Tiếp xúc với cán bộ, nhân dân ở một số xã trên địa bàncác tỉnh phía Bắc, tác giả có cơ hội đợc trao đổi trực tiếp và cảm nhận nhiều sự đổi thay cũng nh những ý nghĩa tíchcực trên nhiều p
Trang 1dân tộc Việt Nam thì phải tìm hiểu cộng đồng làng xã, và
muốn xây dựng lại đất nớc Việt Nam thì cũng phải bắt đầu bằng việc xây dựng lại cộng đồng làng xã Vì không có làng xã Việt Nam thì không có quốc gia Việt Nam" [43, tr 318].
Dân chủ là đề tài cũ nhng luôn mới Cũ vì sự thật dân
chủ có những tiền đề từ thời cổ đại đợc phát triển với rấtnhiều t tởng, luận thuyết khác nhau, nhng đến hôm nay nóvẫn mới mẻ, vẫn là vấn đề mang tính thời sự, vẫn mở ra rấtnhiều cơ hội tiếp tục tìm tòi, khám phá tìm ra hớng pháttriển cho mỗi nhà nớc, mỗi cộng đồng
Dân chủ ở xã đang là vấn đề bức xúc hiện nay Dânchủ ở xã nếu đợc phát huy nghiêm túc, đúng hớng sẽ thực sự là
đòn bẩy quan trọng, là chiếc chìa khóa mở ra tạo sự chuyểnbiến quan trọng trên nhiều phơng diện với đất nớc có hơn80% dân c làm nông nghiệp nh Việt Nam Dân chủ hóa cũngchính là để phát huy các tiềm năng, tài năng của con ngời;
các năng lực xã hội, và cũng chính là phát huy nội lực của
dân tộc
Trang 2Sở dĩ tác giả lựa chọn vấn đề dân chủ ở xã mà khôngphải dân chủ ở cấp xã (bao gồm xã - phờng - thị trấn) vì ph-ờng và thị trấn có những đặc điểm riêng khác so với cơ sởxã Phờng và thị trấn ít bị các quan hệ dòng tộc, làng xómtác động, và có trình độ văn hóa cao hơn ở xã Xã là nơi tậptrung chủ yếu của c dân nông thôn, với địa bàn rộng lớn,chiếm khoảng 80% dân số, 70% lao động xã hội, và chiếm tới85% trong tổng số các đơn vị hành chính cấp cơ sở: có
đặc điểm chung là nơi vẫn còn chịu ảnh hởng nặng nề tàntích của chế độ phong kiến, nhng cũng lu giữ đợc nhiềutruyền thống tốt đẹp có thể kế thừa trong quá trình mởrộng dân chủ hiện nay
Tiếp xúc với cán bộ, nhân dân ở một số xã trên địa bàncác tỉnh phía Bắc, tác giả có cơ hội đợc trao đổi trực tiếp
và cảm nhận nhiều sự đổi thay cũng nh những ý nghĩa tíchcực trên nhiều phơng diện mà việc thực hành pháp luật vềdân chủ ở xã trong thời gian qua đã đem lại, đặc biệt thú vị
là tác giả đã tận mắt thấy đợc những cách làm sáng tạo củamột số cán bộ xã năng động; thấy đợc sự hăng say đóng gópcông sức, đóng góp ý kiến, thấy sự đổi mới t duy của nhiềungời dân ở các xã mà tác giả có điều kiện tiếp cận Dân chủ
đã về làng và đang đi vào đời sống của làng, chuyện dânchủ đã dần thành chuyện hàng ngày, gần gũi, thân thiết, bổích nh chuyện cơm ăn, nớc uống, nh không khí để thở Quaquan sát, tác giả cũng thấy đợc hiện còn rất nhiều qui địnhpháp luật về dân chủ ở xã cha sát với thực tiễn cần hoàn
2
Trang 3thiện, bổ sung; nhiều vấn đề đang cần một cách nhìn liênngành, toàn diện để giải quyết Chính điều này khiến tác
giả quyết định lựa chọn đề tài: "Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về dân chủ ở xã" để làm luận văn thạc sĩ của
ớc ta (đề tài cấp nhà nớc KX.05.05 do PGS.TS Hoàng Chí Bảo
làm chủ trì đề tài) Sách chuyên khảo của các tác giả TS
Nguyễn Văn Sáu - GS Hồ Văn Thông: Thực hiện qui chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nớc ta hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội, 2003; Cuốn: Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay do
TSKH Phan Xuân Sơn (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốcgia, Hà Nội, 2003
Khai thác dới góc độ lịch sử, tâm lý học, văn hóa học có
nhiều công trình liên quan mật thiết đến vấn đề dân chủ ở
xã nh: Phan Đại Doãn: Mấy vấn đề văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Phan Ngọc: Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1998; Vũ Minh Giang: Xây dựng lối sống theo pháp luật nhìn từ góc độ lịch sử truyền thống, Tạp chí
Nhà nớc và pháp luật, số 3/1993; Đỗ Long - Phan Thị Mai Hơng
Trang 4(chủ biên): Tính cộng đồng, tính cá nhân và "cái tôi" của
ng-ời Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Tâm lý xã hội trong quá trình thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004
Khai thác dới góc độ luật học liên quan đến đề tài có
một số bài viết nh: Bàn về cải cách chính quyền nhà nớc ở
địa phơng của tác giả Nguyễn Đăng Dung, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9/2003; Bài viết: Dân chủ và pháp luật của PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 7(136), 2003; Bài viết: Dân chủ làng xã: truyền thống và hiện tại của tác giả Nguyễn Việt Hơng, Tạp chí
Nhà nớc và pháp luật, số 8 (196)/2004
Các tài liệu tham khảo nớc ngoài nghiên cứu về dân
chủ khá nhiều nổi bật nh cuốn A preface to Democratic Theory, của tác giả Robert A.Dahl The University of Chicago Press, Chicago 60637, 1956; cuốn Democracy: the unfinished journey, 508B.C to 1993 A.D, của Đại học Oxford, Hoa Kỳ 1992 Những tác phẩm đã đợc dịch sang tiếng Việt nh: Phát
triển là quyền tự do của tác giả Amartya Sen (ngời đạt giải
thởng Nobel về kinh tế học), CIEM (Viện nghiên cứu quản lýkinh tế trung ơng) và Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2002;
Alvin Toffler, Làn sóng thứ ba (The third wave), Nhà xuất bản
Thanh niên, Hà Nội, 2002 …
4
Trang 5Tuy nhiên, cha có bất kỳ công trình nào nghiên cứu đề
tài "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ ở xã" nói
trên
3 Mục đích đề tài và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn về việc thực hiện dân chủ ở xãdới cách tiếp cận liên ngành, nhng chủ yếu dới góc độ pháp lý.Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn đối với đơn vị hành
chính xã (không mở rộng đến các đơn vị tơng đơng nh ờng, thị trấn)
ph-Để đạt đợc mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụnghiên cứu sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề dân chủ và dân chủ
4 Phơng pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài luận văn đợc tác giả nghiên cứu chủ yếu ở cáchtiếp cận liên ngành, dựa trên cơ sở phơng pháp luận của chủnghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đờng lối,
Trang 6chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc ta về vấn đềdân chủ ở cơ sở Ngoài ra, để đạt đợc mục đích nghiên cứu,tác giả đề tài còn sử dụng các phơng pháp nghiên cứu khácnh: Phơng pháp phân tích, tổng hợp; phơng pháp thống kê;phơng pháp điều tra, khảo sát và phỏng vấn trực tiếp
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo, nội dung của luận văn gồm 3 chơng:
Trang 7hiểu dân chủ ở nghĩa phổ quát: ở tầm quốc tế, ở mỗi khu
vực; mỗi quốc gia; từng cộng đồng dân c; và ở sự cảm nhận
về dân chủ của từng ngời dân
Lý thuyết về dân chủ đã trải qua một quá trình pháttriển lâu dài trong lịch sử nhân loại Thực tiễn của dân chủ
Trang 8là kết quả của sự đấu tranh bền bỉ của các lực lợng tiến bộchống lại các thể lực phản động Cội nguồn của khái niệmdân chủ bắt nguồn từ xã hội Athen cổ đại, dân chủ theo gốc
tiếng Hy Lạp là ''demokratia" nghĩa là quyền lực thuộc về
nhân dân [85, tr 86], nhân dân có quyền quyết định mọi
vấn đề liên quan đến cuộc sống, bản thân và xã hội Dân
chủ cũng đợc hiểu là một trong những hình thức chínhquyền tuyên bố chính thức nguyên tắc thiểu số phục tùng đa
số và thừa nhận quyền tự do và bình đẳng của công dân[85, tr 87]
Dân chủ sơ khai nhất xuất hiện ở Hy Lạp cổ đại, dânchủ đợc quan niệm là sự tham dự trực tiếp của các công dânvào hoạt động của nhà nớc Chính vì lý do đó mà ngời tanghĩ rằng dân chủ không thể áp dụng trên diện rộng Tại
đây, chỉ có những công dân có tài sản và công dân
tự do mới có quyền dự Đại hội, dân chủ không bao gồm
những ngời nô lệ, hay dân ngụ c thời đó không có quyềnchính trị cũng nh quyền dân sự Tất cả ngời bình dân đều
đợc thảo luận và quyết nghị những vấn đề lớn của nhà nớcnh: chiến tranh và hòa bình, giám sát các cơ quan nhà nớc,cung cấp các lơng thực cho thành phố, bầu những chức vụcao cấp của bộ máy nhà nớc bằng phơng thức bỏ phiếu kínhoặc biểu quyết duyệt những việc quan trọng nhất của tòa
án
Còn ở La Mã cổ đại, việc tham gia Đại hội nhân dân ở
La Mã dựa trên sự phân biệt tầng lớp Tất cả những ngời đàn
8
Trang 9ông cầm vũ khí đều đợc chia thành sáu tầng lớp, tùy thuộcvào tài sản của họ Trong Đại hội nhân dân, tức đại hội các
centuries (comitia centuriata), những công dân đều đứng theo biên chế nhà binh, thành từng đội, trong các centuries của họ, mỗi centuries gồm một trăm ngời và là một đơn vị
biểu quyết Ăng-ghen chỉ ra rằng: những tầng lớp thứ nhất
cung cấp 80 centuries; tầng lớp thứ hai: 22; tầng lớp thứ ba:
20; tầng lớp thứ t: 22; tầng lớp thứ năm: 30; tầng lớp thứ sáucung cấp 1 centuries, để giữ thể diện [53, tr 200]
Khái niệm nhân dân và dân chủ đợc hiểu là một thểchế do dân làm chủ chỉ xuất hiện từ cách mạng t sản.Abraham Lincoln tuyên bố dân chủ là một chính quyền của
dân, do dân và vì dân đối lập với chế độ độc tài Dân chủ hiểu theo nghĩa là một chế độ nhà nớc là một phạm trù
mang tính lịch sử Lênin coi dân chủ là một hình thức nhà nớc Dân chủ gắn liền với nhà nớc, ra đời cùng với nhà nớc và
mất đi khi nhà nớc tự tiêu vong Đặc trng cơ bản của nhà nớc
là ở chỗ nó là một quyền lực công cộng tách rời khỏi nhândân Cho nên khi còn tồn tại nhà nớc thì không thể tồn tại mộtnền dân chủ trc tiếp thuần túy Dân chủ trực tiếp ở Hy Lạp
và La Mã chỉ mang tính hình thức Nếu đó là một nền dânchủ trực tiếp thực sự thì Aten và La Mã không phải là nhữngnhà nớc Nếu toàn thể dân chúng đều có thể trực tiếp thamgia quyết định các công việc của xã hội thì không còn kháiniệm dân chủ nữa, và cũng không có nhà nớc nữa, mà chỉ có
sự tự quản của nhân dân Đó chỉ có thể là xã hội cộng sản
Trang 10chủ nghĩa trong tơng lai theo sự phát triển tất yếu của xã hộiloài ngời
Nh vậy, có thể thấy rằng dân chủ chỉ xuất hiện khi
tr-ớc đó đã tồn tại ba yếu tố: nhân dân, quyền lực công cộng
và mối quan hệ giữa chúng Trong lịch sử của Hy Lạp cổ đại,
hình thức quyền lực công cộng đầu tiên của các quốc gia
-đô thị đợc sử sách ghi lại chính là nhà nớc Xét về phơng
thức tổ chức quyền lực, thì rõ ràng để có dân chủ thì
nhân dân phải là chủ thể của quyền lực, do đó ngời ta có
thể đề cập đến nhà nớc mà không có dân chủ, nhng không thể đề cập đến dân chủ mà không có nhà nớc
Dân chủ cũng không thể không đặt trong mối liên hệvới pháp luật Chính pháp luật là điều kiện, là đảm bảo để
có dân chủ Những biểu hiện xa lạ với dân chủ có nguy cơphá vỡ, làm biến dạng tập trung không phải là dân chủ mà là
tự do vô chính phủ, tính phân tán, tản mạn, cục bộ, vô kỷluật, tính tự phát, coi thờng pháp luật, kỷ cơng Và cũng vậynhững biểu hiện xa lạ với dân chủ, dẫn tới vi phạm và triệt tiêudân chủ không phải là tập trung mà là tình trạng quan liêu,chuyên chế, độc tài, tính áp đặt mệnh lệnh, bao hàm cảthói tùy tiện, hỗn loạn, vô chính phủ [67, tr 55]
Tại sao cho tới tận thế kỷ XVII - XVIII, nhiều tên tuổi nổitiếng nh Montesquieu hay Rousseau vẫn coi chính thể dânchủ là một thể chế chính trị hạn chế, không thích dụng vớicác quốc gia lớn, bởi tính trực tiếp của nó Montesquieu cho
rằng: "u thế lớn của các đại biểu là họ có thể bàn cãi về mọi
10
Trang 11công việc Dân chúng thì không thể làm nh thế đợc Đây làm một trong những điều bất tiện lớn nhất của dân chủ"
[98, tr 103-104] Rousseau cũng nhận thấy rằng, dân chủ bị
hạn chế bởi tính trực tiếp Trong cuốn Bàn về khế ớc xã hội,
Rousseau cũng cho rằng không phải ý kiến của số đông là
sáng suốt: "Cơ quan quyền lực tối cao có thể phó thác việc quản lý chính phủ cho toàn dân hoặc cho đại bộ phận dân chúng; nh vậy sẽ có nhiều công dân - pháp quan hơn là số công dân thờng" [70, tr 101]
Về mặt phạm vi, dân chủ rất toàn diện bao quát cáclĩnh vực đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa
t tởng; từ các mối quan hệ giữa con ngời với con ngời; đếnquan hệ giữa cá nhân và cộng đồng; giữa công dân với nhànớc, các tổ chức và thể chế hiện hành Tác động trực tiếpnhất đến dân chủ là dân chủ kinh tế và dân chủ chính trị.Cốt lõi của dân chủ kinh tế là lợi ích; cốt lõi nhất của dân chủchính trị là quyền lực thuộc về nhân dân, đợc thực hiệnthông qua chế độ bầu cử dân chủ, chế độ kiểm soát quyềnlực nhà nớc sau khi đợc thiết lập một cách dân chủ, và chế
độ bãi miễn nghiêm khắc đối với những nhân viên nhà nớcthoái hóa, biến chất Dân chủ trong lĩnh vực ý thức - t tởng
đòi hỏi sự giải phóng tiềm năng sáng tạo của t duy con ngời
và tự do t tởng Dân chủ còn biểu hiện ở mối quan hệ giữacá nhân với cộng đồng và xã hội trong sự thống nhất hữu cơgiữa quyền lợi và nghĩa vụ, lợi ích với trách nhiệm
Trang 12Dân chủ, tự do, công bằng, bình đẳng… là nhữngkhái niệm có sự tơng đồng mà nếu phân biệt rạch ròi thì sự
phân biệt đó chỉ có ý nghĩa tơng đối Dân chủ, tự do luôn thể hiện khuynh hớng muốn vợt ra mọi ràng buộc, luôn là khát vọng, mong ớc của con ngời bất luận con ngời đó là ai, làm gì, ở đâu Biểu hiện của dân chủ ngày nay rất đa dạng,
dân chủ có thể đợc hiểu là hình thức nhà nớc (dạng tổ chứcquyền lực nhà nớc) thể hiện mối quan hệ giữa cộng đồngdân c và nhà nớc; hình thức hoạt động của mặt trận tổquốc và các tổ chức xã hội; là hình thức cụ thể trong các lĩnhvực của xã hội công dân; là tự do cá nhân - một giá trị mangtính phổ biến trong cuộc sống đời thờng
1.1.2 Xu hớng vận động, phát triển của dân chủ thế kỷ XXI
Trớc khi tìm hiểu về dân chủ ở Việt Nam và dân chủ ởlàng xã, chúng tôi cho rằng, việc nhìn nhận đánh giá xu hớngvận động của vấn đề dân chủ trên thế giới là vô cùng quantrọng, chính điều này sẽ giúp cho những kiến giải của luậnvăn có cái nhìn tổng quan và phù hợp với xu hớng chung củathế giới Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng vấn đề dân chủhiện nay đang diễn ra rất phức tạp, nhiều quan điểm vànhiều luận thuyết khác nhau, nhng cơ bản đều thừa nhậnnhững đặc điểm sau nh những xu hớng vận động cơ bảncủa dân chủ thế kỷ XXI:
12
Trang 131.2.1.1 Thừa nhận và tôn trọng lợi ích của thiểu
số nhằm đạt đợc lợi ích đa phơng
Theo dự đoán của nhiều nhà khoa học nớc ngoài thì tới
đây (trong suốt thế kỷ thứ XXI) nhân loại sẽ nếm trải nhữngbiến đổi mạnh mẽ của làn sóng thứ ba (cuộc cách mạng côngnghệ thông tin và sự xuất hiện nền kinh tế tri thức) và lànsóng ấy sẽ làm biến đổi căn bản các thể chế chính trị quốcgia và quốc tế theo chiều hớng dân chủ phổ biến và trựctiếp Khi nói về dân chủ thế kỷ XXI, Alvin Toffler - nhà tơnglai học đợc đánh giá cao nhất trong những năm gần đây đãkhẳng định rằng:
Làn sóng chính trị sẽ không dừng lại ở cấp quốcgia Trong những thập kỷ sắp đến, toàn bộ "bộ máyluật pháp toàn cầu" từ Liên hợp quốc đến Hội đồngthành phố, sẽ đối mặt với sự đòi hỏi không chống lại
đợc về việc phải cấu trúc lại; mà nguyên tắc đầu tiêncủa chính phủ làn sóng thứ ba là quyền lực thiểu số
Không phải đa số mà là thiểu số đợc quan tâm
đến… [2, tr.314].
Dân chủ ở cơ sở cũng không thể đi ngợc lại với nguyên lýchung là tôn trọng sự cạnh tranh lành mạnh, và tính đa dạngcủa các nhóm thiểu số Tác giả Robert A Dahl trong cuốn sách
nổi tiếng về dân chủ "A preface to democratic theory" (khái quát về lý thuyết dân chủ) đã khẳng định một nguyên lý:
Trang 14Nền dân chủ thực chất nhất chính là nền dânchủ xuất phát từ sự bình đẳng, sự bình đẳng màpháp luật ở quốc gia nào cũng hớng tới Đó là sự tôntrọng tính đa dạng của các nhóm lợi ích, nhiệm vụcủa dân chủ không phải là đè bẹp ý chí của nhữngthiểu số đó mà là tìm ra trong số những nhóm lợiích đó tiếng nói chung [100, tr 34].
Alvin Toffler lập luận rằng, các nhà cai trị làn sóng thứhai (làn sóng văn minh công nghiệp) luôn luôn tự cho là phátngôn nhân danh đa số, vì tính hợp pháp của họ phụ thuộcvào nó, ông cũng thừa nhận rằng trong suốt kỷ nguyên nềnvăn minh làn sóng thứ hai, cuộc chiến đấu cho nguyên tắc
đa số đã có ý nghĩa nhân đạo và giải phóng Ngày nay, khi
xuất hiện làn sóng thứ ba, ngời nghèo không còn chiếm
đa số và họ trở thành thiểu số, do đó nguyên tắc đa
số không còn là một nguyên tắc hợp lý nữa, nó cũng không còn nhân đạo hoặc dân chủ nữa; vấn đề cần
hoàn thiện là phải hiện đại hóa toàn bộ hệ thống để tăng ờng vai trò của các nhóm thiểu số khác nhau nhằm cho phép
c-họ tạo thành đa số [2, tr 339] Tác giả luận văn cho rằng,
Alvin Toffler lập luận nh vậy là có căn cứ vì thế kỷ XX trở vềtrớc dờng nh nguyên tắc đa số luôn ngự trị và nó luôn cónghĩa là sự thay đổi tốt hơn cho ngời nghèo, nhng suy nghĩlại sẽ thấy dân chủ đa số thực chất là dân chủ ở cấp độthấp, là mức độ phát triển thuần túy và sơ khai về dân chủ
14
Trang 15Nguyên tắc 51% rõ ràng là một công cụ đơn thuần về lợng, cái gì để đảm bảo cho chất lợng quan điểm của một ngời
Chúng tôi cho rằng, dân chủ trong thế kỷ XXI phải là
đặc trng sắc tộc, các luật tục địa phơng, các cộng đồngthiểu số, các nền văn hóa độc đáo không lặp lại, các thổngữ, văn tự v.v… đều là những giá trị cần đợc dân chủ tôntrọng và bảo tồn bằng những đặc lệ
Hơn nữa, cần phải thấy đợc rằng, bản chất của dân
chủ là chấp nhận sự đa dạng hợp lý, dân chủ không xua
đuổi, không áp đặt các ý kiến, dân chủ thu nhận tất cả
những khác biệt ấy, để làm gì? Để dung hợp hoặc tìm ra
tiếng nói chung, hoặc đi tới giải pháp tối u nhất nhằm
đem lại lợi ích đa phơng Tính linh hoạt của dân chủ trong
việc tìm lợi ích đa phơng đó sẽ là giải pháp tối u, và là tháchthức lớn đối với việc thực hành dân chủ
Trang 16Khả năng tự hoàn thiện và tiến bộ không ngừng củanền dân chủ chính là nhờ sự chấp nhận tính đa dạng của
các ý kiến, nó sử dụng tính đa dạng ấy nh cơ chế phản
biện Chính vì vậy, năng lực tự phê phán, tự so sánh đối
chiếu và luôn thay mới sẽ tự làm mới vấn đề dân chủ, và có lẽ
đó cũng là xu hớng của dân chủ trong thế kỷ XXI
1.2.1.2 Phân công, phân cấp hợp lý
Yếu tố có tác động không nhỏ đến tính chất và mức độdân chủ trong tơng lai là sự phân cấp, phân công hợp lý Phâncấp hay phân công là việc giao quyền quyết định vào đúngchỗ của nó Một số vấn đề không thể giải quyết ở cấp địaphơng, và ngợc lại cũng có những vấn đề không thể giải quyết
ở cấp quốc gia và có cả những vấn đề đòi hỏi sự hành động ởnhiều cấp đồng thời cùng một lúc
Nếu mức độ phân cấp quá mức sẽ dẫn đến hiện tợngtản quyền, cát cứ Alain Touraine, một nhà xã hội học ngờiPháp trong cuốn "Phê phán tính hiện đại", đã nhận xét:
"Nếu đất nớc bị chia nhỏ thành những tộc ngời xa lạ và đối
địch với nhau, hay đơn giản hơn, nếu những bất công lớn
đến mức ngời dân không có ý thức về một lợi ích chung, thì dân chủ sẽ không có nền tảng" [1, tr 216] Nhng nếu quá ít quyền quyết định dành cho cấp dới là một sự nguy hại; nhu cầu cần thiết là phải có sự phân cấp lại cho hợp lý
quyền quyết định nếu một hệ thống quá nặng nề về tậpquyền
16
Trang 171.2.1.3 Dân chủ bán trực tiếp
Nhợc điểm cố hữu của dân chủ trực tiếp là ở phản ứngtình cảm, nhất thời và phụ thuộc nhiều vào vấn đề thôngtin Thiếu thông tin, nóng vội, thiếu suy nghĩ khi quyết địnhtrực tiếp, đó cũng là sự nguy hiểm Nhng dân chủ trực tiếp
cũng có u điểm của nó Aritxtốt thừa nhận rằng: "Số đông ít
hủ bại hơn số ít, chẳng khác nào nhiều nớc thì độ bẩn sẽ ít hơn so với ít nớc Cá nhân dễ bị hãm trong sự nóng giận hay
sự cuồng nhiệt, do đó mà phán đoán của cá nhân dễ bị thiên lệch Đối với số đông, khó mà nghĩ rằng, trong một lúc
họ đều có thể cuồng nhiệt và sai lầm hết"[3, tr 216] Nhợc
điểm của dân chủ gián tiếp ở chỗ khi không có sự thống nhất
ý chí trong các cử tri ở khu vực bầu cử, thì đại biểu đợc bầu
lên sẽ đại diện cho ý chí của ai? Do vậy, sự nhất trí bị phá vỡ thì cũng làm phá sản luôn khái niệm đại diện.
Tính đại diện trong tơng lai cũng cần đợc xem lại Đạibiểu do dân bầu càng ngày càng phải giải quyết nhiều côngviệc, và nhìn chung các đại biểu ngày càng hiểu biết ít hơn
về các việc mà họ phải quyết định Khi năng lực của đạibiểu dân cử kém, mà lại bảo thủ, đóng kín, khi đó ngời dân
đơng nhiên sẽ ít cảm thấy đợc đại diện đầy đủ Ngời đạibiểu muốn giải quyết đợc công việc buộc phải dựa vào sứcmạnh, nguồn lực từ bên ngoài Hay nói cách khác, nếu muốnthực sự là đại diện cho dân, cho tiếng nói của dân thì
không còn cách nào khác họ buộc phải dựa vào bộ máy
giúp việc và chuyên gia cố vấn (hình thức này mới là
Trang 18chủ đạo trong tơng lai) Nh vậy, dân chủ về mặt hình
thức là gián tiếp nhng hóa ra lại có cả những yếu tố trực tiếp,
từ chỗ chỉ cần ngời đại biểu đại diện cho nhân dân thuầntúy tới việc ngời đại biểu phải chủ động huy động sức mạnh,trí tuệ của nhân dân, tranh thủ sự tự vấn của các nhóm
chuyên gia để đại diện cho dân Dân chủ bán trực tiếp là
dân chủ không khép kín, nó sẽ bao gồm những thiết chế để
đảm bảo sự giám sát có hiệu quả, lâu dài từ phía thiểu số
1.2.1.4 Pháp luật - công cụ, phạm vi, đảm bảo của dân chủ
Muốn có dân chủ thực sự thì dân chủ phải đặt trongmối liên hệ với pháp luật Pháp luật là đại lợng và phơng tiệncủa dân chủ Nhng pháp luật cũng có tính độc lập tơng đối
đối với dân chủ: pháp luật không sinh ra dân chủ bởi dânchủ không tự trên trời rơi xuống mà là kết quả đấu tranh lâudài của nhân dân lao động, là kết quả của quá trình nhậnthức, là tất yếu của tiến bộ xã hội
Ngoài sự quyết định và chi phối của các nhân tố kinh
tế và phi kinh tế, sự phát triển của pháp luật nhìn chung phụthuộc vào trình độ nền dân chủ hiện thời hoặc ảnh hởng từbên ngoài của các nền dân chủ khác Đến lợt mình, dân chủlại phụ thuộc vào các điều kiện khách quan về kinh tế -chính trị - xã hội Pháp luật với u thế và nhợc thế riêng củamình lại tác động trở lại đối với dân chủ Pháp luật có thể
18
Trang 19thúc đẩy, hỗ trợ cho dân chủ phát triển và ngợc lại, có thểkìm hãm dân chủ dới nhiều hình thức.
Muốn cho pháp luật thực sự là động lực cho dân chủthì pháp luật phải gần dân, pháp luật phải đợc minh bạchhóa, phải đợc góp ý, tranh luận thẳng thắn công khai đểpháp luật tự hoàn thiện Một qui định pháp luật không rõràng, không minh bạch, không đúng đắn sẽ là cơ hội cho ng-
ời ta vi phạm, lợi dụng dân chủ Nếu pháp luật xây dựng trênnền tảng khép kín, chủ quan, khi thực hiện thì bng bít,không minh bạch vô hình chung nó sẽ trở thành công cụ củathiểu số áp đặt lên đa số Về luận điểm này chúng tôi rấttán đồng với ý kiến của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa trong bài
Tính minh bạch của pháp luật, một thuộc tính của nhà nớc pháp quyền: "Minh bạch hóa sẽ góp phần ngăn chặn đợc nguy
cơ pháp luật trở thành công cụ phục vụ lợi ích của một nhómngời thiểu số" [58]
1.2 Dân chủ trong lịch sử Việt Nam và vấn đề dân chủ ở xã hiện nay
1.2.1 Khái quát những đặc trng cơ bản của dân chủ trong lịch sử Việt Nam
Trang 20chủ chuyên chế ở Việt Nam [45, tr.18-28] Trong khi đó lại cónhiều quan điểm khẳng định rằng nớc ta từ xa đã có mộttruyền thống dân chủ, coi nh một trong những truyền thống
u việt của nhân dân đợc tạo nên trong quá trình dựng nớc vàgiữ nớc, và là một cơ sở thuận lợi để xây dựng chế độ làmchủ tập thể, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa hiệnnay Vậy sự thực là gì, trong truyền thống lịch sử ở nớc ta đãthực sự có dân chủ cha? Và nếu có thì tồn tại ở dạng thứcnào, đặc tính, cũng nh mức độ thể hiện của nó ra sao đểtrên cơ sở đó ta có thể rút ra những bài học trong việc xâydựng nền dân chủ hiện nay
Sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi, năm 1010 Lý Công Uẩn rời
đô về Thăng Long, nhà Lý đã chủ trơng xây dựng một môhình chính quyền thân dân, phát huy sức mạnh của nhân
dân, sử dụng kế sách: "Ngự binh nông", nhà nớc không xây
dựng lực lợng quân đội thờng trực mà xây dựng một lực lợng
dân đinh Bản chất của kế sách "ngự binh nông" chính là sự vận dụng khéo léo quan điểm "tĩnh vi nông, động vi binh",
khi mà chiến tranh xảy ra có thể huy động đợc mọi ngời cùngtham gia quân đội Điểm tích cực ở kế sách này đó là xâydựng đợc lực lợng quốc phòng đủ mạnh, nhng ngợc lại nhà nớclại không tốn kém nhiều tiền, đồng thời vẫn phát huy đợc sứcmạnh của nhân dân ý thức tôn dân đợc khẳng định rõ
trong Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn: "Muốn mu việc lớn, tính
kế muôn đời cho con cháu thì trên phải vâng mệnh trời, dới theo ý dân"; ngay cả việc nhà Lý đặt Lầu Chuông trong
20
Trang 21thành Thăng Long để "dân chúng ai có việc kiện tụng oan uổng thì đánh chuông lên" cũng là một biểu hiện rất rõ ý
thức dân chủ
Thời kỳ từ 1225 - 1400 là giai đoạn cai trị của nhà Trần:Nhà Trần vẫn tiếp tục dựa vào mô hình nhà nớc thân dân,thậm chí đạt đến độ hoàn thiện Thời kỳ này nổi lên môhình coi già làng là ngời có vai trò lớn trong những quyết sáchquan trọng của quốc gia Dới thời Trần có hai sự tích khiếnkhông chỉ những ngời nghiên cứu lịch sử trong và ngoài nớcphải ngạc nhiên đó là tích tha tội cho tiểu hiệu Hoàng Cự Đà
Tử đi thuyền ngợc lên, Cự Đà lánh sang bờ sông bên kia,
thuyền chạy rất gấp Quan quân gọi lớn: "Quân Nguyên ở đâu?" Cự Đà đã trả lời: "Không biết, đi mà hỏi những ngời ăn xoài ấy" Thái tử lúc đó đã xin vua
cha khép Cự Đà vào cực hình để răn những kẻ làm
Trang 22tôi bất trung" Vua Trần đã nói: "Cự Đà tội đáng chết cả họ, song xét thấy việc Cự Đà là lỗi ở ta, tha cho hắn tội chết, cho phép hắn đánh giặc chuộc tội"
Lý Hải Nha đem quân lấy cớ mợn đờng đi đánh Chiêm Thành, chia đờng vào cớp nớc ta Vua Trần Nhân Tông đã triệu phụ lão trong nớc họp ở thềm
điện Diên Hồng, ban yến tiệc và hỏi kế đánh giặc Các phụ lão đều nói "đánh", muôn ngời cùng hô một tiếng, nh bật ra từ một cửa miệng [26, tr.189].
Sở dĩ Nhà Trần thế kỷ XIII đã ba lần đánh thắng quânxâm lợc Nguyên Mông hung hãn, tất cả là ở việc nhà Trần biếtdựa vào sức mạnh của nhân dân, Trần Quốc Tuấn đã coi
"chúng chỉ thành thành" (ý chí của dân chúng là bức thành
giữ nớc) và tổng kết nguyên nhân thắng lợi nh một triết lý
dân chủ "vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, nớc nhà chung sức", đặc biệt khi Trần Hng Đạo sắp qua đời đợc vua Trần hỏi về kế giữ nớc ông đã nói rằng: "Thần nghĩ ta thắng giặc giữ là do trên dới đồng lòng vì vậy, khoan thứ sức dân
22
Trang 23làm kế gốc rễ bền, ấy là thợng sách giữ nớc" [75, tr 80] Có
thể nói, t tởng dựa vào dân của Trần Quốc Tuấn là một minhchứng - một t tởng đặc sắc về dân chủ trong lịch sử
Đầu thế kỷ XI, Hồ Quý Ly chuẩn bị kháng chiến chốngquân Minh xâm lợc, xây dựng lực lợng quân thờng trực khá
đông, có súng thần cơ, có nhiều chiến thuyền, nhng không
đoàn kết đợc toàn dân, lòng dân ly tán nên đã thất bại, chacon Hồ Quý Ly đều bị giặc Minh bắt, lúc đó Hồ NguyênTrừng đã chỉ rõ nguyên nhân của sự thất bại chỉ thông qua
một câu nói: "Tôi không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo
mà thôi"[75, tr 235].
Dới triều Lê, Nguyễn Trãi cũng ví dân nh nớc, nớc có thể
chở thuyền và lật thuyền nên "phúc chu thủy tín dân do thủy" (thuyền bị lật mới biết sức dân nh nớc) Đặc biệt ông
đã nêu lên những t tởng sâu sắc về vai trò cũng nh sức mạnhcủa dân trong Bình Ngô đại cáo với t tởng an dân và trừ bạo
ngợc: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trớc
lo trừ bạo" [83, tr 201] Nguyên nhân thắng lợi của cuộc
kháng chiến chống quân Minh đã đợc Nguyễn Trãi đúc kết:
"Nêu hiệu gậy làm cờ, tập hợp khắp bốn phơng dân chúng Thết quân rợu hòa nớc, dới trên đều một bụng cha con" ông ví
dân nh nớc, các triều đại phong kiến nh con thuyền; thuyềnnổi đợc là nhờ nớc; khẳng định t tởng thái bình thịnh trị:
"Cái gốc của nhạc là ở nơi thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu" [83, tr.202]; khẳng định trách nhiệm của ngời cầm quyền: "Phàm ngời có chức vụ coi quan
Trang 24trị dân đều phải theo phép công bằng đổi bỏ thói tham
ô, sửa trừ tệ lời biếng, coi công việc của quốc gia là công việc của mình; lấy điều lo của sinh dân làm điều lo thiết kỷ"
[83, tr 199]
Thực tế là đất nớc ta luôn luôn gặp thiên tai và ngoạixâm, làm cho ngời cầm quyền trớc đây đã ý thức đợc rõràng vai trò của ngời dân Không chỉ Trần Quốc Tuấn,Nguyễn Trãi nói về dân mà cả Gia Long, Minh Mệnh và Tự Đứcnữa cũng không ngớt nói về dân [92, tr 26]
Cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, trongkhi vua quan nhà Nguyễn dâng đất và ký hiệp ớc đầu hàng,thì những ngời dân ấp, dân lân đã anh dũng đứng lênchống giặc, bảo vệ quê hơng, đất nớc Tinh thần ấy đợc ca
ngợi trong bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình
Chiểu Sự nghiệp văn học của Nguyễn Đình Chiểu vợt xa nhữngngời đơng thời không phải nhờ học vấn khoa cử mà nhờ lòngtin vô hạn vào nhân dân lao động
Trong cuốn Hợp tuyển văn thơ yêu nớc và cách mạng đầuthế kỷ XX (1900 - 1930), của Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội,
năm 1972, Phan Châu Trinh đã khẳng định: "Ai coi nớc nhà
nh một món của riêng mình thì ví nh bọn trộm cớp, còn ai cậy quyền mà áp chế nhân dân thì ví nh quân phản nghịch"; còn Phan Bội Châu trong tác phẩm "Hải ngoại huyết th" nổi tiếng ông đã thấy đợc vai trò to lớn của dân: "Sông xứ Bắc, bể phơng Đông Nếu không dân cũng là không có gì.".
24
Trang 25Nói dân là chủ nhng dân là ai? Đợc hình dung trong tập hợpthế nào? Làm chủ cái gì và làm chủ nh thế nào? Vào thời
điểm đó, cái đợc chú ý là chủ quyền quốc gia chứ cha phải làdân quyền, nhân quyền trong đời sống T tởng về dân chủcủa Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là rất tiến bộ, songvào thời điểm lịch sử đó, cái đợc chú ý là chủ quyền quốcgia chứ cha phải là dân quyền, nhân quyền trong đời sống
Khi nói "Muôn dân nô lệ dới cờng quyền" thì ngời dân trớc
hết cũng đợc đặt trong thực tế mất nớc, với vua quan chuyên
chế và bọn cờng quyền là quân xâm lợc [20, tr 104] Để
khẳng định chân lý mới đó, các nhà Nho Duy Tân đã làmquen với những t tởng tự do, bình đẳng, luật pháp, nhữngvấn đề dân quyền của xã hội phơng Tây
Là ngời sáng lập và lãnh đạo của Đảng ta, Chủ tịch HồChí Minh - vị lãnh tụ thiên tài của cách mạng và nhân dân ViệtNam đã tiếp thu những t tởng dân chủ tiên tiến khắp nămchâu và đã phát triển lên những bớc mới và thực hiện thành
công ở Việt Nam, ''có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới
động viên đợc tất cả lực lợng của nhân dân đa cách mạng tiến lên'' [57, tr 556] Hồ Chí Minh không những thấy rõ vai
trò và sức mạnh quyết định của quần chúng nhân dân, mà
t tởng của ngời đã vợt lên trên t tởng của những nhà cách mạng
đơng thời, trở thành t tởng tiên tiến, giải đáp đợc những vấn
đề cấp bách của dân tộc, của xã hội Việt Nam, của dân tộcViệt Nam trong hoàn cảnh mới và thời đại mới
Trang 26Khi nghiên cứu các cuộc cách mạng tiêu biểu của thế giới,
Hồ Chí Minh quan tâm đầu tiên tới việc chính quyền nhà nớc
về tay ai, có thuộc về nhân dân lao động không và điềuquan tâm, trăn trở lớn nhất của Ngời là phải giành chínhquyền về tay nhân dân, xây dựng Nhà nớc do nhân dânlao động làm chủ và đây là điểm cơ bản khác biệt nhấtcủa Nhà nớc ta so với Nhà nớc thực dân, Nhà nớc phong kiến HồChí Minh đã khẳng định rất rõ ràng: "Nớc ta là nớc dân chủ.Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xâydựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiếnquốc là công việc của dân Nói tóm lại quyền hành và lực lợng
đều ở nơi dân" [67, tr 476]; đồng thời, Ngời đã thấy tất cả
sức mạnh của chính quyền nhà nớc là ở nhân dân: '' Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng qua''.
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ bao gồm cả ba vấn
đề: dân quyền, dân sinh và dân trí Quan điểm dân
chủ của Ngời là quan điểm dân chủ thiết thực và cụ thể
Theo Ngời, dân chủ, thứ nhất, là dân là chủ ''nớc ta là nớc
dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ''; ''chế độ
ta là chế độ dân chủ tức là nhân dân làm chủ''; thứ hai,
dân chủ là toàn bộ quyền lực, lợi ích đều thuộc về dân ''nớc
ta là một nớc dân chủ" Mọi công việc đều vì lợi ích của dân
mà làm Khắp nơi có đoàn thể nhân dân, nh Hội đồngnhân dân, Mặt trận, Công đoàn, Hội Nông dân cứu quốc,Phụ nữ cứu quốc Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân,
26
Trang 27phấn đấu cho dân, bênh vực quyền của dân, liên lạc mậtthiết nhân dân với Chính phủ''.
1.2.1.2 Đặc tính điều tiết ngợc trong lịch sử
Lâu nay khi nói về nhà nớc quân chủ trung ơng tậpquyền trong lịch sử phong kiến nớc ta nhiều công trình đãnhấn mạnh nhiều đến tính chất chuyên chế, độc tài của cácnhà nớc đó, mà cha đánh giá xứng đáng các yếu tố hay tínhchất dân chủ hiện diện ngay trong hình thức nhà nớc quânchủ ấy, khiến việc đánh giá nhiều khi cha thực sự toàn diện.Lịch sử đã cho thấy, trong mọi quyết sách của nhà cầmquyền dù ở bất cứ thời kỳ nào cũng đều phải xem xét đến lợiích của nhân dân, sức mạnh của nhân dân, mọi qui định
đợc ban hành ra, nhà cầm quyền Việt Nam đều tập trung
xem xét hai vấn đề: Thứ nhất, khi ban hành ngời dân có chấp nhận không; thứ hai, nếu có chấp nhận thì ngời dân có
tự nguyện mà thực hiện không Nh vậy, dân chủ trong lịch
sử ở mức độ nhất định đã mạnh đến mức có khả năng tạo ratạo ra sự đối trọng lại với quyết sách của nhà cầm quyền Điều
này chúng tôi tạm cho đó là "sự điều tiết ngợc" - vì đó
không phải là sự điều tiết một chiều từ trên xuống, việc raquyết định thuần túy chỉ chú ý đến lợi ích của ngời banhành quyết định, mà còn cả ngời thực hiện các qui định
đó
Thứ nhất, trong mối quan hệ vua và dân: Mối quan hệ giữa vua và dân đợc coi là tiêu điểm rõ nhất cho thấy tính
Trang 28chất điều tiết ngợc, trong mọi quyết sách của nhà vua không
thể không tính đến mối quan hệ làng - nớc, không thể khôngtính đến lợi ích của nhân dân Các vua Việt Nam luôn đặt
mình ở vị trí con trời, "thế thiên hành đạo" thay trời để trị
dân Thực ra nói con trời nhng vua lúc nào cũng lo sợ có ngày
bị trời lấy ngôi lại, nếu vua xử sự trái ý trời Nhiều triều đạikhi thấy dân đói, dân khổ, nhiều ông vua đã tự nhận trách
nhiệm về mình Quan niệm "Thiên nhân tơng cảm", nhiều
triều đại phong kiến Việt Nam coi lòng dân là ý trời và rấtquan tâm tới việc kết hợp lòng dân với ý trời Họ quan niệmlòng dân tức là ý trời đợc thể hiện ở các điềm lành (mathuận gió hòa, mùa màng tơi tốt) hay điềm dữ (bệnh tật, mabão, lũ lụt, mất mùa ) Ngời cầm quyền cai trị có đức, làmviệc tốt, hợp lòng dân thì trời xuống điềm lành; không có
đức, ăn chơi xa xỉ, hoang phí, hại dân, dân oán thì trờixuống điềm dữ để răn bảo Thí dụ, trạng nguyên Giáp Hải,quan đại thần thời Mạc Mậu Hợp, thấy chính sách của nhà Mạckhông xuất phát từ lợi ích của nhân dân, gặp khi có bão lớn,
ông đã dâng sớ lên vua Mạc và nói rằng:
Trời ra tai không phải vô cớ, chính ở ngời mà ra Tai biến về gió bão là trời hiện điềm để răn bảo Vậy xin bệ hạ lấy sự biến của trời là đáng sợ, coi nhân sự là cần phải sửa thi hành mọi điều khoan tất cho dân; ban ra ân dụ để tha những dân vô tội
bị ức hiếp; đặc biệt sai quan sở tại thăm nom giúp
đỡ luôn Có thế, ơn của trên ban xuống mới thấm đến
28
Trang 29kẻ dới Lòng ngời đã vui, tai trời sẽ hết Xin bệ hạ tôn trọng gốc nớc, cố kết lòng dân, hậu đãi mà đừng làm khốn dân; giúp đỡ mà đừng làm hại dân nhẹ bớt cho dân những việc phục dịch tức là chính sách của vơng đạo đó [17, tr 256-257]
Đại thần Ngô Trí Hòa đã cùng đại thần Lê Tri Bật vào năm
1618 làm tờ khai dâng chúa Trịnh điều trần về chính sách trị
dân của triều đình gồm 6 việc có lợi cho dân: "1 Xin sửa
đức chính để cầu mệnh trời giúp; 2 Xin đè nén kẻ quyền hào
để nuôi sức dân; 3 Xin cấm phu dịch phiền hà để đời sống của dân đợc đầy đủ; 4 Xin bớt xa xỉ để của dân đợc thừa thãi; 5 Xin dẹp trộm cớp để dân đợc yên; 6 Xin sửa sang quân chính để bảo vệ tính mạng cho dân" [17, tr 271-272] Nguồn
định bởi lòng dân thuận hay nghịch "trời sinh ra dân, không phải sinh ra ra vì vua; trời lập ra vua cũng là vì dân"
Trang 30đơn vị tụ c, có không gian văn hóa, đợc sử dụng nh một đơn
vị hành chính cơ sở mà nhà nớc phải dựa vào Trong số nhữngdòng phát triển khác nhau của thời kỳ Bắc thuộc ở nớc ta (179Trcn đến 905 Scn) có hai dòng đối nghịch luôn luôn diễn ramột cách quyết liệt trên đất nớc ta, đó là Bắc thuộc vàchống Bắc thuộc, trong đó có thể kể đến hàng loạt các cuộckhởi nghĩa chống lại chính quyền đô hộ và luật pháp của nhàHán đó là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trng (40 - 43); Bà Triệu(248); Lý Bí (542); Đinh Kiến (687); Mai Hắc Đế (722); Phùng H-
ng (791) Với một thời gian dài, sự xung đột đó đã tạo ra mộthiệu ứng nghịch đó là thái độ phản kháng lại nhà nớc và phápluật, vì thái độ này lại đợc số đông cộng đồng ủng hộ, trongmột thời gian dài hình thành nên thói quen, 1000 năm đủ tạothành truyền thống chống lại chính quyền, chống lại nhà nớc
và pháp luật vốn đợc xem là công cụ để nhà Hán đồng hóangời Việt Bởi vậy, trong dân gian vẫn lu truyền câu ca daothể hiện thái độ phản kháng, đồng thời cũng là sự tự tôn củangời dân về vai trò của mình:
"Quan có cần nhng dân không vội.
Quan có vội quan lội quan sang".
1.2.1.3 Dân chủ làng xã và tự trị làng xã trong lịch sử
Ngời Việt Nam dù sao đi nữa vẫn là thành viên của
cộng đồng, không phải là cá nhân độc lập, bị ràng buộc
trong đủ quan hệ cha con, anh em, vợ chồng tức là hộ tiểu
30
Trang 31nông chứ không phải cá nhân của quan hệ t sản Dân chủ ở
đây có chăng chỉ là việc chủ động làm tròn nghĩa vụ, đền
đáp ơn nghĩa tổ tiên, là tình nghĩa đồng bào ruột thịt Vớinhững ngời dân sống theo nghĩa đồng bào, cộng đồng xãhội hoàn toàn không đứng trên cơ sở thành lập theo khế ớc,theo nguyên tắc tự nguyện, không cần dựa vào ai, sòngphẳng, công bằng về nghĩa vụ và quyền lợi nh các nớc phơngTây
Nhìn một cách rộng hơn một chút ta sẽ thấy, ngời ViệtNam dù sao đi nữa vẫn là thành viên của cộng đồng công xã,không phải là cá nhân nh trong quan hệ xã hội t sản Nhận
định chung về đặc tính dân chủ chúng tôi cho rằng đặc
tính chung nhất của dân chủ trong lịch sử đó là dân chủ
công xã Bởi lẽ, công xã chỉ thừa nhận quyền bình đẳng và
dân chủ của giữa các thành viên khi họ là thành viên công xã,
là bộ phận tạo thành của cộng đồng, nhng hoàn toàn khôngcông nhận quyền của cá nhân, của con ngời, với t cách là mộtthực thể độc lập Dân chủ trong lịch sử đã không dựa trên sựgiải phóng con ngời và tôn trọng quyền của con ngời, mà tróichặt con ngời trong quan hệ cộng đồng và chỉ bảo đảmquyền lợi bình đẳng của con ngời với t cách là thành viêncộng đồng; về mặt chính trị, t tởng dân chủ cao nhất củanông dân là bạo động chống lại chế độ chuyên chế, lật đổbọn bạo chúa, tham quan, cờng hào với ớc mơ một xã hội công
bằng "Đợc làm vua, thua làm giặc"; "Bao giờ dân nổi can qua, con vua thất thế lại ra quét chùa"; "Thà rằng bạo động
Trang 32bất lơng, còn hơn chết đói nằm đờng thối thây" [49, tr.
112] Với những ngời dân sống theo nghĩa đồng bào, cộng
đồng xã hội nh vậy sự làm chủ ở đây có chăng chỉ là việcchủ động làm tròn nghĩa vụ, đền đáp ơn nghĩa tổ tiên, làtình nghĩa đồng bào ruột thịt [20, tr 107] Trong kinh tế,chính từ tính cộng đồng nên ai bỏ làng đi bị coi là biếnchất, dẫn đến hệ quả là không khuyến khích việc làm giàu,làng xã đã hình thành nên một vách ngăn vô hình đã khiếnngời dân quê rất khó "mở mày mở mặt" với thiên hạ Chính từnhững cơ sở của lịch sử, kinh tế và xã hội đã phân tích chothấy yếu tố dân chủ trong truyền thống Việt Nam cha thực
sự đợc quan tâm chú trọng Dân chủ trong lịch sử Việt Nam
chủ yếu tồn tại ở hai dạng là dân chủ nông dân mà mục tiêu cao nhất của nó là hớng đến bình quân chủ nghĩa, và dân chủ làng xã lấy quan hệ cộng đồng để trói buộc con ngời, từ
đó dẫn đến thủ tiêu vai trò cá nhân.Trong đấu tranh xã hội,
t tởng dân chủ của nông dân Việt Nam chỉ dừng lại ở yêu
cầu bình đẳng xã hội, bình đẳng tài sản mà mức độ phát triển cao nhất là chủ nghĩa bình quân về kinh
32
Trang 33Khởi nguồn của dân chủ là từ thôn, làng - đơn vị hành
chính tự nhiên gần dân nhất Trong lịch sử, quan niệm về
đơn vị hành chính cơ sở đã có những bớc phát triển tiến bộtheo tiến trình phát triển của nhà nớc phong kiến Việt Nam
Làng là thuật ngữ thuần Việt, dùng để chỉ khối dân c ở
nông thôn, tạo thành một đơn vị có đời sống riêng về nhiềumặt và vào thời kỳ đầu của lịch sử nhà nớc phong kiến Việt
Nam, làng đợc xác định là đơn vị hành chính cơ sở Xã là
một từ Hán Việt đợc hiểu với những nghĩa khác nhau, trong
đó có nghĩa là đơn vị hành chính cơ sở ở nông thôn Thuậtngữ này bắt đầu đợc sử dụng ở Việt Nam vào đầu thế kỷthứ VII khi Khâu Hòa (Giao châu tổng quản của nhà Đờng)thực hiện chính sách cai trị đối với làng Việt Nam theo môhình thống trị của Trung Quốc Sách An Nam chí nguyện cóghi: Khâu Hòa đặt hơng, xã dới huyện, châu và trên cùng là
An Nam đô hộ phủ Thời kỳ này, xã đợc chia thành tiểu xã và
đại xã Tiểu xã có từ 10 đến 30 hộ dân, còn đại xã có từ 40
đến 60 hộ dân Với qui mô xã nh vậy có thể nói Khâu Hòa đãlấy làng Việt truyền thống làm xã
Đầu thế kỷ X, với chính quyền tự chủ đầu tiên, Khúc Hạo
đã chia đặt các đơn vị hành chính theo thứ tự: trên có lộ,phủ rồi đến châu, giáp và cuối cùng là xã Điều này thể hiệnmột bớc chuyển biến rất quan trọng trong nông thôn Việt Namtruyền thống, cụ thể là ngời Việt đã chấp nhận chuyển làngthành đơn vị hành chính cơ sở với tên gọi là xã và cũng từ
Trang 34đó khái niệm làng xã luôn gắn chặt với nhau không chỉ vềphơng diện xã hội mà còn thể hiện ngay trong các văn bảncủa nhà nớc phong kiến Việt Nam
Dới các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê ở nông thôn, công xã vẫntồn tại với vai trò hạ tầng cơ sở của xã hội Đến thời Lý, công xãnông thôn vẫn tồn tại nhng trên thực tế quyền sở hữu vềruộng đất và chế độ tự trị đã phát triển khá mạnh Chế độ
t hữu về ruộng đất ra đời, sự xuất hiện của tầng lớp địa chủ
là nguyên nhân dẫn đến công xã nông thôn chuyển thànhlàng xã phong kiến Theo tài liệu của Viện Hán Nôm: Văn khắcHán Nôm Việt Nam, 1998, tập 1, tr.47 đa ra nhận định về
thời điểm ra đời của cấp thôn: Qua việc nghiên cứu quả
chuông đồng có niên đại Mậu Thân, niên hiệu Càn Hòa thứ 6,năm 948, đợc lu giữ tại nhà thờ Đức Thánh Trần thôn Nhật Tảo,xã Đông Ngạc, Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội Bài minh trênchuông (Nhật Tảo cổ minh chung) còn ghi rõ ngay tại dòng
đầu là: "Giao chỉ huyện, Hạ Từ Liêm thôn" Phải chăng cấpthôn đã xuất hiện từ rất lâu trớc đó Thôn chính là làng và xã
là hợp thể của thôn hay làng, nhng sự định vị này khôngxuất hiện ngay từ đầu trong lịch sử hình thành các làng Việt
cổ truyền ở nớc ta Phải đến thế kỷ X, khi họ Khúc giành đợcquyền tự chủ, chính quyền nhà nớc phong kiến lúc đó mới thihành những cải cách hành chính, biến công xã thành đơn vịhành chính cấp cơ sở, gọi là "xã" [92, tr 218]
34
Trang 35Cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, nhà Minh chiếm nớc ta
và áp đặt y nguyên mô hình nông thôn Trung Quốc (dới triềuMinh) vào Việt Nam Nhà Minh tổ chức thành các lý, mỗi lý cókhoảng 110 gia đình và đứng đầu là lý trởng (chức danh lýtrởng lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam thời kỳ này, sau này
đợc phổ biến dùng ở triều Nguyễn)
Nếu nh ở thời Trần xã quan là do nhà vua bổ nhiệm,thì bắt đầu từ năm 1466, xã quan đợc đổi thành xã trởng và
từ năm 1483 vua Lê Thánh Tông ra sắc chỉ về bầu xã trởng dớihình thức họp dân trong xã lại xét chọn Xã trởng không phải
là ngời của triều đình mà do dân trong xã đề cử, quan trên
bổ nhiệm Thông qua việc chuyển từ cơ chế bổ nhiệm xãquan sang cơ chế bầu xã trởng ta có thể thấy tính chất dânchủ đã đợc thể hiện ở cấp độ cao hơn
Theo thống kê vào những năm 1920 - 1921, ở Việt Nam
đã có tới 22.565 hơng đảng tiểu triều đình trong đó Bắc
Kỳ có tới 10.887 làng xã, Trung Kỳ có tới 9.871 làng xã và Nam
Kỳ có 1.871 làng xã và Nam Kỳ có 1.861 xã ấp Ngày nay làng,thôn, ấp, bản là đơn vị xã hội dới đơn vị hành chính cơ sở làxã, qui mô của xã cũng lớn hơn qui mô của làng xã trong lịch sử
Vào những năm đầu khi mới giành đợc chính quyền từtay thực dân Pháp, nhà nớc chủ trơng hợp các xã nhỏ lại, bỏ cấptổng, do vậy xã lúc đó gồm 2, 3 xã cũ, có khi đến 4, 5 xã cũ.Dới xã là thôn nhng thôn không phải là đơn vị hành chính cơ
sở Giai đoạn này, qui mô của xã đợc qui định cụ thể:
Trang 36+ Xã đồng bằng dài từ 3 đến 10 km, trên 3.000 dân;+ Xã trung du dài từ 10 đến 20 km, trên 2.000 dân;+ Xã miền núi dài từ 30 đến 60 km, dân c có từ 1 đến
2 hộ/ 1 km2
Năm 1952 qui mô xã đợc xác định lại:
+ Xã đồng bằng dài 5 km, có 6.000 dân là tối đa;
+ Xã trung du dài 7 km, có 5.000 dân là tối đa;
+ Xã miền núi dài 10 đến 15 km, có dân c tha thớt
Năm 1953 qui mô xã đợc xác định là:
+ Xã đồng bằng dài 3 km, có đến 2.500 dân là tối đa;+ Xã trung du dài 4 km, có đến 2.000 dân là tối đa;+ Xã miền núi từ 6 đến 10 km, dân số không qui định;Theo Quyết định số 130/CP ngày 20/6/1975 của Chínhphủ thì việc phân loại xã dựa trên một số tiêu chí nh tìnhhình chính trị, kinh tế, số dân, địa
d v.v… Tuy vậy, một số quy định vẫn còn chung chung, cha
đủ rõ nh: Đối với những xã công việc phức tạp, đồng bằng vàtrung du có khoảng 5.000 dân trở lên, ở miền núi có khoảng2.000 dân trở lên hoặc xã vùng cao, xa xôi, hẻo lánh thì cóthể qui định là xã loại I, số xã không thuộc loại trên là xã loại II
Làng là một cộng đồng có địa vực, có ranh giới lãnhthổ tự nhiên và hành chính xác định Trong đó lãnh thổhành chính chủ yếu là lãnh thổ tự nhiên, hình thành trên đất
36
Trang 37mà những thế hệ đầu tiên lập làng và khai khẩn xác định.Làng là một đơn vị tự cấp, tự túc về kinh tế Nhiều làng sảnxuất những sản vật truyền thống từ rất lâu đời Làng cũng làmột cộng đồng tự trị, tơng đối độc lập về phong tục, tậpquan văn hóa Sự xuất hiện của cấp thôn bên cạnh cấp xã làcần thiết cho công việc tổ chức quản lý nông thôn, làngtrong lịch sử đã có lúc đợc dùng lẫn lộn với xã và thôn, nhngvấn đề ở chỗ "làng" và "thôn" hầu nh không có sự phân biệt.
Có xã đợc hình thành từ 3, 4 thôn, tức từ 3, 4 làng, ngời ta gọi
là "nhất xã, nhị tam thôn" và cũng có trờng hợp xã đợc hìnhthành từ một làng, ngời ta gọi là "nhất xã, nhất thôn" [23, tr.4]
Ngời dân vẫn sống với làng, từ nhà tới làng, từ làng tới
n-ớc Làng có thể bị lấp khuất, bị mờ đi, bị giải thể (dù không thành văn) nhng sức sống của làng vẫn luôn tiềm tàng và
không thể mất Xã và thôn có thể bị thay đổi nhng không vì
thế mà làng bị biến mất Xã đã từng có thời kỳ đợc phân chia nhỏ hơn làng, tơng đơng hoặc lớn hơn làng, thậm chí
về sau này xã là sự dung hợp của nhiều làng Làng trở thànhmột biểu tợng thiêng liêng trong tâm thức ngời Việt về cộinguồn, về lịch sử của mình Xã và thôn có có thể trùng hợphoặc không trùng hợp với làng Do biến động của quản lý, xã
và thôn thờng có những thay đổi nhng làng vẫn bền vững,
ổn định, tới mức "siêu ổn định" Ngời dân vẫn sống với
làng, từ nhà tới làng, từ làng tới nớc Chính làng là nơi đầu tiên
và chính thức nhất ngời dân thể hiện quyền làm chủ của
Trang 38mình, là nơi ngời dân thực hành những quyền lợi thiết thân
nhất, trực tiếp nhất
Về vấn đề tự trị làng xã, tác giả cho rằng thôn, làng
trong lịch sử luôn là một đơn vị tụ c bền vững Nh đã phântích ở trên, làng là một thiết chế có tính chất lịch sử, có sứcsống trờng tồn với lịch sử dân tộc Từ lâu làng đã là đơn vị tụ
c và có hiện thực sinh động về dân chủ, đó là điều khôngthể phủ nhận
(ii) Nhu cầu củng cố quan hệ hàng xóm láng giềng: đó
là nhu cầu của các "ngõ" "xóm";
(iii) Nhu cầu tạo một thế bình đẳng, dù chỉ về hình thức, giữa mọi "tiểu nông t hữu" cùng làng - xã: đó là nhiệm
vụ của các giáp, tổ chức mà cách sắp xếp ngời dựa thuần trên lứa tuổi của những thành viên
(iv) Nhu cầu riêng của từng cá nhân: đó là nhiệm vụ của các phe.
Có thể khái quát hóa đặc trng của tính tự trị của thônlàng ở phác đồ sau:
38
(I)
(II)
Trang 39Vòng tròn nhỏ ở trung tâm (I) là bộ phận "lý dịch" do
lý trởng đứng đầu, mà nhiệm vụ chính là thi hành, đối vớitừng hộ và từng ngời dân trong xã do nó quản, mọi lệnh từtriều đình bên trên áp xuống (thông qua các quan lại trunggian: phó lý, trơng tuần, và các tuần đinh cũng là do dân
đinh trong xã bầu ra) Xã trởng chính là đầu mối, là mắtxích liên hệ nhà nớc phong kiến và cộng đồng dân c trong xãthông qua Hội đồng kỳ mục Xã trởng là ngời đại diện chonhân dân toàn xã Xã trởng có trách nhiệm thi hành các quyết
định của Hội đồng kỳ mục và các quyết định của cơ quannhà nớc cấp trên có liên quan
Đặc điểm dân chủ rất rõ thể hiện ở chỗ các xã trởngkhông đợc xếp vào đẳng cấp quan lại, không phải là viênchức triều đình, mà do dân đinh trong làng xã cử ra và đợcquan trên phê duyệt và lý trởng, phó lý, trơng tuần không đợchởng lơng bổng Để có thù lao cho lý trởng, phó lý, xã nàocũng có lệ để dành mấy sào ruộng (gọi là ruộng bút) cho họcày cấy thu hoa lợi, trong khi đảm nhiệm chức sắc
Trang 40Vòng tròn ở giữa (II) là "hội đồng kỳ mục" (hay "kỳ
dịch"), thờng gồm những ngời có điền sản, có "phẩm hàm"
(đó là những tớc vị do triều đình ban cấp, hay do xã bán chonhững ngời sẵn tiền) ít nhất cũng trên lý thuyết, hội đồngnày có trách nhiệm góp ý kiến cho lý trởng và các lý dịchkhác, để họ hoàn thành lệnh trên
Nếu xã nào trọng thiên tớc thì đệ nhất kỳ mục, tức làtiên chỉ phải là ngời cao tuổi nhất trong Hội đồng Nếu trọngphẩm hàm, thì ngời có phẩm hàm cao nhất là tiên chỉ Tiênchỉ là ngời đứng đầu hội đồng kỳ mục, đợc ngồi chiếu caonhất ở đình trung Thứ bậc trong Hội đồng kỳ mục thờng đ-
ợc sắp xếp theo tuổi tác hoặc theo phẩm hàm quan chức.Nếu cùng phẩm hàm, cùng khoa bảng, nhng tuổi tác cao hơn,thì bao giờ cũng đợc sắp xếp cao hơn Dới tiên chỉ là thứchỉ, và các thành viên khác theo thứ tự phẩm hàm và tuổitác, đợc gọi là các kỳ mục
Về nguyên tắc chung, Hội đồng kỳ mục quyết địnhnhững công việc cai quản chính ở trong làng, xã; trong đótiên chỉ là ngời có quyền quyết định cao nhất Tiên chỉ thờibấy giờ cũng thờng là ngời đứng đầu những dòng họ có thếlực nhất, là dòng họ có nhiều ngời đỗ đạt và làm quan nhất.Dân chủ có thực sự hay không phụ thuộc rất nhiều vào sựcông tâm của Hội đồng kỳ mục
Vòng lớn ở ngoài cùng (III) là cuộc họp "dân hàng xã":
sau khi nghe ý kiến của hội đồng kỳ mục, lý dịch triệu tập
40