Khi không khí bị nén, thể tích giảm dần, áp suất và nhiệt độ tăng ổn định, trong động cơ Diesel, qua trinh này xảy ra liên tục cho đến khi không khí đạt được nhiệt độ khoảng 1000°F 540
Trang 1TRAN THẾ SAN (Biên soạn) - ĐỖ DŨNG (Hiệu đính)
Trang 2SỬA CHỮA-BẢO TRÌ
MAY TAU & HỆ THỐNG ĐIỆN
Trang 3TRAN THE SAN—DO DŨNG
Khoa Cơ Khí Động Lực Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP Hồ Chí Minh
SỬA CHỮA-BẢO TRÌ MÁY TÀU & HỆ THỐNG ĐIỆN
NHÀ XUẤT BẢN ĐÀ NẴNG
Trang 4Cái thiệu
gày nay động cơ diesel được sử dụng rộng rãi trên các tàu
thuyền hoạt động trên sông, ven biển, và ra khơi xa vài
trăm hải lý Động cơ diesel có độ tin cậy cao trong môi
trường biển, tiết kiệm nhiên liệu tốt hơn động cơ xăng, hiệu
quả hơn khi tàu thuyển có tải nhẹ đến tải toàn phần; khí
thai it 6 nhiễm hơn, và tính an toàn cao hơn Công suất động cơ diẻsel trên tàu thuyền hiện nay là từ vài chục đến vài trăm mã lực (HP), với nguyên lý vận hành, cấu tạo, yêu cầu bảo trì, và quy trình sửa chữa hầu như không khác nhau, dù có vài khác biệt giữa các nhà chế tạo động co (Detroit,
Cummins, Caterpillar, Nhật, .)
Dù được sử dụng ngày càng rộng rãi, động cơ diesel vẫn còn một số
nhược điểm cần tiếp tục cải tiến Hầu hết các thợ máy hiện nay đã vận hành động cơ diesel nhiều năm với kinh nghiệm và bản lĩnh cao hơn, nhưng có lẽ họ không có thời gian để nghiên cứu các quy trình bảo trì, sửa
chữa động cơ diesel và hệ thống điện trên tàu thuyền một cách bài bản và
hệ thống Nội dung cuốn sách gồm 5 phần cơ bản:
+ Nguyên lý hoạt động của động cơ điesel trên tàu thuyền
+ Các quy trình bảo trì thường xuyên và bảo trì dự phòng động cơ diesel
+ Các kỹ thuật xử lý sự cố phát sinh trong quá trình sử dụng động cơ diesel
+ Các quy trình sửa chữa động cơ điesel
+ Hệ thống điện, nguyên lý vận hành, kiểm tra và các quy trình xử lý sự
cố mạng điện -
Bảo trì thường xuyên và bảo trì đự phòng là biện pháp tốt nhất bảo đảm cho các chuyến đi biển dài ngày, giúp bạn giảm chỉ phí, kéo đài tuổi thọ các trang thiết bị trên tàu thuyền Cuốn sách cung cấp nhiều bản vẽ,
hình ảnh, sơ đỗ minh họa, các quy trình thực hiện theo từng bước, được trình bày có hệ thống, rõ ràng, đễ hiểu, sẽ là bạn đồng hành tốt với những người đi biển
Cuốn sách còn rất có ích cho các bạn học viên đang theo học các lớp
máy tàu, các thầy cô giáo dạy nghề, và mọi người có liên quan đến nghề
sông biển.
Trang 5đường 1
NGUYÊN LÝ VẬN HÀNH ĐỘNG CƠ DIESEL
Trong các tài liệu kỹ thuật, động cơ
Diesel thường được gọi là động cơ cháy
bằng quá trình nén (C1), còn động cơ xăng
được coi là động cơ đánh lửa (SI) Cháy
bằng quá trình nén là bản chất để hiểu
về động cơ dicsel
Khi lượng khí bất kỳ bị nén, áp suất
và nhiệt độ déu tăng Sự tăng nhiệt độ
trong điều kiện lý tưởng luôn luôn tỷ lệ
thuận với tăng áp suất và có quan hệ chặt
chẽ với mức độ nén, thường được gọi là tỷ
số nén
Sự cháy do nén
Mọi động cơ đốt trong đều có một hoặc
nhiều cylinder xếp sát nhau, đóng kín ở
một đầu và piston chuyển động bên trong
Trong động cơ diesel không khí đi vào
cylinder, piston chuyén dong va nén khong
khi
Khi không khí bị nén, thể tích giảm
dần, áp suất và nhiệt độ tăng ổn định,
trong động cơ Diesel, qua trinh này xảy
ra liên tục cho đến khi không khí đạt được
nhiệt độ khoảng 1000°F (540°C) Nhiệt độ
này đạt được chỉ bằng quá trình nén (Hình
1.1
Nhiên liệu diesel cháy ở khoảng 750°F
(400°C); do d6 nhién liu duoc phun vào
cylinder và bốc cháy, không cần sự đánh
lứa độc lập
Để nhận được nhiệt độ đủ cao bảo đảm
sự cháy cho nhiên liệu diesel, không khí
thường được nén đến tỷ lệ tối thiếu là
14:1, nghĩa là thể tích ban đầu là 14 phần,
sau đó nén thể tích không khí chỉ còn 1
phần Điều này được gọi là ÿ số nén Tỷ
số nén được hiểu là tỷ số giữa phần thể
Hầu hết các động cơ diesel đều có tỷ
số nén trong khoảng 16:1 đến 23:1 Giá
trị này cao hơn nhiều so với tỷ số nén của động cơ xăng, tỷ số nén của động cơ xăng
trong khoảng 7:1 đến 10:1 Tỷ số nén thấp
của động cơ xăng tạo ra áp suất và nhiệt
độ trong cylinder thấp hơn, đo đó quá trình
Trang 6
Hình 1-3 Phân phối nhiệt năng trong động cơ
diesel
nén không đạt đến nhiệt độ tự cháy của
xăng, hỗn hợp nhiên liệu/không khí phải
được đánh lửa bằng nguồn riêng - bougie
(do đó động cơ xăng được gọi là động cơ
đánh lửa)
Chuyển nhiệt năng thành cơ năng
Các định luật về chất khí cho biết khi
chất khí bị nén, nhiệt độ sẽ tăng và ngược
lại khi chất khí được cấp nhiệt trong buồng
kín, áp suất sẽ tăng Các định luật này
được ứng dụng cho động cơ đốt trong
Không khí được dua vao cylinder va
được nén đo chuyển động của piston, nhiệt
độ tăng lên Nhiên liệu được đưa vao cyl-
inder và bốc cháy Sự cháy nhiên liệu làm
cho nhiệt độ tăng nhanh, do đó làm tăng
áp suất khí Áp suất tăng làm cho piston
chuyển động xuống dưới, quá trình này
được gọi là thi nán Động cơ chuyển nhiệt
năng phát sinh trong quá trình cháy nhiên
liệu thành cơ năng, vì thế động cơ đốt
trong đôi khi còn được gọi là động cơ nhiệt
Có thể tính toán nhiệt lượng của nhiên
liệu bằng cách đo nhiệt trị do một đơn vị
nhiên liệu (lit, gallon ) phát ra khi cháy
Công suất (mã lực) của động cơ có thể được
tính theo đơn vị nhiệt lượng (một mã lực
tương đương 2544 BTU - đơn vị nhiệt
Anh) Bằng cách này, nhiệt năng trong
động cơ có thể được so sánh với cơ năng,
8
cho phép xác định hiệu suất nhiệt của động
cơ, lượng nhiệt năng của nhiên liệu được
chuyển thành cơ nững hữu dụng
Nói chung, động cơ diesel có hiệu suất
nhiệt khoảng 30-40% Nói cách khác, chỉ
khoảng 1/3 nhiệt năng của nhiên liệu được chuyển thành cơ năng hữu đựng Khoảng
ˆ một nửa nhiệt còn lại bị tổn thất qua hệ thống xả ở dạng khí nóng Nửa còn lại bị tiêu tán ra xung quanh thông qua hệ thống
làm mát và bể mặt động cơ (Hình 1.3) Sự
tổn thất nhiệt này là khá lớn, nhưng vẫn hiệu quả hơn so với động cơ xăng, chỉ có hiệu suất nhiệt từ 25% đến 35%,
Dãn nở và làm nguội
Nói chung, khi nén chất khí sẽ tăng
nhiệt độ, khi giảm áp suất, chất khí sẽ giảm nhiệt độ Điều này là do chất khí
tích và giảm áp suất Tuy nhiên, nhiên liệu dang
cháy, sự tăng nhiệt độ tạm thời cân bằng với sự
tăng thể tích do đó áp suất hầu như không đổi
từ P3 đến P4 Tại đây sự cháy dừng lại, thể tích cylinder tiép tuc tang, điều này làm giảm dần
áp suất và nhiệt độ trong khi piston vẫn trong
thì nén từ P4 đến P8 Từ P5 đến P1, động cơ xã khí cháy ra ngoài và nhận không khí mdi, Chu trình lặp lại ở P1.
Trang 7Khi piston đi xuống trong thì nén, thể
tích tăng dần, làm giảm áp suất và do đó
nhiệt độ này phản ánh quá trình chuyển
đổi nhiệt năng của khí cháy thành eơ năng;
chuyển động của piston (Hình 1.4)
Tỷ số nén của động cơ càng cao, sự
dãn nở của khí cháy trong thì nén càng
lớn Ví dụ, trong động cơ với tỷ số nén
22:1, khí cháy sẽ dãn nở đến thể tích gấp
22 lần buồng đốt Động cơ tỷ số nén 7:1,
độ đãn nở là 7,
Động cơ diesel có tỷ số nén cao, có
khả năng chuyển đổi nhiệt khí cháy thành
cơ năng tốt hơn động cơ xăng, do đó có
hiệu suất nhiệt cao hơn
Động cơ xăng
Có thể phát sinh câu hỏi, tại sao không
tăng tỷ số nén trong động cơ đốt trong để
tăng hiệu suất nhiệt?
Động cơ xăng nhận nhiên liệu và không
khí #rước khi nén, thông qua bộ chế hòa
khí hoặc hệ thống phun, đưa vào bộ góp
nap (thay vi cylinder) Cdn dong co diesel,
nhiên liéu phun sau khi nén không khí
Sự tăng tỷ số nén cho động cơ xăng sẽ
làm tăng nhiệt độ nén vượt quá điểm cháy
của xăng, dẫn đến hỗn hợp nhiên liệu/
không khí cháy sớm hơn thời điểm tối ưu,
điều này gây hư hại động cơ, và không
thể điểu khiển quá trình cháy Để tránh
sự cháy sớm, tỷ số nén của động cơ xăng
phải đủ thấp và hỗn hợp nhiên liệu/không
khí được đánh lửa vào thời điểm thích
hợp, đo đó cần có hệ thống đánh lửa riêng
Đôi khi động cơ xăng bị quá nhiệt đủ
để hỗn hợp nhiên liệu/không khí cháy
trước thời điểm đánh lửa Điều này được
gọi là sự tự cháy hoặc cháy sớm và thường
xảy ra khi tắt động cơ bị quá nhiệt, dù đã
tất cả hệ thống đánh lửa
Câu hỏi thứ hai, để tăng hiệu suất tại
sao không tăng tỷ số nén cho động cơ xăng
và sử dụng sự phun nhiên liệu trực tiếp
vào cylinder để tránh sự cháy sớm, như
được thực hiện trong động cơ diesel? Vấn
đề ở đây là bản chất của xăng, có tính bốc
hơi cao hơn nhiều so với điesel
Dù động cơ điesel có thể đạt đến 3000 v/ phút; với thì nén của piston bất kỳ không
thể vượt quá 1/100 giây, nhiên liệu diesel được phun vào cylinder phải cháy với tốc
độ được kiểm soát, thay vì nổ Nếu tốc độ cháy không được kiểm soát, sẽ xảy ra các
vấn để cháy và động cơ bị hư hại
Do có độ bốc hơi cao hơn, rất khó kiểm
soát tốc độ cháy của xăng khi tăng tỷ số
nén Sự nổ có thể xảy ra, gây hư hại động
cơ Động cơ xăng, với mức công nghệ hiện
tại bị giới hạn tỷ số nén và hiệu suất nhiệt
Tỷ số công suất - trọng lượng
Tuy động cơ diesel có tỷ số nén cao
hơn động cơ xăng, nhưng chịu ứng suất
lớn hơn và được chế tạo bền hơn Đế chịu được tải và tỷ số nén cao, động cơ điesel
được chế tạo với độ chính xác cao Kết cấu
lớn và độ chính xác cao làm tăng giá thành
và trọng lượng của động cơ diesel so với
động cơ xăng có cùng công suất Nói chung,
khi tăng công suất, trọng lượng động cơ
diesel tang nhanh,
Các kiểu động cơ diesel
Đậng cơ diesel có thể vận hành theo chu trình 4 thì hoặc chư trình 2 thì Giữa hai chu trình này có các khác biệt rõ rệt
Động cơ 4 thì
1, Piston ở đỉnh cylinder, valve mở khi piston đi xuống Khi piston đến ĐCD (điểm chết đưới), valve nạp đóng để giữ không khí bên trong cylinder (Hình 1.5) chuyển động của piston từ ĐỢT
(điểm chết trên) đến ĐCD được gọi là
thì Đây là 1 trong 4 thì của động cơ 4 thì, được gọi là thì nạp hoặc thì hút
2 Piston di lén‘DCT va nén không khí,
áp suất trong không khí tăng đến 450—
700 psi (trong động cơ xăng áp suất
chỉ khoảng 80-150 psi) và nhiệt độ
không dưới 1000°F (540°C) Đây là thì
nén
3 Nhiên liệu được đưa vào cylinder (buông đốt) thông qua bộ phun nhiên liệu và đốt cháy Nhiệt độ tăng nhanh
9
Trang 8
Hình 1.5 Các thì của động cơ diesel 4 thi (1) Thi
nap—Piston hut khéng khi vao cylinder qua
valvenap (2) Thi nén—Piston nén không khí
(3) Phun nhiên liệu— Nhiên liệu được phun vào
khi nén và bốc cháy có kiểm soát (4) Thì xả—
Piston đẩy khí chảy ra ngoài qua valve xâ
đến khoảng 2000-5000°F (1100-
2750°C) Sự tăng nhiệt độ này làm cho
áp suất tăng đến 850-1000 psi, đấy
piston đi xuống Khi piston đi xuống,
thể tích cylinder tăng nhanh, dẫn đến
giảm áp suất và nhiệt độ Đây là thì
thứ ba, được gọi là thì sinh công
4 Khi piston đến gần cuối thì thứ ba,
valve xả bắt đầu mở Trong cylinder
vẫn còn áp suất và nhiệt đủ lớn, để
đẩy khí cháy ra ngoài Piston chuyển
động lên phía trên, đẩy hết khí cháy
ra ngoài Đây là thì thứ tư, được gọi là
thì xả
Ở cuối thì xả, valve xa dong, valve
nạp mở, đưa không khi vao cylinder
khi piston đi xuống, chu trình lặp lại
Động cơ 2 thì
Phần này trình bày sự vận hành của
loại động cơ diesel 2 thi phổ biến, được sử dụng rộng rãi Có thể có các kiểu vận hành
động cơ 2 thì khác, nhưng ít được dùng trên tàu thủy
Động cơ diesel 2 thì vận hành về cơ bản tương tự động cơ 4 thì nhưng chuyển
4 thì của piston thành hai - một chuyển
động lên và một chuyển động xuống
1 Piston ở đỉnh cylinder trong thì nén,
Phan buồng đốt của cylinder chứa không khí bị nén với áp suất và nhiệt
độ cao Dầu diesel được phun vào và bốc cháy Piston bất đầu đi xuống và
sinh công Khi piston đi xuống, áp suất
và nhiệt độ trong cylinder giảm Khi
piston đến gần cuối thì sinh công, valve
xả mở, khí cháy ra khỏi cyÌinder (Hình 1.6), hoàn toàn tương tự động cơ 4 thì
Khi piston tiếp tục đi xuống, để lộ
và bắt đầu đi lên, valve xả đóng lại,
2 Khi piston đi lên, sẽ chấn các cổng nạp không khí, giữ không khí trong cylinder, và nén không khí đó Khi
piston đến đỉnh cylinder, nhiên liệu được phun vào và đốt cháy, chu trình
lặp lại Động cơ thực hiện hai thì thay
vì bốn như động cơ 4 thì
Hình 1.6 Sự vận hành của động cơ diesel hai thì {Hang Detroit)
10
Trang 9Hình 1.7 Đổi chuyển động tịnh tiến thành chuyển động quay
Do đó, động cơ 2 thì có hai thì sinh
công so với động cơ 4 thì Đối với động cơ
cùng kích thước, động cơ 2 thì có công
suất cao hơn 4 thì, do đó giảm chỉ phí và
cải thiện tỷ số nén,
Tuy nhiên, động cơ 2 thì có hiệu suất
nhiệt thấp hơn và tiêu thụ nhiên liệu cao
hơn động cơ 4 thì Tuổi thọ động cơ 2 thì
thường ngắn hơn động cơ 4 thì do tải động
cơ lớn hơn, khi vận hành: có tiếng ồn lớn
hơn
Trục khuỷu
Chuyển động tịnh tiến của piston trong
cylinder được đổi thành chuyến động quay
để có thể sử dụng, điều này được thực hiện
bằng thanh truyền và trục khuỷu
Trục khuỷu được đặt trên các ổ lăn ở
hai đầu động cơ Dưới từng cylinder, trục
khuỷu có chốt khuyu va má khuỷu Thanh
truyền nối piston với phần chốt khuỷu
Các ổ trượt ở hai đầu thanh truyền cho
phép chốt khuỷu quay bên trong đâu to
của thanh truyền, còn piston được lắp với
chốt piston, dao động xung quanh đầu nhỏ
thanh truyền Piston chuyển động lên
xuống làm cho trục khuỷu quay (Hình 1.7)
Các valve và thời chuẩn
Sự vận hành hiệu quả động cơ 2 thì và
4 thì đòi hỏi phối hợp chính xác chuyển
động của piston với các thời điểm mở và
đóng valve, và thời điểm phun nhiên liệu
Điểu này được gọi là thời chuẩn phun nhiên liệu và đóng/mở valve
Cac valve được bố trí ở đầu cylinder
va déng chat bang 10 xo valve Don bay được gọi là cò mổ hoạt động để mở valve
Cò mổ chuyển động lên xuống trực tiếp
hoặc gián tiếp thông qua đrục cam, xoay ở
phía trên đầu cyÌinder (Hình 1.8) Đọc trục cam có các mấu hình ellipse, được gọi là cam (mỗi valve một cam) Khi
trục cam quay, cam sẽ đẩy cò mổ lên xuống
Một số trục cam được lắp trong đầu cylin- đer có các cam tiếp xúc trực tiếp với cò
mổ được gọi là trực cam phía trên Số khác được lắp trong bloek máy, tác động gián tiếp đến cò mổ thông qua ¿hanh đẩy
6 46 chinh Thanh truyén
Õ đỡ đầu tay quay
Trang 10Bơm dầu và các bánh răng
Hình 1.9 Các bánh răng thời chuẩn
Bánh răng, lắp ở đầu trục khuỷu, quay
đồng bộ với trục này Bánh răng thứ hai
lắp ở đầu trục cam, được gọi là bánh răng
cam, quay cùng với trục cam Sự thời chuẩn
valve, đóng/mở valve, được phối hợp với
chuyển động của piston bằng cách nối hai
bánh răng đó thông qua bánh răng trung
gian, đai, hoặc xích, cho phép chúng quay
với nhau (Hình 1.9)
Trên động cơ 4 thì, các valve nạp và
xả lần lượt mở và đóng trong từng thì, do
đó bánh răng trên trục cam có kích thước
gấp đôi bánh răng trên trục khuỷu; làm
cho bánh răng trục cam quay với tốc độ
bánh răng trục khuỷu, các valve lân lượt
mở và đóng theo từng vòng bằng một nửa
vòng quay của động cơ
Động cơ 2 thì chỉ có các valve xả Valve
xả mở mỗi khi piston đi xuống, do đó bánh
răng trục cam có cùng kích thước với bánh
răng trục khuỷu Hai trục này quay cùng
xác bảo đảm hiệu suất tối ưu cho động cơ
Sự thời chuẩn phun nhiên liệu được
xác lập theo phương pháp tương tự Bánh
răng lắp ở đầu trục truyền động bơm phun
nhiên liệu được dẫn động bằng trục khuỷu
12
thông qua bánh răng trung giãn, đai, hoặc
xích Sự thay đổi quan hệ các bánh rang
này cho phép phùn nhiên liệu ở vị trí bất
kỳ của hành trình piston Do sự phun xây
ra theo từng cặp vòng quay trên động cơ 4
thì, bánh răng truyền động bơm có kích
- thước gấp đôi bánh răng trên trục khuỷu, bơm quay theo một nửa tốc độ động cơ Trên động cơ 2 thì, các bánh răng có cùng kích cỡ; sự phun nhiên liệu xảy ra một
lần trong mỗi vòng quay
Động cơ và các bộ phận khác
Phần nặng nhất của động cơ là bioek
máy (Hình 1.10) Trên tất cả các động cơ,
trừ loại được làm mát bằng không khí, đây là khối gang đúc chứa các đường dẫn khong khi, nuéc lam mat, dau, và các bộ phận khác của động cơ, kể cả trục cam va
trục khuỷu
€ó hai loại cylinder, hoặc dng lt (che-
mise-sơ mi), được đùng cho động cơ diesel
= loại khô và loại ướt Trong động cơ ống
lót khô, các cylinder va block tiép xtic sat
nhau theo toàn bộ mặt ngoài ống lót Với
loại ống lót ướt, bloek chỉ tiếp xúc với cyl-
inder ở phần trên và đưới, nước làm nguội
tuần hoàn xung quanh thân ối ống lót (Hình 1.11) Ống lót ướt có ưu điểm là dễ thay thế khi cần sửa chữa lớn, còn đối với ống
lót khô phải đưa toàn bộ khối block vào
xưởng
Piston có các uòng găng (bạc, segment),
được lắp vào rãnh trên chu vi piston Vòng
găng ép lên vách cylinder để bảo đảm kín khí Phần trên cylinder được che kín bằng nắp máy, trong äó có bộ phận phun nhiên liệu, valve, buồng đốt, đường dẫn nước,
Các valve được lắp trong ống dẫn hướng,
ống này có thể tháo đễ dàng
Khi động cơ bị mòn, các ống dẫn valve được ép ra ngoài và thay mới Các động
cơ chất lượng cao có mặt /ø valve có thể
thay thé dé dang Mot tua valve la phan
valve tiếp xúc để làm kín buông đốt Gia công lại mặt tựa valve, thay các ống dẫn
valve, lắp các valve mới sẽ giúp động cơ
trở lại trạng thái gần như mới
Trang 12Ống lót cylinder
(tháo rời được)
Bom phun nhién
Bé trao déi nhiét ~~~ liệu kiểu "co giật
Thanh truyền =
Bộ lọc dầu — — Bơm dầu
Hình 1.12 Tiết diện động cơ diesel
Trang 13(ương 2
CÁC CHI TIẾT VẬN HÀNH
PHAN Il: CUNG CAP KHONG KHi
Động cơ diesel sinh công cơ học bằng
cách đốt nhiên liệu Động cơ đốt cháy càng
nhiều nhiên liệu, nhiệt phát sinh càng
lớn, công suất càng cao Sự tăng tỷ số công
suất, trọng lượng sẽ làm giảm chỉ phí Các
nhà sản xuất liên tục tìm kiếm các phương
pháp cải tiến quá trình cháy trong động
cơ
Tăng lượng nhiên liệu đưa vào động
cơ là tương đối dễ, chỉ cần tăng công suất
bơm và kích cỡ bộ phun nhiên liệu Tuy
nhiên, tăng hiệu suất cháy là vấn đề khó
Sự cháy không hết sẽ làm giảm hiệu quả
sử dụng nhiên liệu và làm tăng chất thải
ô nhiễm Để cháy hiệu quả cần bảo đảm
ba yếu tố:
1 Cung cấp đủ oxi
2 Tạo sương nhiên liệu phun tối đa
3 Hòa trộn đều sương nhiên liệu và oxi
trong cylinder
Trước hết cÂn xét quá trình cung cấp
oxi,
Cung cấp oxi
Điều thực tế xảy ra khi cháy nhiên
liệu là phản ứng giữa oxi trong không khí
với hydro và carbon trong nhiên liệu die-
sel Phản ứng này khởi đầu ở nhiệt độ
khoảng 7ð0°F (400°G), oxi phần ứng với
hydro tạo thành nước và với carbon tạo
thành CO, (và CO khi cháy không hết)
Trong quá trình hóa học này, nhiệt năng
được giải phóng
Không khí chỉ chứa 23% oxi theo trong
lượng (21% theo thể tích); phần còn lại
chủ yếu là nitơ cộng với vài loại khí khác
không tham gia vào quá trình cháy
Để cháy hết 1 pound nhiên liệu diesel cần khoảng 3 1⁄3 pound oxy Do không
khí chỉ chứa 23% oxi theo trọng lượng, để
cháy 1 gallon nhiên liệu diesel ở áp suất khí quyển cần 1500 feet khối không khí
có nhiệt độ 60°F., Khả năng đưa đủ không
khí vào động cơ để cháy toàn bộ nhiên
liệu là yếu tố giới hạn lượng nhiên liệu
động cơ có thể đốt cháy
Hiệu suất thể tích Các kỹ sư liên tục cải tiến để tránh
cần trở dòng không khí đi vào động cơ
Các bộ lọc không khí được chế tạo lớn đến mức tối đa có thể được Các bộ góp nạp được chế tạo sao cho không khí đi vào bị cần trở ít nhất (ma sát thấp nhất) Các valve được chế tạo lớn tối đa trong đầu cylinder (trên động cơ diesel 2 thì các cổng nạp có diện tích lớn nhất có thể đạt được) Các tổn thất không thể tránh do
ma sát trong các đường dẫn khí (kể cả
khí xả) được gọi là tổn thất bơm
Mức độ động cơ điền đẩy không khí trong các cylinder được gọi là hiệu suất thể tích Piston chuyển động từ đầu đến cuối hành trình chiếm thể tích xác định, được gọi là ¿bể tích quét Nếu động cơ có
khả năng hút đủ không khí trong thì nạp
điển đây thể tích quét với áp suất khí
quyển, hiệu suất thể tích là 100% Do đó,
hiệu suất thể tích là tỷ số giữa thế tích
không khí được hút vào cylinder và thể
tích quét ở áp suất khí quyển
Trang 14Động cơ hút khí tự nhiên
Động cơ hút không khí vào cylinder
thông qua hoạt động của piston được gọi
là hút khí tự nhiên
Trên động cơ 4 thì tiêu chuẩn, chuyển
động đi xuống của piston trong thì nạp
làm giảm áp suất trong cylinder và kéo
không khí vào cylinder (Nói một cách
chính xác, áp suất giảm trong cylinder
làm cho áp suất khí quyển bên ngoài cao
hon, do dé khéng khi di vao cylinder)
Ma sát trong bộ lọc khí và ống dẫn
không khí nạp (bộ góp nạp) cản trở dòng
không khí đi vào cylinder Do đó, khi pis-
ton đến ĐCD, áp suất bên trong cylinder
chỉ hơi thấp hơn áp suất khí quyển Điều
này có nghĩa là cylinder không thể điển
đây không khí chỉ với áp suất khí quyển
Khi đi vào cylinder, không khí có động
năng Khi piston của động cơ 4 thì đến
cuối thì nạp và bắt đầu chuyển động đi
lên, không khí tiếp tục đi vào cylinder
trong thời gian ngắn Để tận dụng điều
này, valve nạp được xác lập để đóng lại
sau khi piston bắt đầu thì nén
Bắt đầu
quá trình
phun Valve nap
mở Valve xả:
mở
No Phan nay khéng hién thi
sự chồng chập valve do các valve mở vào các thì khác nhau
Valve nạp được xác lập để mở ngay
trước khi piston đạt đến ĐCT ở thì xả, trước khi valve xả hoàn toàn đóng kín
Điều này được gọi là khoảng chồng chập valve, hai valve cing mở trong thời điểm
đó, bảo đảm valye nạp mở rộng vào thời điểm piston bắt đâu thì nạp, hút không khi vao cylinder Cac biện pháp này có thể tăng hiệu suất thể tích đến 80 — 90% (Hình 2.1)
Nạp không khí cưỡng bức
Hiệu suất thể tích và công suất của
động cơ diesel hút khí tự nhiên có thể
tăng rõ rệt bằng cách dùng áp suất đưa không khí vào cylinder một các cưỡng bức Đây là nguyên lý của siêu nợp (super-
charge) va nap turbine (turbocharger)
B6 siéu nap (supercharger) bom khong
khí vào bộ góp nạp bằng quạt, được truyền
động từ động cơ thông qua đai, xích, hoặc bánh răng Bộ nạp turbine (turbocharger)
có turbine lắp trong bộ góp xả của động
cơ và nối với bánh đà của máy nén trong
bộ góp nạp Khi khí xả thoát ra ngoài sẽ làm quay turbine Turbine quay bánh đà máy nén, bơm không khí vào bộ góp nạp
Bộ turbocharger không cần truyền động
cơ học (Hình 2.2)
Khi tải động cơ tăng, nhiên liệu phun
vào cũng tăng, làm tăng thể tích khí xả
Xả không khí nén
“eR Vỏ máy nén Ngõ vào _
của dầu
Vỏ turbine “` Bánh đà
k máy nén
Không Bánh xe [ + €Ẽ2” khí
Trang 15
Hình 2.3 “Sự quét khí" trong động cơ 2 thì:
Điều này làm cho turbine và bánh đà máy
nén quay nhanh hơn, tăng lượng không
khí đi vào động cơ Bộ turbocharger rất
nhạy với sự thay đổi tải, làm tăng công
suất động cơ khi tải tăng lên
Bộ turbocharger nói chung không dùng
trên động cơ 2 thì, tuy có thể kết hợp với
bộ supercharger, do khi các cổng nạp mở
do piston đi xuống, động cơ 2 thì phụ thuộc
vào nguồn cung cấp không khí nén để đẩy
khí xả ra ngoài cylinder và nạp không
khí mới Quá trình này được gọi là sự quét
khí Do trong quá trình khởi động, động
cơ chưa có khí xả để quay bộ turbocharger,
cần phải có quạt được được truyền động
bằng cơ học (bộ supercharger) để bơm
không khí vào cylinder (Hình 2.3)
Hiệu suất đưa không khí vào động cơ
2 thì được gọi là hiệu suất quét khí, tương
tự khái niệm hiệu suất thể tích của động
cơ 4 thì Nếu không khí nạp đẩy toàn bộ
khí xả ra ngoài và điển đầy không khí
vào cylinder ở áp suất khí quyển, động cơ
có hiệu suất quét 100%
Bộ làm nguội trung gian và
làm nguội sau
Không khí được nén từ bộ turbocharger
hoặc supercharger sẽ nóng lên Do không
khí nóng dãn nở, sẽ chứa ít oxy hơn trong một đơn vị thể tích Để giải quyết tổn thất hiệu suất do sự tăng nhiệt độ, không
khí phải được làm nguội Hầu hết các động
cơ có trang bị turbocharger hoặc super- charger đều có bộ trao đổi nhiệt, được gọi
là bộ làm nguội trung gian, hoặc làm nguội
sau, lắp trong bộ góp nạp giữa bộ super- charger hoặc turbocharger va block déng
cơ (Bộ làm nguội trung gian được lắp giữa turbocharger và supercharger, còn bộ làm nguội sau được lắp giữa turbocharger hoặc supercharger và block động cơ) Nước làm nguội tuần hoàn qua các thiết bị này, tương
tự bộ giải nhiệt trên xe hơi, làm giảm
nhiệt độ không khí đi vào động cơ
Một số bộ làm nguội sau được nối với
mạch làm mát động cơ, nhận nước nóng
do đã tuần hoàn qua động cơ Loại thứ hai
nối trực tiếp với nguồn nước riêng, có nhiệt
độ thấp hơn, do đó đạt hiệu suất cao hơn
Các nhà chế tạo phân biệt ba định mức công suất của cùng một loại động cơ: (1)
Hút khí tự nhiên; (2) Turbocharger và làm nguội sau sử dụng mạch nước làm mát
động cơ; (3) Turbocharger và làm nguội
sau sử dụng mạch nước riêng
Supercharger và turbocharger thường
làm tăng hiệu suất thể tích đến 150% hoặc
cao hơn, áp suất không khí trong cylinder
ở cuối thì nạp cao hơn áp suất khí quyển, công suất cao hơn khoảng 50% so với hút
khí tự nhiên
Sự cải thiện hiệu suất này làm cho động
cơ phức tạp hơn và có giá thành cao hơn, nhưng giảm chi phí/mã lực Ngoài ra, su- percharger và turbocharger làm cho động
cơ bị mòn nhanh hơn và chi phi bdo tri cao hơn, nhưng đồng thời làm tăng tỷ số công suất/động cơ, thích hợp hơn cho tàu biển
PHẦN II: SỰ CHÁY
Khi nhiên liệu diesel được phun vào
cylinder chứa không khí nén với áp suất
và nhiệt độ cao, nhiên liệu không nổ mà
tự bốc cháy Sự cháy tương đối chậm của nhiên liệu diesel làm cho áp suất và nhiệt
Trang 16độ trong cylinder tang cao hon so véi xang,
tác dụng lực đều hơn trên piston Đây là
ưu điểm so với xăng, đo đó, động cơ diesel
có moment quay ổn định hơn, đặc biệt ở
các tốc độ thấp
Tâm quan trọng của sự cuộn xoáy
Vào thời điểm phun áp suất trong cyl-
inđer có thể đạt đến 700 psi, nhiệt độ
đến 1000°F (540°C) Bộ phun phun nhiên
liệu vào không khí nén dưới dạng một hoặc
nhiều dòng hạt (nhiên liệu) rất nhỏ Chỉ
khoảng hơn 20% không khí là oxi Khi
hạt nhiên liệu gặp phân tử oxi, sẽ tự bốc
cháy và tiêu thụ oxi trong quá trình cháy
Sự cháy hoàn hảo đòi hỏi nhiên liệu tiếp
xúc đều với oxi, nhưng trong tiến trình
cháy, số lượng phân tit oxi trong cylinder
giảm dần, làm giảm cường độ cháy Phân
nhiên liệu điesel chưa cháy hết bị đẩy ra
ngoài qua hệ : thong xả dưới dạng khói đen,
làm tăng tổn thất nhiên liệu, tăng ô
nhiễm, và giảm công suất động cơ
Các bộ phun chỉ có thể phun nhiên
liệu theo đường thang Ở gần đầu bộ phun
các hạt nhiên liệu tập trung cao tiếp xúc
với nhiều phân tử oxi, nhưng càng xa đầu
phun, dòng nhiên liệu càng trải rộng, khả
năng gặp phân tử oxi càng giảm (Hình
2.4) Do đó yếu tố quan trọng là hòa trộn
nhiên liệu với không khí
Sự hòa trộn giữa các hạt nhiên liệu và
không khí phụ thuộc nhiều yếu tế, dang
phưn nhiên liệu, cỡ hạt nhiên liệu, và sự
cuộn xoáy không khí bên trong cylinder,
Các kiểu phun của
bộ phun nhiên liệu
Dạng phun nhiên liệu được xác định bằng kích cỡ và hình đạng lỗ phun trong
bộ phun, gồm 2 kiểu cơ bản:
©_ Đầu phun biểu lỗ đẩy nhiên liệu qua
một hoặc nhiều lỗ phun nhỏ Sự thay đối kích cỡ lỗ sẽ tạo sương cho nhiên liệu theo các hình dạng khác nhau
Thay đổi số lượng và góc của các lỗ
cho phép đưa nhiên liệu vào nhiêu vùng trong buồng đốt (Hình 2.5)
Nhiều lễ (kiểu ống ngắn)
Nhiều lỗ
(kiểu ống dài) Hình 2.5 Các kiểu đầu phun nhiên liệu
s- Đầu phun hiểu kim phun nhiên liệu có
dạng hình nón từ lỗ tâm tỏa ra xung quanh Kiểu này không thể phun sương nhiên liệu với cùng cấp độ như đầu phun kiểu lỗ Thay đổi góc thoát sẽ thu hẹp hoặc mở-*ộng góc côn
Ngoài ra còn có các loại đầu phun lai
ghép giữa hai kiểu nêu trên, chẳng hạn loai Lucas CAV Pintaux cé kim phun va
16 phu
Đầu phun kiểu kim có ưu điểm cơ bản
so với kiểu lỗ, dòng nhiên liệu chạy dọc kim phun giữ cho kưm luôn luôn sạch, còn các lỗ nhỏ trong đầu phun kiểu lễ có thé
bị kẹt do các hạt rắn nhỏ lẫn vào nhiên
liệu.
Trang 17
Buồng đốt mở Buồng đốt trước
Hình 2.6 Các kiểu buồng đốt
Phương pháp tạo cuộn xoáy
Để hòa trộn các hạt nhiên liệu phun
với oxi trong cylinder, nhà chế tạo thiết
kế piston và buông đốt sao cho có thể tạo
ra mức độ cuộn xoáy không khí cao hơn
trong cylinder Hầu hết các động cơ die-
sel hiện nay đều áp dụng một trong các
thiết kế đưới đây
Buông đốt trực tiếp: buồng đốt mở
hoặc trực tiếp thực tế không lớn hơn thể
tích ở trên cylinder khi piston đạt đến
điểm chết trên Thể tích này còn có thể
tính thêm phần cong ở mặt piston hoặc
đầu cylinder (Hinh 2.6) Day là kiểu buông
đốt đơn giản nhất và có nhiều ưu điểm
Diện tích bề mặt, tương đối so với thể
tích buông đốt, nhỏ hơn so với mọi kiểu
buồng đốt khác Điều này có nghĩa là tổn
thất nhiệt qua các bể mặt động cơ thấp
hon, do đó, hiệu suất nhiệt cao hơn Buông
đốt này còn cho phép khởi động dễ hơn,
do nhiệt ở thì nén bị tổn thất ít hơn trong
khi động cơ còn nguội Đặc tính này cho
phép tỷ số nén thấp hơn sơ với các kiểu
buồng đốt khác (thường là 16:1 so với 20:1
hoặc cao hơn), do đó giảm ứng suất tác
dụng lên động cơ và làm tăng tuổi thọ
động cơ
Trong các kiểu buồng đốt khác, một
phần không khí được đẩy vào và ra thông
qua các lỗ nhỏ, thường được gọi là công
được thực hiện bằng không khí Quá trình
này luôn luôn phát sinh ma sát, tiêu thụ
năng lượng và góp phần vào sự tổn thất
Buồng đốt xoáy Buồng không khí
áp suất nén Trong tất cả các thiết kế
buông đốt loại trực tiếp có công thực hiện
bằng không khí thấp nhất, nhưng cũng còn vài nhược điểm
Buông đốt trực tiếp tạo ra sự cuộn xoáy
thấp hơn mọi kiểu buồng đốt khác, do đó
sử dụng ít oxi hơn trong eylinder Đối với kích cỡ cylinder cho trứơc, buồng đốt trực
tiếp tạo ra công suất thấp hơn Để giải quyết vấn dé nay, cdc valve nap va mat
tựa valve được tạo hình và bố trí sao cho
có thể tạo ra chuyển động xoáy đối với
không khí nạp khi đi vào cylinder Hơn nữa, phần lõm trên mặt piston thường có đạng cong kép (được gọi là dạng lõm tor-
oid, Hình 2.7), để tăng sự cuộn xoáy không
khí Hiện nay, nghiên cứu đang tập trung vào khả năng tăng hiệu suất của buồng
đốt trực tiếp
Hình 2.7 Ph¿n nhiên liệu trực tiếp với piston lõm toroid
Trang 18Các động cơ với buồng đốt trực tiếp
hầu như chỉ sử dụng đầu phun nhiên liệu
kiểu lỗ, tạo ra các hạt nhiên liệu nhỏ hơn
đầu phun kiểu kim, nhằm tăng cường quá
trình cháy
Buông đốt trước Các nhà chế tạo
thường dùng các buồng đốt trước riêng rẽ
ở đầu cylinder ác buông đốt này chiếm
khoảng 25 - 40% tổng thể tích nén của
oylinder Khi nhiên liệu được phun vào
buồng đốt trước và bắt đầu cháy, làm cho
nhiệt độ và áp suất lớn hơn so với trong
buông đốt chính Điều này buộc sự cân
bằng chưa cháy của hỗn hợp không khí —
nhiên liệu phải đi qua lỗ tương đối nhỏ
của buông đốt trước để vào buông đốt
chính, làm tăng mức độ cuộn xoáy và hòa
trộn nhiên liệu với không khí
Kiểu động cơ này thường sử dụng bộ
phun nhiên liệu kiểu kim phun, do dạng
hình nón cho phép nhiên liệu phân bố
đều trong buồng đốt trước Sự cuộn xoáy
mạnh trong buồng đốt chính bù cho độ
tạo sương (nhiên liệu) thấp của bộ phun
nhiên liệu kiểu kim phun
Áo làm nguội bằng nước “
của buồng đốt trước
cao hơn từ cùng kích cd cylinder Tuy
nhiên, công tiêu tốn cho không khí lớn hơn, diện tích bể mặt của 2 buông đốt cao
hơn, làm giảm hiệu suất nhiệt Động cơ khởi động khó hơn do tổn thất nhiệt cao hơn Vì thế, tỷ số nén thường cao hơn (từ 20:1 đến 23:1) và các (hanh nhiệt (xem
Chương 4) được lắp trong buông đốt trước
để hỗ trợ sự khởi động nguội (Hình 2.8)
Buông xoáy Buông xoáy tương tự buông đốt nhưng có thể tích gần bằng buông đốt chính Độ cuộn xoáy rất cao tác động lên không khí nạp khi đi vào buông
xoáy Bộ phun kim phun nhiên liệu và khối không khí cuộn xoáy, quá trình cháy
xảy ra tốt hơn nhưng tổn thất đo không khí cũng cao hơn Hiệu suất nhiệt bị giảm nhiều do đó cần có tỷ số nén cao và các
thanh nhiệt để khởi động nguội
Các biểu buông đối khác Có 3 kiểu phối hợp đầu phun/ buồng đốt được dùng
cho các động cơ điesel với vài biến thể Ví
dụ, buồng không khí được bố trí đối diện
Buồng đốt trước
Đầu cylinder
Đệm kín
đầu cylinder Block máy
Áo nước
Ống lót cylinder ướt
Hình 2.8 Tiết diện cylinder có buồng đốt trước
20
Trang 19với đầu phun, nhiên liệu được phun qua
đỉnh piston đi vào buồng không khí
Dù có nhiều kiểu buông đốt và đầu phun
được sử dụng, nhiên liệu vẫn không thể
hòa trộn và cháy hết 100% Vì lý do này,
động cơ diesel được thiết kế để nạp không
khí nhiễu hơn so với yêu câu cháy của
lượng nhiên liệu tương ứng Sự cháy càng
hoàn hảo, hiệu suất nhiên liệu càng tăng
và ô nhiễm càng giảm Sự hòa trộn nhiên
liệu và không khí càng đều, lượng không
khí dư càng thấp, do đó công suất động cơ
càng tăng,
Cơ sở để xử lý sự cố một cách biệu quả
là hiểu rõ sự vận hành của động cơ Chẳng
hạn, khi động cơ ngày càng khó khởi động,
xả nhiều khói đen, và bị nóng quá mức,
cần xác định nguyên nhân gây ra các hiện
tượng đó Nếu hệ thống làm nguội hoạt
động bình thường, dầu bôi trơn đây đủ và
áp suất dầu là bình thường, bạn cần biết
loại buồng đốt (trực tiếp, đốt trước, buồng
xoáy) và kiểu đầu phun nhiên liệu
Nếu động cơ có buồng đốt trực tiếp với
các bộ phun kiểu lỗ, một hoặc vài bộ phun
nhiên liệu có thể hoạt động không chuẩn,
làm giảm sự tạo sương Điều này có thể
làm cho động cơ khó khởi động, nhiên
liệu cháy không hết, xả ra nhiều khói đen
Nhiên liệu lỏng trong cyÌinder sẽ rửa trôi
màng đầu bôi trơn trên vách cylinder, làm
tăng ma sát với piston Cylinder và pis-
ton bị quá nhiệt đẫn đến bị biến dạng
Các động cơ với buồng đốt trước và buồng
đốt cuộn xoáy ít bị các hiện tượng này
Đây chỉ là một trong các khả năng,
mình họa sự cần thiết về các kiến thức
động cơ khi bạn chẩn đoán sự cố và tìm
biện pháp giải quyết
PHẦN II: PHUN NHIÊN LIỆU
Hai phần đầu chương này trình bày
các quá trình xảy ra trong cylinder khi
nhiên liệu được phun vào và cháy hoàn
hảo Phần này khảo sát hệ thống phun
nhiên liệu Ngày nay, nhờ các tiến bộ công
nghệ, động c¢ diesel ngay càng nhỏ hơn,
nhẹ hơn và mạnh hơn với các cải tiến
trong hệ thống phưn nhiên liệu
Xét động cơ 4 thì, 4 eylinder, chạy với
tốc độ 3000w/ph, tiêu thụ 2 gallon dầu DO/
h Trong từng thì nén, hệ thống nhiên
liệu sẽ phun 0.000005 gallon nhiên liệu
Tùy theo loại đầu phun, áp suất phun trong
khoảng 1500 - 5000 psi do đó nhiên liệu
cũng phải đạt đến áp suất này
Mi thi piston chạy với tốc độ này chí
với 1/100 giây Trong thời gian rất ngắn
đó, hệ thống phun phải khởi động quá
trình phun, duy trì chế độ phun ốn định,
và dừng chính xác Nếu phun quá nhanh,
sự cháy sẽ tăng tốc, làm tăng nhiệt độ và
áp suất trong cylinder, động cơ sẽ có tiếng
gõ lớn Nếu phun quá chậm, sự cháy bị
trễ, làm giảm công suất, nhiên liệu cháy không hết, gây ra khói đen và ô nhiễm
Nhiên liệu phải được phun sương đều,
không làm nghẹt đầu phun, kể cả trước
và sau xung phun
Điểm bắt đầu phun thực tế phải được thời chuẩn với độ chính xác đến 0.00006
giây Cuối cùng, các cylinder phải nhận
được lượng nhiên liệu như nhau và ổn định
trong từng vòng quay để giảm rung động
và tránh tải không đều giữa các cylinder,
sao cho không bị quá nhiệt cục bộ và pis-
ton không bị biến đạng
Các yếu tố nêu trên cho thấy hệ thống
phun nhiên liệu động cơ diesel là phân hỹ thuật có độ chính xúc rất cao, cần xử lý một cách cẩn than va ti mi
Hầu hết các động cơ diesel đều sử dụng
một trong các hệ thống nhiên liệu sau: bơm nông, bơm phân phối và hệ thống
đường dẫn chung
Bơm nâng
Sơ đồ hệ thống phun nhiên liệu dùng
bơm nâng được nêu trên Hình 2.9 Bơm
cung cấp lấy nhiên liệu từ thùng chứa
nhiên liệu đi qua bộ lọc nhiên liệu chính,
đẩy nhiên liệu với áp suất thấp qua bộ lọc thứ hai đến bơm nâng
Bơm nâng có piston chuyển động lên
21
Trang 20Bơm nâng đa cấp S6bộ
Hình 2.9 Sơ đồ hệ thống nhiên liệu dùng bơm
nâng và bơm phân phối
xuống trong cylinder bơm thông qua trục
cam Ở cuối thì piston, nhiên liệu đi vào
cylinder bơm Khi piston đi lên sẽ đẩy
Cuối thì piston bơm
Hình 2.11 Cấu tạo bơm nâng
22
Bat dau qua trinh phun
Khoang nhiên liệu ©›
Thanh điều khiển
Trục cam Hình 2.10 Sự bố trí các piston và cylinder bơm
trong hệ thống bơm nâng thẳng hàng
nhiên liệu qua valve phản phối đến đầu
phun (Hình 2.10) Áp suất bơm sẽ mở valve
trong đầu phun, khởi động quá trình phun
Tốc độ động cơ được điều tiết bằng cách điều khiển lượng nhiên liệu phun vào cy]- inder động cơ Để thực hiện điều này, pis-
ton bơm có một rãnh cong xuống Lỗ khoan
từ đỉnh piston bơm đi đến rãnh cong để
nhiên liệu trong cylinder bơm có thể đi qua (Hình 2.11) Lỗ thứ hai, được gọi là
cửa thoát, ở phần cylinder bơm
Khi rãnh cong trùng khớp với cửa
Trang 21thoát, nhiên liệu trong cylinder bơm sẽ
chảy ra ngoài, áp suất giảm, sự phun dừng
lại Bằng cách quay piston hoặc eylinder
bơm, rãnh và cổng trùng khớp với nhau
vào thời điểm bất kỳ trong hành trình
piston bơm, cho phép thay đổi lượng nhiên
liệu phun
Bánh răng lắp vào piston hoặc eylin-
der bom duge truyền động bằng thanh
răng, được gọi là ¿hanh răng nhiên liệu
Van tiết lưu nối với thanh này, sự thay
đổi vị trí tiết lưu sẽ điều chỉnh đòng nhiên
liệu đi đến các bộ phun, cho phép điều
khiển công suất động cơ
Hình 2.14 Phun nhiên liệu
kiểu bơm phân phối
Mỗi cylinder có một bơm riêng, tất cả
các bơm nâng đều được đặt chung trong một hộp và được truyền động bằng trục
cam, mỗi cam một bơm Kiểu bố trí này được gọi là dây bơm nâng (hổng hàng (Hình 2.12)
Để động cơ vận hành ổn định, từng bơm phải cung cấp cùng lượng nhiên liệu
một cách chính xác đến phần triệu lít Piston bơm không có các vòng găng (bạc, segment) dé lam kin véi cylinder, chi dua vào độ chính xác giữa piston và cylinder bơm Ngày nay, độ hở giữa chúng không qua 0.004", bé mat piston va cylinder duge
gia công chính xác với độ bóng rất cao Bơm phân phối
Các Hình 2.13 và 2.14 minh họa hệ
thống nhiên liệu sử dụng bơm phân phối
Nói chung, hệ thống này tương tự kiểu
Trang 22
Đầu thủy lực và rotor
Hình 2.15 Bơm phun nhiên liệu kiểu phân phối
bơm nâng, nhưng có thêm ống £hoát, dẫn
nhiên liệu từ bơm phun trở về thùng nhiên
liệu Hai hệ thống này vận hành như nhau,
sử đụng cùng loại đầu phun Sự khác biệt
cơ bản giữa chúng chỉ là các bơm phun
' Hề thống bơm nâng có bơm riêng cho
tiing cylinder con bơm phân phối sử dụng
một bơm chung và đầu quay để đưa nhiên
liệu đến từng cylinder Điều này được thực
hiện tương tự bộ phân phối trong động cơ
xăng cung cấp sự đánh lửa cho từng bougie,
do đó được gọi là bơm phân phối Do chỉ
dùng một bơm cung cấp cho tất cả các cylin-
der, từng bộ phun nhận được những lượng
nhiên liệu như nhau, bảo đảm tải động cơ
phân bố đều, cho phép vận hành ổn định
các tốc độ không tải Valve định lượng ở
cửa vào bơm được nối với ống tiết lưu, điều
khiển lượng nhiên liệu bơm (Hình 2.15)
Hệ thống đường dẫn chung
Hệ thống đường dẫn chung có bơm lấy
nhiên liệu từ thùng nhiên liệu qua bộ lọc
chính, bộ lọc phụ và đưa vào đường dẫn
chưng trong đâu cylinder Đường dẫn này
cấp nhiên liệu cho các bộ phun (Hình 9.16)
Value điều chỉnh áp suất (valve điều áp) ở
cuối đường dẫn duy trình áp suất trong
hệ thống theo giá trị xác định và đưa nhiên
liệu dư trở về thùng nhiên liệu: Nhiên
liệu tuân hoàn liên tục qua toàn bộ hệ
thống, kể cả các bộ phun, duy trì sự bôi
Bộ phun nhiên liệu
Khi hoạt động, bơm phun đưa nhiên liệu với áp suất cao đến đầu phun Bơm
nâng và bơm phân phối đưa nhiên liệu từ
bơm phun qua ống cung cấp đến bộ phun
Hệ thống đường dẫn chung chỉ đưa nhiên
Hình 2.17 Bộ phun nhiên liệu Nhiên liệu phun trong bộ phun qua các đường dẫn trong thân và đầu phun đến buồng riêng bao quanh van phun
Lò xo giữ valve đóng cho đến khi áp suất nhiên liệu từ thì phun vượt quá lực lò xo và nâng valve lên, cho phép nhiên liệu với áp suất cao đi qua các lỗ phun Điều này xảy ra hầu như tức thời
Ở cuối quá trình phun, áp suất nhiên liệu giảm nhanh, lò xo đóng valve lại, kết thúc dòng dầu
nhiên liệu vào buồng đốt.
Trang 23liệu đến đầu phưn của bộ phận bơm/bộ
phun kết hợp (được gọi là bộ phun đơn 0ị)
Bên trong bộ phun, một lò xo mạnh
giữ udÌue kữn tựa vào đầu phun Valve kim
được thiết kế để có thể chuyển động, cho
phép nhiên liệu đi vào động cơ, khi áp
suất trong bộ phun đạt đến giá trị xác
định (Hình 2.17) Trên bơm nâng và bơm
cao áp, một lượng nhỏ dầu diesel đi qua
thân valve kim để bôi trơn bộ phun Nhiên
liệu dư trở về thùng nhiên liệu qua ống
thoát Nhiên liệu liên tục tuần hoàn qua
thân bộ phun trong hệ thống đường dẫn
chung
Bơm chuyển tải
Mọi hệ thống nhiên liệu đều sử dụng
bơm chuyển tdi dé dua dau diesel tir thing
nhiên liệu đến bơm phun Hệ thống đường
dẫn chung cần có bơm bánh răng được
thiết kế đặc biệt cho hệ thống này Các
hệ thống khác chỉ cần bơm áp suất thấp
thích hợp với dầu diesel Một số động cơ
sử dụng bơm điện kiểu màng, nhưng hầu
hết các hệ thống phun đều sử dụng bơm
màng vận hành bằng lực cơ học lắp trong
khới cylinder hoặc bên cạnh bơm phun
PHẦN IV: BỘ ĐIỀU TỐC
Công suất của động cơ diesel được điều
khiển thông qua lượng nhiên liệu được
phun vào các cylinder Trong máy thủy
thường yêu cầu động cơ chạy với tốc độ
xác định, bất kể tải tác động lên động cơ
Điều này không thể thực hiện nếu chỉ dùng
valve tiết lưu mỗi khi tải tăng hoặc giảm,
động cơ tăng tốc hoặc giảm tốc độ Sự vận
hành với tốc độ ổn định có thể đạt được
bằng cách nối thanh điều khiển nhiên liệu
trên bơm phun với Öô điều tốc
Bộ điều tốc đơn giản
Bộ điều tốc cơ bản gỗm hai khối thép
nặng, được gọi là bánh đà, gắn vào các
đầu của hai thanh có khớp xoay và lò xo
(Hình 2.18) Trục truyền động của bộ điều
tốc được động cơ truyền động, các bánh
đà quay quanh trục này, bị đẩy ra xa do
Đai ốc điều chỉnh tốc độ (xác lập tốc độ lý tưởng)
Giả sử động cơ đang hoạt động, bộ điều
tốc đang quay và các bánh đà cân bằng
với lò xo tốc độ ở vị trí xác định Nếu tải
giảm và động cơ tăng tốc, bộ điều tốc sẽ quay nhanh hơn, các bánh đà ra xa do tăng lực ly tâm Khi các bành đà ra xa,
các thanh đẩy của chúng tựa vào ống lót
điều khiển, ép lên lò xo tốc độ cho đến
khi khôi phục sự cân bằng
Ống điều khiển được nối đến thanh điều khiển nhiên liệu của bơm phun thông qua các thanh khớp nhỏ, khi ống điều
khiển chuyển động lên phía trên trục truyền động của bộ điều tốc, sẽ làm giảm
sự phun đầu của bơm Điều này làm giảm tốc độ động cơ đến giá trị xác định trước
Động cơ có thế chạy ở tốc độ xác lập
bất kỳ bằng cách điều chỉnh lực lò xo tốc
độ thông qua thanh điều chỉnh tốc độ Áp
suất tác dụng lên lò xo càng cao, các bánh
đà càng hướng vào trong, nhiên liệu phun càng tăng, động cơ chạy càng nhanh, Giảm
áp suất tác dụng lên lò xo tốc độ làm cho các bánh đà di chuyển ra xa, lượng nhiên
liệu phun giảm, động cơ chạy chậm dần
Trên các động cơ lớn, bộ điều tốc cơ học đơn giản nêu trên được thay bằng bộ
có điều tốc thủy lực phức tạp hơn, nhưng nguyên lý không thay đổi Một số động cơ
thủy cỡ nhỏ có bộ điều tốc lắp trong khối
động cơ, nhưng nói chung bộ điều tốc
Trang 24thường được đặt ở phía sau bơm phun
nhiên liệu Bộ điều tốc ít khi bị hư hỏng,
khi sử dụng động cơ bạn có thể chỉ cần
điều chỉnh lực căng của lò xo tốc độ để
xác lập tốc độ không tải của động cơ
Bộ điều tốc chân không
Đôi khi bạn có thể gặp bộ điều tốc kiểu
chân không Bộ này gồm uaiue bướm (lá
kim loại) được lắp ở cửa vào bộ góp không
khí nạp Ống chân không nối giữa bộ góp
không khí nạp và hộp nhỏ phía sau bơm
phun Bên trong hộp này là màng nối với
thanh điều khiển nhiên liệu của bơm phun
Bộ tiết lưu vận hành valve bướm, khi
valve tiết lưu đóng, valve bướm chặn dòng
không khí đi vào động cơ Tác đụng bơm
của các piston kéo không khí vào tạo ra
chân không trong bộ góp nạp Chân không
này được truyền cho phần trên bơm phun
nhiên liệu thông qua ống chân không, kéo
màng về phía lò xo Màng này kéo thanh
điều khiển của bơm phun về vị trí đóng
Nếu tải tăng, động cơ giảm tốc độ, độ
chân không sẽ giảm, lò xo trong bom phun
nhiên liệu đẩy màng chắn, tác động đến
thanh điều khiển nhiên liệu, lượng nhiên
liệu phưn tăng lên Động cơ tăng tốc độ
Nếu tải giảm, tốc độ động cơ tăng và chân
không cũng tăng, kéo màng về phía đóng,
làm giảm tốc độ động cơ
Rhi tiết lưu mở, valve bướm mở, chân
không trong bộ góp nạp giảm, màng
chuyển động do lực của lò xo, thanh rang
điểu khiển điểu khiển nhiên liệu tăng
lượng nhiên liệu cung cấp, động cơ tăng
tốc độ đến giá trị mới xác lập
Hệ thống này ít bị hư hồng, vài sự cố
thường gặp là ống chân không bị rò ri,
hộp chứa màng bị rạn nứt, và màng bị nứt Tốc độ không tải của động cơ được xác lập với vít diéu chính vị trí đóng tối thiểu của valve bướm
PHAN V: HE THONG LAM NGUOI
Động cơ diesel vận hành với lượng
nhiệt lớn, chỉ một phân ba lượng nhiệt này được chuyển thành công hữu ích Hai phần ba còn lại phải được giải phóng ra xung quanh để nhiệt độ trong động cơ không quá cao đến mức nguy hiểm Nhiệt
độ quá cao có thể phá hủy màng dầu bôi trơn, làm cho động cơ bị biến dạng, đầu cylinder bị rạn nứt Khoảng gần một nửa
lượng nhiệt dư thoát ra ngoài theo khí
thải, phần còn lại được xử lý bằng hệ thống
làm nguội,
Có ba hệ thống làm nguội chính được dùng trong máy thủy: làm nguội bằng nước
thô, sử dụng bộ trao đổi nhiệt, và bộ làm nguội ở đáy tàu thuyền
Làm nguội bằng nước thô
Hệ thống làm nguội bằng nước thô trên tàu thuyên lấy nước trực tiếp từ sông hoặc
Hình 2.19 Làm nguội bằng nước thô.
Trang 25biển Nước đi vào qua ống hút, đến bình
chứa, tuần hoàn qua các bộ làm nguội dầu,
làm nguội phía sau, và động cơ, sau đó
chảy ra ngoài Trên hầu hết các động cơ
điesel 4 thì, sau khi nước tuần hoàn qua
động cơ sẽ đi vào ống xả rồi xả ra ngoài
cùng với khí thải (Hình 2.19), được gọi la xd
ướt, còn xả khô chỉ có khí thải mà không
có nước
Hệ thống làm nguội bằng nước kiểu
này đơn giản và kinh tế, nhưng có nhiều
nhược điểm
s - Theo thời gian, cặn lắng tích tụ trong
động cơ và các bộ làm nguội, dần dần
làm nghẹt các đường dẫn làm nguội
» - Điều chỉnh nhiệt độ động cơ tương đối
khó Thứ nhất, nhiệt độ nước trong môi
trường thay đổi trong phạm vi rộng
quanh các thành và dau cylinder Diéu
này làm giảm hiệu suất làm nguội và
gây ra các điểm nóng cục bộ Tốc độ
hình thành muối phụ thuộc vào nhiệt
độ nước, tăng nhanh khi nhiệt độ nước
làm nguội cao hơn 709C Do đó động cơ
làm nguội bằng nước biển hoạt động
với nhiệt độ thấp hơn so với các loại
động cơ khác (khoảng 60-70°C so với
85°C hoặc cao hơn) Điều này làm giảm
hiệu suất nhiệt của động cơ có thể làm
cho nước và các acid độc hại ngưng tụ
trong dầu động cơ
© - Sự kết hợp nhiệt, nước biển và các kim
loại, dễ dàng dẫn đến sự ăn mòn điện
hóa Động cơ sử dụng hệ thống làm
nguội này cần được chế tạo từ eác vat
liệu tương thích về điện hóa (khối cyl-
inder bằng gang đúc phải eó đầu cyl-
inder bằng gang, không được dùng hợp
kim nhôm) Các dương cực bằng kẽm
(Zn) được lắp trong mạch làm nguội,
được kiểm tra và thay mới một cách
đều đặn để giảm tốc độ ăn mòn,
s Dong co khong sit dung chất chống
Hình 2.20 Khối cylinder bi nứt trong động cơ
làm nguội bằng nước Động cơ này được lắp
dưới đường món nước và không có ống xi-phông
đông (chống đóng băng) trong điều kiện
thời tiết giá lạnh (Hình 2.20), do đó
nước làm nguội phải được xả hết sau
mỗi lần sử dụng Toàn bộ đường ống
và các bơm phải không có điểm giảm
áp để dễ dàng xả nước ra ngoài sau khi sử dụng
Làm nguội bằng bộ trao đổi nhiệt
Động cơ với bộ trao đổi nhiệt có hệ
thống làm nguội khép kín Bơm làm nguội
động cơ tuân hoàn chất làm nguội từ thùng
chứa qua các bộ làm nguội đầu, bộ làm
nguội sau, và động cơ Chất làm nguội đi qua bộ trao đổi nhiệt để hạ nhiệt độ và chất làm nguội tiếp tục tuần hoàn (Hình
2.21)
Bộ trao đổi nhiệt gồm một hình trụ với các ống hợp kim Cu-Ni bên trong (Hình 2.22) Chất làm nguội động cơ nóng
đi qua ống trụ Nước lạnh bên ngoài được bơm qua các ống hợp kim Cu-Ni Nước tải
nhiệt từ chất làm nguội ra ngoài, được xả
Trang 26
Thủng chứ nước làm
Hình 2.22 Bộ trao đổi nhiệt
ra một cách trực tiếp hoặc qua ống xả ướt
chung với khí thải
Bộ trao đổi nhiệt tương đối đắt tiền,
đòi hỏi nhiều ống hơn so với hệ thống
làm nguội bằng nước thô Mặt khác, có
chống ăn mòn trong dung dịch làm nguội
để bảo vệ động cơ, do đó sẽ không có cặn lắng và muối kết tỉnh trong các đường ống và đầu cylinder Động cơ có thể vận
hành ở nhiệt độ cao hơn, làm tăng hiệu
suất nhiệt Thùng dãn nở có nắp chịu áp
suất như trên bộ tản nhiệt của xe ôtô
Khi áp suất chất làm nguội tăng, điểm
sôi cũng tăng Nếu áp suất tăng thêm 10 psi, nhiệt độ sôi tăng đến 116°C Áp suất
tăng trong hệ thống làm nguội khép kín
sẽ giảm nguy cơ hình thành các túi hơi
nước cục bộ và các điểm nóng trong động
và nước đóng băng Các điện cực bằng kẽm (2n) được dùng trong các ống này để chống
ăn mòn điện hóa
Làm nguội ở đáy tàu thuyền
Sự làm nguội ở đáy tàu thuyên không cân sử dụng mạch nước thô Thay vì đặt
hệ thống trao đổi nhiệt trên tàu thuyên
và đưa nước thô vào, bộ trao đổi nhiệt
được nhúng trực tiếp xuống nước sông biển
(Hình 2.23) ở đáy tàu thuyền Điều này
Trang 27
Hình 2.23 Bộ làm nguội ở đáy tàu thuyền
thường được thực hiện bằng cách đặt đường
ống chạy đưới đáy và tuần hoàn chất làm
nguội qua ống đó, hoặc lắp đặt các ống
làm nguội ở phía ngoài sườn tàu thuyền
Tàu thuyển vỏ thép có các đường dẫn bằng
thép hàn ở ngoài tàu, hoặc loại ống có hai
lớp, nước sông biển chảy giữa ống, còn
chất làm nguội tuần hoàn giữa hai lớp đó
Hai kiểu hệ thống này ít được sử dụng do
chúng làm tăng trọng lượng và sự sửa chữa
có thể đòi hỏi chỉ phí cao khi đường ống
Bị ăn mòn
Bộ làm nguội ở đáy tàu thuyền có mọi
ưu điểm của bộ trao đổi nhiệt, ngoài ra
còn có các ưu thế khác Bộ làm nguội này
không bị các vấn đề tích tụ cặn lắng, ăn
mòn, hoặc nước đóng băng trong mạch
làm nguội Nến động cơ có hệ thống xả
khô, bộ làm nguội không cần bơm hoặc
mạch dẫn nước thô Nếu động cơ dùng hệ
thống xả ướt, cần có bơm nước thô riêng
để cấp nước phun vào đường xả khí thải
Bơm này còn tuân hoàn nước qua bộ làm
nguội sau, và bộ làm nguội đầu bôi trơn
Bộ làm nguội đáy được chế tạo bằng đồng
thay với các ống bằng hợp kim Cu — Ni
(áp suất ngược) cần trở dòng khí thải và
làm giảm hiệu suất Dù ống xả thẳng có
đường kính lớn cho phép xả khí thải khá
tốt nhưng tiếng ồn quá cao, thường vượt
ngưỡng tiêu chuẩn
Tiếng ồn động cơ gồm nhiều yếu tế
độ khí xả thoát ra ngoài động cơ Thứ hai
là sự thay đổi áp suất đột ngột phát sinh khi từng cylindet xả khí thải Giảm thể tích khí thải hoặc đưa khí thải vào khu vực có thể tích lớn sẽ giảm tốc độ khí xả
Áp suất ngược với giá trị xác định trong
hệ thống xả có thể làm giảm các thay đổi
áp suất
Đó là các lý do để sử dụng hệ thống xả
ướt (Hình 2.24) Nhiệt độ cao của khí thải
làm cho một phần nước trong hệ thống này hóa hơi (sôi) Khi hóa hơi, nước hấp
thụ nhiệt từ khí thải (nhiệt hóa hơi), làm
giảm mạnh nhiệt độ Nhiệt độ giảm làm giảm tương ứng thể tích khí thải, do đó sẽ
giảm tốc độ Sự xả ướt làm nguội khí thải
và giảm thấp tiếng ồn động cơ mà không
cần tăng áp suất ngược Hơn nữa, phía
sau điểm phun nước có thể sử dụng ống cao su để làm ống xả Ống cao su làm giảm tiếng ôn tốt hơn ống kim loại trong
hệ thống xả khô
Sự giảm tiếng ồn trong hệ thống xả ướt có thể được tiếp tục cải thiện bằng cách tăng áp suất ngược sử dụng bộ giảm
âm nước Sau khi nước được phun vào khí thải, nước và khí thải đi vào buổng dan
nở vô cửa xả ở đáy Nước chưa hóa hơi tích tụ cho đến khi chặn kín cửa xả, khi
đó khí xả đẩy nước ra khỏi ống xả (Hình 2.25) Buồng dãn nở và áp suất ngược tương đối nhỏ kết hợp làm giảm sự thay đối áp suất trong hệ tnống xả, do đó làm giảm tiếng ôn
Hệ thống xả ướt rất hiệu quả và được
sử dụng ngày càng rộng rãi, nhưng cần chú ý đặc biệt khi lắp đặt do nước có thế
Trang 28Khí thải của động cơ 4 thì được đẩy ra
ngoài do piston ở thì xả (thì thứ tư) Áp
suất ngược cao không cản trợ sự xá khí
thải nhưng làm cho động cơ chạy nặng
hơn, nóng hơn, và tổn thất công suất lớn
hơn Khí xả của động cơ 2 thì, được đẩy ra
ngoài bằng áp suất không khí quét được
thổi vào cylinder Áp suất xả ngược đủ
cao sẽ chặn hoàn toàn đòng khí thải, làm
cho động cơ không thể tiếp tục chạy
Vì lý do đó hầu hết các động cơ 2 thì đều có hệ thống xả khô một cách trực tiếp,
do đó có tiếng ồn cao hơn động cơ 4 thì Tiếng ồn này còn tăng thêm đo chu kỳ xá tương đối ngắn, đòi hỏi các valve xả mở
và đóng nhanh để sử dụng bộ tiêu âm lắp
ở đường ống xả
Hệ thống xả khô nóng hơn nhiều so
với xả ướt, đòi hồi sự cách nhiệt tốt hơn
đặc biệt ở phần dau cylinder
Trang 29(ương 3
GIỮ SẠCH ĐỘNG CƠ
Động cơ diesel có tuổi thọ lâu và độ
tin cậy cao Quy trình bảo trì tương đối
đơn giản, nhưng sự bảo trì định kỳ là
yêu cầu cơ bản Sự bất cẩn và không chú
ý đến các chỉ tiết có thể làm hư hại động
cơ một cách nghiêm trọng
Động cơ diesel yêu cầu không khí sạch,
nhiên liệu sạch, đầu bôi trơn sạch, và luôn
luôn được giữ gìn sạch sẽ Do đó, bạn cần
chú ý tắm quan trọng của độ sạch, thay
các bộ lọc không khí, nhiên liệu, và đầu
theo định kỳ để tăng độ tin cậy, kéo đài
tuổi thọ động cơ và duy trì công suất ổn
định
Không khí sạch
Như đã để cập trong Chương 1, cần
khoảng 1500 f# không khí ở 15.6% để
đốt cháy hoàn toàn một gallon dâu diesel
Nhưng trong thực tế, lượng không khí cần
dùng thường cao hơn Piston của động cơ
kiểu hút không khí tự nhiên, hút cùng
một lượng không khí trong từng thì hút, bất kể tốc độ và tải động cơ (trong động
cơ siêu nạp hoặc nạp với áp suất, lượng
khong khi di vao cylinder thay đổi theo tốc độ và tải), Ở các tốc độ và tải thấp, phưn rất ít nhiên liệu, và oxi trong cylin- der chỉ cháy một phần Khi tải, tốc độ,
hoặc cả hai đều tăng, lượng nhiên liệu phun tăng, cho đến khi đạt tải toàn phần, nhiên liệu phun đủ để đốt cháy toàn bộ
oxi (kể cả không khí nón từ bộ siêu nạp) Khi động cơ tiêu thụ toàn bộ oxi sẽ đạt
được công suất cực đại (Tuy nhiên, trong thực tế, sự phun nhiên liệu toàn phân thường chỉ giữ ở mức đốt cháy 70 - 80% oxi để bảo đảm cháy hoàn hảo và giảm
khí xả độc hại)
Do vậy, ở các tải nhẹ, chỉ một phần
nhỏ không khí đi vào động cơ được đốt
cháy, ngay cả ở tải toàn phần vẫn có một
CID*Nit Tốc độ động cơ (v/ph)
500 1000 1500 2000 2500 3000 30/0.8 6 12 18 24 30 36
75/1.25 9 18 27 36 45 34
5 100/1.6 12 24 36 48 60
72 2 125/2.0 1s 30 45 60 75 90
= 150/2.5 18 36 34 72 90
Trang 30lượng không khí không cháy để bảo đảm
sự cháy hoàn toàn dầu diesel và chất xả ô
nhiễm ở mức tối thiểu Các động cơ nạp
không khí với áp suất (siêu nạp) sử dụng
lượng không khí gấp đôi so với nạp tự
nhiên, còn các động cơ 2 thì cần lượng
không khí đến gấp bốn Điều này làm tăng
sự tiêu thụ không khí (Hình 8.1):
Sự vận hành hiệu quả động cơ diesel
phụ thuộc chủ yếu vào sự duy trì áp suất
nén, Ngay cả một lượng bụi rất nhỏ lọt
qua bộ lọc không khí hoặc bộ góp nạp cũng
làm tăng tốc độ mòn vòng găng (bạc, seg-
ment) và vách cylinder, đòi hỏi chi phí
sửa chữa khá cao Hơn nữa, khi bụi lọt
uào động cơ, bạn không thể loại bỏ chúng
Các hạt bụi nhỏ bám vào bề mặt tương
đối mềm của động cơ và ổ trượt, dâu bôi
trơn không thể loại bỏ chúng, do đó tốc độ
mài mòn tăng rõ rệt
Theo thời gian, bụi tích tụ ngày càng
nhiều có thể gây hư hại động cơ diesel
một cách nghiêm trọng
Dù bộ lọc không bị hư, trong quá trình
lọc không khí bụi vẫn tích tụ và cản trở
dòng không khí đi vào động cơ Điều này
hạn chế lượng oxi đi vào cylinder, làm
giảm sự cháy nhiên liệu đặc biệt khi tải
nặng Động cơ bị giảm công suất, khí xả
có khói đen do cháy không hết Các valve,
Khoảng thời gian thay bộ lọc tùy thuộc
vào các điều kiện vận hành Nói chung,
môi trường biển có không khí ft bị ô nhiễm
hơn so với môi trường sông và đất liền,
do đó đôi khi bộ lọc khí bị bỏ quên, việc
thay bộ lọc theo khoảng thời gian xác định,
dù bộ lọc đó còn sạch, vẫn tốt hơn là bỏ
quên
Bộ lọc không khí Bộ lọc không khí
trong các động cơ diesel cỡ nhỏ thường sử
dụng giấy lọc dễ thay thế (Hình 3.2), loại
bộ lọc với bể dầu (Hình 3.3) ít thông dụng
hơn Kiểu bể dầu đẩy không khí đổi chiều
32
Hình 3.2 Bộ lọc không khí với giấy lọc dễ thay
Hình 3.3 Bộ lọc không khí kiểu bể dầu
nhanh qua bể dầu Các hạt bụi bị đẩy ra ngoài bằng lực ly tâm và được giữ lại trong dầu Không khí sau đó đi qua lưới mịn, tùy theo lượng dầu hút từ bể dầu để bôi
trơn
Theo thời gian, tuy dầu bề ngoài vẫn
có vẻ sạch, nhưng bể dầu liên tục tích tụ bụi, dầu trở nên đặc hơn, hiệu quả của bộ lọc giảm dần Bạn cần xả dầu cũ một cách định kỳ, làm sạch bể đầu bằng dau hỏa hoặc xăng Khi thay dầu mới, cần chú ý,
khong cham dẫu quá mức, dầu dư có thể lọt vào động cơ gây ra hiện tượng kích nổ
và ô nhiễm
Nhiên liệu sạch
Bơm phun nhiên liệu (heo đầu) là loại
thiết bị rất chính xác, có thể bị hư hại do nước hoặc bụi với cỡ hạt u¿ mô Đây còn là
bộ phần đắt tiền nhất trên động cơ Điều
Trang 31đặc biệt quan trọng là giữ cho nhiên liệu
luôn luôn sạch Theo các nhà sản xuất
thiết bị phun nhiên liệu, 90% các vấn đề
của động cơ diesel là do nhiên liệu bị
nhiễm bẩn
Nhiên liệu bị nhiễm bẩn do bụi, nước
và vi khuẩn Ngay cả các hạt bụi rất nhỏ
cũng có thể làm mòn piston của bơm phun
hoặc cả piston và cylinder Sự mòn của
bơm nâng làm cho nhiên liệu rò rỉ, sự
phân phối nhiên liệu trở nên không đều,
ảnh hưởng xấu đến hoạt động của từng
cylinder, tải không đều giữa các cylinder
làm giảm công suất động cơ Nếu bụi lọt
vào bộ phun, đầu phun sẽ bị nghẹt, gây ra
nhiều vấn đề nghiêm trọng
Nếu động cơ chạy không đều, các cyl-
inder chịu tải lớn hơn sẽ bị quá nhiệt, gây
cháy các valve và piston, đầu cylinder bi
rạn nứt, khói đen do nhiên liệu cháy không
hết Trong một số trường hợp, dòng nhiên
liệu phun sương không ổn định sẽ rửa trôi
màng đầu bôi trơn ở vách cylinder, gây
hư hỏng piston va cylinder
Nước lẫn trong nhiên liệu là tác nhân
của nhiều sự cố nghiêm trọng Ngoài việc
gây ra sự bốc cháy nhiên liệu không chuẩn
và làm giảm hiệu suất, các giọt nước trong
bộ phun còn bị hóa hơi ở nhiệt độ cao
trong cylinder ở thì nén Điều này xảy ra
với lực rất lớn, có thể làm hư hại đầu phun
Nhiên liệu tràn vào cylinder, rửa trôi màng
đầu bôi trơn, đầu phun va đập với các valve
và piston Trong thời gian động cơ không
hoạt động, nước trong hệ thống nhiên liệu
có thể ăn mòn nhiều bộ phận quan trọng
Vi khuẩn thậm chí có thể phát triển
trong dầu diesel bề ngoài có vẻ sạch, tạo ra
màng nhớt làm nghẹt các bộ lọc, bơm và
bộ phun Vi khuẩn sống ở bể mặt nhiên
liệu/nước, cần có cả hai chất lỏng này để
tổn tại và phát triển Môi trường sống tối
ưu của chúng là nơi tối, yên lặng, không có
cuộn xoáy, đặc biệt là thùng nhiên liệu
Hai loại thuốc chống vi sinh được dùng để
điệt các vi khuẩn này, thứ nhất là loại
hòa tan trong nước, thứ hai là hòa tan
trong diesel, `
Một số chất xử lý dầu diesel có thể chứa alcohol (để hấp thu nước), gây ăn
mòn cho các bộ phận phi kim loại trong
hệ thống nhiên liệu Thay vì xử lý nhiên liệu sau khi gặp sự cố, bạn nên dự đoán
trước các vấn đề từ gốc bằng cách áp dụng
các biện pháp đưới đây:
«Ổ Bảo đảm tất cả các can chứa nhiên
liệu đều sạch, không bị rỉ sét
s - Khi lấy nhiên liệu từ thùng phuy, trước hết bạ lắp một ống nhựa đến đáy
thùng, chặn đầu ống bên ngoài bằng
tay, sau đó rút nhanh ống ra ngoài và
kiểm tra nhiên liệu trong ống xem có
nhiên liệu để kiểm tra sự nhiễm bẩn Khi có dấu hiệu ô nhiễm, bạn hãy xả hết nhiên liệu ra ngoài chơ đến khi
không còn ô nhiễm Nhiên liệu bị
nhiễm bẩn cần phải loại bỏ, sau đó
súc sạch thùng nhiên liệu và sử dụng
nhiên liệu mới
« Khi không sử dụng tàu, thuyền trong thời gian dài (vài tuần hoặc vài tháng), bạn hãy dé day nhiên liệu vào thùng,
ngăn chặn không khí lọt vào thùng
nhiên liệu, tránh hơi ẩm ngưng tụ Bạn nên sử dụng chất chống vi sinh thích
hợp cho nhiên liệu
Bộ lọc nhiên liệu Thiết bị phun dầu
diesel được chế tạo rất chính xác Dầu die-
sel là chất bôi trơn, và do mọi bộ phận
làm việc của hệ thống này đều được ngâm hoàn toàn trong dầu diesel, hầu như không
xảy ra sự mài mòn và ma sát Nếu hệ
thống nhiên liệu được cung cấp đều đặn
nhiên liệu sạch, hệ thống sẽ hoạt động
nhiều ngàn giờ hầu như không xảy ra sự
cố (Các đầu ống phưn là ngoại lệ, do chúng phải đáp ứng các điều kiện vận hành khắc nghiệt trong buồng đốt Các bộ phun phải
được tháo ra và làm sạch theo định kỳ không quá 1000 giờ)
33
Trang 32
Bộ khử nước CAV
Hình 3.4 Các bơm nhiên liệu chính Nhiên liệu vào đầu bộ lọc, phần còn lắng, qua khe hẹp giữa
phần còn lắng và thân bộ lọc, sau đó đi vào giữa bộ lọc và ra ngoài ở phía trên qua các nối kết
Dòng lưu động hướng tâm cho phép trọng lực tách nước và các hạt rắn ra khỏi nhiên liệu, nước và
tạp chất lắng xuống đáy bộ lọc Bộ lọc nà, \y hoàn toàn không có bộ phận chuyển động Thanh do
điện tử ở đáy bộ lọc chứa hai điện cực, còn bộ lọc là điện cực thứ ba Khi mức nước tăng, sẽ làm
mất cân bằng trong hệ thống, đưa tín hiệu đến bộ cảnh báo, cho biết cần xả sạch đá y bộ lọc Sự
cảnh báo có thể là đèn, âm thanh Bạn hãy tháo vít nhỏ ở phía dưới để mỏ lỗ xả Bộ lọc có mạch
tự động, kích hoạt thiết bị cảnh báo trong 2- 4 giây
Mọi động cơ máy thủy đều phải có hai
loại bộ lọc Bộ lọc thứ hai thường được
đặt ngay phía trước bộ phưn Nếu chỉ có
một bộ lọc, bộ đó phải được lắp đặt giữa
thùng nhiên liệu và bơm cung cấp, không
được đặt sơu bơm đó, do nước trong nhiên
liệu có thể đi qua bơm cung cấp phân tán
thành các giọt nhỏ rất khó lọc
Bộ lọc sơ cấp và bộ lọc thứ cấp có chức
năng khác nhau Bộ lọc sơ cấp chỉ lọc nước
và các tạp chất nguy hiểm trong nhiên
liệu nhưng không lọc được các hạt rắn và
các giọt nước có kích thước nhỏ (eỡ ym)
Bộ lọc thứ cấp có nhiệm vụ loại bỏ các
hạt nhỏ lọt qua bộ lọc sơ cấp
Bộ lọc sơ cấp thường là kiểu bộ lắng
được thiết kế đặc biệt để tách nước ra
khỏi nhiên liệu Bộ lắng rất đơn giản, gồm
một bầu chứa và tấm lệch hướng Nhiên
liệu đi đến và đập vào tấm lệch hướng,
lưu động quanh tấm đó, đi xuống dưới tấm
lệch hướng và ra ngoài bộ lọc Các giọt
nước và hạt rắn cỡ lớn lắng xuống và bị
đẩy ra ngoài bằng lực ly tâm (Hình 3.4)
Các bộ lọc chất lượng cao còn cho nhiên
34
liệu đi qua phần tử lọc thô, cỡ 10 - 30 tưn
(Hình 3.5)
Bộ lọc sơ cấp có bầu lọc với đường xả
để nước dễ dàng thoát ra ngoài, hoặc có ống xả cong để có thể lấy mẫu kiểm tra
theo định kỳ Ngoài ra, bộ lọc còn có linh kiện cảm biến điện trở, kích hoạt bộ cảnh báo khi mực nước đạt đến giá trị xác định,
bộ phao nổi sẽ chặn dòng nhiên liệu đi
vào động cơ
Máy tàu thủy thường có hai hoặc nhiều
bộ lọc sơ cấp lắp liên tiếp nhau, cho phép
đóng hoặc thay một bộ lọc mà không cần tắt động cơ (Hình 3.6) Theo cách này,
nếu bạn gặp sự cố nhiên liệu bị nhiễm bẩn trong tình huống tắt động cơ có thể
gây nguy hiểm, bạn có thể thay bộ lọc
trong khi động cơ vẫn hoạt động Bạn có thể lắp áp kế chân không giữa các bộ lọc
sơ cấp và bơm cung cấp, khi bộ lọc bắt
đầu bị nghẹt, kim áp kế sẽ dịch chuyển
và cảnh báo cho bạn
Bộ lọc thứ cấp hoặc thiết kế với lưới lọc rất mịn để loại bỏ các hạt rắn và giọt
Trang 33Fos ate s
Hình 3.6 Các bộ lọc sơ cấp có các valve cho
phép thay một bộ trong khi động cơ đang chạy
nước rất nhở Các bộ lọc này thường là
kiểu quay với phần tử lọc bằng giấy đặc
“ biệt Các giọt nước nhỏ vẫn quá lớn, không
Phần tử lọc thay được ——~
Bi điều chỉnh———— Cánh ly tâm — |
Bau (chén) loc} |
thể đi qua lưới do đó chỉ bám trên mặt
giấy lọc Khi nước tích tụ, các giọt nước lớn dần và lắng xuống đáy bộ lọc, từ đó sẽ
được xả ra theo định kỳ, lưới bộ lọc chỉ
trong khoảng 7- 10 m (Hình 3.7)
Bơm cung cấp thường có lưới mịn ở
phía cửa vào để lọc các hạt bụi lớn Nếu bạn phát hiện có sự nhiễm bẩn nghiêm trọng ở bộ lọc sơ cấp, bạn cần kiểm tra lưới lọc ở bơm cung cấp Trên các bơm kiểu màng do động cơ truyền động, bạn
có thể mở vít ở giữa nắp bơm (Hình 3.8)
để tiếp cận lưới này
Thay bộ lọc nhiên liệu thường xuyên
là ưu tiên hàng đầu trong lịch bảo trì động
cơ Nhiên liệu bị nhiễm bẩn có thể làm
hư hại các bộ lọc, bộ phun, piston, cylin- đer, thậm chí chi phí sửa chữa động cơ còn lớn hơn chi phi mua động cơ mới, do động cơ sau khi sửa chữa có thể tiêu thụ
nhiên liệu cao hơn, công suất thấp hơn và
kém an toàn hơn động cơ mới
Trang 34
Hình 3.7 Bộ lọc thứ cấp
Hình 3.8 Làm sạch bơm cung cấp
Dầu bôi trơn sạch
Dầu bôi trơn trong động cơ diesel làm
việc trong các điều kiện khó khăn hơn so
với động cơ xăng, phải chịu nhiệt độ cao
hơn và tải lớn hơn Điều này càng rõ rệt
đối với động cơ diesel ngày nay, thường
có trọng lượng nhẹ, tốc độ cao, không khí
nạp với áp suất cao, và thể tích dầu bôi
bôi trơn bị đen chỉ sau vài giờ vận hành
động cơ
Khi động cơ chạy với tải nhẹ hoặc không tải, hơi nước sẽ ngưng tụ thành nước trong động cơ Nước tác dụng với lưu huỳnh trong nhiên liệu tạo thành acid,
ăn mòn các bề mặt động cơ Vận hành với
tải nhẹ hoặc không tải còn làm tăng lượng muội than tích tụ Muội than tập trung ở cae vong gang (bac segment), valve va than
valve gây tổn thất áp suất nén và nhiều vấn đề khác
Dầu bôi trơn động cơ diesel có thành phần rất phức tạp, bảo đảm sự bôi trơn,
xử lý acid và các sản phẩm phụ độc hại
phát sinh từ quá trình cháy Sử dụng đúng
loại dầu nhớt trong động cơ diesel là rất quan trọng Nhiều loại dầu nhớt dùng tốt
cho động cơ xăng nhưng không thích hợp
với động cơ điesel Viện Dầu Mỏ Hoa Kỳ
(API) st dụng chữ C để ký hiệu lọai đầu nhớt dùng cho động cơ diesel và chữ S cho
Trang 35động cơ xăng Sau chữ C hoặc chữ S là ký
tự biểu thị mức độ phức tạp của các phụ
gia trong dầu nhớt, ký tự càng cách xa chữ
A trong thứ tự alphabet chất lượng dầu
nhớt càng cao Ví dụ: CC, CD, CE dùng
cho déng co diesel, trong đó CE là tốt nhất
từ năm 1994 loại CF bắt đầu được sử dụng
với chất lượng ngày càng cao
Khi dầu bôi trơn hoạt động, các chất
phụ gia và chất tẩy rửa dần dần bị tiêu
thu, kha nang bôi trơn giảm dân Bạn cần
định kỳ thay đầu nhớt, khoảng thời gian
thay dầu thường ngắn hơn so với động cơ
xăng Mỗi khi thay dầu nhớt bạn nên lắp
bộ lọc mới (hoặc làm sạch bộ lọc đang
dùng) để giữ sạch đầu và động cơ
Nếu dầu nhớt không được thay theo
định kỳ, acid hình thành sẽ ăn mòn các
bề mặt động cơ Muội than làm xuống cấp
các chất tẩy rửa trong dầu nhớt, tạo thành
lớp đen nhão trong hộp cacte (hộp trục
khuyu) va trong bé loc nhớt Muội than sẽ
làm nghẹt các đường dẫn dầu nhớt, dầu
lưu động chậm dần, một số bộ phận trong
động cơ sẽ không được bôi trơn hoặc bôi
trơn không đẩy đủ Các nhà sản xuất ổ
trượt đã thống kê khoảng 58% hư hồng ổ
trượt là do thiếu đầu bôi trơn hoặc do dầu
Thay dầu nhớt trên tàu thuyển đôi khi
hơi khó do ống xả nhớt thường ở nơi khuất
khó với tới, không đủ chỗ để đặt can chứa
đầu nhớt cũ Bạn có thể luồn một ống vào
lỗ (lắp cây thăm nhớt), dùng bơm tay để
hút nhớt cũ ra ngoài bạn nên thay khi
đầu nhớt cũ đang nóng, do đầu nóng có độ
nhớt thấp, đễ bơm ra ngoài và dễ hút hết
đầu nhớt cũ
Khi bơm dầu nhớt ra bạn chứa dầu cũ
trong can hoặc thùng riêng, tuyệt đối không đổ xuống sông hoặc biến, vì điều
đó sẽ gây ô nhiễm môi trường
xung quanh bộ lọc cũ (Hình 3.10), sau đó
dùng thau hoặc ca nhựa hứng đầu nhớt
hoặc nhiên liệu còn rỉ Hầu hết các bộ lọc
nhiên liệu sơ cấp (lọc thô) đều có bu lông
ở giữa, bạn tháo bu-lông này để tháo bầu lọc Nếu bộ lọc có phần tử lọc có thể thay
thế, bạn nên xem xét kỹ phần tử lọc cũ để xác định nguyên nhân gây ra nhiễm bẩn Các bộ lọc đùng vít siết (cả đầu nhớt
và nhiên liệu, Hình 3.11), được tháo bằng chìa khóa (elé) chuyên dùng, bạn cần có
chìa khóa riêng cho bộ lọc nhiên liệu và
bộ lọc nhớt Nếu không có chìa khóa, bạn
quấn đai V (dây curoa) quanh bộ lọc, siết
chặt và tháo vít Nếu ren quá chặt, bạn có
thé dùng búa gõ vào đầu cây van vit (turnevis) để tháo bộ lọc
Các bộ lọc nhiên liệu thường được châm
đây dầu diesel trước khi lắp vào động cơ Điều này cho phép giảm thời gian đẩy
hết không khí ra khỏi hệ thống nhiên liệu, nhưng có nguy cơ tạp chất nhiễm vào hệ
thống phun Vì lý do đó, bạn không nên
châm nhiên liệu uào bộ lọc thứ cấp (lọc tỉnh) trước khi lắp đặt, Nói chung, quá trình loại bỏ không khí có thể được thực
hiện bằng cách vận hành bơm cung cấp bằng tay, nhưng đòi khi trên các động cơ lớn có thể dùng bơm cung cấp vận hành bằng điện Bơm này được lắp trước khi lấp đặt các bộ lọc, và được dùng để đưa
nhiên liệu qua các bộ lọc
Trang 36
ở để, xả hết nước và cặn (1) Tháo bulông ở giữa, giữ phần đáy để phần này không xoay trong khí
tháo bulông (2) Tháo đáy bộ lọc ra và giữ phần lắng Kiểm tra vòng làm kín ở giữa, thay vòng này
nếu cần (3) Làm sạch phần đáy và ngâm vào dầu diesel sạch (4) Làm sạch đầu bộ lắng, kiểm
tra vòng làm kín phía trên (5) Bảo đâm vòng làm kín ở giữa được đặt chính xác, đặt bộ lắng kiểu
côn lên đế (6) Bao đâm vòng làm kín phía trên được lắp chính xác, lắp lại phần đế ( 7) Lắp bulông
ở giữa, chỉnh lại chính xác, siết chặt bulông (0.85- 1.1 kgm), không siết bulông này quá chặt Siết lai vit ở để bằng tay
Nếu bộ lọc mới có vòng làm kín riêng,
cần bảo đảm vòng cũ không bị kẹt trong
hộp bộ lọc Nếu bộ lọc mới không có vòng
làm kín, bạn có thể dùng lại vòng cũ Để
tránh điều này bạn nên có các bộ vòng
làm kín dự trữ Chú ý, một số loại vòng
làm kín có tiết diện vuông, bạn cần bảo
đảm khi lắp chúng không bị vặn xoắn
Các vòng làm kín trong bộ lọc lắp bằng
vít, cần được bôi trơn nhẹ trước khi lắp
Các bộ lọc này chỉ cần lắp bằng tay sau
đó dùng chìa khóa (clé) vặn thêm khoảng
3⁄4 vòng
38
Nếu bộ lọc có đai ốc kiểu cánh, bạn cần kiểm tra sự rò rỉ xung quanh đai ốc sau khi lắp Đây còn là nơi không khí có
thể lọt vào hệ thống nhiên liệu, và là một
trong các vị trí cần xem xét đầu tiên nếu
có vấn để về vận hành nảy sinh sau khi
thay bộ lọc
Chú ý, một số bộ nạp không khí với áp suất có bộ lọc nhát riêng Bạn cần thay bộ này mỗi khi thay bộ lọc dầu nhớt động cơ Việc thay bộ lọc và đầu nhớt chỉ tốn ít thời gian với chỉ phí thấp nhưng thường
bị bê quên Bạn cần nhớ, đây là yếu tố rất quan trọng đối với động cơ
Trang 37
Hình 3.11 Thay phần tử lọc với phần tử lọc thay thế được (1) Làm sạch bụi bên ngoài bộ lọc
Tháo vít ở đáy, xả hết nước và cặn (2) Tháo bulông ở giữa, dùng tay giữ cho đế không xoay (3)
Tháo phần tử lọc chung với đế bằng cách kéo phần tử này xuống và xoay nhẹ để mở vòng chân (4) Tháo và loại bỗ phần tử lọc cũ Tháo và kiểm tra vòng làm kín phía dưới Thay vòng chặn (o- ring) mdi (5) Làm sạch đáy bộ lắng, sau đó ngâm bộ này vào dầu diesel sạch Làm sạch phần đầu, kiểm tra vòng làm kín phía trên và vòng chặn Thay mới nếu chúng bị hư (6) Chọn các vòng fam kín mới (7) Bảo đâm vòng làm kín phía trên và vòng chặn được lắp đúng vị trí, lắp phần tử lọc mới Xoay nhẹ phần tử lọc sau khi lắp, phần tử này phải trượt nhẹ nhàng qua vòng chặn Bảo dam vòng làm kín phía dưới được lắp đúng vị trí ð đáy, sau đó lắp lại phần đáy sao cho vành chu vi của phần đáy, phần đầu và phần tử lọc khóp với nhau Lắp và siết lại bulông giữa, không siết qua chat
Động cơ sạch dưỡng định kỳ phần bên trong động cơ Để giảm chỉ phí, bảo đầm động cơ hoạt
động ổn định và lâu đài, bạn cần tuân thủ
các qui trình bảo dưỡng, thay dau nhớt, làm sạch các bộ lọc Các biện pháp này tuy đơn giản nhưng rất hữu ích
Động cơ sạch hầu như chỉ là yếu tố
tâm lý Nếu bạn là người cẩn thận, thường
xuyên vệ sinh và giữ sạch phần ngoài của
động cơ, bạn cũng sẽ chăm sóc và bảo
Trang 38lá 4
XU LY SU CO, PHAN I: MAY KHONG KHGI DONG
Can phân biệt hai tình huống xử ly
động cơ không khởi động, thứ nhất là động
cơ không quay, thứ hai là không cháy
nhiên liệu, dù động cơ quay vài vòng
PHAN I:
ĐỘNG CƠ KHÔNG QUAY
Khi động cơ hoàn toàn không quay, vấn
để hầu như luôn luôn là do hệ thống điện
Đôi khi do nước trong cylinder, do động cơ
hoặc hệ thống truyền động (hộp số) bị hư
Trước khi kiểm tra hệ thống điện, bạn
hãy thử quay động cơ bằng tay với tay
quay (nếu có), hoặc bằng cách đặt chìa
khóa (clé) kích cỡ thích hợp trên đai ốc
pulley trục khuỷu, và quay động cơ theo
chiều thuận Nếu động cơ có cần số tay,
bạn có thể gài số và quay động cơ với mỏ
lết răng trên trục chân vịt, nhưng phải quấn
gi quanh trục này để tránh hư hại trục
Nếu động cơ bị khóa chặt, có lẽ động
cơ bị hư hại nặng Nếu động cơ quay một
vài vòng và dừng lại, hoặc quay rất khó,
Solenoid Bộ khởi
động
có lẽ nước đã lọt vào các cylinder qua hệ
thống xả làm nguội bằng nước Bạn hãy
dùng que thăm để đo mực dầu nhớt bôi
trơn, nếu còn đủ dầu, hầu như chắc chắn nước đã lọt vào cylinder
Nước trong động cơ
Nước, đặc biệt là nước biển, có thể gây
hư hại nghiêm trọng các bề mặt ổ đỡ và
cylinđer, cần sửa chữa lớn cho động cơ Nếu
phát hiện có nước, bạn có thể dễ dàng loại
bỏ nước, và động cơ sẽ tiếp tục vận hành Bạn hãy đóng tiết lưu sao cho động cơ
không khởi động Nếu động cơ có tay quay
và các cần gạt nén, bạn hãy quay tay quay
vài lân Nếu không có, bạn hãy nhấp bộ
khối động vài lần hoặc dùng mỏ lết trên
đai ốc pulley trục khuỷu để quay động cơ
theo từng bước nhỏ Bạn cần thực hiện
điều này một cách từ từ, tránh làm hư hại
vòng găng (bạc, segment) và thanh truyền Sau khi động cơ quay đủ hai vòng, có
lẽ nước đã được xả hết Bạn hãy quay thêm
Trang 39Lưu đồ xử lý sự cố 4.1
Động cơ không quay
lot vao cylinder hoặc các piston bị kẹt
Chú ý: trước khi nối tắt các đầu dây solenoid, bạn hãy thông giỏ buồng động cơ Thử quay động cơ bằng cách dùng chìa khóa (clé) vặn đai ốc pulley trục khuÿu Nếu động cơ không quay, có thể do nước
~— các đầu dây acquy, solenoid, nối mát acquy Nếu chúng hơi nóng, bạn cần làm sạch Bạn nên dùng đồng hồ VOM đo điện
áp 12V (Hình 4.10), kiểm tra kha năng mạch
khởi động bị hở hoặc ngắn mạch
Mạch công tắc lửa bị hư?
`;
Kiểm tra: dùng dây điện hoặc cây văn vít
tối tắt giữa acquy và các đầu dây công
tắc lửa trên cuộn solenoid, Nếu bộ khởi
động quay, mạch công tắc lửa bị sự cố
Em Thay công tắc lửa hoặc dây dẫn theo yêu cầu
Cuộn solenoid bị hư?
ÿ Kiểm tra: dùng cây vặn vít nối tắt hai
đầu dây tải trên solenoid (điều này có
thể nguy hiểm, bạn cần tuân thủ các quy
định về an toàn điện) Nếu bộ khởi động
quay, cuộn solenoid bị hư
Kap Thay cuén solenoid
Điện áp acquy chuẩn cung cấp cho mạch khởi
động?
Kiểm tra: Dùng đồng hồ VOM đo giữa
đầu dương bộ khởi động và block động cơ
khi quay động cơ bằng tay Bộ khởi động bị ngắn mạch, cần kiểm tra kỹ
Trước hết kiểm tra các chổi than xem có bị
mòn hoặc bị kẹt trong giá đỡ chổi than
không
Công tắc acquy có thể bị hở hoặc ngắt!
hai vòng nữa nhưng không khởi động máy,
Bạn hãy kiểm tra hộp cácte xem có còn
nước ở đó không Khởi động máy, và cho
máy chạy trong vài phút để làm nóng máy,
tắt máy, và thay dầu nhớt uò bộ lọc Bạn
cho máy chạy để khử hết ẩm (hơi nước)
còn lại Sau 25 giờ vận hành bình thường,
hoặc khi có dấu hiệu nước lọt vào dầu nhớt,
bạn hãy thay dầu nhớt uà bộ lọc
Bạn hãy đặt ống thoát nước trong hệ thống xả oà làm nguội (xem Chương 9)
Mạch điện bộ khởi động
Để xử lý các vấn đề về điện trước hết bạn cần hiểu mạch khởi động Bộ khởi
động đòi hỏi cường độ dòng điện cao do
đó phải có các dây điện cỡ lớn Các công
tác lửa thường được bố trí hơi xa bộ acquy
Trang 40Cable ắc-quy
Hình 4.2 Sự vận hành solenoid Khi xoay công
tắc lửa đến vị trí khởi động, dòng điện nhỏ đi
qua nam châm điện của solenoid, kéo contactor
và đóng mạch điện từ acquy đến bộ khỏi động
Đaiốc Đĩa
và động cơ Để tránh dòng điện lớn nối
với công tắc lửa, trong mạch khởi động
thường bố trí công tắc vận hành từ xa,
cuộn solenoid với các dây điện nhỏ (Hình
4.1)
Cuộn solenoid gồm lõi và nam châm
điện Khi công tắc lửa đóng, sẽ nạp điện
cho nam châm, lực từ tính hút thanh lõi,
đóng hai tiếp điểm lớn, do đó đóng mạch
điện khởi động (Hình 4.2)
Một số mạch khởi động sử dụng công
tắc khởi động trung hòa, solenoid, ngăn
chặn động cơ quay khi gài số Một số mạch
có solenoid thứ hai, cấp điện cho solenoid
mòn điện hóa do dòng điện rò
Bộ khởi động quán tính và
bộ khởi động ăn khớp trước
Bộ khởi động gồm hai loại cơ bản: quán tính và ăn khớp trước Cuộn solenoid của
bộ khởi động quán tính được lắp độc lập ở nơi thích hợp Bộ này truyền động hệ
thống bánh răng để quay động cơ - bánh
răng dẫn động - được lắp khớp với rãnh
xoắn vào trục truyền động của bộ khởi động Khi cuộn solenoid có điện sẽ kích
hoạt bộ khởi động Quán tính trong bộ
bánh răng làm cho chúng quay dọc theo
rãnh xoắn và tiếp xúc với bánh răng trên
vành bánh đà động cơ diesel Khi cả hai
ăn khớp nhau, động cơ diesel bắt đầu quay
(Hình 4.3)
Đôi khi bánh răng dẫn động bị kẹt và
không ăn khớp với bánh đà, khi đó bộ
khởi động quay rất nặng nhưng không thể
khởi động máy tàu Việc gõ nhẹ lên vỏ hộp bộ khởi động trong khi bộ này đang
quay có thể tách rời bánh răng dẫn động
(Tuy nhiên, bạn không nên lạm dụng điều
này, do có thể làm hư hại các răng Chú ý: nếu bộ khởi động quay nhưng động cơ diesel không chạy, các răng có thể trượt khỏi bánh răng dẫn động hoặc các răng
trên bánh đà) Đôi khi bánh răng dẫn động
bị kẹt với bánh đà và không nhả khớp
Nếu điều này xảy ra, bạn hãy mở nắp sau
của bộ khởi động và quay đầu trục tới, lui
vài lần bằng chìa khóa (elé) để tách khỏi bánh răng dẫn động
Cuộn solenoid của bộ khởi động ăn
khớp trước luôn luôn ở trên bộ khởi động
(Hình 4.4) Khi cuộn này có điện, nam
châm điện kéo đòn bẩy, đẩy bánh răng