Nghị Quyết Đại hội Đảng IX và X đã xác định “Áp dụng thuế thu nhập cá nhân thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, bảo đảm công bằng xã hội và tạo động lực phát triển” và “H
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xu thế hội nhập và toàn cầu hóa nhằm khai thác tối đa lợi thế so sánh của mỗi quốc gianói riêng và khu vực nói chung, điều này đã đặt các nhà hoạch định chính sách kinh tế vàchính sách tài chính Việt Nam trước những thách thức lớn lao, đòi hỏi phải cải cách toàndiện
Nghị Quyết Đại hội Đảng IX và X đã xác định “Áp dụng thuế thu nhập cá nhân thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, bảo đảm công bằng xã hội và tạo động lực phát triển” và “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ… Điều chỉnh chính sách thuế theo hướng giảm và ổn định thuế suất, mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp lý thu nhập” Nhằm thực hiện theo
nghị quyết của Đảng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tất cả các chính sáchthuế hiện hành đều đã được thay đổi theo hướng giảm nghĩa vụ thuế, thực hiện nguyêntắc công bằng giữa các đối tượng chịu thuế Hướng đến một chính sách thuế nói chung
và thuế thu nhập cá nhân nói riêng đạt tối ưu và hiệu quả là điều tất yếu nhằm gópphần điều tiết bớt một phần thu nhập từ các tầng lớp người có thu nhập cao trong xãhội, hình thành các quỹ tiền tệ tập trung giúp Nhà nước ngày càng thực hiện tốt hơncác chính sách xã hội của mình
Tuy nhiên, thuế thu nhập cá nhân hiện đang đóng góp rất ít cho tổng số thu thuế tại quốcgia đang phát triển như Việt Nam Vấn đề bất ổn trong xã hội là có sự phân hóa lớn giữatầng lớp giàu và tầng lớp nghèo, nếu như chúng ta không sớm tìm hiểu nguyên nhân và biệnpháp khắc phục hạn chế này thì mục tiêu đặt ra sẽ gặp phải rất nhiều bất lợi Nếu như thunhập từ tiền lương, tiền công có thể kiểm soát từ nguồn phát sinh thì việc kiểm soát và xácminh thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh khó khăn lại là một vấn đề khó khăn trongbối cảnh tính minh bạch của thông tin còn yếu kém như Việt Nam hiện nay
Chính từ những thực tiễn trên, nhằm mục đích hiểu thấu đáo về tác động của thuế thunhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó xây dựng cải tiến
Trang 2Mục đích chủ yếu của tiểu luận này là dựa trên những lý luận cơ bản về thuế Thu nhập
cá nhân đối với hoạt động kinh doanh, tập trung phân tích, đánh giá thực trạng việc áp dụngthuế Thu nhập cá nhân đối với những người có thu nhập từ hoạt động kinh doanh ở nước ta
từ năm 2009 đến nay Trên cơ sở có tham khảo việc áp dụng thuế Thu nhập cá nhân ở một
số quốc gia trên thế giới và cơ sở lý luận, từ đó đưa ra những vấn đề cần hoàn thiện và xâydựng một chính sách thuế Thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh saocho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội tại Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Tiểu luận sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết để khái quát lên những lý luận cơbản về thuế Thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh doanh và bằng phương pháp nghiêncứu thực nghiệm từ thực tế, kết hợp thêm phương pháp so sánh để phân tích, đánh giá quátrình áp dụng Thuế Thu nhập đối với hoạt động kinh doanh trong điều kiện kinh tế ViệtNam Từ đó đưa ra những nguyên nhân tồn tại và định hướng các giải pháp chủ yếu nhằmhoàn thiện và xây dựng một chính sách thuế Thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinhdoanh phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục đề tài tham khảo, và phụ lục, nhữngnội dung chính của đề tài được trình bài trong ba chương:
* Chương I: Những vấn đề chung về thuế thu nhập cá nhân
* Chương II: Phân tích các tác động của chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với
thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam
* Chương III: Kiến nghị giải pháp xây dựng chính sách thuế thu nhập cá nhân đốivới thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam
Trang 3CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1 Khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân (thuế TNCN)
1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân (TNCN)
a Định nghĩa thu nhập
Tùy theo mục đích nghiên cứu, các nhà kinh tế quan niệm về thu nhập dưới các góc độkhác nhau Hai nhà kinh tế Anh là R.M Haig và H.G Simons đầu thế kỷ 20 đã đưa ra địnhnghĩa về thu nhập (sau này gọi là định nghĩa Haig-Simons) cho rằng thu nhập là tổng giá trịcủa cải ròng tăng lên của một cá nhân cộng với sự tiêu dùng của người đó trong một thờigian nhất định, thường là một năm Quan điểm này mang tính lý thuyết và được chấp nhậnrộng rãi Tuy nhiên, trên thực tế rất khó thực hiện, vì giá trị tăng thêm mới chỉ tồn tại ở tiềmnăng, mặt khác lại biểu hiện dưới các hình thức khác nhau như tiền, hàng hóa và dịch vụsong lại chỉ được thực hiện khi có sự chuyển dịch quyền sở hữu
Dựa trên cơ sở định nghĩa của Haig-Simons, các nhà kinh tế hiện đại đưa ra quan niệmmới về thu nhập làm cơ sở đánh thuế TNCN
- Khái niệm bao quát: thu nhập là mọi khoản thu nhập ròng từ các nguồn sau khi khấu
trừ các chi phí tạo ra chúng
- Quan niệm hạn hẹp: dựa trên cơ sở thu nhập chỉ giới hạn trong những lợi ích phát
sinh lặp đi lặp lại, có tính liên tục để hình thành phương thức đánh thuế thu nhập từcác nguồn phát sinh thu nhập
Dựa trên các định nghĩa trên có thể nhận thấy thu nhập có đặc điểm chung sau: Thunhập là tổng các tài sản và của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ là một chủ thể nào
đó trong nền kinh tế - xã hội tạo ra và nhận được từ các nguồn lao động, tài sản hay đầu tưthông qua quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong mộtkhoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
b Thuế thu nhập cá nhân (thuế TNCN)
Thuế TNCN phát sinh, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển củaNhà nước Thuế xuất hiện khi trong xã hội xuất hiện sản phẩm thặng dư cùng với sự phân
Trang 4Trên cơ sở những khái niệm về Thuế, chúng ta có thể rút ra khái niệm về thuế TNCNtheo pháp luật hiện hành như sau: “Thuế thu TNCN là loại thuế chủ yếu đánh vào thu nhậpcủa cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhânvào ngân sách nhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông quaviệc khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi, thông qua việc thu hay không thu thuế đối vớicác khoảng thu nhập từ kinh doanh, đầu tư,… Thuế này được coi là loại thuế đặc biệt vì cólưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác địnhmiễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt.
1.2 Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân (thuế TNCN)
- Thuế TNCN là thuế trực thu, đánh vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân Do
là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật vàđối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế Người nộp thuế cũng là người chịu thuế,người chịu thuế TNCN không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế sang chocác đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế
- Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh:
Thứ nhất, đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhânthuộc diện đánh thuế, không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trongnước hay ở nước ngoài
Thứ hai, đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là toàn bộ những người có thunhập từ hoạt động kinh doanh, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại vànhững người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng
có số ngày có mặt, làm việc, có thu nhập theo mức độ quy định của pháp luậtthuế TNCN
- Thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo
luật định Phân phối khoản thu nhập qua thuế TNCN gắn với quyền lực, sức mạnhcủa Nhà nước
- Thuế TNCN là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp Nó vận
động một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trả cho Nhànước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp
Trang 5- Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia Hầu hết các quốc gia
đều gắn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội khác (như phúc lợicông cộng, chăm sóc sức khỏe…)
Thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: côngdân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước
đó và hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kểnguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ngoài nước Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thucho ngân sách của thuế TNCN rất cao
Việc đánh thuế TNCN thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần.Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thunhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội Do vậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiếntừng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tínhthuế suất càng cao
Xét về góc độ kinh tế, thuế TNCN có tính trung lập cao hơn so với các loại thuế khác vìviệc tăng hay giảm thuế TNCN hầu như không kéo theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế
1.3 Vai trò của thuế TNCN
Trước bối cảnh đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và những sự biến đổi lớn của điềukiện kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, việc ban hành Luật thuế TNCN ở nước ta là hết sứccần thiết và có vai trò quan trọng về nhiều mặt Là một bộ phận của hệ thống thuế nên thuếTNCN vừa mang vai trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa có các vai trò riêng mà các loạithuế khác không có được
a Đối với nền kinh tế- xã hội
* Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước
Thuế TNCN là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói chung nên cũnggóp một phần quan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước Thuế TNCN được tính vớidiện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn Bên cạnh đó, thuế TNCN tác độngtrực tiếp vào thu nhập của dân cư mà người dân của bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong
Trang 6Trong mỗi quốc gia, thu nhập của mỗi cá nhân phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố nhưkhả năng và trình độ lao động, vị trí công tác, quyền sở hữu về tài sản của cá nhân đó Tuynhiên, các yếu tố nói trên của mỗi cá nhân thường không giống nhau nên đã tạo ra sự khácnhau về thu nhập của mỗi người Chính sự khác nhau ấy là nguồn gốc tạo ra sự phân cựcgiàu nghèo, là sự bất bình đẳng trong xã hội Để giải quyết vấn đề này, các nước đã dùngnhiều hình thức và biện pháp khác nhau trong đó thuế TNCN được xem như một công cụhữu hiệu để điều tiết bớt thu nhập của những người có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xãhội.
Hình: Ảnh hưởng của thuế đến sự công bằng trong phân phối thu nhập
Để thấy rõ vai trò của thuế TNCN , có thể sử dụng đường cong Lorenz sau đây Trên đồthị, đường cong Loenz càng gần đường phân giác thì càng phản ánh sự phân phối côngbằng Điều đó được trợ giúp bởi thuế lũy tiến thông qua thực hiện thuế TNCN để đảm bảorút ngắn khoảng cách phân hóa giàu nghèo xã hội
* Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm
Thuế TNCN là một công cụ rất cần thiết để thực hiện việc kiểm soát thu nhập của cáctầng lớp dân cư, thực hiện công bằng xã hội và quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Để kiểmsoát thu nhập dân cư, nhà nước phải sử dụng đồng thời cả hai cơ chế quản lý quỹ tiềnlương, tiền công, chế độ báo cáo quyết toán kinh doanh…và cơ chế kê khai nộp thuếTNCN, tuy ban đầu có thể chưa chính xác, nhưng sẽ là căn cứ để thống kê thu nhập dân cưphục vụ chương trình mục tiêu nghiên cứu quốc gia, hoạch định chính sách phát triển phùhợp khi tính tuân thủ pháp luật, pháp chế xã hội được nâng lên
Trang 7Thông qua các cơ chế và công cụ quản lý đó mà nhà nước sẽ có giải pháp tăng cườnghoặc giảm bớt điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư làm cho tổng cầu xã hội giảm hoặctăng, từ đó có tác dụng co hẹp hay kích thích kinh tế phát triển Đó chính là vai trò quản lýđiều tiết vĩ mô nền kinh tế mà chính sách thuế TNCN góp phần tác dụng đáng kể.
Thực hiện điều tiết kinh tế trong điều kiện tăng năng suất và hiệu quả kinh tế theo lýthuyết trọng cung, các nhà kinh tế học thuộc trường phái này mà đại diện là Laffer đã đưa rađường cong lý thuyết nổi tiếng là đường cong Laffer
Mô hình đường cong Laffer cho thấy mối quan hệ giữa thuế suất và tổng thu nhập từthuế Nếu mức thuế được xác định cao hơn mức t0 sẽ gây ra phản ứng như hạ thấp động lựckinh doanh, chuyển vốn đầu tư sang lĩnh vực khác chịu thuế thấp hơn, chuyển sang hoạtđộng ngầm để trốn thuế Điều này cho thấy, nếu thuế suất của thuế thu nhập hợp lý sẽ tácđộng kích thích tăng trưởng kinh tế và tăng thu cho ngân sách Việc nghiên cứu một mứcthuế TNCN phù hợp để nâng cao kích thích của nó được đánh giá quan trọng hơn vai tròcông bằng mà nó tạo ra trong phân phối thu nhập
* Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp
Trang 8Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được từ việcthực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật mànhà nước không kiểm soát được như tham ô, nhận hối lộ, buôn bán hàng quốc cấm, trốntránh thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhà nước và công dân Những hành vi này ảnhhưởng rất xấu đến đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia Phải kết hợp hữu hiệu nhiềubiện pháp để ngăn chặn và chống lại những hành vi trên, một trong số các biện pháp ngănchặn đó thì phải kể đến vai trò của thuế TNCN.
b Đối với hệ thống thuế
* Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác
Một số thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều có nhược điểm
là có tính luỹ thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu vì khi tiêu thụcùng một lượng hàng hoá mọi người không phân biệt giàu nghèo và đều phải chịu thuế nhưnhau Nếu tính thuế TNCN theo phương pháp luỹ tiến từng phần sẽ góp phần khắc phụcđược nhược điểm này
* Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế TNCN Giữahai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau Thuế TNCN còn góp phầnkhắc phục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanhnghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân Trong trường hợp doanh nghiệp kê khai caohơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm thu nhập tính thuế củadoanh nghiệp hòng trốn thuế thu nhập doanh nghiệp thì các cá nhân nhận được nhữngkhoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế TNCN đối với phần thu nhập nhận được kê khaităng thêm đó Thu nhập của doanh nghiệp tăng thường kéo theo sự tăng lên của thuế TNCN
và thuế thu nhập doanh nghiệp
* Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế
Xây dựng và phát triển, hoàn thiện chính sách thuế TNCN là góp phần hoàn thiện hệthống chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập với kinh tế thế giới.Việc ban hành Luật thuế TNCN là bước thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng về lĩnhvực tài chính tiền tệ đồng thời là bước đi phù hợp lộ trình cải cách thuế theo mục tiêu chiếnlược Chính phủ đã hoạch định
Trang 9Nhận thức đúng vai trò vị trí hiện tại cũng như hướng phát triển hoàn chỉnh của chínhsách thuế TNCN, quán triệt đầy đủ nội dung yêu cầu của Luật thuế TNCN mới ban hành đểtuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế, vận động toàn dân hiểu biết, chấp hành là nghĩa vụ vàtrách nhiệm của các tổ chức, cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức, công dân theo quy địnhcủa Luật Quản lý thuế, ban hành ngày 29/11/2006.
Tóm lại, Thuế TNCN đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốcgia, ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước Dù không phải làmục tiêu chủ yếu, song thực hiện phát triển chính sách thuế trực thu nói chung, thuế TNCNnói riêng chính là là việc tạo lập và phát triển nguồn thu vững chắc cho ngân sách nhà nước.Cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, hội nhập và phát triển, thu nhậpquốc dân đầu người ngày càng lớn thì khả năng huy động nguồn thu cho ngân sách nhànước thông qua thuế TNCN sẽ ngày càng tăng và sẽ ngày một dồi dào Tuy nhiên, vì côngtác quản lý thuế TNCN còn nhiều hạn chế nên những vai trò này vẫn chưa thực sự đượcphát huy ở những nước chậm phát triển
2 Nguyên tắc đánh thuế TNCN:
- Đánh thuế trên cơ sở thu nhập chịu thuế hiện hữu
Mặc dù cá nhân có nhiều nguồn thu nhập khác nhau nhưng thực tế, không phải toàn bộthu nhập phát sinh đều thuộc đối tượng điều chỉnh của thuế TNCN Thu nhập cá nhân chỉđiều chỉnh phần thu nhập chịu thuế, vì vậy thu nhập chịu thuế được xác định trên cơ sở cácthu nhập được sau khi miễn trừ một số khoản chi phí của người nộp thuế
- Đánh thuế TNCN theo phương pháp lũy tiến
Thuế TNCN chủ yếu là thuế lũy tiến: là sắc thuế có tỷ lệ ngày càng tăng theo thu nhậpchịu thuế, là loại thuế thu nhiều phần trăm hơn vào thu nhập của người có thu nhập cao và ítphần trăm vào thu nhập của người có thu nhập thấp Thuế lũy tiến được coi là phương pháphữu hiệu để đánh thuế theo khả năng trả thuế của cá nhân Người thu nhập cao có nhiều khảnăng trả thuế hơn người thu nhập thấp Cơ sở lý thuyết: độ hữu dụng biên của thu nhậpgiảm dần
Trang 103 Phân tích tác động của thuế TNCN đối với thu nhập
Tổn thất xã hội không chỉ xảy ra đối với thuế đánh vào hàng hóa mà còn xảy ra đốivới thuế đánh vào thu nhập Trong đó, thuế lũy tiến làm thu hẹp cơ sở tính thuế (phần thuế
áp dụng cho người giàu chỉ bị đánh thuế dựa vào cơ sở thu nhập hẹp của người giàu) ThuếTNCN chỉ đánh vào một nguồn lực làm cho tổn thất xã hội tăng nhanh hơn
Giả sử ban đầu khi chính phủ chưa đánh thuế:
- Cung cầu lao động đạt tại mức cân bằng là A
- Tổn thất xã hội gần 0
Khi chính phủ đánh thuế thu nhập lũy tiến bậc 1: t
- Cung lao động sẽ giảm xuống S2
Trang 11- Tổn thất xã hội: là tam giác ABC
Khi cá nhân chịu thuế thu nhập lũy tiến bậc 2: t’
- Cung lao động sẽ giảm xuống S3
- Tổn thất xã hội sẽ tăng lên là hình BCED, lúc này tổn thất xã hội là tam giácADE
Tổn thất xã hội gia tăng theo bình phương thuế suất Thuế lũy tiến làm gia tăng lợiích làm việc đối với những người có thu nhập thấp (vì họ không bị đánh thuế), làmgiảm trừ thêm lợi ích làm việc đối với người có thu nhập cao và dịch chuyển đườngcung đến S3, theo đó số giờ làm việc giảm Sự thay đổi này làm gia tăng quy mô tổnthất xã hội Khi thu nhập càng tăng thì người có thu nhập cao từ hoạt động sản xuấtkinh doanh sẽ chịu mức thuế suất lũy tiến càng cao nên sẽ làm giảm động lực sản xuấtkinh doanh của họ
Trang 12Chương II: PHÂN TÍCH CÁC TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI VIỆT NAM
1 Khái quát về thuế TNCN đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh ở Việt Nam
1.1 Cơ sở pháp lý
Theo quy định tại Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính,
và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 8/9/2008 của Chính phủquy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN thì từ ngày 1/1/2009 sẽ bãi bỏ thuếthu nhập doanh nghiệp áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân kinh doanh và chỉ thu thuếTNCN Hiện nay các văn bản thuế TNCN điều chỉnh thu nhập từ hoạt động sản xuấtkinh doanh như sau:
- Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 của Quốc hội khóa XII;
- Luật quản lý thuế số 78/2006/QH ngày 29/11/2006 của Quốc hội;
- Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều của Luật thuế TNCN;
- Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Thuế TNCN và hướng dẫn thi hành Nghị định số100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điềucủa Luật Thuế TNCN
- Thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/03/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn
sửa đổi, bổ sung Thông tư 84/2008/TT-BTC;
- Thông tư số 02/2010/TT-BTC ngày 11/01/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn bổ
sung Thông tư 84/2008/TT-BTC;
- Thông tư số 12/2011/TT-BTC ngày 26/01/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn
sửa đổi Thông tư 84/2008/TT-BTC;
- Thông tư số 113/2011/TT-BTC ngày 04/08/2011 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ
sung thông tư 62/2009/TT-BTC, thông tư 02/2010/TT-BTC; thông tư 12/2011/TT-BTC;
Trang 131.2 Khái quát về thuế TNCN lên thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh theo luật thuế TNCN năm 2007
a Thu nhập từ kinh doanh là gì?
Theo điều 3 Luật thuế TNCN năm 2007, thu nhập từ kinh doanh, bao gồm:
- Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ;
- Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng
chỉ hành nghề theo quy định của pháp Luật
b Đối tượng nộp thuế
Đối tượng nộp thuế theo quy định tại luật thuế TNCN năm 2007 bao gồm:
- Cá nhân cư trú: Là cá nhân đáp ứng một trong hai điều kiện sau: Cá nhân có
mặt tại VN từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch hoặc trong 1 tháng liêntục kể từ ngày đầu tiên đến VN hoặc cá nhân có nơi ở thường xuyên tại ViệtNam như có nơi để đăng ký thường trú, có thẻ thường trú thẻ tạm trú do BCAcấp hoặc có thuê nhà để ở từ 90 ngày trở lên trong năm tính thuế
- Cá nhân không cư trú: là người không đáp ứng điều kiện nêu trên.
Các cá nhân sau đây từng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ chuyển sang nộp thuếTNCN:
- Cá nhân và nhóm cá nhân kinh doanh;
- Hộ kinh doanh cá thể (xác định theo người đứng tên trong ĐKKD);
- Cá nhân hàng nghề độc lập (có hoặc không có văn phòng, địa điểm hành nghề
cố định) như: bác sĩ, hoạ sĩ
- Cá nhân cho thuê tài sản: nhà đất, máy móc
c Phương pháp tính thu nhập chịu thuế từ kinh doanh đối với cá nhân
cư trú
Phương pháp tính thu nhập chịu thuế cơ bản như sau:
Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh = Doanh thu – Chi phí hợp lý liên quan
- Doanh thu: là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng
Trang 14- Chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế từ kinh doanh trong
Các khoản chi phí khác liên quan đến việc tạo ra thu nhập
Thu nhập tính thuế = Tổng thu nhập chịu thuế - Các khoản được trừ
- Các khoản được trừ:
Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối vớimột số ngành phải tham gia bảo hiểm bắt buộc;
Các khoản giảm trừ quy định tại điều 19 và điều 20 của Luật thuế TNCN
Việc xác định doanh thu, chi phí dựa trên cơ sở định mức, tiêu chuẩn, chế độ vàchứng từ, sổ kế toán theo quy định của pháp luật
Trường hợp nhiều người cùng tham gia kinh doanh trong một đăng ký kinh doanhthì thu nhập chịu thuế của mỗi người được xác định theo một trong các nguyên tắc sauđây:
Tính theo tỷ lệ vốn góp của từng cá nhân ghi trong đăng ký kinh doanh;
Tính theo thoả thuận giữa các cá nhân ghi trong đăng ký kinh doanh;
Tính bằng số bình quân thu nhập đầu người trong trường hợp đăng ký kinhdoanh không xác định tỷ lệ vốn góp hoặc không có thoả thuận về phân chiathu nhập giữa các cá nhân
Trong từng trường hợp cụ thể, TNCN từ hoạt động sản xuất kinh doanh được xácđịnh như sau: