1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bao hiem y te

23 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 234,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

c Nhóm do ngân sách nhà nước đóng, bao gồm:  Lực lượng vũ trang, cơ yếu..;  Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước;  Người đã thô[r]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BÀI TẬP NHÓM MÔN AN SINH XÃ HỘI

Đề tài số 3:

Chính sách và thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm y tế

(cả bắt buộc và tự nguyện) ở Việt Nam

Nhóm 4: Hoàng Phương Anh

Nguyễn Thị Hoa Nguyễn Thị Thanh Hoa Phạm Thị Hằng

Hà Nội, ngày 19 tháng 9 năm 2016

Trang 2

MỤC LỤC

I Khái quát chung về Bảo hiểm y tế

1 Khái niệm

2 Phân loại bảo hiểm y tế

3 Bản chất của bảo hiểm y tế

4 Đặc điểm của bảo hiểm y tế

5 Chức năng của BHYT trong đời sống kinh tế xã hội

II Những nội dung cơ bản của BHYT

1 Nguyên tắc BHYT

2 Đối tượng đóng- mức đóng- tỷ lệ đóng BHYT

III. Thực trạng BHYT ở Việt Nam và Giải pháp

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong cuộc sống, những rủi ro bất ngờ về sức khoẻ như ốm đau, bệnh tật luôn có thể xảy

ra Các chi phí khám và chữa bệnh này mang tính đột xuất, vì vậy cho dù lớn hay nhỏ đều gâykhó khăn cho ngân quỹ mỗi gia đình, cá nhân, đặc biệt đối với những người có thu nhập thấp.Đồng thời, bệnh tật cũng kéo theo sự mất mát về thu nhập do người bệnh không có sức khoẻ đểlàm việc Từ đó, nó đe doạ đến cơ sở kinh tế và sự tồn tại trước hết của bản thân những người laođộng, sau đó đến các thành viên, những người trong gia đình người bệnh và sau đó ảnh hưởngđến sự ổn định xã hội

Để khắc phục những khó khăn, giúp đỡ mọi người lao động và gia đình khi gặp rủi ro vềsức khoẻ, Bảo hiểm Y tế (BHYT) ra đời vào cuối thế kỷ XIX BHYT sẽ đảm bảo chi trả toàn bộhoặc từng phần (tuỳ theo điều kiện kinh tế xã hội của từng nước) những chi phí KCB "khổng lồ",giúp cho người bệnh vượt qua cơn hoạn nạn về bệnh tật, sớm phục hồi sức khoẻ cũng như ổnđịnh cuộc sống gia đình, từ đó ổn định đời sống, góp phần bảo đảm an toàn xã hội

=> Bảo hiểm y tế (BHYT) là chính sách an sinh xã hội mang tính nhân văn và được coi là phao “cứu cánh” sẻ chia gánh nặng chi phí cho người dân khi ốm đau.

I Khái quát chung về Bảo hiểm y tế

1 Khái niệm

Là một bộ phận cấu thành của pháp luật về an sinh xã hội, Bảo hiểm y tế (BHYT) là hìnhthức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và là một trong 9 nội dung củaBHXH được quy định tại Công ước 102 ngày 28.6.1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) vềcác tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp BHXH Tuy nhiên, ở Việt Nam, khái niệm BHYTvẫn có tính độc lập tương đối so với khái niệm BHXH, đặc biệt là ở góc độ luật thực định, tínhđộc lập càng thể hiện rõ

Theo khoản 1, điều 2 Luật Bảo hiểm Y tế số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 do Quốc

hội ban hành: Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức

khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này

2 Phân loại bảo hiểm y tế

Việt Nam tồn tại hai loại hình bảo hiểm y tế: Bảo hiểm y tế bắt buộc và Bảo hiểm y tế tự

nguyện

- BHYT bắt buộc là loại hình BHYT chỉ áp dụng đối với một nhóm đối tượng nhất

định, thường là những khu vực có tiềm lực kinh tế (thành phố, thị xã, trung tâm ), cóthu nhập ổn định (tiền lương, tiền công) Tiêu chí để định mức phí BHYT thườngđược tính theo tỷ lệ % thu nhập của người tham gia bảo hiểm, người có thu nhập cao

Trang 4

thì đóng nhiều, nhưng việc hưởng chế độ BHYT lại dựa trên sự kiện pháp lý (ốm đau,tai nạn…) theo quy định của pháp luật.

- BHYT tự nguyện là loại hình BHYT thứ hai đang được thực hiện ở nước ta So với

BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện có số lượng tham gia đông đảo, đa dạng về thànhphần và nhận thức xã hội, có điều kiện kinh tế và nhu cầu chăm sóc sức khỏe khácnhau BHYT tự nguyện được triển khai theo địa giới hành chính (áp dụng cho hộ giađình, tổ chức triển khai theo cấp xã , phường, thị trấn…) và theo nhóm đối tượng (họcsinh, sinh viên, hội viên các đoàn thể…)

BHYT tự nguyện gồm nhiều loại hình khác nhau: bảo hiểm KCB nội trú, bảo hiểm KCBngoại trú, bảo hiểm bổ sung cho loại hình BHYT bắt buộc; BHYT cộng đồng, BHYT hộ gia đình

và các loại hình BHYT khác

3 Bản chất của bảo hiểm y tế

* Bảo hiểm y tế trước hết là một nội dung của bảo hiểm xã hội - một trong những bộ phận quan trọng của hệ thống bảo đảm xã hội hay còn gọi là hệ thống an sinh xã hội ( được quy định tại Công ước 102 của Tổ chức Lao động quốc tế ILO)

Thực chất, bảo hiểm y tế mang tính chất của bảo hiểm xã hội, là một hình thức bảo hiểmsức khỏe của con người được các nước quan tâm phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, Việt Nam triểnkhai bảo hiểm y tế độc lập với bảo hiểm xã hội Vì vậy, bảo hiểm y tế Việt Nam được tách ra vớitên gọi riêng, không thuộc khái niệm bảo hiểm xã hội, mặc dù đó là hình thức bảo hiểm mangtính xã hội và phi lợi nhuận

* BHYT là một tổ chức cộng đồng đoàn kết tương trợ lẫn nhau

Ở các nước công nghiệp phát triển người ta định nghĩa BHYT trước hết là một tổ chứccộng đồng đoàn kết tương trợ lẫn nhau, nó có nhiệm vụ gìn giữ sức khỏe, khôi phục lại sức khỏehoặc cải thiện tình trạng sức khỏe của người tham gia BHYT Như vậy, trong hoạt động BHYTthì tính cộng đồng đoàn kết cùng chia sẻ rủi ro rất cao; nó là nền tảng cho lĩnh vực bảo vệ vàchăm sóc sức khỏe; nó điều tiết mạnh mẽ giữa người khoẻ mạnh với người ốm yếu, giữa thanhniên với người già cả và giữa người có thu nhập cao với những người có thu nhập thấp Sự đoànkết tương trợ lẫn nhau trong BHYT là sự đảm bảo cho từng người dựa trên cơ sở của sự đoàn kếtkhông điều kiện, của sự hợp tác cùng chung lòng, chung sức và gắn kết chặt chẽ với nhau Theo định nghĩa BHYT nêu trên, thì sự đoàn kết tương trợ vừa mang một ý nghĩa tự giác,vừa mang ý nghĩa cùng chịu trách nhiệm và vừa có sự thống nhất về quan điểm chung Người tacòn cho rằng: Đoàn kết tương trợ là nền tảng xã hội cho sự phát triển của mỗi chế độ xã hội loàingười và nó mang lại một gương mặt nhân đạo mới cho chế độ xã hội đó Tính nhân đạo củahoạt động đoàn kết tương trợ sẽ đánh dấu bước tiến bộ của thể chế xã hội Đây cũng chính là bảnchất nhân văn của hoạt động BHYT mà chúng ta thường đề cập đến Tuy nhiên đoàn kết tươngtrợ không chỉ là quyền được nhận mà còn phải là nghĩa vụ đóng góp Sự công bằng và bình đẳngcủa một chế độ xã hội được gắn bó với sự đoàn kết được thể hiện ở chỗ: ai muốn đạt được sự bền

Trang 5

chặt về đoàn kết thì cần thực hiện nhiều hơn sự công bằng Điều đó chỉ có thể được tạo ra thôngqua sự điều chỉnh trong thực tế, vì "sự công bằng" là yếu tố động, nó chỉ đạt được tại một thờiđiểm, còn lại đều là sự không công bằng Đây là một trong những yếu tố tác động đến sự pháttriển xã hội Do vậy, cần phải có sự tích cực điều chỉnh thực tế một cách thường xuyên nhằmđảm bảo mối quan hệ tương thích giữa nghĩa vụ và quyền lợi trong hoạt động của BHYT

BHYT sẽ bảo đảm cho những người tham gia BHYT và các thành viên gia đình của họnhững khả năng để đề phòng, ngăn ngừa bệnh tật; phát hiện sớm bệnh tật; chữa trị và khôi phụclại sức khoẻ sau bệnh tật Do các chế độ BHXH về khám chữa bệnh, chế độ thai sản và chế độ

ốm đau (chi trả tiền thay thế tiền lương trong những ngày ốm đau không làm việc được) đều cócùng phương thức hoạt động và các nguyên tắc cơ bản chung, cho nên tùy theo đặc điểm lịch sử,tập quán của từng nước mà BHYT có thể bao gồm cả chế độ khám chữa bệnh, chế độ thai sản vàchế độ ốm đau hoặc được tách ra theo từng chế độ riêng biệt Điều đó liên quan đến phạm vi đốitượng tham gia BHXH, đến mức đóng góp và các chế độ được hưởng

4 Đặc điểm của bảo hiểm y tế

Trên cơ sở khái niệm BHYT nói trên, có thể thấy bên cạnh những tính chất chung củamột chế độ an sinh xã hội, BHYT còn có một số đặc điểm sau:

- BHYT vừa mang tính bồi hoàn (nếu có bệnh tật), vừa mang tính chất không bồi hoàn(nếu không có bệnh tật) Mức độ bồi hoàn phụ thuộc vào mức dộ bệnh tật và phí tham gia bảohiểm y tế

- Hoạt động theo nguyên tắc số đông bù số ít

- Chỉ bảo hiểm những rủi ro không lường trước được chứ không bảo hiểm những rủi rochắc chắn sẽ xảy ra (đã xảy ra do cố tình gây nên như: tự tử, tự hủy hoại cơ thể…)

- BHYT có đối tượng tham gia rộng rãi, bao gồm mọi thành viên trong xã hội không phânbiệt giới tính, tuổi tác, khu vực làm việc, hình thức quan hệ lao động…

5 Chức năng của BHYT trong đời sống kinh tế xã hội

* Góp phần chi trả chi phí khám chữa bệnh cho người tham gia

Khi lâm bệnh, người bệnh buộc phải đến các cơ sở y tế để được khám chữa bệnh (KCB).Cũng từ bệnh tật, nhất là những bệnh tật kinh niên, bệnh mãn tính hoặc bệnh hiểm nghèo đã dẫnđến các khoản chi phí KCB cực kỳ lớn Có những người bệnh phải được sử dụng các công nghệ

kỹ thuật cao trong việc chẩn đoán và chữa trị bệnh, phải sử dụng các loại thuốc đắt tiền và phảilưu trú dài ngày tại bệnh viện Những khoản chi phí này không phải ai cũng có thể tự lo liệuđược Bệnh tật đã dồn con người vào những thảm cảnh đáng lo ngại Đối với những người bệnh

do hoàn cảnh nghèo túng thì phải vay mượn để chữa trị bệnh tật và sau đó trả nợ và có nhiềungười cũng không thể vay mượn để tiếp tục được chữa trị Những người có điều kiện kinh tế khá

Trang 6

giả hơn hoặc cận nghèo thì sau những đợt bệnh tật cũng có thể bị đẩy vào tình cảnh nghèo khó.Đồng thời, với bệnh tật cũng kéo theo sự mất mát về thu nhập do người bệnh không có sức khoẻ

để làm việc Từ đó đã đe doạ đến cơ sở kinh tế và sự tồn tại trước hết của bản thân những ngườilao động, sau đó đến các thành viên, những người ăn theo trong gia đình người bệnh và sau đóảnh hưởng đến sự ổn định xã hội Do vậy, người ta phải cần đến BHYT BHYT sẽ đảm bảo chitrả toàn bộ hoặc từng phần (tuỳ theo điều kiện kinh tế xã hội của từng nước) những chi phí KCB

"khổng lồ" nói trên, giúp cho người bệnh vượt qua cơn hoạn nạn về bệnh tật, sớm phục hồi sứckhoẻ cũng như ổn định cuộc sống gia đình

* Tăng cường công tác phòng bệnh

BHYT tổ chức những đợt khám bệnh định kỳ cho những người tham gia, góp phần bảo

vệ sức khoẻ người tham gia, giúp họ luôn luôn nắm vững tình hình sức khỏe của mình, sớm pháthiện bệnh tật để điều trị kịp thời, tránh để lại nhiều di tật

* Tạo tâm lý an tâm trong cuộc sống, kích thích nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội.

Ngày nay khi đời sống xã hội ngày càng được nâng cao thì người ta càng có nhu cầuđược đảm bảo an toàn cho sức khoẻ Trong khi đó, môi trường xã hội đang dần xuất hiện nhữngrủi ro mới, những rủi ro về bệnh tật, dịch bệnh ngày càng nhiều và trở nên nghiêm trong Trướctình hình như vậy, BHYT chính là một giải pháp hữu hiệu, góp phần tích cực tạo ra tâm lý antâm trong cuộc sống cho con người

* BHYT góp phần phân phối lại thu nhập xã hội.

Phân phối lại là chức năng chung của mọi hình thức bảo hiểm Trên cơ sở mức đóng bảohiểm theo thu nhập mà BHYT xác định chức năng phân phối lại thu nhập giữa họ Để thực hiệnhình thức bảo hiểm này, người tham gia bảo hiểm phải đóng một tỷ lệ nhỏ trong tương quan vớithu nhập vào một quỹ chung ( gọi là quỹ BHYT) Về nguyên tắc, nguồn này để đảm bảo thunhập cho mọi người tham gia bảo hiểm Song, thực tế chỉ một số ít người gặp rủi ro về bệnh tậtthực sự được quỹ chi trả Thông qua đó, BHYT đã thực hiện chức năng phân phối lại thu nhậpgiữa những người may mắn, ít gặp rủi ro cho những người không may bị rủi ro trong cuộc sống,giữa những người khỏe mạnh với những người bị ốm đau, bệnh tật, giữa những người trẻ, thế hệtrẻ với những người già thuộc thế hệ trước Như vậy, thu nhập của người tham gia BHYT đượcphân phối lại và quỹ BHYT là dòng chảy liên tục của sự góp vào và sự chi trả để phân phối lạithu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm

II Những nội dung cơ bản của BHYT

1 Nguyên tắc BHYT

a) Thứ nhất, bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm y tế.

Trang 7

Phương thức đoàn kết, tương trợ, chia sẻ rủi ro phải được thực hiện bằng sự điều tiếtnhằm cân bằng mang tính xã hội Việc lập ra quỹ BHYT và từng bước mở rộng phạm vi đốitượng tham gia mà từng bước mở rộng phạm vi cân bằng, chia sẻ rủi ro trong cộng đồng nhữngngười tham gia BHYT Về mặt kĩ thuật bảo hiểm thì nguyên tắc đoàn kết tương trợ chia sẻ rủi rochính là quá trình phân phối lại giữa những người khỏe mạnh với người ốm đau, người trẻ vớingười già… Vì vậy, đối tượng tham gia bảo hiểm phải không ngừng được mở rộng trong suốtquá trình phát triển và được định hướng cho nhiều nhóm đối tượng lao động khác nhau ( ví dụkhông phân biệt giữa người lao động có thu nhập cao với người có thu nhập thấp, giữa người đilàm việc với người thất nghiệp hoặc người đã nghỉ hưu, giữa gia đình không có con cái với giađình đông con) mới có ý nghĩa trong việc điều tiết trong cộng đồng xã hội.

Nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro với ý tưởng nhân văn cao cả của nó đã loại trừ mụctiêu lợi nhuận thương mại của cộng đồng những người tham gia BHYT Do vậy, hoạt độngBHYT không có khoản thu lợi nhuận và đương nhiên cũng không vì mục đích lợi nhuận Vì vậy,

tỷ lệ đóng góp chỉ được nâng lên theo đòi hỏi quyền lợi chung của quá trình thực hiện BHYT.Tức là tỷ lệ đóng góp BHYT chỉ được nâng lên theo nhu cầu chữa trị bệnh tật, nhu cầu nâng caochất lượng khám chữa bệnh(KCB) và ứng dụng những thành tựu khoa học tiên tiến vào công tácKCB của cả cộng đồng

b) Thứ hai, tự do lựa chọn cơ sở khám, chữa bệnh.

Khi tham gia BHYT về nguyên tắc nếu ốm đau người ta có quyền được hưởng dịch vụchăm sóc y tế có chất lượng trên cơ sở sự thỏa mãn các nhu cầu cá nhân ( thuận tiện nơi sinhsống làm việc, độ tin cậy và uy tín của cơ sở KCB…) Tuy nhiên, hiện nay số lượng đơn vị KCBBHYT khá hạn chế ( chủ yếu là các cơ sở KCB của nhà nước) nên vấn đề quyền tự do lựa chọncủa người tham gia chưa thực sự đảm bảo Mặt khác, việc thực hiện quyền trên cũng cần đượccân nhắc hài hòa với yếu tố công bằng xã hội, yêu cầu của hoạt động quản lí của hệ thống cơquan BHXH

c) Thứ ba, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân.

Điều 61 Hiến pháp năm 1992 ( sửa đổi bổ sung năm 2001) có quy định “ công dân cóquyền hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe…” Với tư cách là một quyền cơ bản của công dân, việcchăm sóc sức khỏe phải gắn liền với sự bền vững, công bằng và hiệu quả Tuy nhiên, để dunghòa và thực hiện được các yếu tố nói trên là một việc làm lâu dài và tùy theo đặc điểm chính trị,kinh tế, xã hội cụ thể trong từng thời kì Kinh nghiệm ở nhiều nước trên thế giới và Việt Namcho thấy, để thực hiện được vấn đề trên cần phải dựa trên cơ sở của hệ thống BHYT theo nguyêntắc BHYT toàn dân Đó là: phải đảm bảo xã hội hóa hoạt động y tế, tăng cường vai trò quản lí vàđiều tiết vĩ mô của nhà nước, phát triển các thiết chế để cộng đồng tham gia vào việc cung ứngdịch vụ và tài chính chăm sóc sức khỏe, Nhà nước chỉ cung cấp tài chính cho các đối tượng đặcbiệt, đảm bảo phát triển chính sách y tế với mục đích ASXH, không loại trừ đối tượng nào

Trang 8

d) Thứ tư, mức đóng theo thu nhập, mức hưởng theo bệnh lý.

Mục đích chủ yếu của BHYT là đảm bảo chăm sóc chu đáo, ân cần khi người hưởngBHYT không may ốm đau, bệnh tật Do vậy, về mặt nguyên tắc- mức đóng BHYT được xácđịnh theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lươngtối thiểu của khu vực hành chính ( gọi chung là mức lương tối thiểu) Mức hưởng BHYT theomức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi của người tham gia BHYT

Vì vậy tùy theo mức thu nhập khác nhau mà người tham gia bảo hiểm y tế có mức đóngkhác nhau vào quỹ nhưng họ được đảm bảo sự bình đẳng trong thanh toán chi phí, tùy theo mức

độ bệnh lý Quỹ BHYT đã có sự điều tiết, hỗ trợ giữa người có rủi ro cao và thu nhập thấp vàngười thu nhập cao, rủi ro thấp theo nguyên tắc tương trợ, lấy số đông bù số ít Tuy nhiên, trongthực tế việc đảm bảo nguyên tắc này phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế- xã hội, phươngthức tổ chức, thực hiện BHYT ( đối tượng tham gia, cân đối quỹ, nội dung dịch vụ )

e) Thứ năm, đảm bảo mối quan hệ hài hòa quyền hạn, trách nhiệm giữa 3 bên:

người tham gia BHYT- cơ quan BHXH- cơ sở Khám chữa bệnh

Quan hệ BHYT vừa là một loại hình dịch vụ bảo hiểm vừa là loại hình dịch vụ y tế, trong

đó chính người bán dịch vụ là người quyết định việc mua bán chứ không phải do người muaquyết định,đồng thời nó mang tính xã hội và cộng đồng sâu sắc Trong quan hệ BHYT, mỗi chủthể có những quyền hạn và trách nhiệm cụ thể, song giữa chúng có mối liên hệ mật thiết vớinhau Người tham gia BHYT là đối tượng được thụ hưởng các lợi ích, cơ quan BHXH và cơ sởKCB là người cung ứng những điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo các nhu cầu cho người đượcBHYT Tuy nhiên, đây là những cơ quan độc lập về mặt quản lí, tổ chức, chuyên môn… Và dùBHYT không mang tính thương mại nhưng cũng không thể không tính đến lợi ích của các bêntrong quan hệ BHYT

2 Đối tượng đóng- mức đóng- tỷ lệ đóng BHYT

a) Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng, bao gồm:

 Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng laođộng có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên…:cán bộ, công chức, viên chức,

 Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật.(sau đây gọi chung là người lao động) làm việc tại cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp

Mức đóng 4,5% tiền lương hàng tháng, lương theo ngạch bậc, hợp đồng , trong đó

người lao động đóng 1,5%, người chủ sử dụng lao động đóng 3% Đóng theo tháng, tại cơ

quan, đơn vị, nơi làm việc

b) Nhóm do tổ chức Bảo hiểm xã hội đóng, bao gồm:

 Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

Trang 9

 Người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do bị tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp hoặc mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày; người từ đủ 80 tuổi trở lênđang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng; đối tượng nghỉ hưởng chế độ thai sản.

 Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng;

 Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp;

 Công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 206/CP ngày30/5/1979 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) về chính sách đối với công nhân mớigiải phóng làm nghề nặng nhọc, có hại sức khỏe nay già yếu phải thôi việc

Mức đóng 4,5% tiền lương hàng tháng, trợ cấp, lương cơ sở do Quỹ BHXH đóng hàngtháng

c) Nhóm do ngân sách nhà nước đóng, bao gồm:

 Lực lượng vũ trang, cơ yếu ;

 Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhànước;

 Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngânsách nhà nước;

 Người có công với cách mạng, cựu chiến binh:

 Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương nhiệm;

 Trẻ em dưới 6 tuổi (bao gồm toàn bộ trẻ em cư trú trên địa bàn, không phân biệt hộ khẩuthường trú);

 Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng;

 Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điềukiện kinh tế - xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặcbiệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo theo quy định;

 Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con củaliệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ;Thân nhân của người có công với cách mạng còn lạikhác

 Thân nhân của các đối tượng lực lượng vũ trang, cơ yếu ;

 Người đã hiến bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật;

 Người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam được cấp học bổng từ ngân sách của Nhànước Việt Nam;

 Người phục vụ người có công với cách mạng theo quy định

Mức đóng 4,5% tiền lương hàng tháng, trợ cấp, lương cơ sở do Ngân sách nhà nước đónghàng tháng

d) Nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng, bao gồm:

 Người thuộc hộ gia đình cận nghèo;

 Học sinh, sinh viên là những người đang theo học tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thốnggiáo dục quốc dân;

 Người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp cómức sống trung bình

Trang 10

Mức đóng 4,5% tiền lương cơ sở, trong đó người tham gia tự đóng 3%, Ngân sách nhànước đóng 1,5% Đối tượng học sinh, sinh viên: tham gia tại trường học theo niên khóa học hoặcđầu năm dương lịch, các đối tượng khác: tham gia tại UBND phường xã vào đầu năm.

e) Nhóm tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình, bao gồm:

 Toàn bộ những người có tên trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú trừ đối tượng đã tham gia

và người đã khai báo tạm vắng;

Mức đóng của tất cả các thành viên thuộc hộ gia đình theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế nhưsau: Người thứ nhất đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở; người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lầnlượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất; từ người thứ năm trở đi đóng bằng40% mức đóng của người thứ nhất

III Thực trạng BHYT ở Việt Nam và giải pháp

1 Khái quát về BHYT ở Việt Nam

- Chính sách BHYT ở Việt Nam bắt đầu được triển khai từ năm 1992 Theo Điều lệBHYT được ban hành kèm theo Nghị định 299/NĐ/CP của Chính phủ, BHYT Việt Nam trựcthuộc Bộ Y tế; BHYT các tỉnh và ngành trực thuộc BHYT Việt Nam

- Đến 1998, thực hiện Nghị định số 58/1998/NĐ-CP của Chính phủ, BHYT Việt Namđược thành lập trên cơ sở thống nhất hệ thống cơ quan BHYT từ trung ương đến địa phương vàBHYT ngành để quản lý và thực hiện chính sách BHYT Quỹ BHYT được quản lý tập trung,thống nhất trên phạm vi cả nước

Trang 11

- Từ 1-1-2003, BHYT sáp nhập vào Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Bảo hiểm Xã hội ViệtNam là cơ quan tổ chức thực hiện chính sách BHYT

- Đến ngày 8-8-2005 Chính phủ đã có Quyết định thành lập Vụ BHYT thuộc Bộ Y tế đểthực hiện chức năng quản lý nhà nước về BHYT

2 Thực trạng BHYT ở Việt Nam

* Số người tham gia bảo hiểm

Số lượng người tham gia BHYT Sau 24 năm thực hiện BHYT, số lượng người tham gia ngày càng tăng đặc biệt là sau khi ban hành Luật BHYT số 25/2008/QH12, có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2009, điều đó được minh họ cụ thể ở bảng dưới đây:

Bảng 2: số lượng người tham gia BHYT trong giai đoạn 2008 - 2011

Từ bảng trên ta thấy số người tham gia BHYT tăng liên tục cả số người tham gia, lẫn tỷ

lệ bao phủ Đến cuối năm 2011 là 55954 nghìn người chiếm 63,7% dân số tăng 20359 nghìnngười tương ứng với 1,6 lần so với năm 2008 - thời điểm Luật BHYT được thông qua So sánhmức độ tăng giữa các năm liền kề thì giai đoạn 2008 – 2009 có mức độ tăng vượt bậc cả sốngười tham gia (tăng 12994 nghìn người) và tỷ lệ bao phủ BHYT (tăng 14,6%) Các giai đoạnsau có tỷ lệ tăng tương đối ổn định khoảng gần 4 triệu người/năm và gần 4% tỷ lệ bao phủ/năm.Các nhóm có tỷ lệ tham gia cao là nhóm thuộc khu vực hành chính sự nghiệp: 100%; nhóm doquỹ BHXH đóng: 96,6%; nhóm; nhóm do ngân sách nhà nước đóng: 86,5% (theo số liệu thống

kê của BHXH Việt Nam và Vụ BHYT-Bộ y tế năm 2011)

Ngày đăng: 07/10/2021, 16:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: số lượng người tham gia BHYT trong giai đoạn 2008 -2011 - bao hiem y te
Bảng 2 số lượng người tham gia BHYT trong giai đoạn 2008 -2011 (Trang 11)
Bảng 5. Tình hình tham gia BHYT theo hình thức bắt buộc, tự nguyện năm 2010 - bao hiem y te
Bảng 5. Tình hình tham gia BHYT theo hình thức bắt buộc, tự nguyện năm 2010 (Trang 12)
Bảng 4: lượt KCB BHYT và chi phí BHYT giai đoạn 2008 – 2011 - bao hiem y te
Bảng 4 lượt KCB BHYT và chi phí BHYT giai đoạn 2008 – 2011 (Trang 16)
Bảng 3: cân đối thu chi BHYT giai đoạn 2008 – 2011 - bao hiem y te
Bảng 3 cân đối thu chi BHYT giai đoạn 2008 – 2011 (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w