LỜI MỞ ĐẦUTài nguyên thiên nhiên là tài sản quý giá do thiên nhiên ban tặng, thuộc sở hữu quốc gia do Nhà nước thống nhất quản lý, có vai trọng quan trọng đối với con người.Trong điều ki
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Tài nguyên thiên nhiên là tài sản quý giá do thiên nhiên ban tặng, thuộc sở hữu quốc gia do Nhà nước thống nhất quản lý, có vai trọng quan trọng đối với con người.Trong điều kiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá và quốc tế hoá sâu rộng như hiện nay, nhu cầu sử dụng tài nguyên cho phát triển kinh tế quốc dân ngày càng trở thành vấn
đề cấp thiết đối với mỗi quốc gia, nhất là các loại tài nguyên quý hiếm, tài nguyên không tái tạo như: Dầu khí, than, đá, Bên cạnh các công cụ quản lý hành chính như: Cấp phép thăm dò, khai thác, chế biến, thì Thuế tài nguyên là công cụ hữu hiệu để Nhà nước kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, tăng thu ngân sách, định hướng sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ nguồn tài nguyên và thân thiện với môi trường
Tổ chức thu đúng, thu đủ và thu kịp thời thuế Tài Nguyên đối với các nguồn khai thác Tài Nguyên trong lãnh thổ Việt là nhiệm vụ quan trọng của Cơ quan thuế Nhà nước, nhằm góp phần ổn định nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thực hiện chính sách phát triển Kinh tế đất nước, đồng thời tạo lập được một môi trường phát triển trong lành tránh tình trạng khai thác bừa bãi, thúc đẩy góp phần đẩy mạnh cuộc sống con người ngày càng phát triển
Trước bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, việc cắt giảm thuế suất
và thực hiện các chính sách ưu đãi thuế quan là quá trình tất yếu của Việt Nam khi gia nhập WTO, đồng thời cũng là thách thức đối với cơ quan Thuế trong việc hoàn thành chỉ tiêu thu Ngân sách Nhà nước Chính vì vậy, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu Thuế,
em đã chọn đề tài : Phân tích tác dộng của thuế Tài Nguyên
Trang 2CHƯƠNG I:KHÁI QUÁT THUẾ TÀI NGUYÊN CÁC NƯỚC TRÊN
THẾ GIỚI
Bảng số liệu chi tiết theo nước
NƯỚC ĐỐI TƯỢNG CHỊU
THUẾ
CƠ SỞ TÍNH THUẾ
1
Afganistan
Tất cả các tài nguyên trên hoặc dưới bề mặt, trừ
hydrocarbons và nước
Tổng doanh thu
Trong khoản từ 5% doanh thu gộp với các tài nguyên công nghiệp cho tới 10% áp dụng với các loại đá quý
2 Ấn Độ Các loại tài nguyên Giá bán + Đá quý: 10%; Apatit: 5%
; + Phosphat: 11%;
+ Asbestos: 726 rupees/tấn;
+ Barytes: 7,5%; Bio xit:
0,35%;
+ Cadmium: 10%;
+ Đá : 15% ; Đất sét: 21 rupees/tấn;
+ Chro-mit: 7,5%; Đồng:
3,2%;
+ Kim cương: 10%; Vàng:
0,5%;
+ Đá graphit: 225 rupees/tấn;
+ Quặng sắt: 24 rupees/tấn;
+ Chì: 5% ; + Quặng măng-gan: 3%;
Nic-ken: 0,1%
Thuế TNDN: 35%
Trang 3NƯỚC ĐỐI TƯỢNG CHỊU
THUẾ
CƠ SỞ TÍNH THUẾ
3 Sri-lanka
Khoáng sản ở bất cứ dạng lỏng, rắn hay khí, nằm trên hay dưới mặt đất, gồm cả muối và than bùn nhưng không tính hydro-carbons
Tính trên tổng doanh thu
0,5% tổng doanh thu
4 Trung
quốc
Các loại tài nguyên + Dầu mỏ 8-30 NDT/tấn
+ Khí đốt thiên nhiên 2-15 NDT/nghìn m3
+ Than 0-3-5 NDT/tấn + Các loại quặng thô quặng phi kim khác 0-5-20
NDT/tấn hoặc m3 + Quặng thô quặng kim loại đen 2-30 NDT/tấn + Quặng thô quặng kim loại màu 0-4-30 NDT/tấn
+ Muối: Muối rắn 10-60 NDT/tấn; Muối lỏng 2-10 NDT/tấn
Thuế TNDN: Trung ương 33%;
Địa phương 3%
5 Mông cổ Áp dụng với việc khai
thác tất cả các loại tài nguyên thiên nhiên trừ nước, xăng dầu và gas tự nhiên
Giá bán ấn định dựa trên giá bán trong nước và quốc tế
Với việc bán than đá và các tài nguyên phổ biến: 2.5%
giá bán của thành phẩm khai thác từ quyền khai thác
mở được bán, đặt mua hoặc sử dụng Với các sản phẩm khác áp dụng mức thuế suất 5.0 %
6 Myanma
Đá quý, kim loại, khoáng sản công nghiệp, đá
Theo giá bán và giá tham chiếu
- Đá quý: 5% -7.5%;
- Vàng, bạc, platin, iridi, palladi, rutherni, rhodi, tantalu, columbi, niobi,
Trang 4NƯỚC ĐỐI TƯỢNG CHỊU
THUẾ
CƠ SỞ TÍNH THUẾ
quốc tế (nếu có)
urani, thori và các kim loại quý khác: 4% -5%;
- Kẽm, đồng, chì , thiếc, Vonfram, nickel, antimony, alumini, arsen, bismuth, cadi, chromi, cobalt, mangan and và các kim loại khác: 3% - 4%:
d) Khoáng sản công nghiệp
và đá:1% - 3%
7 Lào Các loại tài nguyên Doanh thu 3%-5% doanh thu theo hợp
đồng ký khai thác doanh nghiệp ký kết với Chính phủ
Thuế TNDN: 35%
8
Philippines Các loại tài nguyên Doanh thu 5% trên doanh thu khai thácquặng. Thuế TNDN: 32%
9.Bờ biển
Ngà
- Kim loại quý : 1.5 -3% tuỳ loại
- Đá quý, kim cương:
5%
Không đánh thuế với nguyên vật liệu xây dựng
Thuế TNDN: 35%
10 Nam
Phi
Các loại tài nguyên Doanh thu Từ 0,5% đến 5% trên doanh
thu khai thác quặng
Thuế TNDN: 43%
11 Zambia - Các kim loại cơ bản
- Đá quý, kim loại quý
- Khoáng sản khác
Tổng giá trị (giá bán FOB) tại điểm xuất khẩu từ Zambia hoặc điểm nhận hàng trong nội địa Zambia
- 3% tổng giá trị với các kim loại cơ bản được phép khai thác theo quy định tại giấy phép
- 5% tổng giá trị đá quý hoặc kim loại quý theo quy định tại giấy phép
- 2% tổng giá trị với các
Trang 5NƯỚC ĐỐI TƯỢNG CHỊU
THUẾ
CƠ SỞ TÍNH THUẾ
khoáng sản khác Thuế suất có thể là thỏa thuận trong các hiệp định
về phát triển
12
Boswana
Vật ở dạng rắn, lỏng hay khí, trừ xăng dầu
và nước tự nhiên thuộc sở hữu công cộng hay tư nhân theo mục đích sử dụng quy định tại Luật
sử dụng nước
Dựa trên tổng giá trị thị trường của tài nguyên, được xác định là giá bán nhận được tại mỏ
Đá quý: 10%
Kim loại quý: 5%;
Các tài nguyên và sản phẩm tài nguyên khác: 3%
Thuế tài nguyên được nộp trên một tài nguyên hoặc thương phẩm theo hóa đơn thanh toán
13 Chi lê Các loại tài nguyên Giá bán Các mức thuế suất khác
nhau đối với các loại khoáng sản nhưng đều dưới 5%
trên giá bán quặng khai thác
Thuế TNDN: 50%
14
Vê-nê-zu-êla
Các loại tài nguyên Giá bán - Vàng: 1%
- Khoáng sản kim loại khác:
3%
Thuế TNDN: 30%
15 Pê ru Các loại tài nguyên -Khoáng sản kim loại: 2
USD/hecta/năm;
-Khoáng sản không kim loại:
1 USD/hecta/năm
Thuế TNDN: 30%
(Nguồn: http://duthaoonline.quochoi.vn)
Trên thế giới, Các nước khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện về nguồn tài nguyên và chiến lược khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên để quy định phương thức đánh thuế tài
Trang 6nguyên; có nước thu thuế tài nguyên (Natural resources tax), có nước áp dụng phân chia sản phẩm thu được (royalty); có nước áp dụng thuế suất % theo doanh thu, có nước áp dụng thuế tuyệt đối tính trên sản lượng khai thác Vì vậy, việc lựa chọn kinh nghiệm nước ngoài áp dụng cho Việt Nam là không mang tính thông lệ
CHƯƠNG II: LUẬT THUẾ TÀI NGUYÊN Ở VIỆT NAM
2.1 Khái niệm và đặc điểm của Thuế Tài Nguyên
Ở Việt Nam, Thuế tài nguyên là khoản thu của Ngân sách nhà nước nhằm điều tiết một phần giá trị Tài nguyên thiên nhiên khai thác đối với tổ chức, cá nhân khai thác Tài nguyên hợp pháp trên lãnh thổ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tạo nguồn thu Ngân sách nhà nước, đảm bảo quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn Tài nguyên của Nhà nước
Con người tác động vào tài nguyên với nhiều hình thức:khai thác, xử lý và sử dụng nhưng thuế tài nguyên chỉ điều tiết vào hành vi khai thác, Thuế tài nguyên không đìều tiết vào tất cả các hành vi tác động vào tài nguyên mà chỉ điều tiết vào hành vi khai thác tài nguyên Nghĩa là hành vi tác động làm biến đổi bản chất “tự nhiên” của tài nguyên Vì vậy, tại điều 1 Pháp lệnh thuế tài nguyên quy định: Mọi tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều là đối tượng phải nộp thuế tài nguyên, trừ đối tượng không thuộc diện nộp thuế
Đặc điểm của thuế tài nguyên:
Thứ nhất, đối tượng chịu thuế tài nguyên là các loại tài nguyên thiên nhiên Nếu tài nguyên đó được hình thành có sự can thiệp của con người thì nó không còn là đối tượng chịu thuế tài nguyên nữa
Trang 7Thứ hai, tài nguyên thiên nhiên là đối tượng chịu thuế phải tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam, thuộc chủ quyền Việt Nam theo luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế
Thứ ba, như đã phân tích, thuế tài nguyên không đánh vào tất cả các hành vi tác động vào tài nguyên mà chỉ điều tiết vào hành vi của các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên hợp pháp theo quy định của pháp luật
Thứ tư, mục tiêu cơ bản của thuế tài nguyên là nhằm điều tiết một phần thu nhập của tổ chức, cá nhân có hành vi khai thác tài nguyên vào ngân sách nhà nước trên cơ sở
đó quản lý hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên của quốc gia
Thuế tài nguyên là loại thuế thu vào hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên của
tổ chức, cá nhân Hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên là sự kiện pháp lý làm phát sinh thuế tài nguyên (không phải hành vi sử dụng tài nguyên thiên nhiên) Việc thu thuế tài nguyên hiện nay dựa trên cơ sở pháp lý là Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6, Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 2008 Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998 sẽ hết hiệu lực thi hành vào ngày 01/07/2010 khi Luật Thuế tài nguyên có hiệu lực
Theo Điều 2 Luật Thuế tài nguyên, phần lớn đối tượng chịu thuế tài nguyên là tài nguyên khoáng sản, như: khoáng sản kim loại, khoáng sản không kim loại, dầu thô, khí than, khí thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên và nước khoáng Khi Luật Thuế tài nguyên
có hiệu lực thì các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản có nghĩa vụ nộp thuế tài nguyên phải quan tâm đến những vấn đề sau:
Thứ nhất, quy định về thuế suất Có thể nói, thuế suất được xem như là “linh hồn” của một sắc thuế Việc xác định mức thuế suất như thế nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến số tiền nộp thuế của các chủ thể khai thác tài nguyên thiên nhiên nói chung cũng như các chủ thể khai thác khoáng sản nói riêng Biểu thuế suất này được quy định trong Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998 và Pháp lệnh số 07/2008/PL-UBTVQH12 sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998 Trước sự biến động của nền kinh tế, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh thuế tài nguyên năm 1998 đã điều chỉnh khung
Trang 8thuế suất thuế tài nguyên nhằm góp phần điều tiết kịp thời lợi nhuận của doanh nghiệp khai thác khoáng sản khi giá cả biến động
Có thể nói, trên thực tế, việc áp dụng mức thuế suất trong một biên độ rộng theo quy định của Pháp lệnh năm 2008 là điều không đơn giản vì sự chênh lệch quá cao giữa biểu thuế suất Sự chênh lệch này sẽ làm khó cho cơ quan tính thuế khi nào thì áp dụng mức thuế suất sàn và khi nào áp dụng mức thuế suất trần
Nhằm tăng tính hiệu quả và hợp lý cho việc thu thuế tài nguyên, biểu thuế suất trong Luật Thuế tài nguyên đã được thu hẹp lại biên độ bằng việc tăng mức sàn và hạ mức trần Việc điều chỉnh này hướng tới hầu hết tài nguyên thuộc nhóm khoáng sản kim loại và một số tài nguyên quý hiếm khác Chúng đều có mức thuế suất sàn tăng vì đây là những tài nguyên không thể tái tạo, có giá trị lớn Việc xác định biểu thuế suất này vẫn nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước, đồng thời góp phần nâng cao ý thức bảo
vệ tài nguyên quốc gia từ phía các chủ thể tiến hành khai thác
Thứ hai, giá tính thuế Giá tính thuế tài nguyên được quy định rõ hơn trong Luật Thuế tài nguyên năm 2009 theo hướng “là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng” (Khoản 1 Điều 6) chứ không chung chung như quy định tại Điều 5 Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998 là “tại nơi khai thác” Quy định “tại nơi khai thác” theo Pháp lệnh năm 1998 là tại tỉnh, huyện hay
xã là vấn đề gây nhiều tranh cãi trong quá trình thực hiện Đối với trường hợp tài nguyên khai thác chưa có giá bán thì Khoản 2 Điều 6 Luật Thuế tài nguyên đưa ra nguyên tắc xác định giá bán cụ thể như sau: (i) giá bán thực tế trên thị trường khu vực của đơn vị sản phẩm tài nguyên cùng loại nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định Chúng tôi cho rằng, quy định này nhằm giúp khống chế mức giá sàn của loại tài nguyên không được thấp hơn đơn giá do Nhà nước quy định nhằm tránh trường hợp kê khai giá quá thấp để trốn thuế (ii) đối với tài nguyên khai thác chứa nhiều chất khác nhau thì giá tính thuế xác định theo giá bán đơn vị của từng chất và hàm lượng của từng chất trong tài nguyên khai thác nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Ủy ban nhân
Trang 9dân cấp tỉnh quy định Tuy nhiên, theo chúng tôi, trên thực tế, việc xác định hàm lượng riêng của từng chất trong tài nguyên rất phức tạp và đòi hỏi phải thông qua quy trình kỹ thuật và phải có chi phí để xác định Trong khi đó, cơ sở vật chất, điều kiện kỹ thuật cũng như nguồn nhân lực của cơ quan quản lý nhà nước là cơ quan thuế và cơ quan tài nguyên
- môi trường để thực hiện việc phân tích, xác định hàm lượng chưa đảm bảo thì e rằng, tính khả thi của quy định này sẽ không cao
2.2 Phân tích tác động của Luật thuế tài nguyên
2.2.1 Thuế Tài Nguyên góp phần bảo vệ môi trường và tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước.
Theo thống kê của Tổng cục Thuế, số thu thuế Tài nguyên các năm 2005- 2008 bình quân mỗi năm trên 23.200 tỷ đồng, chiếm khoảng 15% tổng thu ngân sách Nhà nước từ sản xuất kinh doanh trong nước Năm 2011, chỉ tính riêng việc thu thuế từ dầu thô ước đạt 100 nghìn tỷ đồng, bằng 144,3% so với dự toán
Trước đây, thuế Tài nguyên được thực hiện theo Pháp lệnh thuế Tài nguyên (năm 1998) và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh thuế Tài nguyên (năm 2008)
Riêng đối với dầu mỏ, khí thiên nhiên được thực hiện theo quy định của Luật Dầu khí Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính sách thuế Tài nguyên, một số quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan như Luật Dầu khí, Luật Đầu tư và thực tế triển khai thực hiện, Pháp lệnh thuế Tài nguyên đã bộc lộ những bất cập cần phải sửa đổi,
bổ sung
Do đó, tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội XII đã thông qua Luật Thuế Tài nguyên, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2010
Nhằm tăng tính hiệu quả và hợp lý cho việc thu thuế Tài nguyên, biểu thuế suất trong Luật thuế Tài nguyên đã được thu hẹp lại biên độ bằng việc tăng mức sàn và hạ
Trang 10mức trần Việc điều chỉnh này hướng tới hầu hết tài nguyên thuộc nhóm khoáng sản kim loại và một số tài nguyên quý hiếm khác
Đối tượng chịu thuế này đều có mức thuế suất sàn tăng vì đây là những tài nguyên không thể tái tạo, có giá trị lớn Việc xác định biểu thuế suất này vẫn nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách Nhà nước, đồng thời góp phần nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên quốc gia từ phía các chủ thể tiến hành khai thác Việc áp dụng thuế và phí trong bảo vệ môi trường là những hình thức thể hiện của nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” Thuế và phí đều là những nguồn thu phải nộp vào ngân sách Nhà nước
Theo đó, đối tượng chịu thuế so với qui định trước đây đã loại “động vật của rừng
tự nhiên” ra khỏi đối tượng chịu thuế Bổ sung thêm “khí than” vào đối tượng chịu thuế Riêng sản phẩm của rừng tự nhiên thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên không bao gồm hồi, quế, sa nhân, thảo quả do người nộp thuế (NNT) trồng tại khu vực rừng tự nhiên được giao khoanh nuôi và bảo vệ
Đồng thời, Thuế Tài nguyên đã nâng mức thuế tối thiểu của khung thuế suất đối với các loại tài nguyên thuộc nhóm kim loại và một số loại tài nguyên quý hiếm khác; bỏ thuế suất 0% và qui định tài nguyên không tái tạo phải áp dụng mức thuế suất cao; mở rộng đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế
2.2.2 Thuế tài nguyên góp phần ổn định sản xuất và chống lạm phát
Tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong điều kiện các nguồn lực để phát triển kinh tế còn chưa đủ mạnh thì tài nguyên là một trong những nguồn lực quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước (theo số liệu Quyết toán thu ngân sách năm 2007 thì: Số thu từ dầu khí chiếm 24% tổng số thu ngân sách = 78.634 tỷ đồng/327.911 tỷ đồng Số thu thuế tài nguyên là 23.992 tỷ đồng (chiếm 7.32% tổng số thu ngân sách = 23.992/327.911 tỷ đồng; chiếm 13,11% tổng thu nội địa = 23.992/182.993 tỷ đồng)