1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng Sinh lý bệnh học

100 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của môn sinh lý bệnh học được chia làm ba chương: Các khái niệm và quy luật chung về bệnh; Sinh lý bệnh các quá trình bệnh lý chung; Sinh lý bệnh các cơ quan, hệ thống. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Bài mở đầu NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN BỆNH LÝ

HỌC THÚ Y HAY SINH LÝ BỆNH THÚ Y

1 ĐỊNH NGHĨA MÔN HỌC

Sinh lý bệnh (PHthophysiology) theo nghĩa tổng quát nhất là môn học vềnhững thay đổi chức năng của cơ thể, cơ quan, mô và tế bào khi chúng bị bệnh.Sinh lý bệnh học là một môn khoa học nghiên cứu những hoạt động của sự sốngtrong cơ thể bệnh, cụ thể là nghiên cứu những biến đổi bệnh lý về cơ năng các cơquan, hệ thống và mô bào, đồng thời nghiên cứu những nguyên nhân, điều kiện gâybệnh và tìm ra quy luật chung của sự phát sinh, phát triển và kết thúc của quá trìnhbệnh lý

Môn sinh lý gia súc nghiên cứu tất cả cơ năng, hệ thống trong cơ thể gia súc(động vật) bình thường và tìm ra được quy luật nhất định, cũng như vậy trên cơ thểbệnh chúng ta cũng nghiên cứu tuần tự và so sánh lại với quy luật bình thường đểthấy được những thay đổi như thế nào và từ đó rút ra kết luận với từng trường hợp.Chính vì vậy người ta thấy mỗi một bệnh có một quy luật riêng và nó cũng cónhững biểu hiện bệnh lý chung

Ví dụ: Trong tất cả các loại nhiễm khuẩn chúng ta đều thấy các quá trìnhbệnh lý như viêm, sốt, khi kiểm tra máu thấy bạch cầu tăng và đó là những quy luậtchung Trong khi đó ở bệnh dịch tả lợn chúng ta thấy cơ thể lợn sốt, viêm nhưngbạch cầu hạ; bệnh lao phổi chúng ta lại thấy cơ thể vật bệnh sốt liên miên, thườnghay sốt vào buổi chiều, ra mồi hôi nhiều và đó là những quy luật riêng

Những quy luật riêng tạo nên những biến đổi trên cơ quan, tổ chức gọi làquá trình bệnh lý điển hình và các quá trình này tạo nên bệnh tích điển hình

Từ những quy luật đó khái quát lại và nêu lên quy luật hoạt động của từngbệnh, tạo cơ sở lý luận cho các môn học lâm sàng tìm biện pháp khống chế

2 NỘI DUNG MÔN HỌC

Nội dung của môn sinh lý bệnh học được chia làm ba chương:

Chương 1 : Các khái niệm và quy luật chung về bệnh

Bao gồm: khái niệm về bệnh, nguyên nhân gây bệnh, sinh bệnh học, đặctính của cơ thể đối với sự phát bệnh (bệnh lý của quá trình miễn địch)

Chương 2: Sinh lý bệnh các quá trình bệnh lý chung

Bao gồm: rối loạn tuần hoàn cục bộ, rối loạn chuyển hóa các chất, viêm, rốiloạn điều hoà thân nhiệt, quá trình bệnh lý của sự phát triển mô bào

Chương 3: Sinh lý bệnh các cơ quan, hệ thống

Nghiên cứu rối loạn chức năng của các cơ quan, hệ thống: hệ thống máu và

cơ quan tạo máu, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ tiết niệu và hệ thống thầnkinh

Với những nội dung trên môn sinh lý bệnh học là môn học cơ sở của ngànhthú y, có liên quan chặt chẽ với nhiều môn học khác như: sinh lý gia súc, sinh hóa

Trang 2

học, dược lý học, vi sinh vật học và các môn lâm sàng thú y như: bệnh nội khoa,chẩn đoán bệnh, bệnh ký sinh trùng, bệnh truyền nhiễm, bệnh sản khoa

Đặc biệt sinh lý bệnh và giải phẫu bệnh là hai cấu thành của môn Bệnh lýhọc, là hai môn học có cùng chung một đối tượng nghiên cứu nhưng sinh lý bệnhchủ yếu nghiên cứu những biến đổi về cơ năng, còn giải phẫu bệnh thì nghiên cứunhững biến đổi về hình thái trên cơ thể bệnh

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN SINH LÝ BỆNH THÚ Y

Phương pháp nghiên cứu của môn sinh lý bệnh học là phương pháp thựcnghiệm, một phương pháp rất khách quan và khoa học Phương pháp này tiến hànhgây bệnh nhân tạo trên cơ thể động vật, sau đó quan sát toàn bộ quá trình diễn biếncủa bệnh, cuối cùng phân tích và rút ra quy luật chung của quá trình bệnh lý Trongphương pháp thực nghiệm, thường sử dụng hai phương pháp là phương pháp thựcnghiệm cấp tính hay còn gọi là cấp diễn và phương pháp thực nghiệm mãn tính haycòn gọi là trường diễn

3.1 Phương pháp thực nghiệm cấp tính (cấp diễn)

Phương pháp này thường phân tích các chức năng của các cơ quan riêng biệt,

có khi cô lập ra khỏi cơ thể để nghiên cứu, tức là làm nhanh có kết quả ngay để cóthể nắm được các quy luật Người ta thường sử dụng phương pháp này trong một sốtrường hợp chẩn đoán nhanh và dùng để giảng dạy cho sinh viên

Ví dụ: Người ta thường cô lập tim ếch hoặc cô lập một đoạn ruột để nghiêncứu

Ưu điểm: phương pháp này tương đối đơn giản, quan sát biến đổi về cơnăng trong một thời gian ngắn

Nhược điểm: Gây tổn thương trên cơ thể bệnh, kích thích từng cơ quanriêng biệt một cách nhân tạo, thậm chí còn tách rời một số cơ quan khỏi cơ thể hoặctiến hành nghiên cứu dưới điều kiện gây mê Trong những điều kiện thực nghiệmnhư vậy thì không thể biểu hiện được bản chất của bệnh một cách đầy đủ, kết quảthu được không sát so với khi con vật hoạt động bình thường

3.2 Phương pháp thực nghiệm mãn tính (trường diễn)

Phương pháp thực nghiệm mãn tính do Páp-lốp đề ra Phương pháp này tiếnhành trên con vật sau khi đã được phẫu thuật và hoàn toàn hồi phục, cơ thể con vật

ở trạng thái tỉnh táo gần như bình thường

Ví dụ: người ta làm một ống để hứng dịch vị dạ dầy, làm một ống để hứngnước bọt

Ưu điểm: Làm thí nghiệm trên con vật ở trạng thái bình thường nghiên cứuđược lâu dài, chính xác hơn, có thể rút ra những quy luật biến đổi ở cơ thể bệnhmột cách toàn diện trong suất quá trình bệnh lý, tốn ít động vật thí nghiệm

Nhược điểm: Chỉ áp dụng nghiên cứu trong một số trường hợp có thời giannghiên cứu lâu dài

Nhưng người ta thường kết hợp cả hai phương pháp trên để nghiên cứu quátrình bệnh một cách toàn diện hơn

Trang 3

Ngày nay có nhiều phương pháp nghiên cứu tiên tiến như: phương pháp nộisoi, hoặc phương pháp cắt lát bộ óc để xem có u não không, phương pháp dùngmáy siêu âm để kiểm tra hoạt động của thai cũng được áp dụng trong nghiên cứusinh lý bệnh Ngoài ra sinh lý bệnh học còn ứng dụng những thành tựu và phươngpháp mới nhất của khoa học như: miễn dịch học, sinh hóa học, phân tử học (nuôicấy đen, cắt đen) để nghiên cứu các quá trình bệnh lý.

Trang 4

Chương 1 CÁC KHÁI NIỆM VÀ QUY LUẬT CHUNG VỀ BỆNH

Trình độ văn minh của xã hội đương thời

Thế giới quan (bao gồm cả triết học) của mỗi thời đại

Trong một xã hội, có thể đồng thời xuất hiện nhiều khái niệm về bệnh, kể cảnhững khái niệm đối lập nhau Đó là điều bình thường nói lên những quan điểmhọc thuật khác nhau có thể cùng tồn tại trong khi chờ đợi sự ngã ngũ Tuy nhiên,trong lịch sử đã có những trường hợp quan điểm chính thống tìm cách đàn áp cácquan điểm khác

Một quan niệm về bệnh bao giờ cũng chi phối chặt chẽ các nguyên tắc chữabệnh, phòng bệnh Do vậy nó có vai trò rất lớn trong thực tiễn

1.1 Một số khái niệm trong lịch sử

1.1.1 Thời nguyên thuỷ

Người nguyên thuỷ khi biết tư duy cho rằng bệnh là sự trừng phạt của cácđấng siêu linh đối với con người và trần thế Ở đây có sự lẫn lộn giữa bản chất củabệnh với nguyên nhân gây ra bệnh (trả lời câu hỏi "bệnh là gì" cũng giống câu hỏi

"bệnh do đâu") Không thể đòi hỏi một quan niệm tích cực hơn khi trình độ conngười còn quá thấp kém, với thế giới quan coi bất cứ vật gì và hiện tượng nào cũng

có các lực lượng siêu linh can thiệp vào Đáng chú ý là quan niệm này bước sangthế kỷ 21 vẫn còn tồn tại ở những bộ tộc lạc hậu hoặc một số bộ phận dân cư trongcác xã hội văn minh Với quan niệm như vậy thì người xưa chữa bệnh chủ yếubằng dùng lễ vật để cầu xin, có thể cầu xin trực tiếp, hoặc thông qua những ngườilàm nghề mê tín dị đoan Bao giờ cũng vậy, giá trị của vật lễ luôn luôn nhỏ hơn giátrị của điều cầu xin Tuy nhiên, trên thực tế người nguyên thuỷ đã bắt đầu biết dùngthuốc, không phải chỉ phó mặc số phận cho thần linh

1.1.2 Thời các nền văn minh cổ đại

Trước công nguyên nhiều ngàn năm, một số vùng trên thế giới đã đạt trình

Trang 5

Cập hay Ấn Độ Trong xã hội hồi đó đã xuất hiện tôn giáo, tín ngưỡng, văn họcnghệ thuật, khoa học (gồm cả y học và triết học) Nền y học lúc đó ở một số nơi đãđạt được những thành tựu lớn về y lý cũng như về phương pháp chữa bệnh và đãđưa những quan niệm về bệnh của mình.

1.1.2.1 Trung Quốc cổ đại

Khoảng hai hay ba ngàn năm trước công nguyên, y học chính thống TrungQuốc chịu ảnh hưởng lớn của triết học đương thời cho rằng vạn vật được cấu tạo từnăm nguyên tố (Ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ) tồn tại dưới hai mặt đối lập(âm và dương) trong quan hệ hỗ trợ hoặc át chế lẫn nhau (tương sinh hoặc tươngkhắc)

Các nhà y học cổ đại Trung Quốc cho rằng bệnh là sự mất cân bằng âmdương và sự rối loạn quan hệ tương sinh tương khắc của Ngũ hành trong cơ thể Từ

đó nguyên tắc chữa bệnh là điều chỉnh lại, kích thích mặt yếu (bổ), chế át mặt mạnh(tả)

Trong thời kỳ này quan niệm về bệnh ở đây là duy vật, các thế lực siêu linhbắt đầu bị loại trừ khỏi vai trò gây bệnh Cố nhiên, đây mới chỉ là trình độ duy vậthết sức thô sơ (cho rằng vật chất chỉ gồm năm nguyên tố) và trong nhiều ngàn năm,quan niệm này tỏ ra bất biến, không hề vận dụng được các thành tựu vĩ đại của cácngành khoa học tự nhiên khác vào y học

Y học Trung Quốc cổ đại khá phong phú và chặt chẽ, thực sự có vai tròhướng dẫn cho thực hành, đồng thời có thể tự hào về tính biện chứng sâu sắc Tuynhiên, trình độ biện chứng ở đây chỉ là rất chung chung, trừu tượng Do vậy, y lýchỉ dừng lại ở mức độ lý thuyết (do quan sát và suy luận mà có) chưa thể gọi là đạtmức lý luận (dùng thực nghiệm kiểm tra và chứng minh mà có)

Học và y lý Trung Quốc cổ đại có những đóng góp rất lớn cho chẩn đoán vàchữa bệnh ảnh hưởng của nó lan cả sang phương Tây, xâm nhập cả vào y lý củamột nền y học cổ ở châu âu Người ta cho rằng chính lý thuyết về "bốn nguyên tố"của Pythagore và "bốn chất dịch" của Hippocrat cũng chịu ảnh hưởng rõ rệt của y

lý Trung Quốc cổ đại

Trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển, nền y học này đã có nhữngđóng góp hết sức to lớn, với vô số bài thuốc phong phú và công hiệu Tuy nhiên,cho đến khi chủ nghĩa tư bản châu âu bành trướng sang phương Đông để tìm thuộcđịa đồng thời mang theo y học hiện đại sang châu Á - nó chỉ vẫn dừng ở mức y học

cổ truyền mà chưa hề có yếu tố hiện đại nào

Nguyên nhân do chế độ phong kiến Trung Quốc tồn tại quá lâu, với quanniệm "chết mà không toàn vẹn cơ thể" là điều hết sức đau khổ, nhục nhã cho cảngười chết và thân nhân họ Do vậy, môn giải phẫu không thể ra đời Các nhà y họcchỉ có thể dùng tưởng tượng và suy luận để mô tả cấu trúc cơ thể Tiếp sau là mộtchuỗi dài những suy luận và suy diễn, mặc dù ít nhiều có đối chiếu với quan sátthực tiễn nhưng không sao tránh khỏi sai lầm (vì không có thực nghiệm chứngminh) Tuy nhiên, đây vẫn chỉ là những quan sát trực tiếp bằng các giác quan (dù

Trang 6

rất tỉ mỉ) mà không có trang thiết bị hỗ trợ nên chỉ có thể dừng lại ở hiện tượng vàsau đó lại tiếp tục dùng suy luận để mong hiểu được bản chất.

1.1.2.2 Thời văn minh Hy Lạp và La Mã cổ đại

Muộn hơn ở Trung Quốc hàng ngàn năm Y học cổ đại của nhiều nước châu

âu cũng chịu ảnh hưởng khá rõ của Trung Quốc, nổi bật nhất là ở Hy Lạp -La Mã

cổ đại Gồm hai trường phái lớn:

Trường phái Pythagore (600 năm trước công nguyên): dựa vào triết họcđương thời cho rằng vạn vật do bốn nguyên tố tạo thành với bốn tính chất khácnhau: thổ (khô), khí (ẩm), hỏa (nóng), thuỷ (lạnh) Trong cơ thể, nếu bốn yếu tố đóphù hợp về tỷ lệ, tính chất và sự cân bằng sẽ tạo ra sức khoẻ; nếu ngược lại, sẽ sinhbệnh Cách chữa bệnh cũng là điều chỉnh lại, bổ sung cái thiếu và yếu, loại bỏ cáimạnh và thừa

Trường phái Hippocrat (500 năm trước công nguyên): không chỉ thuần tuýtiếp thu và vận dụng triết học như trường phái Pythagore mà tiến bộ và cụ thể hơn,

đã quan sát trực tiếp trên cơ thể sống Hippocrat cho rằng cơ thể có bốn dịch, tồntại theo tỷ lệ riêng, có quan hệ cân bằng với nhau để tạo ra sức khoẻ, đó là:

Máu đỏ: do tim sản xuất, mang tính nóng; ông nhận xét rằng khi cơ thể lâmvào hoàn cảnh nóng (sốt) thì tim đập nhanh và mặt, da đều đỏ bừng Đó là do timtăng cường sản xuất máu đỏ

Dịch nhầy: không màu, do não sản xuất, thể hiện tính lạnh; xuất phát từnhận xét khi cơ thể bị lạnh thì dịch mũi chảy ra rất nhiều, ngược lại khi niêm dịchxuất tiết nhiều cũng là lúc cơ thể nhiễm lạnh

Máu đen: do lách sản xuất, mang tính ẩm

Mật vàng: do gan sản xuất, mang tính khô

Bệnh là sự mất cân bằng về tỷ lệ và quan hệ giữa bốn dịch đó Lý thuyết củaHippocrat có ảnh hưởng rất lớn đối với y học châu âu thời cổ đại Bản thânHippocrat là nhà y học cổ truyền vĩ đại, có công lao tất lớn; đã tách y học khỏi ảnhhưởng của tôn giáo, chủ trương chẩn đoán bằng phát hiện triệu chứng khách quan,

đề cao đạo đức y học

Thời kỳ này quan niệm về bệnh khá duy vật và biện chứng, tuy còn thôthiển Có thể nói đây là đặc điểm dễ đạt được khi lý thuyết còn sơ sài, dừng lại ởtrình độ chung chung và trừu tượng Tuy nhiên, những quan sát trực tiếp củaHippocrat lại khá cụ thể như bốn chất dịch là có thật và cho phép kiểm chứng được.Nhờ vậy, các thế hệ sau có điều kiện kiểm tra, sửa đổi và phát triển nó, nhất là khiphương pháp thực nghiệm được áp dụng vào y học, đưa y học cổ truyền tiến lênhiện đại Chính vì vậy, Hippocrat được thừa nhận là ông tổ của y học nói chung cả

y học cổ truyền và hiện đại

1.1.2.3 Các nền văn minh khác

Cổ Ai Cập: Dựa vào thuyết Pneuma (sinh khí) cho rằng khí đem lại sinh lựccho cơ thể Cơ thể phải thường xuyên hô hấp để đưa sinh khí vào Bệnh là do hítphải khí xấu không trong sạch Từ đó, các nhà y học đề ra những nguyên tắc chữa

Trang 7

Cổ Ấn Độ: Y học chính thống chịu ảnh hưởng sâu sắc của triết học đạo Phậtcho rằng cuộc sống là một vòng luân hồi (gồm nhiều kiếp), mỗi kiếp trải qua bốngiai đoạn: sinh, lão, bệnh, tử Như vậy, bệnh là điều không thể tránh khỏi Tuynhiên, các nhà y học cổ đại ấn Độ vẫn sáng tạo được rất nhiều phương thuốc cônghiệu để chữa bệnh Đạo Phật còn cho rằng con người có linh hồn vĩnh viễn tồn tại,nếu nó còn ngự trị trong thể xác tồn tại tạm thời là sống, đe doạ thoát khỏi xác làbệnh, thoát hẳn khỏi thể xác là chết.

1.1.3 Thời kỳ Trung cổ

Châu âu thời kỳ Trung cổ (thế kỷ 4-12) được coi là "đêm dài" vì diễn ra suốt

8 thế kỷ dưới sự thống trị tàn bạo và hà khắc của nhà thờ, tôn giáo và chế độ phongkiến Nguyên nhân do sự cuồng tín vào những lý thuyết mang tính tôn giáo khiếncác giáo sĩ dựa vào cường quyền sẵn sàng đàn áp khốc liệt các ý kiến đối lập Tuynhiên, nguyên nhân sâu xa hơn là tầng lớp giáo sĩ và phong kiến muốn bảo vệ lâuđài đặc quyền thống trị của họ

Các quan niệm tiến bộ bị đàn áp nếu trái với những tín điều trong kinh thánh,khoa học lâm vào tình trạng trì trệ và thụt lùi Các nhà khoa học tiến bộ bị khủngbố

Quan niệm chính thống về bệnh tỏ ra rất mê muội, không coi trọng chữabằng thuốc, thay bằng cầu xin, y lý phải tuân theo các giáo lý của nhà thờ, mỗi vịthánh trấn giữ một bộ phận trong cơ thể, một số giáo sĩ cấm đọc sách thuốc Những nhà y học có quan điểm tiến bộ bị ngược đãi

Tuy vậy, cuối thời Trung cổ vẫn lác đác có vài quan niệm duy vật nhưng rất

sơ sài, PHracelsus (1493-1541) cho rằng lưu huỳnh có vai trò biểu hiện sức mạnhcủa linh hồn, trí tuệ, còn thuỷ ngân và muối có vai trò trong duy trì sức mạnh thểchất Tuy vậy, các quan điểm này không được coi là chính thống nên ít ảnh hưởngtrong giới y học

1.1.4 Thời kỳ Phục hưng

Thế kỷ 16-17, xã hội thoát khỏi thần quyền, văn học nghệ thuật và khoa họcphục hưng lại nở rộ với nhiều tên tuổi như Newton, Descarte, Toricelli, Vesali,Harvey

Giải phẫu học (Vesali, 1414-1564) và Sinh lý học (Harvey, 1578-1657) rađời đặt nền móng vững chắc để y học từ cổ truyền tiến vào thời kỳ hiện đại Nhiềuthuyết tiến bộ về y học liên tiếp xuất hiện Tính duy vật tuy còn thô sơ, tính biệnchứng vẫn còn máy móc nhưng so với thời kỳ y học cổ truyền thì đã có những bướctiến nhảy vọt về chất

Thời kỳ này có đặc điểm là:

Mỗi thuyết đều cụ thể hơn trước, giảm mức độ trừu tượng, khiến có thểdùng thực nghiệm kiểm tra dễ dàng để thừa nhận hoặc bác bỏ; đồng thời có tácdụng giảm bớt tính nghệ thuật tăng thêm tính khoa học và tính chính xác tronghành nghề của người thầy thuốc

Các thuyết đều cố vận dụng các thành tựu mới nhất của các khoa học khácnhư co học, lý học, hóa học, sinh học, sinh lý, giải phẫu Ví dụ:

Trang 8

Thuyết cơ học (Descarte): Coi cơ thể như một cỗ máy, ví tim như cái máybơm, mạch máu là các ống dẫn; các xương như những đòn bẩy và hệ cơ như cáclực Bệnh được ví như trục trặc của máy móc

Thuyết hóa học (Sylvius, 1614-1672): coi bệnh tật là do sự thay đổi tỷ lệ cáchóa chất trong cơ thể, hoặc sự rối loạn của các phản ứng hóa học

Thuyết lực sống (Stalil, 1660-1734): Các nhà sinh học hồi đó cho rằng cácsinh vật có những hoạt động sống và không bị thối rữa là nhờ trong chúng có cáigọi là lực sống Lực sống cũng chi phối sức khoẻ và bệnh tật của cơ thể bằng lượng

và chất của nó

1.1.5 Thời kỳ thế kỷ 18 -19

Đây là thời kỳ phát triển của y học hiện đại với sự vững mạnh của hai mônGiải phẫu học và Sinh lý học Nhiều môn y học và sinh học đã ra đời Ở các nướcphương Tây, y học cổ truyền hoàn toàn tiến sang thời y học hiện đại Phương phápthực nghiệm từ vật lý học được ứng dụng một cách phổ biến và có hệ thống vào yhọc đã mang lại rất nhiều thành tựu Rất nhiều quan điểm về bệnh ra đời, với đặcđiểm nổi bật dựa trên những kết quả đã được thực nghiệm kiểm tra và khẳng định

Một số quan niệm chủ yếu về bệnh trong thời kỳ này là:

Thuyết bệnh lý tế bào: Wirchow là người sáng lập môn Giải phẫu bệnh chorằng bệnh là do các tế bào bị tổn thương, hoặc các tế bào tuy lành mạnh nhưng thayđổi về số lượng, vị trí và thời điểm xuất hiện

Thuyết rối loạn hằng định nội môi: Claud Benard - nhà Sinh lý học thiên tài,người sáng lập môn y học thực nghiệm, tiền thân của môn Sinh lý bệnh - đã đưathực nghiệm vào y học một cách hệ thống và sáng tạo, đã đề ra khái niệm "hằngđịnh nội môi" cho rằng bệnh xuất hiện khi có rối loạn cân bằng này trong cơ thể

Muộn hơn, sang thế kỷ 19-20, Frend (1856-1939) và môn đệ cho rằng bệnh

là do rối loạn và mất cân bằng giữa ý thức, tiềm thức, bản năng Môn đệ Páp-lốp đãlạm dụng quá mức các công trình của ông thì cho rằng bệnh là kết quả của sự rốiloạn hoạt động phản xạ của thần kinh cao cấp Các khái niệm này đã có đóng gópnhất định trong một phạm vi nào đó, đồng thời cũng biểu hiện những thiên lệchhiểu biết về bệnh

1.1.6 Thời kỳ hiện đại (Thế kỷ 20)

Thế kỷ này là thời kỳ của điện tử, của các chất cao phân tử và cũng là thời

kỳ của sinh học Một số ngành sinh học phát triển mạnh như: di truyền học, miễndịch học, sinh học phân tử có ảnh hưởng lớn tới y học, do đó cũng có nhiều kháiniệm khác nhau về bệnh

Riêng ở Nga, tiếp thu các công trình của các nhà khoa học như Sechenov,Botkin, Páp-lốp đã đề ra học thuyết thần kinh của bệnh Theo thuyết này nội môi vàngoại cảnh là một khối thống nhất, trong đó hoạt động của thần kinh cao cấp đóngvai trò quyết định đối với khả năng thích ứng của cơ thể (tức nội môi) với nhữngthay đổi bên ngoài Sự kết hợp chặt chẽ giữa vỏ não và những đoạn dưới của hệ

Trang 9

nội tiết có tác động điều hoà chính xác và kịp thời mọi hoạt động của cơ thể, đảmbảo mối tương quan chính xác giữa nội môi và ngoại cảnh Bệnh tật là do rối loạnhoạt động phản xạ của hệ thần kinh, rối loạn tương quan giữa các khu vực khácnhau của hệ thần kinh Páp-lốp chỉ rõ: "trong người bệnh có hai quá trình tồn tạisong song: quá trình bảo vệ sinh lý và quá trình huỷ hoại bệnh lý".

Qua các lý luận trên các nhà khoa học Nga đã nhìn nhận vấn đề bệnh tật mộtcách toàn diện hơn Tuy nhiên vẫn chưa giải thích một cách hoàn hảo khái niệm vềbệnh Trong thời kỳ này, ngành hóa chất, nhất là sinh hóa phát triển mạnh mẽ,người ta đã nhận thấy tính chất tương đối ổn định của các thành phần hóa học trong

cơ thể Dựa vào đó Hens Selye đưa ra ý kiến "Bệnh là sự rối loạn các khả năngthích nghi" Nghiên cứu các tác động mạnh của ngoại cảnh (stress) thì Selye chorằng bao giờ cơ thể cũng đáp lại bằng những thay đổi của hoạt động nội tiết và thầnkinh Theo Selye sự mất cân bằng và hiệp đồng giữa hạ não và thượng thận thì sinh

ra bệnh gọi là bệnh thích nghi

Theo tiến hóa luận khoa học thì mọi sinh vật đều bắt nguồn từ một đơn bào,sau đó phức tạp dần thành cơ quan, tổ chức khác nhau, có các hoạt động riêngnhưng nhằm mục đích chung là duy trì sự sống Do đó, sự ngăn cách giữa các bộphận (tế bào, cơ quan), giữa cơ thể trong cộng đồng, giữa cơ thể với thiên nhiên chỉcác tính chất tương đối, mà về thực chất có sự liên quan trao đổi mật thiết qua lạivới nhau, ảnh hưởng lẫn nhau Giữa ngoại cảnh và cơ thể có sự thống nhất và có sựmâu thuẫn, ngoại cảnh thì luôn luôn thay đổi và cơ thể nhờ khả năng thích nghi củamình để mà duy trì hằng định nội môi một cách tương đối, để duy trì sự sống

1.2 Quan niệm về bệnh hiện nay

1.2.1 Hiểu về bệnh qua quan niệm sức khoẻ

Tổ chức Y tế thế giới (WHO - 1946) đưa ra định nghĩa: "Sức khoẻ là mộttình trạng thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ đơnthuần là không có bệnh hay tật" Đây là định nghĩa mang tính mục tiêu xã hội, đểphấn đâu, được chấp nhận rộng rãi

Tuy nhiên dưới góc độ y học, cần có những định nghĩa phù hợp và chặt chẽhơn

Các nhà y học cho rằng: "Sức khoẻ chức năng, cũng như khả năng điều hoàvới sự thay đổi của hoàn cảnh" là tình trạng lành lặn của cơ thể về cấu trúc, giữ cânbằng nội môi, phù hợp và thích nghi

1.2.2 Những yếu tố để định nghĩa về bệnh

Đa số các tác giả đều đưa vào khái niệm bệnh những yếu tố sau:

Sự tổn thương, lệch lạc, rối loạn trong câu trúc và chức năng (từ mức phân

tử, tế bào, mô, cơ quan đến mức toàn cơ thể) ,

Do những nguyên nhân cụ thể, có hại; đã tìm ra hay chưa tìm ra

Cơ thể có quá trình phản ứng nhằm loại trừ các tác nhân gây bệnh, lập lạicân bằng, sửa chữa tổn thương Trong cơ thể bị bệnh vẫn có sự duy trì cân bằngnào đó, mặc dù nó đã lệch ra khỏi giới hạn sinh lý Hậu quả của bệnh tuỳ thuộc vàotương quan giữa quá trình rối loạn, tổn thương và quá trình phục hồi, sửa chữa

Trang 10

Bệnh làm giảm khả năng thích nghi với ngoại cảnh.

Với người, có tác giả đề nghị thêm: bệnh làm giảm khả năng lao động vàkhả năng hoà nhập xã hội

"Bệnh là sự rối loạn đời sống bình thường của cơ thể sinh vật, do tác độngcủa các yếu tố gây bệnh khác nhau, gây ra một quá trình đấu tranh phức tạp giữahiện tượng tổn thương bệnh lý và hiện tượng phòng vệ sinh lý, làm hạn chế khảnăng thích nghi của cơ thể đối với ngoại cảnh, làm cho khả năng sản xuất và giá trịkinh tế bị giảm sút"

“Bệnh là một điều kiện mà ở đó một cá thể chỉ ra sự sai khác về giải phẫu,hóa học, sinh lý so với bình thường"

Định nghĩa "thế nào là một bệnh" hiện nay đang được sử dụng phổ biến là:

"Bệnh là bất kỳ sự sai lệch hoặc tổn thương nào về cấu trúc và chức năng của bất

kỳ bộ phận, cơ quan, hệ thống nào của cơ thể biểu hiện bằng các triệu chứng đặctrưng giúp cho thầy thuốc có thể chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt, mặc

dù nhiều khi ta chưa rõ về nguyên nhân, về bệnh học và tiên lượng" (Từ điển y họcDorlands, 2000)

2 ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH NGUYÊN HỌC

2.1 Định nghĩa

Bệnh nguyên học (Etiology) hay nguyên nhân bệnh học là môn học nghiêncứu về nguyên nhân gây bệnh, bản chất của chúng, cơ chế mà chúng tác động, đồngthời nghiên cứu các điều kiện thuận lợi hay không thuận lợi để nguyên nhân trênphát huy tác dụng Việc nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh có ý nghĩa rất to lớntrong lý luận cũng như trong thực hành Về lý luận nó biểu hiện một lập trường rõrệt; về thực hành nó giúp cho việc phòng trị có hiệu quả Páp-lốp đã nói: "Vấn đềphát hiện ra nguyên nhân gây bệnh là một vấn đề cơ bản của y học và chỉ khi nàobiết rõ những nguyên nhân gây ra bệnh thì mới tiến hành điều trị được chính xác,hơn nữa mới ngăn chặn chúng đột nhập vào cơ thể và điều này là quan trọng bậcnhất"

2.2 Một số quan niệm sai lầm về bệnh nguyên học

Để có được những quan điểm và khái niệm khoa học đúng đắn như hiện nay,

Trang 11

giữa các học thuyết khác nhau Trong đó có một số học thuyết sai lầm về nguyênnhân bệnh học như:

Thuyết "nguyên nhân đơn thuần" (Pure Etiology) cho rằng vi khuẩn lànguyên nhân của mọi bệnh, hễ có vi khuẩn là có bệnh (tức là mọi bệnh đều do mộtnguyên nhân và chỉ khi nào có nguyên nhân thì mới có bệnh)

Với thái độ cực đoan, quá nhấn mạnh đến vai trò của một nguyên nhân gây

ra bệnh là vi khuẩn, thuyết này đã bỏ qua vai trò và ảnh hưởng của những điều kiệnkhác thuận lợi cho sự phát sinh của bệnh, cũng không chú ý đến cơ chế bảo vệ của

cơ thể chống lại sự đột nhập của các yếu tố gây bệnh và nó cũng không xét đến cácảnh hưởng khác trong bệnh nguyên học

Thực tế cho thấy rằng, trong nhiều bệnh không phát hiện thấy vi khuẩn nhưbệnh cao huyết áp, các bệnh đo tác động của các yếu tố lý, hóa học gây nên vàngược lại, trong nhiều trường hợp có vi khuẩn nhưng lại không thấy bệnh xuất hiện,

ví dụ: có tới 80-90% gà mang vi khuẩn PHsteurella ở trong đường hô hấp trên màkhông gây bệnh tụ huyết trùng hoặc có tới gần 100% vi khuẩn E, còn sống trongruột già của động vật và người mà không gây bệnh

Một quan niệm sai lầm, phiến diện về bệnh nguyên học như trên, chỉ chú ýđến một nguyên nhân gây bệnh, tất nhiên cũng sẽ dẫn đến sai lầm trong công tácphòng bệnh và điều trị bệnh Như ta đã biết việc chống lại yếu tố gây bệnh, nhất là

vi khuẩn một cách tích cực cũng mới chỉ là một mặt trong công tác phòng bệnh vàđiều trị Còn có những mặt khác cũng không kém phần quan trọng là tạo ra nhữngđiều kiện, những hoàn cảnh để yếu tố gây bệnh không phát huy được tác dụng nhưtăng cường sức đề kháng của cơ thể, v.v… Thuyết "điều kiện đơn thuần" (PureCondition) cho rằng bệnh tật là do kết quả tác động tổng hợp của một số điều kiện

và các điều kiện đó có thể gây bệnh mà không cán có nguyên nhân đặc hiệu Quanniệm này là hoàn toàn sai lầm, bởi vì từng điều kiện tách riêng ra, cũng như nhiềuđiều kiện kết hợp lại không thể quyết định được sự phát sinh ra bệnh và tính đặchiệu của bệnh, ví dụ: nếu không có vi khuẩn lao thì không có bệnh lao Các điềukiện chỉ có tác dụng tạo nên cơ sở dễ dàng cho bệnh phát sinh khi có nguyên nhângây bệnh tác động

Học thuyết này mang tính chất tiêu cực: cùng một lúc đưa ra nhiều điều kiệnđòi hỏi phải thoả mãn thì mới có thể giải quyết được vấn đề bệnh tật Vì vậy nó gâytrở ngại cho công tác phòng bệnh và trị bệnh Nó đã không phân biệt nguyên nhân

và điều kiện và cũng không chỉ rõ được vai trò của mỗi yếu tố trong quá trình gâybệnh

Thuyết "thể tạng" (Constitution) cho rằng nguyên nhân gây bệnh không phải

từ bên ngoài tới mà chính là do đặc điểm của cơ thể, do thể tạng của con vật mà ra.Đây là quan niệm của thuyết di truyền máy móc, nó không kể đến các yếu tố ngoạicảnh tác động đến quá trình phát triển và di truyền của sinh vật Như vậy nó chốnglại việc vệ sinh phòng dịch, bảo vệ sức khoẻ cho gia súc ngăn ngừa bệnh tật

2.3 Quan niệm khoa học về bệnh nguyên học

Trang 12

Một số quan niệm đúng đắn về bệnh nguyên học là phải dựa vào phươngpháp duy vật biện chứng để nêu lên được mối quan hệ đúng đắn giữa nguyên nhân

và điều kiện gây bệnh

2.3.1 Mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện gây bệnh

Nguyên nhân có vai trò quyết định và điều kiện thì phát huy vai trò tác dụngcủa nguyên nhân Nguyên nhân gây bệnh là yếu tố có hại, khi tác động lên cơ thể sẽquyết định bệnh phát sinh và các đặc điểm của bệnh, ví dụ: Bốn bệnh đỏ của lợn (làbệnh phó thương hàn, tụ huyết trùng, đóng dấu, dịch tả) do bốn nguyên nhân khácnhau gây ra và phát sinh ra bệnh có biểu hiện riêng

Những yếu tố gây bệnh đó khi vào cơ thể phải đạt cường độ nhất định (độclực, liều lượng cao ) Đặc điểm của bệnh chính là do nguyên nhân quyết định vàchính dựa vào những đặc điểm của bệnh mà ta có thể khám phá ra nguyên nhân để

từ đó mà xác định phương pháp cần thiết để điều trị

Song nguyên nhân gây bệnh chỉ có thể phát huy tác dụng trong những điềukiện cơ thể nhất định, ví dụ: Bệnh tụ huyết trùng gà phát triển dưới tác dụng của vikhuẩn PHsteurella nhưng phải ở cơ thể yếu, dinh dưỡng kém và đặc biệt là khi thờitiết thay đổi đột ngột Ngược lại, khi có đầy đủ các điều kiện thuận lợi nhưngkhông có nguyên nhân thì bệnh không thể phát sinh và xảy ra được, nó chỉ phátsinh ra bệnh khác như suy dinh dưỡng, còi xương Nguyên nhân và những điềukiện nhất định gây nên một bệnh được gọi chúng là những yếu tố bệnh nguyên

Trong những điều kiện nhất định, nguyên nhân có thể trở thành điều kiện,nghĩa là trong những hoàn cảnh nào đó, một số yếu tố có thể là nguyên nhân nhưngtrong hoàn cảnh khác nó có thể trở thành điều kiện Ví dụ: nuôi dưỡng kém lànguyên nhân của suy dinh dưỡng, thiếu vitamin là nguyên nhân của bệnh thiếuvitamin, song có thể lại là điều kiện cho các bệnh nhiễm khuẩn phát triển Hoặcbệnh ghép tụ huyết trùng-dịch tả lợn, dịch tả-tụ huyết trùng lợn

Ví dụ: Khi khẩu phần ăn thiếu protein sẽ gây nên phù do protein trong huyếtthanh giảm mà áp lực keo dựa vào nồng độ protein huyết thanh Nếu protein huyếtthanh giảm làm cho áp lực keo trong máu giảm từ đó làm cho nước bị đẩy từ độngmạch ra ngoài gian bào gây ra hiện tượng phù (bệnh thận), hoặc khi thiếu vitaminB1 thì cũng gây ra phù

2.3.2 Quy luật nhân quả trong bệnh nguyên học

Mỗi bệnh (tức là hậu quả) đều có nguyên nhân nhất định gây ra và nguyênnhân bao giờ cũng có trước hậu quả Nguyên nhân gây bệnh dù từ ngoài vào hay từtrong ra đều tác động lên cơ thể sinh ra hậu quả là bệnh Bất cứ một bệnh nào cũngđều có nguyên nhân nhất định gây nên Mặc dù hiện nay rất nhiều bệnh chưa tìmđược nguyên nhân nhưng ai cũng tin rằng bất cứ bệnh nào cũng phải có nguyênnhân

Có nguyên nhân nhưng không nhất thiết phát sinh ra hậu quả (tức bệnh) nếukhông có điều kiện thuận lợi

Như trên ta đã nói về mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện, trong đó

Trang 13

rõ rằng, trong sinh học nói chung cũng như trong y học nói riêng, vì tính chất phứctạp của hiện tượng sống, phản ứng của sinh vật còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố màtrình độ khoa học, kỹ thuật hiện nay còn chưa phát hiện và kiểm soát được Chonên đáp ứng của sinh vật đối với yếu tố gây bệnh có thể thay đổi tuỳ theo điều kiệnbên ngoài cũng như bên trong Điều kiện bên ngoài thì muôn hình muôn vẻ, cònđiều kiện bên trong thì vô cùng phức tạp cho nên tính phản ứng thường thay đổitheo từng cơ thể Do vậy, cùng một nguyên nhân trong những điều kiện nhất địnhthì tác động gây nên bệnh nhưng ở những điều kiện khác thì lại không gây ra bệnh.

Cùng một nguyên nhân, có thể có những hậu quả khác nhau tuỳ theo điềukiện, ví dụ: bệnh cúm ở người, khỉ điều kiện sống như nhau nhưng tuỳ thuộc vàotừng cá thể mà có người bị nặng, có người bị nhẹ, có người không mắc bệnh Cùngmột nguyên nhân tuỳ nơi tác động và tuỳ theo đáp ứng của cơ thể mà hậu quả (làbệnh) có thể khác nhau, ví dụ: Tụ cầu khuẩn có thể gây nên áp xe khi vào da, gâynên ỉa lỏng khi vào ruột và gây nhiễm khuẩn huyết khi vào máu

Một hậu quả (triệu chứng bệnh) có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây

ra như viêm, sốt là những quá trình bệnh lý điển hình, trong đó các triệu chứng rất

dễ dàng được xác định song lại do rất nhiều nguyên nhân gây nên: cảm lạnh cũngdẫn đến sốt; chấn thương cũng gây nên sốt Chính đây là khó khăn thường gặp khi

đi từ những triệu chứng tới xác định được bệnh và nguyên nhân gây bệnh, đời hỏiphải có phương pháp suy luận đúng đắn và logic để phân biệt giữa hiện tượng vàbản chất

Như vậy một quan niệm khoa học về bệnh nguyên học phải có tính chất toàndiện, nhìn nhận cả vai trò của nguyên nhân, điều kiện cũng như thề tạng Song mỗimột yếu tố có tầm quan trọng và vị trí nhất định trong quá trình gây bệnh Ngănngừa nguyên nhân, hạn chế tác dụng của điều kiện gây bệnh, tăng cường hoạt độngtết của thể tạng, đó là những mặt hoạt động tích cực, là điều kiện quan trọng trongcông tác điều trị và phòng bệnh Điều trị không chỉ tìm ra được nguyên nhân màcòn phải thấy được cả những điều kiện trong đó bệnh cảnh diễn ra

2.4 Phân loại các yếu tố bệnh nguyên

2.4.1 Yếu tố bệnh nguyên bên ngoài

Nếu nhiệt độ quá cao: gây viêm, bỏng hoặc cháy tại chỗ tiếp xúc;

Nếu nhiệt độ đủ cao và tác đụng lên toàn thân: gây nhiễm nóng;

Trang 14

Nhiệt độ quá lạnh gây tê cóng, hoại tử tại chỗ tiếp xúc hoặc gây nhiễm lạnhkhi tác động lên toàn thân.

- Tia phóng xạ:

Gây huỷ hoại các men tế bào, tác hại tương tự nhiệt độ trên 500C nhưng chủyếu là tác hại lên ADN, nhất là khi tế bào đang phân chia (như tế bào non ở tuỷxương) Cơ chế tác động: tia.xạ với năng lượng mang theo chúng tạo ra các sảnphẩm ton hóa và các gốc tự do, gây rối loạn chuyển hóa cho tế bào, kể cả gây chết

tế bào

- Dòng điện: tuỳ thuộc diện tiếp xúc rộng hay hẹp và điện trở thấp hay cao.Tuỳ thuộc vào điện áp: điện áp càng cao thì càng nguy hiểm, nhất là từ220V trở lên

Tuỳ thuộc vào dòng điện: dòng một chiều tác dụng rất nhanh; dòng xoaychiều: tần số 25-50 rất nguy hiểm

Có thể gây bệnh tại chỗ (bỏng) hay toàn thân

Tuỳ thuộc cơ quan (nếu dòng điện qua tim, não gây nguy hiểm; qua cơ gâyco

Các axit mạnh, kiềm mạnh và một số chất khác có thể gây bỏng, cháy, hoại

tử da và niêm mạc khi tiếp xúc

Nhiều chất có tác dụng huỷ men trong tế bào, hoặc gây ngộ độc toàn thân dolàm rối loạn chuyển hóa (với các cơ quan đích khác nhau nhất là các cơ quan tíchluỹ và đào thải chúng như gan, thận) với mức độ, hậu quả khác nhau

Các chất hóa học bao gồm:

Chất vô cơ (chì, hợp chất thuỷ ngân, arsenic );

Các chất hữu cơ (benzen, phenylhydrazin, một số dược chất nếu quá liều );+ Một số sản phẩm của động vật hay thực vật (nọc rắn, nọc bò cạp, chất độc trongmật cá trắm, gan cóc, trong một số nấm độc, lá ngón, lá han )

Trang 15

2.4.2.1 Yếu tố di truyền

Đó là những biến đổi bệnh lý thông qua cơ chế di truyền từ thế hệ trướcsang thế hệ sau qua tế bào sinh dục mang đến bệnh Qua nghiên cứu người ta đãthấy, một số bệnh phát sinh là do thiếu một số tiền chỉ huy tổng hợp nên các loạimen, mà thiếu các men ấy sẽ phát sinh ra bệnh Ví dụ: Bệnh phenylxeton niệu là dothiếu men pHrahyđroxylaza nên phenylalanin không chuyển thành tyrôxin được màphân huỷ thành phenylxeton và được đào thải ra ngoài qua nước tiểu

Yếu tố di truyền có thể cũng là điều kiện để cho bệnh phát sinh

một số con giả súc cái ấy không biểu hiện ra bệnh nhưng mang gen lặntrong nhiễm sắc thể Ví dụ trên lặn mang bệnh có ký hiệu là x+, đen không bệnh kýhiệu là x, con cái có ký hiệu là Xx+, con đực không có bệnh có ký hiệu là XY Ta

có sơ đồ sau:

Như vậy 1/2 số con đực (x+Y) sinh ra mắc bệnh

1/2 số con cái (x+X) sinh ra mang gen bệnh

Nếu cả con đực và cái mang đến bệnh thì khi chúng giao phối ta có sơ đồsau:

Như vậy ta thấy: 1/2 số con đực sinh ra mắc bệnh (x+Y)

112 số con cái sinh ra mắc bệnh (x+x+)

1/2 số con cái sinh ra mang đến bệnh (x+X)

Tóm lại chỉ có 1/4 số con sinh ra là khoẻ mạnh và 3/4 số con khác là mắcbệnh hoặc mang đến bệnh

Lưu ý: Có một số trường hợp trước không bị bệnh nhưng do bị đột biến trênsau khi bị chất phóng xạ hoặc bị nhiễm độc hóa học đã trở thành người mang đếnbệnh và di truyền được

có thể tạng khác nhau sẽ có đáp ứng khác nhau hay nói cách khác thể tạng là cơ sởvật chất của tính phản ứng và chịu ảnh hưởng của một số yếu tố nhất định nhưchủng loại, giới tính, tuổi tác, hoạt động của hệ thần kinh, nội tiết và môi trường màtrong đó con vật sinh sống Cho nên thay đổi môi trường sống có thể làm thay đổiphản ứng tính của cơ thể và do đó làm thay đổi phần nào thể tạng

Ví dụ: Bệnh chậm thể tạng giống như bệnh Eczema do cơ thể thích hợp vớimột loại nấm nào đó, cho nên không thể chữa được nhưng không lây lan sangngười khác, mà nó được di truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác

3 ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH SINH HỌC

Trang 16

3.1 Định nghĩa

Bệnh sinh học hay sinh bệnh học (Pathogenesis) là môn khoa học nghiêncứu những quy luật cơ bản của sự phát sinh, phát triển, diễn biến và kết thúc củamột quá trình bệnh lý hay cơ chế sinh bệnh

Đối với mỗi một bệnh như ta đã biết đều có một nguyên nhân nhất định tácđộng và sau đó là sự phát sinh diễn biến của bệnh Vì vậy nắm được cơ chế sinhbệnh là yêu cầu cơ bản trong công tác phòng trị bệnh, trên cơ sở đó có thể ngănchặn sớm được những diễn biến xấu của bệnh, hạn chế được tác hại, đồng thời xácđịnh những biện pháp tích cực để bảo vệ đàn vật nuôi

3.2 Ảnh hưởng của bệnh nguyên tới quá trình bệnh sinh

Cùng một yếu tố bệnh nguyên liều lượng, thời gian tác dụng và vị trí nhưngbệnh sinh có thể thay đổi tuỳ theo cường độ, trí tác dụng của bệnh nguyên

3.2.1 Ảnh hưởng của cường độ và đều lượng bệnh nguyên

Có rất nhiều bằng chứng và ví dụ trong thực tiễn nói lên hai yếu tố này củabệnh nguyên ảnh hưởng lớn tới quá trình bệnh sinh

Cùng tác động vào một vị trí trên cơ thể nhưng cường độ dòng điện hoặccác tác nhân vật lý khác như nhiệt độ, tia xạ, ánh sáng, lực cơ học mạnh hay yếu

Các tác nhân hóa học và sinh học khác cũng có ảnh hưởng tương tự

Những yếu tố vốn không gây bệnh lại có thể gây bệnh nếu cường độ và sốlượng đạt một ngưỡng nào đó âm thanh có cường độ cao, hoặc không khí có áp lựcquá ngưỡng đều trở thành những yếu tố bệnh nguyên rất hiệu quả

3.2.2 Thời gian tác dụng của bệnh nguyên

Những yếu tố bệnh nguyên có cường độ cao hay liều lượng lớn thường chỉcần thời gian ngắn cũng đủ làm bệnh phát sinh Nếu cường độ thấp hơn hoặc liềulượng nhỏ hơn thì thường cần thời gian tác động dài hơn Nhưng điều đáng lưu ý làdiễn biến của bệnh cũng thường thay đổi

Ví dụ: khi ăn lạc bị mốc trong thời gian dài có thể dẫn tới mắc bệnh ung thư;tiếng ồn dù cường độ không cao nhưng nếu cứ tác động liên tục ngày đêm lên cơquan thính giác sẽ gây bệnh và diễn biến của bệnh khác hẳn trường hợp cơ thể chịumột âm thanh cường độ quá cao (tiếng nổ)

Tương tự như vậy, tác dụng lặp đi lặp lại nhiều lần của một yếu tố bệnhnguyên dù chưa đạt ngưỡng cũng có thể sinh bệnh (lượn, mất ngủ)

3.2.3 Vị trí tác dụng của bệnh nguyên

Mỗi cơ quan của cơ thể phản ứng khác nhau với cùng một bệnh nguyên.Mặt khác, tầm quan trọng sinh học của mỗi cơ quan cũng không giống nhau Dovậy, vị trí tác động của bệnh nguyên trên cơ thể ảnh hưởng rất rõ tới bệnh sinh

Trang 17

Bệnh cảnh, diễn biến của bệnh lao rất khác nhau, tuỳ theo đó là lao phổi, laoxương, lao thận hay lao màng não tuy bệnh nguyên là một.

Bệnh nguyên dù cùng một cường độ và liều lượng nhưng gây được bệnhhay không, nặng hay nhẹ, cấp tính hay mãn tính còn tuỳ thuộc vị trí tác động ánhsáng chói chỉ gây được bệnh nếu chiếu vào võng mạc mà không phải vào đâu khác.Chấn thương vào đầu có bệnh cảnh khác hẳn vào cơ bắp hay vào xương Dòng điệnchạy qua tim hoặc qua não gây hậu quả khác hẳn qua các chi

Ví dụ: Bệnh lậu ở người: khi cầu khuẩn lậu tác dụng ở đường sinh dục gâyviêm mãn tính, còn khi cầu khuẩn lậu ở giác mạc mắt gây viêm cấp tính

3.2.4 Đường lây lan của nguyên nhân bệnh trong cơ thể

Đường lây lan thường phụ thuộc vào tính chất của nguyên nhân bệnh và vịtrí sinh bệnh Thông thường bệnh nguyên lan theo ba đường chính: ,

Lan theo tổ chức: từ nơi phát bệnh lan rộng ra vùng lân cận tiếp giáp

Lan theo dịch thể: thường các yếu tố bệnh nguyên là độc tố, vi khuẩn, vi rútlan theo dịch lâm ba, máu đến toàn thân

Lan theo thần kinh: các yếu tố bệnh nguyên còn là những xung động đau.Các loại vi rút như vi rút bệnh dại, độc tố uốn ván lan theo thần kinh

Trong thực tế khi bệnh phát sinh thì yếu tố bệnh nguyên có thể lan theonhiều đường chứ không phải lan theo một đường riêng biệt, vì trong kết cấu tổ chứccủa cơ thể sinh vật nơi nào cũng có mặt các hệ thống mạch quản, thần kinh vàmạch lâm ba Vì vậy, chúng ta phải xem xét những bệnh nào lan theo đường nào làchủ yếu để biết và kịp thời ngăn chặn

3.3 Quan hệ giữa cục bộ và toàn thân trong quá trình bệnh sinh

Theo thuyết thần kinh của Páp-lốp thì cơ thể là một khối thống nhất, các cơquan, mô bào đều có sự liên hệ chặt chẽ với nhau và chịu sự điều tiết chung củathần kinh Bất cứ một cơ thể nào, hoạt động nào cũng đều chịu sự điều tiết chungcủa vỏ não Vì vậy các quá trình bệnh lý dù xảy ra ở bộ phận cục bộ nào cũng phụthuộc vào trạng thái chung của cơ thể và ngược lại thông qua cung phản xạ nó ảnhhưởng tới toàn thân

3.3.1 Mối Liên hệ giữa toàn thân và cục bộ

Toàn thân khoẻ mạnh thì sức đề kháng tại chỗ cũng sẽ tốt hơn, do đó yếu tốgây bệnh khó xâm nhập hoặc nếu có vào được thì cũng nhanh chóng bị tiêu diệthoặc bị đào thải ra ngoài Ngoài ra, ta thấy tuổi có liên quan đến sức đề kháng Tuổitrưởng thành cơ thể khoẻ mạnh, vết thương mau lành, phản ứng nhanh, tuổi già dễmắc bệnh, phản ứng kém, vết thương lâu lành

3.3.2 Mối liên hệ giữa cục bộ và toàn thân

Bất kỳ một tổn thương nào (viêm nhiễm) ở cục bộ cũng đều ảnh hưởng tớitoàn thân, đầu tiên thấy đau, cơ thể mệt mỏi, các chất độc tại ổ viêm sẽ ngấm vào

cơ thể gây trạng thái nhiễm độc Thành phần của máu thay đổi, nếu bạch cầu đanhân trung tính mà tăng lên thì nhất định sẽ bị viêm nhiễm ở một nơi nào đó và gâysốt toàn thân, đồng thời làm thay đổi hoạt động của hệ thống nước tiểu Như vậy,

Trang 18

khi cục bộ bị tổn thương thì tất cả các cơ quan khác tăng cường hoạt động, cơ quan

hô hấp thay đổi, cơ quan tiêu hóa giảm, tiết sữa giảm vì tất cả tập trung lực lượngvào đấu tranh bảo vệ cơ thể

Vì vậy có thể nói bất kỳ một quá trình bệnh lý nào cũng biểu hiện tại chỗcủa tình trạng bệnh lý toàn thân

Ý nghĩa: Nắm được điều này giúp ta chăm sóc hộ lý tốt hơn

3.4 Vòng bệnh lý

Bệnh diễn ra theo trình tự gồm các bước (gọi là các khâu) nối tiếp nhau theo

cơ chế phản xạ, khâu trước là tiền đề tạo điều kiện cho khâu sau hình thành và pháttriển, cho tới khi bệnh kết thúc

Nhiều trường hợp, một khâu nào đó ở phía sau lại trở thành tiền đề (nuôidưỡng) cho một khâu trước đó: từ đó hình thành một vòng bệnh lý, với đặc điểm là

có khả năng tự duy trì Vòng này có thể diễn biến cấp tính hoặc kéo dài Trong đa

số trường hợp, vòng bệnh lý làm cho quá trình bệnh sinh ngày càng nặng hơn, cóthể quan sát dễ dàng qua các biểu hiện lâm sàng

Thường thì vòng bệnh lý không tự mất đi mà cần có sự can thiệp Khi pháthiện vòng bệnh lý cần tìm cách cắt đứt nhiều khâu, nhất là khâu chính

Sau đây là một vài ví dụ:

Ở bệnh lợn đóng dấu mãn tính, vi khuẩn lợn đóng dấu gây viêm nội tâmmạc, loét sùi van tim, do đó ảnh hưởng tới tuần hoàn chung gây thiếu oxy Từ thiếuoxy gây vrối loạn chuyển hóa rồi tác động trở lại gây phì đại tim dẫn đến suy tim.Khi suy tim dẫn đến thiếu oxy và lặp lại thành vòng kín

Khi đột ngột mất đi 20% lượng máu, cơ thể sẽ huy động một loạt biện pháp

do hệ giao cảm và hệ tim mạch chi phối nhằm bù đắp một phần khối lượng máu,duy trì huyết áp ở mức cần thiết tối thiểu, đảm bảo cơ bản về lưu lượng tuần hoàn

và nhu cầu oxy cho các cơ quan quan trọng nhất Cơ thể thích nghi dần, vòng bệnh

lý sẽ không hình thành trong thời gian chờ đợi tuỷ xương sản xuất đủ lượng hồngcầu cần thiết Nếu mất tới 40% lượng máu, các biện pháp trên chỉ giúp cơ thể thíchnghi được một thời gian ngắn và mẫu thuẫn sẽ phát sinh, hệ tim mạch bị quá tảichức năng lại kém được nuôi dưỡng Có thể thấy huyết áp tụt dần, mạch nhanh vàyếu dần, kèm theo tình trạng lơ mơ, da lạnh, thể trạng xấu dần đi Để ra khỏi tìnhtrạng trên, hệ giao cảm và tuần hoàn lại càng phải tăng công suất Như vậy vòngbệnh lý đã hình thành

Ý nghĩa: Nắm được sự tiến triển của bệnh, ta có thể phát hiện được khâuchính trong quá trình sinh bệnh và có tác động cần thiết ngăn cản diễn biến xấu củavòng bệnh lý

Qua đây thấy rằng khâu chăm sóc hộ lý nhằm cắt được vòng bệnh lý đi làkhâu vô cùng quan trọng

3.5 Các hiện tượng bệnh lý

Trong một cơ thể bị bệnh ta có thể nhìn thấy được nhiều hiện tượng bệnh lýkhác nhau Chúng ta cần phải phân biệt và xác định những hiện tượng đó một cách

Trang 19

3.5.2 Quá trình bệnh lý

Quá trình bệnh lý là một phức hợp gồm nhiều phản ứng bệnh lý

Ví dụ: Trong quá trình viêm người ta thấy có phản ứng vận mạch (co, giãnmạch), phản ứng tăng sinh tế bào, phản ứng của thần kinh Trong quá trình sốtngoài phản ứng tăng sản nhiệt còn có nhiều phản ứng nhằm giảm thải nhiệt

Quan niệm về quá trình bệnh lý có tính chất động, nó bao gồm cả quá trìnhdiễn biến của bệnh

3.5.3 Trạng thái bệnh lý

Là một quá trình bệnh lý biến chuyển chậm, kéo dài thành cố tật

Ví dụ: Những người bị liệt, những người bị viêm khớp sau khi khỏi để lạivết viêm làm cho khớp không cử động được nữa hoặc là viêm vú làm cho tuyến vúteo đi không cho sữa

3.6 Các giai đoạn phát triển của bệnh

Trong quá trình phát triển của bệnh, cơ thể có những biến đổi khác với khi ởtrạng thái bình thường Đặc trưng cho những biến đổi đó là triệu chứng Khi cácnguyên nhân gây bệnh tác động gây những biến đổi trong cơ thể biểu hiện ra bênngoài gọi là triệu chứng Hoặc triệu chứng là những biểu hiện của động vật sốngđược quan sát và miêu tả như bỏ ăn, ỉa chảy, bồn chồn, mất nước và là kết quảcủa những biến đổi tổ chức Triệu chứng của bệnh thì muôn hình, muôn vẻ, nó baogồm nhiều biến đổi về hoạt động, về chức năng, biến đổi về chuyển hóa vật chất,biến đổi về thân nhiệt, về hô hấp, về tim mạch đến những thay đổi về thành phầncủa máu, nước tiểu và cơ, sự biến đổi về hình thái của cơ quan hay tổ chức

Triệu chứng thay đổi tuỳ theo các loại bệnh khác nhau, tuỳ theo từng giaiđoạn phát triển của bệnh Triệu chứng phụ thuộc vào đặc điểm cơ thể vào lứa tuổivào quá trình phát triển của bệnh, phụ thuộc vào môi trường ngoại cảnh bên ngoài

Nhìn chung quá trình phát triển của bệnh không những diễn biến theo nhữngquy luật nhất định mà quá trình này còn có tính chất giai đoạn nhất định Người tathường chia ra bốn thời kỳ cơ bản trong quá trình phát triển của bệnh Sự phân chianày có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu và giúp cho việc phòng trị bệnh đượcchính xác hơn Tuy nhiên, việc định ra ranh giới các thời kỳ một cách rõ ràng chínhxác là rất khó khăn, cho nên sự phân chia ra các thời kỳ cũng chỉ là tương đối trongquá trình phát triển liên tục của bệnh

Trang 20

Dựa vào các triệu chứng người ta phân chia ra thành các thời kỳ phát triểncủa bệnh như sau:

3.6.1 Thời kỳ nung bệnh (thời kỳ ủ bệnh)

Thời kỳ nung bệnh được bắt đầu từ khi nguyên nhân bệnh xâm nhập vào cơthể hoặc là nguyên nhân bệnh bắt đầu phát huy tác dụng cho đến khi mà cơ thể cónhững phản ứng đầu tiên Lúc này nguyên nhân bệnh chưa đủ số lượng và độc lực

để làm cho bệnh phát triển, đồng thời sức đề kháng của cơ thể còn mạnh, vì thếchưa có những phản ứng biểu hiện của bệnh Cơ thể cũng có thể tiêu diệt nguyênnhân bệnh, bệnh không phát hoặc có thể tiến triển sang một giai đoạn khác

Thời kỳ này dài hay ngắn là phụ thuộc vào các yếu tố sau đây:

Số lượng, độc lực và cường độ tác động của nguyên nhân bệnh

Trạng thái cơ thể và tính mẫn cảm của cơ thể đối với sự tác động củanguyên nhân

3.6.2 Thời kỳ tiền phát (thời kỳ tiền chứng)

Thời kỳ này bắt đầu từ khi cơ thể có những phản ứng đầu tiên đến khi bắtđầu xuất hiện những triệu chứng chủ yếu Ở giai đoạn này, nguyên nhân bệnh tácđộng mạnh làm cho cơ thể thay đổi toàn bộ các phản ứng, khả năng thích nghi củacon vật đã giảm sút, con vật có một số biểu hiện dấu hiệu của bệnh gọi là tiềnchứng

Ví dụ: Trạng thái con vật thay đổi ủ rũ, bỏ ăn, hay nằm, thậm chí nằm khôngyên, nếu đo nhịp tim có thể nhanh, hô hấp tăng, thân nhiệt cao, sung huyết ở niêmmạc

Ý nghĩa: Căn cứ vào triệu chứng này ta có biện pháp hộ lý tốt hơn, chăm sóctốt hơn và bước đầu chẩn đoán thăm dò, dựa vào dịch tễ học (mùa vụ, vùng, lứatuổi ) bắt đầu sơ chẩn sau đó ta điều trị thăm dò Giai đoạn này vô cùng quantrọng nên ta cần chú ý

Trang 21

Bắt đầu từ khi cơ thể có những triệu chứng rõ rệt, triệu chứng điển hình chotừng bệnh cho đến khi cơ thể có những chuyển biến nhất định Ở thời kỳ nàynguyên nhân bệnh phát triển cực độ, sức đề kháng của con vật giảm, cơ thể cónhững cơ năng rối loạn nghiêm trọng.

Ý nghĩa: Dựa vào các bệnh đã biết để có biện pháp đối phó với từng bệnhmột theo truyền nhiễm học để xử lý, nếu với số lượng lớn phải báo ngay cho cơquan chức năng cấp trên để có biện pháp phòng ngừa

3.6.4 Thời kỳ kết thúc

Thời kỳ này dài hay ngắn chủ yếu phụ thuộc vào từng loại bệnh và đặc biệt

là có sự can thiệp của Bác sĩ Thú y Cơ thể bệnh dần dần thuyên giảm, cường độcác triệu chứng giảm dần rồi mất hết hoặc nó có thể tiếp tục theo vòng bệnh lý vàcon vật có thể chết khi bị nặng hơn Thời kỳ kết thúc của bệnh tuy phức tạp nhưngthường diễn biến dưới ba hình thức khác nhau:

3.6.4.1 Khỏi hoàn toàn

Các nguyên nhân gây bệnh bị tiêu diệt hoàn toàn, các triệu chứng bệnh biếnmất, rối loạn về cơ năng, tổn thương về hình thái tế bào, mô và các cơ quan đượcphục hồi, cơ thể trở lại trạng thái bình thường, khả năng lao động và năng suấtđược phục hồi hoàn toàn Riêng đối với một số bệnh truyền nhiễm thì khả năngphản ứng của cơ thể thay đổi, phát sinh trạng thái miễn dịch đối với bệnh vừa mắc(bệnh đậu, bệnh tỵ thư)

3.6.4.2 Khỏi không hoàn toàn

Bệnh không hết hẳn, các nguyên nhân bệnh bị tiêu diệt nhưng không hoàntoàn, nó có thể cư trú trong các tế bào, đặc biệt là trong các tế bào thực bào hoặcmột khu vực nào đó mà không phát huy tác dụng

Ngoài ra, khỏi không hoàn toàn còn gồm:

Để lại dị chứng: bệnh đã hết nhưng hậu quả về giải phẫu và chức năng thìvẫn còn lâu dài (sau viêm não trí khôn giảm sút; gãy xương đã liền nhưng có dịlệch, khó cử động, viêm nội tâm mạc đã hết nhưng để lại dị chứng hẹp van tim,xuất huyết não đưa đến liệt một chi,…)

Để lại trạng thái bệnh lý: diễn biến rất chậm và đôi khi có thể xấu đi, khókhắc phục Ví dụ: do chấn thương, bị cắt cụt một ngón tay; vết thương còn để lạisẹo lớn

3.6.4.3 Chết

Chết là giai đoạn cuối cùng của sự sống, do rối loạn cao độ mà cơ thể khôngthể thích ứng được với các điều kiện ngoại cảnh

Chết có hai từ rìa hơn là chết sinh lý và chết bệnh lý

Chết sinh lý: do tiêu hóa năng lượng trong quá trình sống giảm dần theo tuổitác, già cỗi, suy nhược đến một giai đoạn cơ thể không có khả năng thích ứng đượcvới yếu tố ngoại cản

Chết bệnh lý: cơ thể phải trải qua một quá trình bệnh lý do các nguyên nhântác động gây những rối loạn nghiêm trọng không thể khôi phục được

Trang 22

Chết là một quá trình, trong trường hợp điển hình gồm các giai đoạn sau: +Giai đoạn ngưng cuối cùng: tim và hô hấp ngừng tạm thời (trong vòng 0,5 - 1 ,5phút), mất phản xạ mắt, đồng tử mở rộng, vỏ não bị ức chế, các hoạt động sống đều

bị giới hạn

Giai đoạn hấp hối: xuất hiện hô hấp trở lại - thở ngáp cá, tim đập yếu, phản

xạ có thể xuất hiện trong thời kỳ này, hoạt động của tuỷ sống ở mức tối đa để duytrì các chức năng sinh lý, có thể kéo dài thời kỳ này từ một vài phút đến nửa giờ

Giai đoạn chết lâm sàng: hoạt động của tim, phổi ngừng, thần kinh trungương hoàn toàn bị ức chế Thời gian chết lâm sàng có thể kéo dài 5-6 phút, trongthời gian đó có thể hồi phục được Còn nếu không hồi phục được gọi là chết sinhvật

Giai đoạn chết sinh vật: mọi khả năng hồi phục không còn nữa, rối loạn chủyếu hệ thần kinh trung ương Trong chết sinh vật, các cơ quan, tổ chức trong cơ thểkhông chết cùng một lúc mà trước tiên là hệ thần kinh cao cấp rồi đến tuần hoàn,

hô hấp

Những nguyên nhân chính dẫn đến chết:

Ngừng hoạt động của tim như liệt tim, vỡ tim, tắc mạch

Ngừng hô hấp, liệt trung khu hô hấp do xuất huyết não, thiếu máu hành tuỷ,

bị ngộ độc

3.7 Cơ chế phục hồi sức khoẻ

Sau một quá trình bệnh lý thì cơ thể vật bệnh có thể phục hồi được sức khoẻ.Sức khoẻ chỉ được phục hồi sau khi nguyên nhân gây bệnh ngừng tác động, trạngthái cơ thể khi đó trở lại bình thường, tính hoàn chỉnh và giá trị kinh tế của nó đượcphục hồi Khi yếu tố gây bệnh tác động thì cơ thể luôn luôn có phản ứng bảo vệ haythích ứng Cơ chế này có vai trò quan trọng trong sự phục hồi sức khoẻ

Ví dụ: Yếu tố bệnh nguyên kích thích lên niêm mạc miệng, khi đó cơ thể cóphản ứng tăng tiết nước bọt và dịch nhầy Nếu yếu tố bệnh nguyên tác động vàoniêm mạc mắt thì phản ứng tiết lệ được tăng cường; tác động vào đường hô hấp thìphản ứng ho, hắt hơi; tác động vào đường tiêu hóa sẽ gây nôn

Trong cơ thể xuất hiện phản ứng miễn dịch khi bị nhiễm khuẩn, phản ứnglành vết thương, đông máu khi tổ chức bị tổn thương, rách nát Cơ thể còn có phảnứng bù đắp những cơ quan có từng cặp như thận, phổi, mắt Khi chức năng của mộttrong cặp cơ quan đó bị tổn thương thì chức năng của cơ quan kia sẽ tăng cườnghoạt động nhằm bù đắp lại Riêng trong hệ thống tuần hoàn, khi bị mất máu huyết

áp được khôi phục một cách nhanh chóng do phản ứng co huyết quản, tăng hútnước vào lòng mạch, tăng nhịp tim và hô hấp, tăng hoạt động của các cơ quan tạomáu, hoặc khi hàm lượng oxy trong máu giảm, gây rối loạn trao đổi chất dẫn tới sự

ứ đọng các sản phẩm trao đổi trung gian, các sản phẩm này có toan tính nên làmgiảm lượng kiềm dự trữ trong cơ thể, dẫn tới hiện tượng nhiễm axit, gây rối loạnhoạt động của hệ thống thần kinh trung ương, rối loạn chức năng của các cơ quankhác như tăng hô hấp để nhanh chóng đào thải axit hơi, tăng giữ muối kiềm tại thận

Trang 23

Cơ chế bảo vệ của cơ thể khi bị nhiễm khuẩn là tăng hoạt động của hệ thốnglưới nội mạc, tăng cường việc tạo ra kháng thể, tăng hiện tượng thực bào của cácbạch cầu Qua các giai đoạn của bệnh, cường độ phản ứng bảo vệ cơ thể có thểkhác nhau, có khi mức độ cao, không đồng bộ có hại cho cơ thể như hiện tượng sốt

là phản ứng bảo vệ của cơ thể, nó làm tăng sinh kháng thể, tăng khả năng thực bàocủa bạch cầu nhưng nếu sốt quá cao có thể gây nguy hại đến chức năng của hệ thầnkinh và hệ tuần hoàn

Hệ thống thần kinh trung ương có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ cơ thể vàtrong quá trình khôi phục sức khoẻ Điều đó được chứng minh trong các thí nghiệm

là khi gây mê ức chế vỏ não, các quá trình tăng sinh và tái sinh đều giảm, huyết ápkhôi phục chậm sau khi mất máu, giảm phản ứng miễn dịch

4 TÍNH PHẢN ỨNG CỦA CƠ THỂ VÀ BỆNH LÝ CỦA QUÁ TRÌNH MIỄN DỊCH

4.1 Tính phản ứng của cơ thể

4.1.1 Khái niệm về tính phản ứng của cơ thể

Trước tác động của một kích thích nào đó (gây bệnh, hoặc không gây bệnh),

cơ thể động vật đáp ứng lại bằng một hay nhiều phản ứng Trước một kích thíchnhất định, có loại phản ứng là chung cho nhiều loài, ví dụ: đồng tử co nhỏ lại khiánh sáng đủ cường độ chiếu vào võng mạc; tăng glucoza huyết khi đau đớn Cóloại phản ứng chỉ là chung cho các cá thể trong một loài; và có loại phản ứng của

cá thể (không hoàn toàn giống nhau giữa các cá thể của một loài) Ví dụ, phản ứngchung của mọi người là tăng nhịp tim khi bị stress nhưng có người tăng quá nhiều(quá hồi hộp, lo lắng), ngược lại, có người lại tăng rất ít Nếu nhiều cá thể có chungmột phản ứng trước một kích thích, người ta xếp họ thành nhóm và thành kiểu phảnứng

Đa số các phản ứng in đậm dấu vết di truyền mang tính bẩm sinh nhưngcũng có nhiều phản ứng hình thành trong quá trình sống, chịu ảnh hưởng của tuổi,giới tính, trạng thái thần kinh-nội tiết, môi trường, thời tiết,

Vậy tính phản ứng là tập hợp các đặc điểm phản ứng của cơ thể trước cáckích thích nói chung và trước bệnh nguyên nói riêng Tính phản ứng khác nhau cóthể làm quá trình bệnh sinh ở mỗi cá thể và mỗi nhóm không giống nhau, đưa lạicác kết quả khác nhau (tết, xấu, nặng, nhẹ)

4.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến tính phản ứng

4.1.2.1 Thần kinh

- Trạng thái vỏ não: Nếu vỏ não ở trạng thái hưng phấn, thường tạo ranhững phản ứng mạnh và nếu ức chế thì ngược lại Con vật bị gây mê đáp ứng kémvới các kích thích (tiêm adrenalin, mất máu, ) so với khi nó còn tỉnh

Loại hình thần kinh: loại hình thần kinh mạnh cân bằng thì tính phản ứngmạnh, nhanh chóng; loại hình thần kinh mạnh không cân bằng thì tính phản ứngmạnh nhưng kéo dài; loại hình thần kinh yếu thì tính phản ứng yếu

Vai trò thần kinh thực vật: nếu kích thích thần kinh giao cảm thấy tăng quátrình trao đổi chất và tăng tính phản ứng nói chung đối với protein lạ, vi khuẩn,

Trang 24

hormon Còn nếu kích thích thần kinh phó giao cảm thì sẽ tăng cường việc tạo rakháng thể, tăng phản ứng bạch cầu, tăng khả năng ngăn cản của gan và hệ thốngbạch huyết.

4.1.2.2 Vai trò nội tiết

Các tuyến nội tiết như: tuyến yên, tuyến thượng thận, tuyến giáp trạng,tuyến tuỵ đều ảnh hưởng đến tính phản ứng của cơ thể nhưng chủ yếu là tuyến yên

và vỏ thượng thận

Theo nhà bác học Hans Selye: Bất cứ một tác động mạnh nào tác động vào

cơ thể đều gây ra một chuỗi phản ứng Chuỗi phản ứng này kết hợp với nhau thànhhội chứng chung mà cơ sở hoạt động của nó là các tuyến nội tiết Cụ thể là hom loncủa tuyến yên adrenocorticotropic hormon (ACTH) và vỏ thượng thận Khi bị kíchthích mạnh thì các trung tâm dưới thị tiết ra một số hom lon thần kinh (hay yếu tốgiải phóng), các hormon này được dẫn tới tuyến yên bằng đường máu làm tăng tiếtACTH và cortisol và sau đó tiết STH dẫn đến kích thích tiết ra aldosteron

Vai trò của ACTH và cortisol: có tác dụng chống hiện tượng viêm và chống

dị ứng Chống hiện tượng viêm đặc hiệu hạn chế các phản ứng thực bào, ức chếphát triển các tổ chức liên kết, tổ chức hạt, giảm tính thấm của thành mao mạch,cho nên làm giảm hiện tượng phù nề và tiết dịch Mặt khác người ta thấy nó hạnchế sự hình thành mao mạch tân tạo, giảm viêm đặc hiệu, làm thoái biến các tổchức bạch huyết, làm tan vỡ các tương bào, lympho bào dẫn đến giảm kháng thể

Vai trò của STH (Somatotropic hormon) và aldosteron: có tác dụng đối lậpvới hai nhóm hormon trên STH làm tăng quá trình viêm, kích thích tổ chức liên kếttăng sinh qua đó chống nhiễm trùng, chống hoại tử tổ chức STH làm tăng tổ chứcbạch huyết, tăng tổng hợp globulin và kháng thể Aldosteron chủ yếu điều hoànước và điện giải, ngược lại của cortisol tăng tính viêm, tăng sinh các tổ chức xơnon của tổ chức hạt, phát triển mạnh mao mạch, tăng cường phản ứng thực bào, giữlại ton kali và con natri

4.1.2.3 Lứa tuổi

Động vật non, hệ thần kinh đặc biệt là hệ thần kinh cao cấp chưa hoàn thiệncho nên phản ứng gây rối loạn điều hoà nhiệt rất mạnh, hàng rào miễn dịch chốngnhiễm trùng ở niêm mạc, ở da chưa hoàn chỉnh Động vật non không mẫn cảm vớimột số bệnh và nó được miễn dịch là do được mẹ truyền cho γ-globulin qua nhauthai hoặc qua sữa mẹ, phản ứng thực bào của động vật non yếu

Động vật trưởng thành, tính phản ứng được tăng cường phát triển theo sựphát triển hoàn thiện tổ chức của cơ thể, đặc biệt là của hệ thần kinh và hàng ràobảo vệ của da, của niêm mạc Khả năng sản xuất kháng thể mãnh liệt, tính phảnứng mạnh mẽ điển hình, nhiều khi dữ đội, vết thương mau lành, sức khoẻ nhanhhồi phục

Động vật già yếu, tính phản ứng kém vì hệ thần kinh, hàng rào phòng ngự bịsuy giảm, bệnh tiến triển không rõ rệt, không điển hình, phục hồi chậm, vết thương

Trang 25

4.1.2.4 Yếu tố và môi trường bên ngoài

Tiểu khí hậu chuồng nuôi nhiễm lạnh làm cho sức đề kháng của con vậtgiảm dẫn đến bệnh nhiễm nẫng

- Các hóa chất tác dụng lâu cũng gây thay đổi tính phản ứng

Ví dụ Uống rượu nhiều gây hiện tượng xơ gan, viêm dạ dầy làm cho khảnăng phòng bệnh giảm, chống vi khuẩn kém

Tia phóng xạ làm giảm sức đề kháng, chủ yếu là diệt tế bào gốc ở tuỷxương

Dinh dưỡng: tình trạng dinh dưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến tính phản ứngcủa cơ thể Đói và bệnh dịch đi song song với nhau

Protein là thành phần quan trọng trong khẩu phần ăn của động vật Nếuthiếu protein làm phát sinh ổ nhiễm trùng, nếu thiếu nặng dẫn tới phù, dễ phát sinhbệnh lao

Thiếu vitamin A làm giảm sức đề kháng của niêm mạc, giác mạc gây ra mộtloạt các bệnh như viêm giác mạc, viêm họng, nứt nẻ da

Thiếu vitamin B làm yếu các hoạt động thực bào, ảnh hưởng đến quá trìnhoxy hóa của tế bào, làm cho con vật chậm lớn, giảm tạo máu sinh ra bệnh còi cọc

Vitamin C đầy đủ tăng sức đề kháng, thiếu vitamin C làm giảm sức đềkháng, đặc biệt là trong trường hợp nhiễm khuẩn trong bệnh truyền nhiễm

Vitamin D ảnh hưởng tới sự mất cân bằng khoáng dẫn tới bệnh còi xương,mềm xương

Nói chung dinh dưỡng thiếu biểu hiện các triệu chứng sau: nhiệt độ khôngcao ngay cả khi bệnh cấp tính như cúm, viêm phổi, phản ứng bạch cầu yếu hoặc làkhông có Hiệu giá ngưng kết của các phản ứng huyết thanh học yếu, có khi âmtính Các triệu chứng lâm sàng bên ngoài yếu kém, có thể không nhìn thấy, bệnhtiến triển nặng kéo dài dai dẳng, tỷ lệ chết cao Vì vậy chăm sóc hộ lý dinh dưỡngtết có tính quyết định tính phản ứng trong quá trình bệnh lý

Ngoài ra yếu tố giới tính cũng ảnh hưởng đến cơ thể Trong y học, đàn ônghay mắc bệnh dạ dày, loét hành tá tràng hơn là ở phụ nữ; đàn ông hay bị nhồi máu

cơ tim, u độc ở phổi hơn là ở phụ nữ Ở phụ nữ hay gặp viêm vú, túi mật, u độc ởvú

4.2 Bệnh lý của quá trình miễn dịch

4.2.1 Khái niệm về miễn dịch bệnh lý

Miễn dịch là trạng thái của động vật không mắc phải tác động có hại của visinh vật, trong khi vi sinh vật đó gây bệnh cho các loài vật khác hoặc cho con vậtcùng loài, trong những điều kiện lây lan hay truyền bệnh tương tự Miễn dịch làmột khả năng đề kháng cũng giống như nhiều khả năng đề kháng khác (viêm, sếucủa cơ thể, trong những trường hợp nhất định, phản ứng đề kháng có thể trở thành

có hại cho cơ thể Đó chính là miễn dịch bệnh lý

4.2.2 Đại cương về đáp ứng miễn dịch

Trước sự tấn công của các yếu tố gây bệnh bên ngoài, cơ thể sinh vật có mộtloạt những khả năng đề kháng không đặc hiệu và đặc hiệu Khả năng đề kháng

Trang 26

không đặc hiệu là hàng rào vật chất ngăn cách bên ngoài và bên trong đó là da vàniêm mạc, là các chất tiết như mồ hôi, dịch nhầy, là các tế bào chuyên trách bêntrong cơ thể như các thực bào và các chất thoát đặc biệt gọi là kháng thể không đặchiệu như bổ thể lizin, chất propecdin và opsonin.

Khả năng đề kháng đặc hiệu là những chất thoát gọi là kháng thể đặc hiệu

do cơ thể tổng hợp sẵn hay nó được sản xuất ra dưới tác động của một số chất gọi

ra sẽ kết hợp một cách đặc hiệu với kháng nguyên tương ứng

b) Đặc tính của kháng nguyên

Tính đặc hiệu: Đặc hiệu của kháng nguyên là đặc điểm nhờ đó khángnguyên có thể phản ứng một cách đặc hiệu với kháng thể dịch thể hoặc kháng thể tếbào do kháng nguyên có nhóm quyết định Nhóm quyết định kháng nguyên là phần

bề mặt kháng nguyên có khả năng liên kết một cách đặc hiệu với phân tử kháng thểhoặc tế bào lympho đã mẫn cảm Các axit quan được phân phối trên bề mặt củakháng nguyên hình thành các nhóm quyết định; các nhóm này chi phối các cơ quansinh kháng thể, tạo loại kháng thể đặc hiệu ăn khớp với kháng nguyên đó

Tính lạ của kháng nguyên: Kháng nguyên càng khác xa loài sinh vật nhậnkháng nguyên bao nhiêu thì khả năng sinh kháng thể càng mạnh bấy nhiêu Ví dụ:Lấy huyết thanh người mà tiêm cho bò thì có tính kháng nguyên mạnh hơn là khilấy huyết thanh dê tiêm cho bò

Kháng nguyên ở con vật hoàn toàn khác loài gọi là dị kháng nguyên - đó làkháng nguyên mạnh Những sinh vật cùng một loài có những kháng nguyên khácnhau gọi là đồng kháng nguyên Tuy nhiên, tính chất lạ của kháng nguyên cũng chỉ

là tương đối vì nhiều kháng nguyên có đồng thời trong nhiều sinh vật khác nhau, ví

dụ như kháng nguyên nhóm máu B có ở người và cả ở trong hạt đỗ đỏ nữa, haykháng nguyên H có trên hồng cầu người và hồng cầu lươn

Kháng nguyên có phân tử lượng cao: Thông thường các kháng nguyên cótrọng lượng phân tử lớn và thường đào thải chậm làm tăng khả năng mẫn cảm của

cơ thể Ví dụ: protein của huyết thanh như albumin (TLPT: 60.000), IgG (TtPT:160.000), IgM (TLPT: 90.000), Các phân tử cực lớn như vi rút thuốc lá(17.000.000) là những chất kháng nguyên mạnh

Kháng nguyên phải là những chất mà cơ thể tiêu được nhưng lại tồn tại lâutrong cơ thể Những chất trơ không tiêu được như methyxeluloza không sinh khángthể có lẽ vì cơ thể không nhận diện được cấu trúc của chất này, cho nên khôngthông tin cho tổ chức có thẩm quyền tổng hợp kháng thể Những chất tiêu quá

Trang 27

nhanh như chất có trọng lượng phân tử nhỏ cũng không có khả năng sinh kháng thể

vì chúng được đào thải ra ngoài quá sớm cũng không kịp cho cơ thể nhận diện

c) Số phận của kháng nguyên trong cơ thể vật chủ

Kháng nguyên đưa vào cơ thể vật chủ bằng bất cứ đường nào, trước tiênxuất hiện trong máu rồi đến một số tế bào Trong máu, kháng nguyên hoà tan trongmáu (từ 10-15 phút) sau đó khuếch tán ra khoang gian bào, đậm độ kháng nguyên

hạ nhanh trong máu và kéo dài vài ngày rồi tự phân huỷ từ từ và đột nhiên biến mất

vì kháng thể đã bắt đầu xuất hiện Sau đó thấy kháng nguyên ở tổ chức liên võngnội mạc trong những hạch gần đường xâm nhập của kháng nguyên nhất (ở các hạchbạch huyết ngoại vi nếu là tiêm bắp), rồi đến các nơi khác Như vậy kháng nguyên

đã được tế bào của tổ chức này ăn đi

d) Những yếu tố ảnh hưởng đến tính sinh kháng thể của kháng nguyên

Liều lượng: Trong miễn dịch vi khuẩn, người ta nhận thấy tiêm chủng liềunhỏ và nhiều lần tết hơn là tiêm một lần liều lớn Trong gây miễn dịch ung thư thựcnghiệm lại thấy là nếu đưa các tế bào ung thư vào hoặc quá nhiều hoặc quá ít thìđều không gây được miễn dịch

Đường vào của kháng nguyên: kháng nguyên có thể được đưa vào bằngnhiều đường khác nhau mà vẫn có thể gây được miễn dịch nhưng nó không bị biếntính hoặc huỷ hoại trong khi xâm nhập vào cơ thể vật chủ Các kháng nguyên ởdạng bụi, bột phấn hoa, khói, có thể qua đường hô hấp Vi khuẩn, vi rút có thể qua

da, niêm mạc hô hấp, tiêu hóa

Vai trò của tá chất: Tính kháng nguyên của một chất có thể được tăng cườngnếu kết hợp nó với một tá chất Cơ chế tác dụng chưa rõ ràng nhưng có thể tá chấtgây viêm tại chỗ tiêm làm cho kháng nguyên lâu tiêu và đặc biệt nó kích thíchmạnh cơ quan sinh kháng thể Tá chất thường là những chất trơ khó tiêu: dầupHrafin, keo phèn

4.2.2.2 Kháng thể

Khái niệm: Kháng thể là những chất thuộc loại cầu đàn mạch (globulin) đặcbiệt xuất hiện trong huyết thanh khi một kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể, cơ thểphản ứng lại bằng cách sinh ra kháng thể chống lại kháng nguyên đó, làm chokháng nguyên mất tác dụng gây bệnh Tính chất đặc biệt của kháng thể là kết hợpvới kháng nguyên đã sinh ra nó

Trước sự xâm nhập của kháng nguyên vào cơ thể, vật chủ có 2 cách đáp ứng:

- Đáp ứng miễn dịch dịch thể: bằng cách tổng hợp các kháng thể hoà tan tronghuyết thanh

Đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào tổng hợp nên kháng thể đặc hiệu,các kháng thể này liên kết chặt chẽ trên bề mặt của tế bào đã sản xuất ra nó, khônghoà tan trong huyết thanh gọi là kháng thể cố định (kháng nguyên tế bào)

a) Kháng thể dịch thể

Định nghĩa: Kháng thể dịch thể có thể hiểu như tất cả những chất dịch giúpsinh vật chống lại các yếu tố có hại xâm nhập vào cơ thể

Trang 28

Kháng thể tự nhiên (kháng thể không đặc hiệu) có sẵn trong huyết thanh: α,

β, lyzin, propecdin, hệ thống bổ thể (có 9 loại từ C1 đến C9) để diệt khuẩn

Kháng thể đặc hiệu bản chất của nó chính là γ-globulin Globulin miễn dịch

"Ig" (Immunoglobulin) do quá trình miễn dịch tạo ra Theo định nghĩa quốc tếOMS-1994 "Các globulin miễn dịch là tất cả các protein huyết thanh và proteinnước tiểu có tính chất kháng nguyên và cấu trúc giống như globulin thì được kýhiệu viết tắt là Ig" Như vậy globulin miễn dịch bao gồm các loại kháng thể cónhững protein có cấu trúc giống như globulin miễn dịch mà đến nay chưa được biếtrõ

Chuỗi nặng Gamma IgG

Chuỗi nặng Alpha IgA

Chuỗi nặng Muy IgM

Chuỗi nặng Delta IgD

Chuỗi nặng Epsilon IgE

Vị trí kết hợp kháng thể với kháng nguyên nằm ở giữa chuỗi nặng và chuỗinhẹ ở đầu tận cùng NH2 Như vậy, trên một phân tử globulin miễn dịch có hai vị tríkết hợp kháng nguyên Thường khi kết hợp với kháng nguyên thì hai đầu tận cùng

đó mở rộng ra như hai cánh tay để một đơn vị kháng thể có thể kết hợp với hai đơn

vị kháng nguyên Đó là trường hợp kháng thể hoàn toàn tức đa hóa trị (như IgM)

Do kháng nguyên cũng có nhiều trung tâm hoạt động cho nên khi kết hợp này sẽbắt vào nhau mà thành một màng lưới làm cho sự kết hợp dễ lắng đọng trong dungmôi dưới hình thức lên bông, kết tủa, vẩn mây

Khi hai cánh không mở rộng làm cho một đơn vị kháng thể chỉ có thể kếthợp với 1 đơn vị kháng nguyên thì gọi là kháng thể không hoàn toàn hay kháng thểđơn hóa trị Cho nên kết hợp KN-KT sẽ không đủ lớn để lắng đọng

- Đặc điểm và phân loại kháng thể

Kháng thể hay globulin miễn dịch là những thành phần của thoát huyếtthanh nên dễ bị nhiệt độ (700C), các chất axit, kiềm và men phá huỷ

Trang 29

IgG: Phấn lớn kháng thể là IgG, chúng có hoạt động hữu ích là trung hoàđộc tố, tạo phản ứng ngưng kết khi gặp kháng nguyên tương ứng, phản ứngopsonin hóa và khi kết hợp với bổ thể thì làm tan vi khuẩn Hoạt động gây tổnthương cho sinh vật là tạo phức hợp kháng nguyên-kháng thể và đọng lại tại các tổchức và gây tổn thương tại nơi đó.

IgA: chủ yếu nằm trong thành phần của các dịch tiết như sữa đầu, nước bọt,dịch ruột, vì các hạch ngoại tiết chứa rất nhiều tương bào sản xuất IgA Kháng thểnày có khả năng trung hoà độc tố, tạo phản ứng ngưng kết và opsonin hóa, giúp cơthể chống lại các kháng nguyên có ở bề mặt các niêm mạc và giữ một vai trò đáng

kể trong miễn dịch tại chỗ

IgM: là loại kháng thể hình thành sớm, thường có tỷ lệ cao khi IgG thấp.Loại kháng thể này có hoạt động hữu ích và gây tổn thương gần giống như IgG

IgE: là loại kháng thể thấy tăng trong các bệnh quá mẫn như hen, nổi mềđay Kháng thể này tác động làm thay đổi tính thấm của thành mao mạch IgD:cho đến nay chưa biết rõ tác dụng và đang được tiếp tục nghiên cứu b) Kháng thể

cố định (kháng thể tế bào)

Kháng thể cố định là những kháng thể được gắn ngay trên bề mặt tế bàolympho T sản xuất ra chúng Những tế bào lympho đi từ tuỷ xương đến tuyến ứcđược huấn luyện thành tế bào lympho T Hiện nay người ta chưa thể tách loạikháng thể này ra khỏi tế bào nên chưa biết được cấu trúc của nó

Khi gây mẫn cảm cho động vật bằng kháng nguyên tạo miễn dịch cố định(như mảnh da ghép, vi khuẩn lao) thì một nhóm tế bào mới sinh sản từ tế bào tuyến

ức (T) được hình thành - người ta gọi chúng là tế bào effector Sau khi mẫn cảmkháng nguyên 1 -2 ngày, các tế bào này xuất hiện ở vùng tuyến ức và các cơ quan1ympho ngoại biên như lách, hạch (đặc biệt tập trung nhiều ở vùng tuỷ đỏ của lách)

- đó là những effector đặc hiệu

Mặt khác trong quá trình miễn dịch, một số thành phần của kháng thể và bổthể cũng có tác dụng hoạt hóa một số tế bào đơn nhân, đại thực bào, tế bào Kuppfer.Các tế bào này cũng trở thành hoạt động nhưng không do sự kích thích của khángnguyên, người ta gọi chúng là nhóm tế bào effector không đặc hiệu

c) Hệ thống tổng hợp kháng thể và sự hình thành kháng thể - Hệ thống miễn dịch

Hiện nay, người ta biết rõ là mọi tế bào tổ chức lympho đều bắt nguồn từloại tế bào gốc của tuỷ xương gọi là tế bào M Trong thời kỳ bào thai, những tế bàogốc M (muclocyte) sẽ đến trú ngụ tại hai tuyến ngoại vi: tuyến ức và tuyến BursaFabricius ở gia cầm (còn ở các động vật có vú thì có lẽ ở những tuyến tương đươngnhư mảng Peyer ở ruột và ruột thừa, amidan )

Loại tế bào ở tuyến ức đi ra sẽ đến cư trú tại vùng cận vỏ của các hạch ngoạivi: đó là những tế bào T vì chúng phụ thuộc vào tuyến ức Nếu cắt bỏ tuyến đó,quần thể tế bào T này sẽ giảm rất rõ rệt (Miller, 1961) và mọi đáp ứng miễn dịchqua trung gian tế bào sẽ mất hết (như phản ứng loại mảnh ghép dị đen) Nếu đem

Trang 30

tuyến ức đồng tiền ghép lại cho con vật đã cắt bỏ tuyến ấy thì số lượng tế bào T lạitrở lại như cũ cũng như các đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào.

Các tế bào lympho T (chữ T là chữ viết tắt của chữ Thymus có nghĩa làtuyến ức) trong khi di hành trong máu, nếu gặp kháng nguyên trực tiếp hoặc quađại thực bào trình diện kháng nguyên thì nó sẽ trở thành quần thể tế bào lymphô Tmẫn cảm và khi trở về hạch lân cận gần nhất sẽ biệt hóa thành các nguyên bào lớn,phân chia thành một quần thể lympno mới, đó là những tế bào lympho có hoạt tínhmiễn dịch Một số tế bào lympho này lại có thể rời hạch đầu tiên này để đến cáchạch khác trong cơ thể và ở đó lại sinh ra những quần thể tế bào lympho có hoạttính miễn dịch nữa Sau cùng, một số tế bào lympho có hoạt tính miễn dịch sẽ lưuhành trong máu ngoại vi, sẽ đến chỗ có kháng nguyên nếu còn, để tạo nên đáp ứngmiễn dịch qua trung gian tế bào Tại chỗ đó, sự kết hợp kháng nguyên với tế bào T

có hoạt tính miễn dịch sẽ dẫn đến sự tiêu diệt kháng nguyên nhờ một loạt nhữngchất do các tế bào T này tiết ra, tên chung gọi là lymphôkin đóng vai trò quan trọngtrong hiện tượng di ứng chậm

Loại tế bào ở túi Fabricius vào máu ngoại vi thì đến khu trú tại vỏ của hạch

và gọi chung là tế bào B (B là chữ viết tắt của chữ Bursa có nghĩa là túi) vì nó phụthuộc vào túi Fabricius Ở gia cầm, nếu cắt bỏ túi này, lượng tế bào B sẽ giảm mất,vùng vỏ hạch không có tế bào và kháng thể dịch thể trong huyết thanh giảm rõ rệt,đáp ứng miễn dịch dịch thể không có (Gạch, 1953) Kháng nguyên khi xâm nhậpvào cơ thể, bị tế bào đại thực bào ăn, rồi di chuyển đến hạch gần nhất, ở đây các tếbào lympho B vây lấy, tăng sinh phát triển thành những tế bào ưa pyronin và tươngbào Sự phát triển tổ chức này mạnh nhất khi kháng thể được sản xuất cao nhất

Như vậy là rõ ràng những tế bào lympho B và hình thái biệt hóa cao nhấtcủa chúng là những tương bào, là loại tế bào tổng hợp kháng thể dịch thể và chịutrách nhiệm về đáp ứng miễn dịch dịch thể Ngoài ra, hệ thống tế bào lympho T ítnhiều đóng vai trò hỗ trợ cho hệ thống B, vì trong thí nghiệm cắt tuyến ức, khôngnhững dòng T tuyệt sản mà cả dòng B cũng giảm sút hoạt động Kháng thể dịch thểkhi gặp kháng nguyên sẽ sinh ra phức hợp kháng nguyên-kháng thể có tác dụngtrung hoà kháng nguyên, tiêu diệt nó và đồng thời kích thích một số tế bào khácnhư mastocyte, bạch cầu ái kiềm tiết ra các hóa chất trung gian như histamin,serotonin tạo nên những phản ứng thấy trong đáp ứng miễn dịch dịch thể (phảnvệ )

- Sự hình thành kháng thể

Trước tác dụng kích thích của kháng nguyên, cơ thể sản xuất kháng thể ngaysau mũi tiêm đầu tiên Người ta có thể thấy được kháng thể dịch thể xuất hiện trongmáu vào ngày thứ 4-5 sau khi tiêm kháng nguyên Đối với đáp ứng miễn dịch quatrung gian tế bào thì theo đa số các tác giả, phản ứng xuất hiện sớm hơn, là vàongày thứ 3

Tỷ lệ kháng thể tăng dần vào tuần thứ ba, sau đó đậm độ kháng thể khôngtăng và có thể giảm dần Nồng độ kháng thể trong máu giảm dần thay đổi tuỳ theo

Trang 31

loại kháng nguyên Nếu sau ba tuần lại dùng kháng nguyên đó kích thích lại thìkháng thể được tổng hợp nhanh hơn và số lượng cao hơn.

d) Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp kháng thể

Ngoài những yếu tố thuộc về kháng nguyên đã kể trên (liều lượng, đườngvào, tá chất), có một số yếu tố sau đây ảnh hưởng rõ rệt đến việc tổng hợp khángthể: Phản ứng thứ phát (hồi tưởng hay nhớ)

Tiêm nhắc lại kháng nguyên cho một con vật đã tiêm một lần kháng nguyên

đó rồi thì tỷ lệ kháng thể sẽ tăng sớm và nhiều hơn là lần đầu (có thể gấp đến hơn

100 lần)

Cường độ của phản ứng lần hai tăng theo thời gian kể từ mũi tiêm thứ nhất,đến thời hạn tối đa là khoảng 30 ngày trên thỏ và chuột Phản ứng kéo dài từ 100đến 300 ngày Phản ứng nhớ này có thể tồn tại nhiều năm sau mũi tiêm thứ nhất

Đó là nhờ ở những tế bào lympho T hoặc B, sau khi tiếp xúc với kháng nguyên, trởthành những tế bào ký ức để khi kháng nguyên vào lần sau thì sẽ lập tức tăng sinhthành dòng tế bào có hoạt tính miễn dịch đông đảo gây nên phản ứng nhớ ấy

- Mẫn cảm với nhiều kháng nguyên

Nếu tiêm nhiều kháng nguyên đồng thời thì nhiều loại kháng thể tương ứngcũng đồng thời được tạo ra với mức độ ngang bằng hoặc nhiều hơn khi tiêm khángnguyên từng loại Đó là lý do của việc dùng những vacxin đa giá Tuy nhiên, nếucùng một lúc tiêm kháng nguyên liều mạnh với kháng nguyên khác liều nhẹ thì cóthể chỉ có kháng thể tương ứng với kháng nguyên mạnh mà thôi (cạnh tranh khángnguyên) Hiện tượng ức chế này thường xảy ra nếu tính hóa học của các khángnguyên gần nhau

- Dinh dưỡng và thần kinh nội tiết

Sự tổng hợp thoát nói chung và kháng thể nói riêng, bị giảm sút khi thiếuthoát trong chế độ ăn như đói lâu ngày, trong rối loạn hấp thu Trong thực nghiệmthấy thiếu vitamin B và C cũng làm giảm kháng thể

Như trên đã nói, tính phản ứng của con vật quyết định sự hình thành khángthể nhiều hay ít, lâu hay chóng, mạnh hay yếu; mà nói đến tính phản ứng là nói mộtcách tổng hợp về hoạt động thần kinh nội tiết và tính di truyền của sinh vật Riêng

về nội tiết thì đến nay, người ta biết khá rõ về vai trò ức chế miễn dịch của trụctuyến yên-thượng thận Hon non corticoit tác động lên tế bào đang sinh sản như tếbào lympho T, nó có ảnh hưởng làm ngừng quá trình sinh tổng hợp kháng thể, làmngừng quá trình phóng thích ra chất lymphokin

Trái lại aldosteron kích thích đồng hóa protein tăng sản xuất ra kháng thể,

mà người ta thấy phản ứng sinh miễn dịch là phản ứng sinh học có liên quan đếntính di truyền Cho nên trong thực nghiệm cũng có thể tạo được những gia súc sinhkháng thể mạnh bằng cách chọn lọc những gia súc có khả năng sinh miễn dịch cao

để làm giống

- Những yếu tố bên ngoài khác

Những chất thuốc chống ung thư như thuốc chống phân bào, thuốc alkyl hóa,tia phóng xạ đều có tác dụng ức chế miễn dịch làm giảm tổng hợp kháng thể

Trang 32

Hiện nay người ta thấy có một số loại vi rút chống lại sự miễn dịch như virút HIV người, vi rút IBD gây bệnh Gumboro ở gia cầm Ngoài ra, người ta cũngthấy chất Prostaglandin ức chế tế bào lympho T và B tổng hợp kháng thể.

Bên cạnh đó, một số chất gây ức chế tổ chức liên võng nội mô như các chấtmàu trung tính, cacbon keo cũng có tác dụng kìm hãm quá trình tổng hợp khángthể, có lẽ thông qua việc ức chế các đại thực bào

Những giả thuyết về sinh tổng hợp kháng thể

Thuyết thông tin hay thuyết khuôn

Do Breinl và Haurowitz (1930) đề xướng và nhiều nhà nghiên cứu về sauphát triển thêm như Alexander (1931), Mudd (1932), PHuling (1940), Bumett vàFenner (1949), cho rằng kháng nguyên có tác dụng đối với các tế bào có hoạt tínhmiễn dịch như là một cái khuôn và các kháng thể sẽ được sản xuất theo kiểu cáchcủa khuôn đó

Ban đầu, giả thuyết "khuôn trực tiếp" được đề ra cho rằng kháng nguyên vàonằm trong tế bào lymphô như là một cái khuôn mà phân tử globulin phải đến lấymẫu ở đó Song giả thuyết đó không giải thích được nhiều hiện tượng như phảnứng nhớ, dung thứ và tê liệt miễn dịch cho nên năm 1949, Bumett và Fenner lầnđầu tiên đưa ra thuyết khuôn gián tiếp cho rằng kháng nguyên là một yếu tố bênngoài gây nên sự tổng hợp một enzym thích nghi, enzym sẽ xúc tác sự hình thànhcác phân tử kháng thể theo khuôn khổ của kháng nguyên

- Thuyết chọn lọc

Cho rằng kháng thể đã sẵn có trong cơ thể sinh vật đối với bất kỳ khángnguyên nào có trong thiên nhiên hay do con người sau này tổng hợp ra và khikháng nguyên đột nhập vào trong cơ thể thì sẽ kết hợp với kháng thể tương ứnglàm tăng cường quá trình sinh tổng hợp kháng thể đã có sẵn

Năm 1964, Bumett đưa ra giả thuyết "chọn lọc dòng tế bào" cho rằng trong

mô tuyến ức gồm hơn 10.000 tế bào khác nhau, mỗi tế bào tượng trưng cho mộtdòng về sau này và có khả năng tiềm tàng đổi thành tương bào sản xuất ra một loạikháng thể Số dòng đủ để sinh ra mọi loại kháng thể đối với mọi loại kháng nguyên

có thể có (tự kháng nguyên, đồng kháng nguyên và dị kháng nguyên) Riêng đốivới kháng nguyên luôn luôn có mặt với một đậm độ cao như các kháng nguyên củabản thân thì chúng sẽ phá huỷ hay ức chế các tế bào tương ứng ngay từ khi còn làbào thai, cho nên cơ thể bình thường không sinh kháng thể chống các tự khángnguyên Những dòng tế bào ấy được mệnh danh là những dòng cấm Thuyết chọnlọc dòng giải thích được nhiều hiện tượng miễn dịch như dung thứ miễn dịch, bệnh

tự miễn dịch, không có gamma-globulin trong máu Song vô lý ở chỗ không thiênnhiên nào có thể dự đoán được hết những kháng nguyên mà con người đã tổng hợpnên

Sau này Szilard cho rằng ADN trong mỗi tế bào có khả năng tạo ra mọi loạithoát (khoảng 30 vạn loại), mỗi thoát được ký hiệu trên một đen của chuỗi ADN

Trang 33

tế bào có tác dụng giải ức chế cho một đến tương ứng và đen được tự do ấy sẽquyết định tổng hợp kháng thể đặc hiệu tương ứng.

Gần đây những thành tựu nghiên cứu về cấu trúc globulin miễn dịch chothấy, trong các chuỗi đa peptit hình thành chuỗi nặng cũng như chuỗi nhẹ đềưcómột phần tận cùng NH2 rất thay đổi về trình tự các axit quan, phần còn lại ít thayđổi, đặc biệt chính phần hay thay đổi này lại là chỗ kháng thể kết hợp đặc hiệu vớikháng nguyên Do đó, nhiều tác giả đã cho rằng những tế bào sinh kháng thể đềumang hai hoặc ba đến ấn định chương trình tổng hợp một kiểu globulin miễn dịchnào đó nhất định ADN của các đen đó bền vững và không bị kháng nguyên làmbiến đổi Nhưng trong quá trình phân bào, các đen có thể xảy ra những biến đổi bảnthân Những biến đổi ở các giai đoạn nucleotit ấy do trao đổi chéo gây nên, có thểtạo nên những thay đổi thứ tự các axit quan trong phần thay đổi của các chuỗi Nhưvậy có thể nói, tế bào mầm nguyên thuỷ chỉ được ấn định chương trình để sản xuấtglobulin miễn dịch theo một quá trình bình thường như sản xuất các loại proteinkhác mà thôi nhưng sự trao đổi chéo giữa các bên trong phân bào ở thời kỳ phôisinh đã sản xuất ra rất nhiều các tế bào lympho có khả năng tổng hợp nhữngglobulin miễn dịch tương tự, chỉ khác là ở chỗ có những đoạn axit quản khônggiống nhau đã được thích nghi với những kháng nguyên khác nhau

4.2.2.3 Bổ thể

Dù không phải do đáp ứng miễn dịch sinh ra nhưng bồ thể giữ vai trò quantrọng trong phản ứng miễn dịch, vì nó kết hợp với nhiều hệ thống khángnguyên-kháng thể và giúp cho việc tiêu diệt kháng nguyên tốt hơn, nhanh hơn Kýhiệu bổ thể là C, bổ thể là một phức hợp dịch thể không đặc hiệu, có tự nhiên trong

cơ thể Đó là một hệ thống gồm chín thứ men từ C1 đến C9, tác dụng dây truyềntheo thứ tự 1-2-3-4-5-6-7-8-9

Khi bổ thể liên kết với phức hợp kháng nguyên-kháng thể thì phát huy mộtloạt những tác dụng sinh học của nó:

Tiêu kháng nguyên đã bị gán kháng thể đặc hiệu, nhất là nếu kháng nguyên

đó là tế bào Lần đầu tiên, người ta phát hiện tác dụng này đối với hồng cầu Khitrộn hồng cầu cừu với kháng thể chống hồng cầu cừu (còn gọi là dung huyết lố) thìchỉ có hiện tượng ngưng kết mà không có tan máu Nhưng nếu đem cho thêm bổthể vào thì màng hồng cầu sẽ bị bổ thể chọc thủng, huyết sắc tố chảy ra ngoài

Chuẩn bị cho hiện tượng thực bào: một phức hợp kháng nguyên-kháng thểkết hợp bổ thể dễ được các tế bào như bạch cầu đa nhân trung tính, đại thực bào

ăn đi hơn là không có bổ thể Ngoài ra, sự hoạt hóa hệ thống bổ thể kéo theo hoạthóa những hệ thống đông máu và hệ thống khăn huyết tương làm tăng cường hoạtđộng thực bào

Sự kết hợp bổ thể vào kháng thể làm tăng cường quá trình liên hợp một sốkháng nguyên tức là đẩy mạnh sự liên kết kháng nguyên-kháng thể còn tự do trongmôi trường, đặc biệt hiện tượng kết dính miễn dịch được tăng cường

4.2.2.4 Sự kết hợp kháng nguyên và kháng thể

Nó là phản ứng cơ bản của quá trình miễn dịch

Trang 34

Cơ chế kết hợp: khi đem kháng thể trộn cùng với kháng nguyên đặc hiệutương ứng thì hai thứ sẽ kết hợp với nhau, nhiều khi có thể nhìn thấy được bằngmột thường dưới hình thức những hiện tượng như lên bông, kết tủa, ngưng kết.

Trong trường hợp khi kháng nguyên-kháng thể kết hợp rồi mà nó lại hoà tanthì có thể dùng những biện pháp gián tiếp như theo dõi sự tiêu thụ bổ thể, hay hấpthu kháng nguyên hoặc kháng thể, trên mặt những hạt nhỏ (hồng cầu, hạtcolodion ) lúc đó kháng thể hoặc kháng nguyên sẽ ngưng tụ những hạt này Cònđối với kháng thể cố định thì người ta có thể phát hiện được bằng phản ứng quámẫn: phản ứng quá mẫn nội bì

Kết quả của sự kết hợp kháng nguyên-kháng thể thực chất nó là một phảnứng bảo vệ bởi vì do phản ứng này mà kháng nguyên mất tính chất lý hóa và sinhvật của nó

Nếu kháng nguyên là vi khuẩn, vi rút thì kháng thể sẽ ngưng tụ nó lại làmcho nó không sinh sôi nẩy nở hoặc làm cho nó bị dung giải bởi tác động của bổ thểhoặc nó bị tiêu diệt bởi đại thực bào

Nếu kháng nguyên là độc tố hay thoát lạ thì kháng thể sẽ kết tủa chúng lạilàm mất tác dụng độc, chất tủa bị tiêu diệt Do mặt tốt này mà con người đã ứngdụng phản ứng miễn dịch trong công tác phòng và chữa bệnh

Nhưng phản ứng kết hợp kháng nguyên-kháng thể đôi khi nó làm xuất hiệnmột loạt các phản ứng khác gậy hại cho cơ thể

Ví dụ: viêm đặc hiệu, rối loạn vận mạch, co thắt cơ trơn, tăng sinh tế bào.Những phản ứng này về cơ bản mang tính chất bảo vệ nhưng đôi khi quá mạnh lạitrở lên có hại cho cơ thể

Phản ứng kết hợp kháng nguyên-kháng thể nó cũng phóng thích ra các chấttrung gian có hoạt tính sinh lý, tuỳ theo kháng thể kết hợp với kháng nguyên làkháng thể dịch thể hay kháng thể cố định

Các chất trung gian của kháng thể dịch thể: Khi kháng nguyên kết hợp vớikháng thể dịch thể đầu tiên là nó phóng thích ra một men tiêu đạm diamin-oxydaza,men này làm cho một số chất trong tế bào phóng thích vào cơ thể gây ra hiện tượngbệnh lý: Histamin được tế bào mastocyte và bạch cầu ái kiềm tiết ra có tác dụngtăng tính thấm mao mạch và co cơ trơn Serotonin do tiểu cầu tiết ra làm co cơ trơn,tăng tính thấm mao quản

SRS-A (Slow reacting substance of anaphylaxis) do các tổ chức phổi tiết ra

có tác dụng như histamin nhưng chậm hơn

Các khăn huyết tương chủ yếu là bradykinin, kallikinin do các men tiêu đạmnhư plasmin, trypsin chuyển từ các globulin huyết tương thành Chúng có tác dụnglàm tăng sức thấm mao quản tức giãn mạch

Các chất trung gian của kháng thể cố định: khi kháng nguyên gây đáp ứngmiễn dịch qua trung gian tế bào thì các kháng thể được sản xuất ra nằm ngay trên

bề mặt của tế hào lympho T đó là các kháng thể cố định Nếu những kháng thể cốđịnh này gặp những kháng nguyên lần sau thì phản ứng kết hợp kháng

Trang 35

một số chất có hoạt tính sinh lý gọi chung là lymphôkin mà có thể kể một số chínhsau: Chất chuyển dạng lympho bào LTF (lymphoblastic transforming factor) làmcho tế bào lympho nhỏ thành nguyên bào và sinh sôi nẩy nở thêm ra Chất ức chếđại thực bào MIF (macrophage inhibitor factor) làm cho đại thực bào không đi rakhỏi được chỗ kết hợp kháng nguyên-kháng thể Chất hoạt hóa đại thực bào MAF(macrophage activator factor) kích thích tế bào đại thực bào tăng hoạt động Nhữnghóa chất trung gian của kháng thể dịch thể cũng như lymphokin, bản thân làm tăngtuần hoàn tại chỗ và tập trung tại đó các khả năng bảo vệ cơ thể (đại thực bào, đôngmáu ) nhằm nhanh chóng tiêu và loại kháng nguyên ra khỏi cơ thể Song phản ứngbảo vệ đó nhiều khi cũng làm cho cơ thể khó chịu, đôi khi nguy hiểm nữa.

4.2.3 Miễn dịch bệnh lý đại cương

Miễn dịch bệnh lý bao gồm những biểu hiện bệnh lý của kết hợp khángnguyên-kháng thể (còn gọi là dị ứng học) và những rối loạn quá trình sản xuấtkháng thể

4.2.3.1 Biểu hiện bệnh lý của kết hợp kháng nguồn - kháng thể (hiện tượng quá mẫn)

Trong phản ứng kết hợp kháng nguyên-kháng thể không phải luôn luônmang tính chất bảo vệ mà nhiều khi còn biểu hiện có hại là chính Trạng thái đóđược gọi là trạng thái quá mẫn

Trong thực nghiệm cũng như trong lâm sàng, trạng thái quá mẫn thườngthông qua các giai đoạn:

- Giai đoạn mẫn cảm: tức là lúc cơ thể nhận liều mẫn cảm cho đến lúc cơ thểnhận liều phát hiện; thường từ ngày thứ bảy trở đi sau khi nhận liều mẫn cảm

Giai đoạn quá mẫn: Sau khi nhận liều phát hiện có thể xảy ra ngay gọi làquá mẫn nhanh khi là kháng thể dịch thể, có thể xảy ra chậm sau 2-3 ngày gọi làquá mẫn chậm khi là kháng thể cố định

Giai đoạn 3 : gọi là giai đoạn giải mẫn cảm, là lúc kháng nguyên mất tácdụng gây rối loạn

a) Quá mẫn tức khắc

Tuỳ theo loại kháng thể dịch thể mà có thể có những hiện tượng quá mẫnkhác nhau đi từ phản ứng cục bộ đến những biểu hiện toàn thân Các tổn thương ở

tổ chức cũng có nhiều kiểu khác nhau tuỳ thuộc vào bản chất lý học của kháng thể

và vào nơi xảy ra phản ứng Kết hợp kháng nguyên-kháng thể dịch thể tạo nên phảnứng quá mẫn nhanh đều có một số những đặc điểm chung sau đây:

Phản ứng xảy ra nhanh sau khi tiêm liều kháng nguyên phát hiện (thời gian

Có thể có những hiện tượng quá mẫn nhanh như sau:

* Hiện tượng Arthus (sốc phản vệ cục bộ)

Trang 36

Đó là phản vệ nhanh tại chỗ do Arthus tìm ra (1905), biểu hiện viêm cáctiểu động mạch (vasculitis), trong phản ứng này kháng thể lưu động chủ yếu là IgE

và IgM và nó cũng có sự tham gia của bổ thể

Trong thực nghiệm: nếu đem tiêm huyết thanh ngựa cho thỏ dưới da nhiềulần, cách nhau 5-6 ngày thì từ mũi tiêm thứ bốn, chỉ sau 15 phút đến vài giờ là bắtđầu có phản ứng tại chỗ tiêm như viêm đỏ, phù nề, nhiều khi có kèm theo xuấthuyết và hoại tử Về mặt giải phẫu bệnh thì có viêm huyết quản, thâm nhiễm bạchcầu đa nhân trung tính Cơ chế sinh bệnh của hiện tượng này là do kháng nguyên

có trọng lượng phân tử lớn chưa khuếch tán vào trong lòng mạch kịp đã gặp khángthể ngay trong gian bào; phức hợp kháng nguyên-kháng thể này hoạt hóa yếu tố C3của bổ thể làm cho hệ thống đông máu và hệ thống khăn hoạt động tạo nên một ổviêm Bạch cầu đa nhân do viêm sẽ phóng thích ra các men gây nên tổn thươnghuyết quản

* Sốc phản vệ, bệnh huyết thanh và các trạng thái quá mẫn khác

Sốc phản vệ có thể tạo thành trong thực nghiệm khi người ta tiêm tĩnh mạchcho động vật một loại protein lạ (lòng trắng trứng, huyết thanh khác loại) gây chocon vật chết Sốc phản vệ được nhà khoa học Portier và Richet mô tả năm 1902 khitiêm tinh chất của một con hến biển cho chó lần hai, sau lần tiêm thứ nhất khoảng14-15 ngày thì gây chết chứ không bảo vệ được

Biểu hiện của sốc phản vệ là có sự khác nhau ở nhiều loài động vật, màphản ứng cơ bản của sốc là sự co thắt cơ trơn ở các bộ phận nội tạng

Ví dụ: ở chuột lang thì thấy con vật khó thở, xanh tím, giẫy giụa rồi chết,khi mổ thấy nhu mô phổi không xẹp do phế quản bị co thắt Ở chó co thắt cơ trơn Ởtĩnh mạch đặc biệt là tĩnh mạch gan, cho nên chó đau, tụ máu ở gan, giảm huyết áp

ở các cơ quan khác dẫn tới chết Còn ở ngựa, mèo, chuột nhắt biểu hiện giốngchuột lang Ở chuột cống tăng tính thấm thành mạch dẫn tới xuất huyết, ở thỏ tụmáu ở động mạch phổi giãn tâm thất phải

Khi quan sát trên kính hiển vi các phức hợp kháng nguyên - kháng thể lắngđọng trên mao mạch phổi, kéo theo sự tụ tập các bạch cầu, các tiểu cầu làm tănghuyết áp phổi hình thành các huyết khối làm cho máu không lưu thông được và ứlại dẫn tới lấp quản và chết

người có một trạng thái bệnh lý tương tự gọi là bệnh huyết thanh, gặp khitiêm huyết thanh điều trị dị loại (huyết thanh ngựa chống uốn ván, chống bạchhầu ) Tất nhiên bệnh huyết thanh điển hình xảy ra ở những người đã dùng huyếtthanh điều trị dị loại một lần trước rồi, trong cơ thể đã sẵn có kháng thể chống lại.Triệu chứng xảy ra mạnh, rất cấp tính và bệnh nhân có thể chết do sốc Nhưng cóloại bệnh huyết thanh xảy ra ngay khi tiêm huyết thanh điều trị lần đầu tiên, triệuchứng thường xuất hiện vào ngày thứ 6 sau khi tiêm với nổi mẩn, phát ban, đaukhớp, đái ra albumin

Dị ứng nhanh là hiện tượng quá mẫn tức khắc, thường chỉ xảy ra trên ngườimột cách bất thường Kháng nguyên là loại yếu và xâm nhập theo đường tự nhiên

Trang 37

(hô hấp, tiêu hóa ) và từ từ Biểu hiện bệnh lý thường co thắt cơ trơn và hội chứngviêm.

Về lâm sàng, dị ứng nhanh bao gồm rất nhiều bệnh ở các cơ quan khác nhau

Có thể kể một số trường hợp sau:

Ở mắt: phù mi mắt dị ứng, phù võng mạc, viêm giác mạc dị ứng

Ở mũi: viêm mũi dị ứng có phù niêm mạc tiết dịch chứa nhiều bạch cầu ưaaxit, niêm mạc quá sản, sần sùi, nếu có nhiễm khuẩn phụ thì sẽ chảy mủ

Ở tai: viêm tai, viêm tiền đình dị ứng

Ở phổi: hen phế quản (co thắt phế quản, phù và tiết dịch làm hẹp thêm lòngphế quản gây tiếng rên, khó thở, xanh tím, thường xảy ra sớm trước 20 tuổi)

Ở da: viêm da dị ứng, nổi mề đay, lở sơn

Ở đường tiêu hóa: viêm mồm, viêm dạ dầy, ruột, nôn theo chu kỳ

Ở khớp: viêm phù khớp, các thể thoái hóa khớp

Ở thần kinh: nhức đầu kiểu bán thiên đầu thống, co giật thể động kinh, sốtmùa (sốt theo mùa vì có lẽ kháng nguyên là phấn hoa, phù niêm mạc mắt, mũi,thâm nhiễm bạch cầu ưa axit, tăng tiết dịch)

Ở máu: ban xuất huyết, giảm tiểu cầu, bạch cầu

Về cơ chế của sốc phản vệ cũng như bệnh huyết thành hay các trạng thái dịứng nhanh là do kết hợp kháng nguyên-kháng thể (IgG, IgM và IgE) Tuỳ theo loạikháng thể nào 'à chủ yếu mà ta có thể có bệnh cảnh lâm sàng khác nhau IgE có áitính mạnh với tế bào nên thường bám vào các tế bào chung quanh các cơ trơn chonên nếu kháng thể này chiếm địa vị trội thì các phản ứng xảy ra ở mặt tế bào và cácbiểu hiện có tính chất phản vệ rõ rệt (co thắt cơ trơn, tăng tiết dịch ) Nếu là cáckháng thể IgG, IgM thì chủ yếu hình thành những phức hợp miễn dịch tuần hoàntrong máu rồi lắng đọng ở một tổ chức, cơ quan nào đó tạo nên một trạng thái bệnh

lý mà hiện này các tác giả gọi là "bệnh các phức hợp miễn dịch" Các phức hợp nàylắng đọng ở đâu sẽ kẻo các tế bào lymphô đến đó và tiết ra lymphôkin, phức hợpcòn hoạt hóa C3 của bổ thể theo con đường tắt, từ đó có thể gây tan tế bào, kẻo cácbạch cầu đa nhân trung tính tiết các men tiêu đạm, hoạt hóa hệ thống đông máu,gây đọng fibrin tại chỗ và phóng thích các khăn huyết tương Tất cả những thay đổinày sẽ gây viêm tại chỗ

Dị ứng thuốc: một số thuốc khi vào cơ thể có khả năng gắn với protein của

cơ thể tạo thành một kháng nguyên hoàn toàn, kích thích cơ thể sinh kháng thể dịchthể hay tế bào

Ví dụ: thuốc penicilin khi vào cơ thể thoái hóa thành nhóm penicilloyl gây

dị ứng nhanh có thể làm chết người

b) Quá mẫn chậm trễ

Hiện tượng quá mẫn chậm trễ cũng nằm trong miễn dịch qua trung gian tếbào Đó là phản ứng đặc biệt ở da, xảy ra 24-48 giờ sau khi cơ thể mẫn cảm có tiếpxúc với kháng nguyên đặc hiệu Trong máu của cơ thể bị quá mẫn chậm trễ khôngphát hiện được kháng thể dịch thể cho nên không truyền thụ động bằng huyết thanhđược Những kháng nguyên gây ra quá mẫn chậm trễ rất khác nhau nhưng thường

Trang 38

là những kháng nguyên không hoà tan, ít có khả năng khuếch tán trong toàn cơ thểvật chủ, ví dụ như những kháng nguyên tế bào.

Sau đây là liệt kê một số kháng nguyên gây quá mẫn chậm trễ hay gặp:

Kháng nguyên vi sinh vật: Tuberculin (lao); typhoidin (thương hàn); độc tốbạch hầu trong phản ứng Schick; Vi rút đậu; kháng nguyên nấm: histoplasmin,coccidiomicin; kháng nguyên đơn bào (bệnh do leishmania)

Kháng nguyên côn trùng: dịch tiết của muỗi, ong

Kháng nguyên tổ chức dị loại (trong phản ứng loại thải mảnh ghép)

Bán kháng nguyên gây dị ứng do tiếp xúc như hóa chất

Một số tự kháng nguyên trong bệnh tự miễn

Điển hình trong dị ứng chậm là phản ứng tuberculin Sau 48 giờ khi tiêm nội

bì 0,1ml tuberculin thì nếu có phản ứng, vật chủ có thể sốt nhẹ, chỗ tiêm sẽ viêm đỏ,cứng; về mặt giải phẫu bệnh lý thì có thâm nhiễm tế bào lymphô quanh và bêntrong các mao quản Phản ứng này cũng có thể truyền thụ động bằng hỗn dịch tếbào lymphô đã mẫn cam

Dị ứng chậm do hóa chất xảy ra khi tiếp xúc nhiều lần với hóa chất nhưthuốc, chất dẻo, cao su, xà phòng thì bị nổi mẩn, sung huyết, nổi phồng gây hiệntượng viêm kiểu eczema Tại chỗ viêm có tổn thương nội bì, phù tế bào và thâmnhiễm bạch cầu đơn nhân

Cơ chế sinh bệnh của phản ứng dị ứng chậm: Kháng nguyên khi gặp tế bàolymphô đã mẫn cảm thì sinh ra hai kết quả:

Kết hợp kháng nguyên-kháng thể hoạt hóa bổ thể kéo theo hoạt hóa hệthống đông máu và khán huyết tương như trong kết hợp kháng nguyên với khángthể dịch thể

Kết hợp đó làm tế bào lymphô tiết ra những lymphôkin tạo nên một loạt cácphản ứng tế bào (ức chế dị tản, hoạt hóa đại thực bào, chuyển dạng lymphô bào )

Phản ứng loại thải mảnh ghép: Trên cơ thể động vật khi tiến hành ghép các

tổ chức mà các tổ chức đó là dị đen thì sẽ xảy ra phản ứng loại thải tổ chức ghép rakhỏi vật chủ, hiện tượng đó gọi là hiện tượng loại thải mảnh ghép

Trong quá trình thực hiện khi ghép một tổ chức cho vật chủ mà khác trênngười ta nhận thấy sau 1 -2 ngày mảnh ghép liền và chung sống với vật chủ nhưng

mà kéo dài 1 -2 tuần chỗ ghép thâm nhiễm các tế bào lympho T, các đại thực bào,làm các mạch quản tại chỗ ghép có hiện tượng đông máu, hình thành các huyếtkhối gây tắc mạch, phù, mảnh ghép không được nuôi dưỡng hoại tử và bong khỏivật chủ, nếu tiếp tục ghép lại thì mảnh ghép lại bong nhanh hơn

Hiện nay người ta có thể ghép da, ghép thận cho các cá thể và mảnh ghépchính là của cá thể đó hoặc mảnh ghép đồng tiền với vật chủ (ghép của hai vật sinhđôi cùng trứng) Việc ghép da, ghép thận phải có kỹ thuật tiên tiến, dùng cácphương pháp ức chế miễn dịch bằng các hóa chất, các tia phóng xạ thì mảnh ghéptồn tại được lâu hơn

Trang 39

4.2.3.2 Rối loạn quá trình sản xuất kháng thể

a) Thiểu năng miễn dịch

Là trạng thái bệnh lý trong đó đáp ứng miễn địch của cơ thể giảm sút hoặckhông có Sự thiếu hụt này có thể toàn bộ hay bộ phận đối với miễn dịch dịch thểhoặc đối với miễn dịch qua trung gian tế bào thôi Nó có thể là bẩm sinh hay mắcphải, hay là thiếu hụt không đặc hiệu như thiếu bổ thể

- Suy giảm miễn địch bẩm sinh:

Cơ thể động vật sinh ra thiếu tế bào M hoặc là tế bào này có rất ừ, nó giảmtoàn bộ cả hai loại tế bào lympho B và T Trong cơ thể hầu như hoàn toàn không có

tổ chức dạng lymphô, trong máu không có globulin miễn dịch Các phản ứng đápứng miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào đều không thấy có Cho nên con vật dễ

bị chết vì nhiễm trùng

Thiếu tế bào lympho T: không có tuyến hay có mà không có tiểu thể Hassalnên hệ thống lymphô T không có, những phản ứng miễn dịch qua trung gian tế bàokhông có, những phản ứng miễn dịch dịch thể vẫn còn Con vật cũng hay bị nhiễmkhuẩn mà chết

Thiếu tế bào lympho B: Biểu hiện ngay trong huyết thanh thiếu gammaglobulin Bệnh này người ta thấy cũng có thể do di truyền mà thiếu B lympho bào,

từ đó người ta thấy bốn loại kháng thể IgM, IgA, IgD, IgE không có, còn IgG có ítbằng 10% bình thường dẫn đến không có đáp ứng miễn dịch dịch thể, làm cơ thểluôn nhiễm bệnh, nếu có bổ sung y-globulin cũng chỉ kéo dài trong vài tháng

- Suy giảm miễn dịch do tác động từ bên ngoài

Do nhiễm các vi rút mà nó xâm nhiễm vào hệ thống miễn dịch (ở ngườinhiễm virus HIV - Human Immunodeficiency Virus) gây bệnh AIDS (Acquiredlmmunodeficiency Syndrome)

Vi rút: IBD virus (Infectious Bursal Disease), vi rút leuko, vi rút Marek tấncông túi fabricius

Ngoài ra một số vi rút không tấn công vào hệ thống miễn dịch nhưng đóngvai trò tòng phạm như vi rút Ca rê ở chó, vi rút dịch tả lợn, vi rút dịch tả trâu bòlàm giảm sức đề kháng của cơ thể

Trang 40

Suy giảm hệ thống miễn dịch còn do các hạch ung thư như u ác tính dònglympho, u tuỷ xương.

Các hóa chất độc vô cơ và hữu cơ đều tác động làm diệt tế bào, chống phânbào, chống chuyển hóa

Các chất phóng xạ với liều lớn: tia X, tia γ

Dinh dưỡng: đói, hư thận, ỉa chảy mạnh, xơ gan cổ chướng đều có khảnăng làm suy giảm miễn dịch

b) Dung nạp miễn dịch

Tức là hiện tượng không có miễn dịch đặc hiệu đối với một số khángnguyên, mà các kháng nguyên này đã xâm nhập vào cơ thể vật chủ từ lúc miễn dịchchưa trưởng thành: ở giai đoạn bào thai, sơ sinh; lần sau xâm nhập vào cơ thể vậtchủ thì vật chủ không sản xuất ra kháng thể để chống lại kháng nguyên đó

Trong tự nhiên hiện tượng dung nạp miễn dịch xảy ra ở hai trẻ hoặc hai vậtsinh đôi đồng tiền cùng trưng do Owen tìm ra năm 1950

Trong thực nghiệm nhà khoa học Medawar (1951) đã lấy tế bào lách, tuỷ,hạch của giống chuột CBA có màu lông nâu tiêm vào thai 7 ngày của giống chuột

A có màu lông trắng Sau đó khi chuột A ra đời và trưởng thành được hai tháng thìông lấy da chuột CBA nâu ghép lên trên những con chuột A trắng đã được chuẩn bịnày Việc ghép đã thành công; trái lại nhóm đối chứng gồm những con chuột Akhông chuẩn bị thì mảnh ghép bị loại thải như ghép dị loại khác

Người ta có thể đưa kháng nguyên cùng với các chất ức chế miễn dịch thì cóhiện tượng dung nạp miễn dịch không lâu Còn nếu đưa kháng nguyên quá ít hoặcquá cao thì cơ thể không sản sinh ra kháng thể gọi là hiện tượng ức chế miễn dịch

Cơ chế của hiện tượng dung nạp miễn dịch: Nhiều tác giả đã cho rằng: khiđưa một kháng nguyên vào cơ thể trong thời kỳ bào thai (miễn dịch chưa trưởngthành) cho nên khi tiếp xúc với kháng nguyên nó không thể phân biệt được đó làkháng nguyên của bản thân hay của cơ thể khác, do đó không sản sinh ra kháng thể

mà còn coi đó là thành phần của bản thân mình, do vậy khi đưa kháng nguyên đóvào cơ thể đã không sản sinh ra kháng thể mà dung nạp kháng nguyên đó

c) Suy giảm bổ thể (Complement deficiencies)

Chỉ thấy ở người, chuột lang, chuột nhắt và thỏ Ở người trong thành phầnthiếu C5, C3 do tái nhiễm khuẩn nhiều lần và hiện tượng này chỉ thấy ở một số cơthể; ở chuột nhắt thấy thiếu C5; chuột lang thấy thiếu C4; ở thỏ thấy thiếu CO, biểuhiện là tăng độ nhiễm trùng, giảm sức đề kháng

Giảm chức năng thực bào của đại thực bào (Macrophage) và tiểu thực bào(Microphage)

Chủ yếu là do thiếu men NADPH oxydaza trong các tế bào thực bào làmcho các chức năng tiêu tế bào của tế bào thực bào giảm (thấy xuất hiện ở người)

e) Rối loạn sản xuất kháng thể.

Bệnh tự miễn dịch: là hiện tượng đặc biệt của cơ thể sản xuất ra kháng thểhoặc sản xuất ra các tế bào lympho T miễn dịch để chống lại mô bào hay là các cơ

Ngày đăng: 07/10/2021, 15:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Gặp trong phì đại cơ quan, trong sinh lý gặp ở người tập thể hình, tập tạ; trong bệnh lý: ung thư, phì đại tim do suy tim - Bài giảng Sinh lý bệnh học
p trong phì đại cơ quan, trong sinh lý gặp ở người tập thể hình, tập tạ; trong bệnh lý: ung thư, phì đại tim do suy tim (Trang 61)
Bảng 6. Kết quả thử nghiệm thêm chất gây sốt cho thỏ - Bài giảng Sinh lý bệnh học
Bảng 6. Kết quả thử nghiệm thêm chất gây sốt cho thỏ (Trang 96)
Qua bảng trên ta thấy chất gây sốt tác động nhanh hay chậm, cường độ mạnh hay yếu còn phụ thuộc vào các bộ phận cảm thụ tại chỗ từ đó tạo ra các xung động thần kinh tác động lên trung tâm điều hoà nhiệt. - Bài giảng Sinh lý bệnh học
ua bảng trên ta thấy chất gây sốt tác động nhanh hay chậm, cường độ mạnh hay yếu còn phụ thuộc vào các bộ phận cảm thụ tại chỗ từ đó tạo ra các xung động thần kinh tác động lên trung tâm điều hoà nhiệt (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w