khác (phân phối lại) cũng như thực hiện trao đổi sản phẩm ngang bằng theo cơ chế cung cầu của nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa

“Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội” [4, tr.74] Cơ chế phân phối này vừa tạo động

lực kích thích các chủ thể kinh tế nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời hạn chế những bất công trong xã hội Thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển Đây sẽ là động lực cho việc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay

Vậy là, ba mặt quan hệ cấu thành quan hệ sản xuất thống nhất, gắn bó với nhau tạo thành một hệ thống tương đối ổn định, mỗi mặt của hệ thống đó có vai trò

và ý nghĩa riêng biệt, xác định, khi nó tác động tới nền sản xuất xã hội nói riêng và toàn bộ tiến trình lịch sử nói chung Trong đó, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ chi phối và quyết định các quan hệ còn lại

Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên chỉnh thể toàn vẹn là phương thức sản xuất

Trang 20

1.1.2 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại không tách rời nhau, thống nhất biện chứng với nhau trong phương thức sản xuất nhất định Trong hai mặt đó, lực lượng sản xuất là nội dung, thường xuyên biến đổi, phát triển; quan hệ sản xuất

là hình thức xã hội của sản xuất, tương đối ổn định Sự tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng giữa hai mặt đó tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất - quy luật cơ bản nhất của sự vận động phát triển xã hội

Sự phát triển của lực lượng sản xuất bắt nguồn từ đòi hỏi khách quan của sự phát triển xã hội là phải không ngừng phát triển sản xuất, nâng cao năng suất lao động Nó được đánh dấu bằng trình độ của lực lượng sản xuất Trình độ của lực lượng sản xuất được thể hiện ở: trình độ của công cụ lao động; trình độ tổ chức lao động xã hội; trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất; kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người; trình độ phân công lao động

Trình độ của lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn của lịch sử loài người thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong từng giai đoạn lịch sử đó, nói lên khả năng của con người thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến giới tự nhiên nhằm đảm bảo sự sinh tồn và phát triển của mình Khi con người không ngừng cải tiến và đổi mới công cụ lao động; đồng thời với quá trình đó, trình độ của người lao động cũng không ngừng được nâng cao, phân công lao động xã hội ngày càng sâu, và do đó lực lượng sản xuất không ngừng phát triển Trình độ phát triển của sự phân công lao động thể hiện trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của một quốc gia Bất cứ sức sản xuất mới nào, trong chừng mực không phải chỉ là sự mở rộng đơn thuần về số lượng những lực lượng sản xuất mà người ta biết cho đến lúc đó, mà nó còn mang lại kết quả là sự phát triển hơn nữa của phân công lao động xã hội “Những giai đoạn phát triển khác nhau của phân công lao động cũng đồng thời là những hình thức khác nhau của sở hữu, nghĩa là mỗi giai đoạn của phân công lao động cũng quy định những quan hệ cá nhân với nhau, tùy theo quan hệ của họ với tư liệu lao động, công cụ lao động và sản phẩm lao động” [18, tr.67-68]

Trang 21

Việt Nam bây giờ đã nâng cao được tiềm lực kinh tế, đất nước đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển Tuy nhiên, công tác quy hoạch, kế hoạch và việc huy động, sử dụng các nguồn lực còn hạn chế, kém hiệu quả Khoa học, công nghệ chưa thực sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào yếu tố phát triển theo chiều rộng, dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, năng suất lao động và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế thấp Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, đặc biệt là lực lượng lao động chất lượng cao còn thiếu và yếu chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Để khắc phục được những hạn chế trên, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức Hướng đến

giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ vào quá trình sản xuất; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển Chuyển đổi

mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững

Gắn liền trình độ của lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sản xuất Trên thực tế, tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất không tách biệt nhau mà

nó luôn luôn thống nhất với nhau Chính trình độ của công cụ lao động, trình độ phân công lao động quyết định tính chất của lực lượng sản xuất Khi nền sản xuất được thực hiện với những công cụ ở trình độ thủ công, phân công lao động xã hội kém phát triển, lực lượng sản xuất chủ yếu là mang tính cá nhân Khi sản xuất đạt tới trình độ cơ khí hóa, hiện đại, phân công lao động xã hội phát triển thì lực lượng sản xuất đòi hỏi phải được vận động trong sự hợp tác xã hội rộng rãi trên cơ sở chuyên môn hóa Tính chất tự cấp, tự túc, cô lập của nền sản xuất nhỏ lúc đó phải được thay thế bằng tính chất xã hội hóa

Trong xu thế toàn cầu hóa, cùng những tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, của nền kinh tế tri thức Việt Nam đã và đang

Trang 22

từng bước tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, điều này làm cho lực lượng sản xuất trong nước biến đổi theo hướng xã hội hóa ngày càng sâu sắc Bối cảnh đó đòi hỏi chúng ta phải thay thế mô công nghiệp hóa theo kiểu cũ bằng mô hình công nghiệp hóa kiểu mới, đó là mô hình công nghiệp hóa mở cửa theo hướng hiện đại, gắn với phát triển kinh tế tri thức nhưng vẫn đảm bảo giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc

Lực lượng sản xuất với tư cách là nội dung của quá trình sản xuất là yếu tố động nhất, không ngừng phát triển của nền sản xuất vật chất của xã hội Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, làm cho quan

hệ sản xuất biến đổi phù hợp với trình độ của nó Trạng thái phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất là trạng thái mà ở đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất thống nhất với nhau, tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động và tư liệu sản xuất, và do đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển hết khả năng của nó

Tuy nhiên, quan hệ sản xuất với tư cách là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất thường có khuynh hướng ổn định hơn so với nội dung của nó, là sự phát triển của lực lượng sản xuất Thế nên, sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình

độ nhất định lại làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp Khi đó quan hệ sản xuất trở thành “xiềng xích”, cản trở, ràng buộc, gây khó khăn cho sự phát triển của lực lượng sản xuất Trạng thái mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất sẽ ngày càng gay gắt đòi hỏi phải thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Đồng thời với sự thay thế đó là sự ra đời của phương thức sản xuất mới thay thế cho phương thức sản xuất cũ

Trong xã hội có đối kháng giai cấp, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiện thành mâu thuẫn giữa giai cấp tiến bộ, cách mạng với giai cấp phản cách mạng Khi mâu thuẫn này đã cực kỳ gay gắt, cuộc đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao của nó là cách mạng xã hội nổ ra nhằm thay thế quan hệ sản xuất

cũ bằng quan hệ sản xuất mới Và khi mâu thuẫn đã được giải quyết thì cũng là lúc

Trang 23

trạng thái phù hợp mới được thiết lập Mâu thuẫn được giải quyết đến đâu thì sự phù hợp được xác lập đến đó Khi sự phù hợp đạt được về cơ bản, thì có thể nói đã tạo ra được một sự thống nhất giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất ở một trình độ cao hơn

Tuy lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất bao giờ cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất quy định mục đích sản xuất, tác động đến thái độ của người lao động trong quá trình sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học vào sản xuất và do đó tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất

Khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Ngược lại, quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu, hoặc “tiên tiến” hơn một cách giả tạo so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Theo tính khách quan, quan hệ sản xuất đó sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Như vậy, sự phát triển của lực lượng sản xuất chẳng những do yếu tố nội tại của nó quy định, mà còn do sự tác động của quan hệ sản xuất Sự phù hợp của quan

hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự vận động trong trạng thái mâu thuẫn của nó biểu thị mối quan hệ biện chứng, tất nhiên, mang tính nội tại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Chính mối quan hệ đó đã hình thành nên quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Quy luật này vạch rõ tính chất phụ thuộc khách quan của quan hệ sản xuất vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Chứng minh vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất Đồng thời, khẳng định quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất

Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là mang tính khách quan, tất yếu, cơ bản, và phổ biến của toàn xã hội

Trang 24

Nó là nguồn gốc và động lực cơ bản của sự vận động, phát triển của các phương thức sản xuất, chi phối sự vận động, phát triển của toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại Nhận thức đúng quy luật này là cơ sở quan trọng nhất để giải thích một cách đúng đắn những hiện tượng phong phú, đa dạng diễn ra trong lịch sử xã hội loài người Quy luật này khẳng định vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất, khẳng định sự phát triển của lực lượng sản xuất luôn đi trước và xét cho cùng là nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy sản xuất phát triển, quyết định sự phát triển xã hội Đồng thời nhấn mạnh tính độc lập tương đối, sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất Chính vì vậy trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần thấy được tính tất yếu khách quan đó để vận dụng quy luật vào các hoạt động có mục đích của mình một cách đúng đắn để thúc đẩy sản xuất phát triển, thỏa mãn nhu cầu sống của chính mình cũng như nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội

Đối với nước ta, biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là cơ

sở lý luận vững chắc cho công cuộc đổi mới đất nước Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức là sự vận dụng một cách sáng tạo quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Quá trình đó không chỉ đơn thuần là phát triển lực lượng sản xuất mà còn là quá trình thiết lập, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng

xã hội chủ nghĩa Muốn vậy, chúng ta phải chú trọng xây dựng, phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp, trở thành “địa bàn đầy đủ” cho sự phát triển của lực lượng sản xuất phát triển Để hoàn thành mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành một nước

“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [4, tr.70]

1.2 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.2.1 Công nghiệp hóa

Thực tiễn xã hội đã chỉ rõ để phát triển lực lượng sản xuất, thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kinh tế - xã hội, khai thác tối ưu các nguồn lực và lợi thế, đảm bảo nhịp

độ tăng trưởng nhanh và ổn định, mỗi nước phải xác định cơ cấu kinh tế hợp lý,

Trang 25

trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại cho các ngành kinh tế Ở các nước đang phát triển quá trình ấy gắn liền với quá trình công nghiệp hóa

Trong thực tiễn tiến hành công nghiệp hóa đến nay vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về phạm trù “công nghiệp hóa”

Quan niệm giản đơn nhất về công nghiệp hóa cho rằng: “Công nghiệp hóa là đưa đặc tính công nghiệp cho một hoạt động; trang bị (cho một vùng, một nước) các nhà máy, các loại công nghiệp” [8, tr.48]

Quan niệm này có những mặt chưa hợp lý Trước hết nó không cho thấy mục tiêu của quá trình cần thực hiện Thứ hai, quan niệm này gần như đồng nhất quá trình công nghiệp hóa với quá trình phát triển công nghiệp Thứ ba, quan niệm này không thể hiện được tính lịch sử của quá trình công nghiệp hóa Chính vì vậy, quan niệm này được sử dụng rất hạn chế trong thực tiễn

Trong sách báo kinh tế Liên Xô trước đây tồn tại một định nghĩa phổ biến cho rằng: “Công nghiệp hóa là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với ngành trung tâm là chế tạo máy” [8, tr.49]

Quan niệm này coi phát triển công nghiệp nặng là nội dung cơ bản của công nghiệp hóa Cách hiểu này là hợp lý trong điều kiện của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác ở Đông Âu thời kỳ đó Nhưng sẽ là sai lầm nếu coi đó là quan niệm phổ biến để áp dụng cho tất cả các nước đang phát triển trong giai đoạn hiện nay Năm 1963, Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO) đã đưa ra định nghĩa sau đây: “Công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu nhiều ngành nghề ở trong nước với kỹ thuật hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh

tế phát triển với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ về kinh tế - xã hội” [8, tr.50] Quan niệm này cho thấy quá trình công nghiệp hóa bao trùm quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt tới không chỉ phát triển về mặt kinh tế mà còn cả sự

Trang 26

tiến bộ xã hội Theo quan niệm này, thì ngay tại các nước phát triển quá trình công nghiệp hóa vẫn đang tiếp diễn chứ không phải đã kết thúc Tuy nhiên, định nghĩa này lại quá dài và phức tạp, không mang tính khoa học

Dù có sự khác nhau trong quan niệm về “công nghiệp hóa” nhưng chúng ta có

thể hiểu, “theo nghĩa hẹp, công nghiệp hóa được hiểu là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp (hay tiền công nghiệp) sang nền kinh tế công nghiệp làm chủ đạo, từ chỗ tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm đa số giảm dần và nhường chỗ cho lao động công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn hơn

Theo nghĩa rộng hơn, công nghiệp hóa là quá chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp (hay tiền công nghiệp) sang kinh tế công nghiệp, từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp” [22, tr.54]

Sự khác nhau trong quan niệm về “công nghiệp hóa” là do các quốc gia khác nhau tiến hành công cuộc công nghiệp hóa khác nhau cả về thời gian, hoàn cảnh, lẫn điều kiện trong nước và quốc tế Tính đặc thù của công nghiệp hóa là nó mang bản chất và bị chi phối bởi các quy luật phát triển của thời đại, trong đó công nghiệp hóa diễn ra Trong lịch sử phát triển kinh tế, công nghiệp hóa là một bước chuyển biến đặc thù trong phương thức sản xuất, trong kết cấu kinh tế Vì thế công nghiệp hóa là một phạm trù lịch sử Nó là nội dung vật chất của quá trình chuyển từ kinh tế chậm phát triển sang kinh tế phát triển, hay chuyển từ kinh tế tiểu nông sang kinh tế công nghiệp Nó có bắt đầu và kết thúc [5, tr.22]

Công nghiệp hóa là sản phẩm trực tiếp của cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, diễn ra đầu tiên ở Anh, để từ đó lan tràn ra khắp châu

Âu và vùng đất mới ở Bắc Mỹ Các nền công nghiệp với quy mô lớn được hình thành ở Anh, Mỹ Cuộc cách mạng công nghiệp, quá trình công nghiệp hóa cùng với việc tìm ra Châu Mỹ đã tạo nên một thị trường thế giới thúc đẩy công nghiệp, thương nghiệp, hàng hải phát triển Hàng loạt những cải tiến về công cụ sản xuất ra đời, lực lượng sản xuất được giải phóng và năng suất lao động tăng lên gấp bội lần Thế giới đã trải qua một cuộc đảo lộn ghê gớm từ sau năm 1800 Trung tâm phát triển chuyển hẳn từ châu Á sang châu Âu; cách mạng công nghiệp đã chuyển châu

Âu và Bắc Mỹ trở thành công xưởng của toàn cầu

Trang 27

Kể từ khi hình thành cho đến nay, nhìn chung có thể chia công nghiệp hóa thành hai loại hình lớn:

Loại hình thứ nhất là công nghiệp hóa kiểu truyền thống bao gồm: công

nghiệp hóa cổ điển diễn ra ở các nước phương Tây từ cuối thế kỷ XVIII cho đến giữa thế kỷ XX thì hoàn thành ở một số nước, công nghiệp hóa dựa trên cơ chế kế hoạch hóa tập trung ở một số nước xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ XX và “thế hệ công nghiệp hóa cổ điển cuối cùng” - công nghiệp hóa hướng nội thay thế nhập khẩu ở một số nước dân tộc độc lập cuối thế kỷ XX

Quá trình công nghiệp hóa mà Anh và các nước châu Âu - Bắc Mỹ diễn ra từ cuối thế kỷ XVIII trở đi được thực hiện theo mô hình công nghiệp hóa cổ điển Lịch

sử 200 năm của mô hình công nghiệp hóa cổ điển này đã làm lực lượng sản xuất thế giới phát triển mạnh mẽ, cùng với nó là sự phát triển vũ bão của nền kinh tế thế giới, là sự lớn lên của giai cấp tư sản “đã độc chiếm hẳn được quyền thống trị chính trị trong nước đại nghị hiện đại Chính quyền nhà nước hiện đại chỉ là một uỷ ban quản lý những công việc chung của toàn thể giai cấp tư sản” [5, tr.599]

Và “giai cấp tư sản không thể tồn tại, nếu không luôn luôn cách mạng hóa công cụ sản xuất, do đó cách mạng hóa những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hóa toàn bộ những quan hệ trong xã hội” [13, tr.600-601] Qua đó quan hệ sản xuất

tư bản chủ nghĩa được xác lập ngày càng vững chắc và rộng rãi Nhìn từ góc độ các quan hệ sản xuất, mô hình công nghiệp hóa cổ điển Âu - Mỹ được bắt đầu bằng quá trình tích lũy nguyên thủy tư bản chủ nghĩa đầy máu và nước mắt của những người lao động Mức độ bóc lột lao động ngày càng cao và cực kỳ tàn bạo

Sự thắng lợi của cuộc cách mạng công nghiệp, của quá trình thực hiện mô hình công nghiệp hóa cổ điển đã thay đổi hoàn toàn phương thức sản xuất và kết cấu kinh tế Thực chất đây là sự thắng lợi của tư bản, của sự xác lập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và nền kinh tế thị trường tư bản [5, tr.29] Do đó, mục tiêu ưu tiên hàng đầu, thậm chí được tuyệt đối hóa của mô hình công nghiệp hóa cổ điển là tăng trưởng kinh tế, coi lợi nhuận là động lực duy nhất của sự phát triển Thế nên, dù mô hình này đã đưa lực lượng sản xuất lên trình độ phát triển vượt bậc, lớn

Trang 28

hơn toàn bộ các giai đoạn trước cộng lại, nhưng đồng thời nó chứa đựng trong mình những hạn chế không vượt qua được, như không đánh giá đúng vai trò và vị trí của người lao động, con người được coi là vật phụ thuộc của máy móc; tăng trưởng thấp

và bất công xã hội cao; môi trường bị hủy hoại do khai thác quá mức Đây là một bài học đối với Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta không chỉ chú trọng đến phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động mà cần phải quan tâm đến con người và môi trường Đây là hai nhân tố cơ bản để tiến hành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh và bền vững

“Vì luôn luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư sản xâm lấn khắp toàn cầu Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi Do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng trong tất cả các nước mang tính chất thế giới” [13, tr.601]

Chính trong quá trình mở rộng tầm ảnh hưởng của giai cấp tư sản, quá trình công nghiệp hóa bắt đầu di chuyển và trở nên phổ biến trên toàn thế giới Tuy nhiên, có sự lựa chọn khác về mô hình công nghiệp hóa thay cho mô hình công nghiệp hóa cổ điển có quá nhiều hạn chế được thực hiện ở Âu - Mỹ từ thế kỷ XVIII Những nước tiến hành công nghiệp hóa các thế hệ sau công nghiệp hóa ở Anh

và các nước Âu - Mỹ đã có những điều chỉnh về cách thức tiến hành công nghiệp hóa Như Liên Xô đã đưa ra mô hình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa

Có thể nói, Chính sách kinh tế mới (NEP) là bước khởi đầu của công cuộc công nghiệp hóa đất nước, bắt đầu từ những chính sách kinh tế, bao gồm chính sách thuế lương thực và các chính sách khôi phục, phát triển nông nghiệp, công nghiệp, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, và chú trọng đến việc điện khí hóa toàn Nga Mục tiêu của chính sách này là xác lập một nền kinh tế phát triển cao hơn, tiến

bộ hơn chủ nghĩa tư bản cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, tổ chức lao động và năng suất lao động

Với việc vận dụng chính sách kinh tế mới phù hợp, chỉ sau đó khoảng 4 - 5 năm, nước Nga đã vượt ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội, tiếp đến là thực

Trang 29

hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước trong thời gian rất ngắn Từ một quốc gia lạc hậu, Liên Xô đã trở thành một cường quốc lớn, có một vị thế quan trọng trên thế giới Đó là những thành tựu lớn lao không thể phủ nhận của công cuộc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa của nhân dân Xô - viết

Tuy nhiên, “kỳ tích công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa” ở Liên Xô tồn tại trong một thời gian ngắn Nguyên nhân của sự thất bại đó là do chưa vận dụng một cách đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Về mặt lực lượng sản xuất, trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, Liên Xô luôn luôn đề cao vai trò con người, tuy nhiên trên thực tế, tiềm năng về nguồn lực con người chưa được nhận thực đúng đắn và đầy đủ Quá trình công nghiệp hóa được thực hiện trong cơ chế kế hoạch tập trung, bao cấp và chế độ phân phối theo kiểu bình quân nên đã không khai thác được triệt để, hợp lý nguồn nhân lực, không kích thích được tính tích cực, năng động, sáng tạo của người lao động Đó là do không thấy được sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất nên đã kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Nên nó không thể là mẫu hình công nghiệp hóa của thế giới nhiều biến động về mọi mặt

Và mô hình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu là một sự lựa chọn của các nước đang phát triển vào những năm 50, 60 của thế kỷ XIX Đây là mô hình được nhìn nhận như phương án duy nhất đúng đắn của các nước đang phát triển nhằm xây dựng một nền kinh tế đủ khả năng tự đảm bảo hầu hết các nhu cầu trong nước, đồng thời tránh sự lệ thuộc bên ngoài Công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu đã từng được áp dụng ở Phổ (hiện nay là một phần của Đức, Ba Lan, Nga, Đan Mạch) trong thời kỳ công nghiệp hóa ở nước này từ giữa thế kỷ 19, ở Nhật Bản từ cuối thế kỷ 19 (1870-1890)

Giữa thế kỷ XX cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển dẫn tới sự bùng nổ công nghệ, nhất là công nghệ cao, cùng với nó là sự hình thành

và phát triển của hệ kinh tế thị trường hiện đại, quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa kinh tế ngày càng có tầm ảnh hưởng trên toàn thế giới Ý nghĩa và tác động xã hội

Trang 30

của các quá trình này to lớn, sâu sắc hơn nhiều so với hai cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, đây là bước chuyển của lực lượng sản xuất từ dựa chủ yếu vào nguồn lực vật chất sang dựa chủ yếu vào nguồn lực trí tuệ con người, xã hội công nghiệp đang chuyển sang xã hội thông tin, nền kinh tế tri thức

Trong bối cảnh đó, mô hình công nghiệp hóa hướng thay thế nhập khẩu bộc lộ nhiều hạn chế, trong đó hạn chế lớn nhất là sự tụt hậu về kỹ thuật, công nghệ, làm suy giảm năng suất lao động, chất lượng sản xuất Hậu quả tất yếu là sức cạnh tranh hàng hóa của các nước này sẽ giảm mạnh trên thị trường thế giới Nền kinh tế của các nước sẽ lâm vào tình trạng vừa bị cô lập vừa bị lệ thuộc vào kinh tế thế giới, đặc biệt là nền kinh tế của các nước phát triển

Những hạn chế đó đòi hỏi phải thay thế mô hình công nghiệp hóa hướng thay

thế nhập khẩu bằng một mô hình mới hiệu quả hơn Và loại hình công nghiệp hóa kiểu mới (hay công nghiệp hóa hiện đại) mà đầu tiên là mô hình công nghiệp hóa

hướng về xuất khẩu đã được lựa chọn và tiến hành rộng rãi

Công nghiệp hóa theo hướng xuất khẩu là một chiến lược công nghiệp hóa lấy phát triển khu vực sản xuất hàng xuất khẩu làm động lực chủ yếu lôi kéo phát triển toàn nền kinh tế Chiến lược này từng được nhiều nước đang phát triển áp dụng và không ít trong số đó đã thành công, điển hình là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, ngoài ra cũng có thể nhắc đến một số nước ASEAN và Trung Quốc

Trong đó, Nhật Bản là một trong những quốc gia châu Á đầu tiên có sự phát triển mạnh về công nghiệp và kinh tế nhờ thực hiện thành công quá trình chuyển đổi

mô hình công nghiệp hóa từ mô hình thay thế nhập khẩu sang mô hình hướng về xuất khẩu

Sau khi Công ước của Kanagawa được ban hành buộc Nhật Bản phải mở các cảng Shimoda và Hakodate cho thương mại của Mỹ, Nhật Bản nhận ra rằng những cải cách mạnh mẽ là cần thiết để ngăn chặn ảnh hưởng của phương Tây Thiên hoàng Minh Trị tiến hành cuộc Minh Trị Duy Tân, mở ra kỷ nguyên hiện đại hóa đất nước Thông qua "Chính sách xúc tiến công nghiệp", chính phủ đã bắt tay vào công nghiệp hóa, phát triển các ngành khai mỏ và công nghiệp nặng, xây dựng cơ

Trang 31

sở hạ tầng, thúc đẩy công nghiệp nhẹ, đi vào công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu hàng sơ cấp (thời kỳ 1870-1890)

Năm 1900, Nhật Bản hoàn thành giai đoạn thay thế nhập khẩu hàng dệt và bắt đầu xuất khẩu mặt hàng này Sau đó, các hàng công nghiệp nhẹ khác cũng gia nhập danh sách hàng xuất khẩu Nhật Bản đã chuyển sang giai đoạn công nghiệp hóa theo định hướng xuất khẩu hàng sơ cấp Và sau hơn 60 năm tiến hành công nghiệp hóa, Nhật Bản từ một nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, trở thành một quốc gia có nền kinh tế phát triển cao độ (1955-1973) khiến cho thế giới hết sức kinh ngạc Người ta gọi đó là "thần

kì Nhật Bản”

Muộn hơn về thời gian, vào những năm cuối của thập niên 70 và đầu thập niên

80, ở Châu Á đã xuất hiện một số nước có nền kinh tế phát triển vượt trội so với các nước đang phát triển khác là Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore Đây là những nước có quá trình công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao duy trì trong thời gian dài

Từ những nước - lãnh thổ chẳng có gì đặc biệt, nguồn tài nguyên thiên nhiên thì nghèo nàn đến mức có thể xem như một sự thiệt thòi bẩm sinh, nguồn lực tài chính cũng như kĩ thuật dường như là âm Họ vươn lên trở thành những quốc gia có nền công nghiệp phát triển, được đứng vào hàng ngũ các nước công nghiệp mới - NICs, hòa nhập vào cộng đồng kinh tế thế giới với địa vị không ngừng được nâng cao, với tiềm lực kinh tế mạnh mẽ và có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới

Có được những thành công đó không phải là sự ngẫu nhiên mà là cả một quá

trình tìm tòi thử nghiệm và phấn đấu kiên trì của các quốc gia Các nước này đã khai thác được thế mạnh lớn nhất, nguồn nội lực dồi dào nhất của mình đó là nguồn lực con người - nhân tố cơ bản, hàng đầu của lực lượng sản xuất Đồng thời,

họ đã xác định đúng đắn đường lối phát triển kinh tế, tiến hành thành công quá trình công nghiệp hóa nên đã đạt được những thành tựu to lớn, làm biến đổi mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội

Trang 32

Như vậy, trong điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế và cuộc cách mạng khoa học hiện đại phát triển mạnh mẽ, mô hình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu có lợi thế hơn trong việc tận dụng có hiệu quả các nguồn nội lực trong đó có người lao động, khai thác có hiệu quả các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại, tạo khả năng rút ngắn đáng kể quá trình công nghiệp hóa

Tuy nhiên, mô hình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu cũng bộc lộ một số hạn chế như: đặt nền kinh tế quốc gia phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài, làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng trong các quan hệ kinh tế quốc tế Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ của các nước Đông Nam Á (1997) đã phản ánh rõ nét những hạn chế của mô hình này

Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế lấy đó làm lý do để đánh giá lại sự phát triển

“thần kỳ” của các nước Đông Á Thêm vào đó, vẫn còn có các nước Đông Phi, nơi

đã trải qua hơn 50 năm công nghiệp hóa mà đến nay vẫn trong tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu Và trên thế giới hiện nay đang xuất hiện một “nền kinh tế mới” là kinh tế tri thức Khiến không ít người đặt ra câu hỏi liệu công nghiệp hóa có còn là tất yếu nữa hay không?

Câu trả lời cho sự băn khoăn ấy là: Những tiến trình phát triển lịch sử khắc nghiệt của kinh tế thế giới đã chứng minh rằng: Bất cứ một nước chậm phát triển nào muốn đạt tới trình độ phát triển đều phải trải qua nấc thang có tính tất yếu lịch

sử là công nghiệp hóa Đó là yếu tố quan trọng và là con đường duy nhất để thóat khỏi tình trạng kinh tế nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu; đuổi kịp các nước phát triển, nhanh chóng hòa nhập vào nền văn minh hiện đại

Như vậy, với điểm xuất phát từ nước Anh sau đó là Mỹ, Pháp do nhu cầu mở rộng thị trường cũng như tầm ảnh hưởng của giai cấp tư sản trên phạm vi toàn thế giới Quá trình công nghiệp hóa đã trở thành lựa chọn của rất nhiều quốc gia trên con đường phát triển của mình Dù quá trình công nghiệp hóa được thực hiện ở các nước có sự khác nhau về mô hình, về thời gian thực hiện và do đó khác nhau về ảnh hưởng của nó đến phát triển kinh tế - xã hội Dù nhiều cuộc khủng hoảng tài chính

đã xảy ra trên thế giới và châu Á - nơi có những phát triển “thần kỳ” khi tiến hành

Trang 33

công nghiệp hóa Nhưng, đối với các nước đang phát triển, công nghiệp hóa vẫn là lựa chọn tối ưu nhất Bởi công nghiệp hóa sẽ tạo ra nền kinh tế hiện đại với những

ưu thế nổi bật: lực lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng, cơ cấu sản xuất đa dạng, công ăn việc làm phong phú, thu nhập quốc dân chung và tính theo

đầu người cao hơn so với một nền kinh tế chưa công nghiệp hóa

Về mặt bản chất, “công nghiệp hóa là một quá trình lịch sử tất yếu nhằm tạo nên những biến chuyển căn bản về kinh tế - xã hội của đất nước trên cơ sở khai thác có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế trong nước, mở rộng quan hệ kinh tế quốc

tế, xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với trình độ khoa học - công nghệ ngày càng hiện đại” [8, tr.59-60] Cụ thể như sau:

Thứ nhất, quá trình công nghiệp hóa không chỉ liên quan đến phát triển công nghiệp mà là quá trình bao trùm cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động của một nước Trong đó công nghiệp là ngành được quan tâm phát triển, cơ cấu kinh tế trong

nước sẽ chuyển dịch từ cơ cấu nông - công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu công - nông nghiệp - dịch vụ Việc hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ cho phép khai thác tốt các nguồn lực và lợi thế của đất nước

Thứ hai, quá trình công nghiệp hóa trong bất kỳ giai đoạn nào cũng đều vừa

là quá trình kinh tế - kỹ thuật, vừa là quá trình kinh tế - xã hội Công nghiệp hóa tác

động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, việc thực hiện công nghiệp hóa có hiệu quả sẽ thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kỹ thuật, cải tiến mạnh mẽ công cụ lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Đồng thời, nó góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nâng cao mức sống của dân cư, hoàn thiện quan hệ sản xuất Quá trình kinh tế

- kỹ thuật tạo điều kiện vật chất - kỹ thuật cho việc thực hiện các nội dung của quá trình kinh tế - xã hội Đến lượt mình, quá trình kinh tế - xã hội lại góp phần tạo nên động lực cho việc thực hiện quá trình kinh tế - kỹ thuật Đây chính là biểu hiện sinh động của mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Thứ ba, quá trình công nghiệp hóa cũng đồng thời là quá trình mở rộng quan

hệ kinh tế quốc tế Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay quá trình toàn cầu hóa đang

diễn ra mạnh mẽ Mỗi nước muốn phát triển phải trở thành một bộ phận của nền

Trang 34

kinh tế thế giới, và do đó ở những mức độ khác nhau sẽ tác động tương hỗ với kinh

tế các nước khác và chịu ảnh hưởng của biến động kinh tế - xã hội chung của thế giới Quá trình này làm cho lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng cao Đồng thời, mở ra triển vọng về quá trình hợp tác, chuyển giao các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại trên phạm vi toàn cầu, góp phần thúc đẩy trình độ của lực lượng sản xuất thế giới phát triển, sự hợp tác trong phân công lao động quốc tế trở thành nhu cầu thiết yếu Ý thức rõ điều đó, tại Đại hội XI, Đảng ta khẳng định:

“Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư,

mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học - công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến” [4, tr.263]

Thứ tư, công nghiệp hóa không phải là mục đích tự thân, mà là một phương thức

có tính chất phổ biến để thực hiện mục tiêu của mỗi nước Mục tiêu cụ thể của mỗi

nước phụ thuộc vào quan hệ sản xuất đặc trưng cho cơ sở hạ tầng của xã hội đó Đối với nước ta, để xây dựng nền tảng về cơ sở vật chất - kỹ thuật cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, đưa đất nước từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, chúng ta phải tiến hành quá trình công nghiệp hóa đồng thời với quá trình hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức Việc tiến hành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải đảm bảo tính định hướng xã hội

chủ nghĩa nhằm xây dựng một xã hội Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [4, tr.70] Phương hướng, quy mô và nhịp độ công nghiệp hóa phụ

thuộc vào đặc điểm chính trị - xã hội của đất nước Không thể thực hiện có hiệu quả quá trình công nghiệp hóa khi hệ thống chính trị - xã hội không ổn định và không được đổi mới Ngược lại, cũng không thể giữ được ổn định về chính trị - xã hội, chủ quyền của đất nước nếu không thực hiện có hiệu quả quá trình công nghiệp hóa

Thứ năm, công nghiệp hóa là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là những ngành trọng yếu

Trong điều kiện hiện nay, khi khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học tiếp tục có những bước nhảy vọt, ngày càng trở thành lực

Trang 35

lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế tri thức, làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội Việc thực hiện quá trình công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa ở cả phần cứng lẫn phần mềm của công nghệ Điều cần phấn đấu là đưa trình độ khoa học - công nghệ của đất nước theo kịp với trình độ hiện đại chung của thế giới

1.2.2 Hiện đại hóa

Hiện đại hóa là một quá trình đang tiến triển nên chưa bộc lộ hết những đặc điểm của nó Chính vì thế cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về quá trình hiện đại hóa

Quan điểm thứ nhất cho rằng “hiện đại hóa” chính là “phương Tây hóa”, theo

đó phương Tây trở thành khuôn mẫu hay đích đến cuối cùng của tất cả các quốc gia ngoài phương Tây Cách nhìn tự tôn dân tộc của quan niệm này thiếu mất sự hợp lý khi lịch sử xã hội loài người là lịch sử phát triển không ngừng với những đặc trưng riêng trong từng giai đoạn cụ thể ở những xã hội cụ thể Hiển nhiên, vào một thời điểm lịch sử, hiện đại hóa đã tập trung ở phương Tây, xuất phát từ phương Tây nhưng đến nay, nó đã là một quá trình mang tính toàn cầu Dù hiện đại hóa là con đường mà các nước đang phát triển lựa chọn để đạt được sự tăng trưởng và phát triển, thì ở những quốc gia khác nhau, quá trình hiện đại hóa cũng sẽ diễn ra với những bước đi cụ thể khác nhau, kết quả đạt được cũng khác nhau Bởi mỗi xã hội

cụ thể là một cơ thể sống động, đều có sự độc đáo và nét riêng không thể trùng khớp cũng giống như mỗi cá thể người và vân tay của nó

Về mặt lịch sử, đa số các lý thuyết hiện đại hóa đều thống nhất quá trình hiện đại hóa đã manh nha vào đầu thế kỷ XVII cùng với nó là sự lớn mạnh của nền văn hóa hiện đại với ba cột trụ: nền khoa học khách quan, nền luân lý tự giác và nền văn học - nghệ thuật mang dấu ấn của sáng tạo cá nhân; và quá trình hiện đại hóa thực

sự bắt đầu từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX; và quá trình này vẫn đang diễn ra cho đến ngày nay Sự phân kỳ này dựa trên việc phân tích quá trình hiện đại hóa về mặt kinh tế - xã hội , văn hóa - tư tưởng, xem hiện đại hóa là sự quá độ từ xã hội truyền thống lên xã hội hiện đại

Trang 36

Nếu xét về thời gian, giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hóa được coi là trùng với giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa Chính vì thế có quan điểm cho rằng quá trình hiện đại hóa cũng chính là quá trình công nghiệp hóa Tuy nhiên, thực tiễn của cả quá trình hiện đại hóa lẫn công nghiệp hóa cho thấy đây là hai quá trình khác nhau, và có mối liên hệ với nhau

Hiện nay, trong các nước công nghiệp tiên tiến, một xu hướng mới đang hình thành và phát triển trong hơn một phần tư thế kỷ qua dịch chuyển ra khỏi các giá trị

cơ bản vốn là đặc trưng của xã hội công nghiệp Đó là quá trình Hậu hiện đại hóa Với quá trình hậu hiện đại hóa, một thế giới quan mới đang thay thế dần dần cho thế giới quan đã từng chi phối các xã hội công nghiệp từ cuộc cách mạng công nghiệp

Nó phản ánh một sự dịch chuyển của các chuẩn mực chi phối đời sống chính trị, việc làm, gia đình Quá trình Hậu hiện đại hóa hướng đến những công nghệ - kỹ thuật nhằm biến tri thức thành lực lượng sản xuất trực tiếp Hay đây chính là quá trình trí tuệ hóa toàn bộ hoạt động của con người Trong quá trình này “con người kinh tế” được thay bằng “con người đa diện”

Do có nhiều quan điểm khác nhau về hiện đại hóa, nên cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm “hiện đại hóa”

Theo nghĩa thông thường thì mọi cái hiện tồn đều là hiện đại Song quá trình

phát triển xã hội lại diễn ra không đồng đều: hiện tại của một số xã hội này lại giống quá khứ của một số khác, hay ngược lại, hiện tại của một số xã hội này là tương lai của một số khác Tính không đồng đều đó khiến cho khái niệm “hiện đại hóa” mang nhiều sắc thái khác nhau

Theo Tennix, hiện đại hóa là sự quá độ từ cộng đồng sang xã hội; theo Durkhem, đó là sự quá độ của xã hội từ trạng thái cơ học sang trạng thái hữu cơ; theo Weber, đó là sự quá độ từ tính hợp lý giá trị sang tính hợp lý mục đích; Xmelzer nhấn mạnh đến tiến bộ công nghệ, đến sự quá độ từ các quan hệ công xã - gia đình sang các quan hệ kinh tế, nhấn mạnh đến tính chất phá vỡ xã hội cũ của

hiện đại hóa Như vậy, các xã hội hiện đại về thực chất đối lập với các xã hội truyền thống [6, tr.249-250] và “hiện đại hóa là quá trình biến đối từ tính chất

Trang 37

truyền thống cũ sang trình độ tiên tiến, hiện đại” [22, tr.55] Hiện đại hóa còn được

hiểu là quá trình chuyển biến từ xã hội nông nghiệp thành xã hội công nghiệp, là sự chuyển dịch căn bản từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại

Hiện nay, hiện đại hóa là quá trình tất yếu dành chung cho tất cả các quốc gia lạc hậu, kém phát triển để phát triển nhanh chóng, đuổi kịp các nước phát triển Với các nước phát triển tiến trình hiện đại hóa không dừng lại mà vẫn tiếp tục diễn ra để đưa xã hội đến một trình độ cao hơn, hiện đại hơn, tiên tiến hơn nữa Lịch sử hiện đại hóa là một quá trình phức tạp, tuy nhiên chúng ta có thể phân biệt hai mô hình hiện đại hóa cơ bản đã được thực hiện trong lịch sử là:

Thứ nhất, hiện đại hóa khởi nguyên là hiện đại hóa nảy sinh từ những tiền đề

kinh tế, văn hóa, xã hội vốn có (bên trong), là kết quả của sự phát triển kinh tế - xã hội nội tại của một xã hội trong một hoàn cảnh xác định Quá trình hiện đại hóa này diễn ra ở Tây Âu, Mỹ, Canada Con đường phát triển của mô hình khởi nguyên là hiện đại hóa tuần tự

Thứ hai, hiện đại hóa phái sinh là hiện đại hóa diễn ra ở những nước còn thiếu

hoặc không có những tiền đề nội tại, trực tiếp về kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa

mà diễn ra dưới ảnh hưởng, tác động của hiện đại hóa ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ Các nước thực hiện hiện đại hóa theo con đường phái sinh gồm 2 nhóm:

Nhóm 1: Nhật bản, Braxin, Achentina, Chi lê, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ - là những nước có tiền đề kinh tế, văn hóa cho sự phát triển công nghiệp, nhưng do điều kiện đặc thù mà những nước này vẫn lạc hậu hơn so với Tây Âu, Bắc Mỹ

Nhóm 2: Gồm những nước chưa có tiền đề kinh tế, xã hội cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản; các quan hệ và những nguyên tắc truyền thống giữ vai trò chủ đạo chi phối đời sống xã hội

Hiện đại hóa phái sinh có 3 mô hình chính:

Thứ nhất, mô hình châu Âu hóa Theo mô hình này, quá trình hiện đại hóa

sẽ diễn ra bằng cách chuyển trực tiếp cấu trúc công nghệ, lối sống của xã hội phương Tây vào các nước bằng con đường thực dân hóa, hoặc dựa vào tầng lớp tư sản mại bản

Trang 38

Thứ hai, mô hình hiện đại hóa đuổi theo Các nước lạc hậu kém phát triển cố gắng phát triển kinh tế, xã hội để dịch gần đến trình độ của các nước đã phát triển, lấy hiện đại hóa phương Tây làm khuôn mẫu Hạn chế của mô hình này là có thể làm mất bản sắc văn hóa truyền thống, tạo ra sự bất bình đẳng và bất mãn xã hội Thứ ba, mô hình hiện đại hóa tăng tốc Thực hiện mô hình này với mục đích rút gắn thời gian hiện đại hóa so với hiện đại hóa tuần tự, có thể tiếp cận ngay với khoa học công nghệ tiên tiến Mô hình này được thực hiện thành công ở các nước Đông - Đông Nam Á như Nhật Bản, các “con rồng” châu Á - NICs, Trung Quốc Hiện đại hóa tăng tốc có những đặc điểm riêng của nó Dù có thể xuất phát từ trình độ kinh tế xã hội thấp nhưng các quốc gia thực hiện hiện đại hóa tăng tốc đều không thể và không cần phải lặp lại tất cả những bước mà các nước phát triển hơn

đã và đang làm Văn hóa và các giá trị truyền thống là một trong những tiền đề cơ bản để duy trì sự ổn định trong quá trình hiện đại hóa tăng tốc Hiện đại hóa tăng tốc đòi hỏi phải củng cố tính cộng đồng, chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa yêu nước, ngăn cản sự phát triển cực đoan của “con người kinh tế” và chủ nghĩa cá nhân cực đoan của phương Tây

Nếu như trước đây trong các nước phương Tây, quá trình hiện đại hóa diễn ra một cách tuần tự qua tất cả các giai đoạn của nó thì trong hiện đại hóa tăng tốc hiện nay có đầy đủ các dạng hiện đại hóa Chính cách mạng khoa học - kỹ thuật vừa là điều kiện, vừa là yếu tố đảm bảo cho sự kết hợp các dạng hiện đại hóa như vậy

Nói chung, hiện đại hóa tăng tốc chính là hiện đại hóa trên cơ sở kết hợp những thành tựu của cách mạng khoa học - kỹ thuật với các giá trị văn hóa, truyền thống Đây chính là điểm khác biệt của hiện đại hóa tăng tốc so với các mô hình

hiện đại hóa khác và là điểm tương đồng với Hậu hiện đại hóa

Hiện đại hóa là quá trình phức tạp, nhưng là con đường bắt buộc phải đi qua

để xã hội truyền thống trở thành xã hội hiện đại, phát triển Các nước khác nhau có thể và cần phải tiến hành hiện đại hóa dưới những hình thức khác nhau và bằng những con đường khác nhau Nhưng nhìn chung, các nước trên thế giới đều đang ở những giai đoạn khác nhau của quá trình hiện đại hóa

Trang 39

Lịch sử phát triển hiện đại hóa cho thấy, hiện đại hóa xã hội là hình thức đặc biệt của sự phát triển xã hội, là tổng hòa các phương thức cải biến nhằm đưa nền kinh tế - xã hội quá độ từ các trình độ phát triển khác nhau đến các trình độ cao hơn trên cơ sở tiến bộ khoa học, kỹ thuật và đây cũng chính là đòi hỏi tất yếu của biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Nó cũng là hình thức quá độ từ các xã hội truyền thống, nông nghiệp lên xã hội hiện đại, xã hội công nghiệp, thông tin Tiến trình hiện đại hóa thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất, đưa nhiều nước trở thành nước công nghiệp hiện đại Tuy nhiên, trong khoảng vài thập niên gần đây, loài người đang chứng kiến những thay đổi bất thường của thời tiết, sự cạn kiệt ngày càng nhanh của tài nguyên thiên nhiên, các giống loài sinh vật đã và đang bị tuyệt diệt nhiều hơn Đó là những vấn đề về môi trường sinh thái không thể nào giải quyết được

Vấn đề đặt ra cho tất cả các nước đang tiến hành quá trình hiện đại hóa là làm sao để vừa phát triển nhanh, vừa bền vững Vừa đưa đất nước ngày càng đi lên nhưng phải đảm bảo giải quyết tốt các vấn đề ảnh hưởng đến môi trường, bảo vệ một cách tốt nhất môi trường sinh thái Bởi, yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người, con người là một bộ phận của tự nhiên và giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người” Nếu mất đi “thân thể” ấy,

sự sinh tồn của con người sẽ đến lúc bị diệt vong Chính vì vậy, quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải gắn chặt với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, đảm bảo cho phát triển bền vững

1.2.3 Mối quan hệ giữa công nghiệp hóa và hiện đại hóa

Hiện đại hóa là cái đích mà các nước đang phát triển hướng đến để tăng trưởng và phát triển kinh tế, củng cố cơ cấu xã hội, đưa đất nước trở thành nước phát triển

Nói đến hiện đại hóa là nói đến cả một quá trình lâu dài đầy gian khổ của việc cải biến một xã hội cổ truyền thành xã hội hiện đại, có trình độ văn minh cao hơn, thể hiện đầy đủ hơn những giá trị mà nhân loại vươn tới Tiến trình hiện đại hóa diễn ra bao gồm nhiều nội dung khác nhau, rộng lớn và phong phú, bao gồm các

Trang 40

mặt kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Trong đó, có nội dung kinh tế - kỹ thuật với thực chất là tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất và đời sống mà tập trung là cách mạng công nghiệp

Bởi, một xã hội được thừa nhận là hiện đại, trước hết phải là một xã hội có nền kinh tế phát triển, thể hiện ở nhịp độ tăng trưởng sản phẩm chung và tính theo đầu người Sự tăng trưởng kinh tế này có quan hệ hữu cơ với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà ở đó tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc dân lớn hơn rất nhiều tỷ trọng của khu vực nông nghiệp

Và hiện đại hóa, xét trên góc độ kinh tế - kỹ thuật là cái đích cần vươn tới trong quá trình công nghiệp hóa Nhưng sự vươn lên về trình độ công nghệ này lại

bị ràng buộc bởi yêu cầu đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội

Như vậy, hiện đại hóa và công nghiệp hóa là hai quá trình khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong giai đoạn hiện nay, có thể xem cốt lõi của hiện đại hóa, quá trình trung tâm của hiện đại hóa là công nghiệp hóa gắn liền với đổi mới căn bản về công nghệ, phát triển mạnh mẽ các ngành có hàm lượng khoa học và công nghệ cao Tạo nên bước phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, từ đó thay đổi luôn quan hệ sản xuất, hình thành nên phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng khi cuộc cách mạng công nghiệp, quá trình công nghiệp hóa hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình thì tiến trình hiện đại hóa sẽ kết thúc Hiện nay, có những quốc gia đã tiến hành thành công quá trình công nghiệp hóa nhưng vẫn đang trong thời kỳ hiện đại hóa như Anh, Mỹ, Nhật Bản.Và một số quốc gia đi sau lựa chọn tiến hành công nghiệp hóa song song với hiện đại hóa để có thể bắt kịp các nước đi trước Ở các quốc gia này, xét toàn cục, hiện đại hóa chỉ là phương tiện, điều kiện để đạt tới mục tiêu của quá trình công nghiệp hóa mà thôi

Sự thành công của quá trình công nghiệp hóa ở Nhật Bản, các nước NICs là điển hình tiêu biểu của sự gắn kết thành công công nghiệp hóa với hiện đại hóa phù hợp với thực tiễn đất nước cũng như xu thế của thời đại Sự thành công đó là bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Ngày đăng: 14/12/2013, 15:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w