Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mại quốc tế điều tiết các lĩnh vực về công ăn việc làm, về thương mại hàng hoá, khắc phục tình trạng hạn chế, ràng b
Trang 1TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI - WTO
(BẢN 2)
A/ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN CỦA WTO:
1 Lịch sử hình thành WTO:
The General Agreement on
Tariffs and Trade – GATT) Đây là
tổ chức quốc tế duy nhất đề ra
những nguyên tắc thương mại giữa
các quốc gia trên thế giới Trọng
tâm của WTO chính là các hiệp
định đã và đang được các nước đàm
phán và ký kết
Các nguyên tắc và các hiệp định của
GATT được WTO kế thừa, quản lý, và mở
rộng Không giống như GATT chỉ có tính
chất của một hiệp ước, WTO là một tổ
chức, có cơ cấu tổ chức hoạt động cụ thể
Trụ sở chính: Geneva, Thụy
Sĩ
Thành viên: 149 nước ( tính đến ngày 11 tháng 12 năm 2005)
Ngân sách: : 175 triệu francs Thụy Sỹ ( theo số liệu 2006 )
Nhân viên: 635 người
Tổng giám đốc: Pascal Lamy
2 Quá trình phát triển:
Hội nghị Bretton Woods năm 1944
đã đề xuất thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế ( International Trade Organization
- ITO) với mục đích thiết lập các quy tắc
và luật lệ cho thương mại giữa các nước Hiến chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương mại và Việc làm tại Havana tháng 3 năm 1948 Tuy nhiên, Thượng nghị viện Hoa Kỳ đã không phê chuẩn hiến chương này Một số nhà sử học cho rằng sự thất bại đó bắt nguồn từ việc giới doanh nghiệp Hoa Kỳ
lo ngại rằng Tổ chức Thương mại Quốc tế
có thể được sử dụng để kiểm soát chứ không phải đem lại tự do hoạt động cho
Trang 2các doanh nghiệp lớn của Hoa Kỳ (Lisa
Wilkins, 1997)
ITO chết yểu, nhưng hiệp định mà
ITO định dựa vào để điều chỉnh thương
mại quốc tế vẫn tồn tại Đó là Hiệp định
chung về Thuế quan và Thương mại
(GATT)
GATT ra đời sau Đại chiến Thế giới
lần thứ II trong trào lưu hình thành hàng
loạt cơ chế đa biên nhằm điều tiết các hoạt
động hợp tác kinh tế quốc tế GATT đóng
vai trò là khung pháp lý chủ yếu của hệ
thống thương mại đa phương trong suốt
gần 50 mà điển hình là Ngân hàng Quốc
tế Tái thiết và Phát triển, thường được biết
đến như là Ngân hàng Thế giới (World
Bank - WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế
(Internaltional Monetary Fund- IMF) ngày
nay Với ý tưởng hình thành những nguyên
tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mại quốc
tế điều tiết các lĩnh vực về công ăn việc
làm, về thương mại hàng hoá, khắc phục
tình trạng hạn chế, ràng buộc các hoạt
động này phát triển, 23 nước sáng lập
GATT đã cùng một số nước khác tham gia
Hội nghị về thương mại và việc làm, dự
thảo Hiến chương La Havana để thành lập
Tổ chức Thương mại Quốc tế
(Internaltional Trade Oganization - ITO)
với tư cách là cơ quan chuyên môn của
Liên Hiệp Quốc Đồng thời, các nước này
đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phán
về thuế quan và xử lý các biện pháp bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trong thương mại quốc tế từ đầu những năm 30, nhằm thực hiện mục tiêu tự do hoá mậu dịch, mở đường cho kinh tế và thương mại phát triển, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân các nước thành viên
Hiến chương thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) nói trên đã được thoả thuận tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và việc làm ở Havana
từ 11/1947 đến 24/3/1948, nhưng do một
số quốc gia gặp khó khăn trong phê chuẩn, nên việc thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) đã không thực hiện được
Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định, và với kết quả đáng khích lệ đã đạt được ở vòng đàm phán thuế đầu tiên là 45.000 ưu đãi về thuế áp dụng giữa các bên tham gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng mậu dịch thế giới, 23 nước sáng lập đã cùng nhau ký kết Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lực vào tháng 1/1948
Từ đó tới nay, GATT đã tiến hành 8
Trang 3vòng đàm phán chủ yếu về thuế quan Tuy
nhiên, từ thập kỷ 70 và đặc biệt từ Hiệp
Uruguay (1986- 1994) do thương mại quốc
tế không ngừng phát triển, nên GATT đã
mở rộng diện hoạt động, đàm phán không
chỉ về thuế quan mà còn tập chung xây
dựng các Hiệp định, hình thành các chuẩn
mực, luật chơi điều tiết các vấn đề về hàng
rào phi quan thuế, về thương mại dịch vụ,
quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư
có liên quan tới thương mại, về thương
mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ
chế giải quyết tranh chấp Với diện điều
tiết của hệ thống thương mại đa biên được
mở rộng, nên Hiệp định chung về Thuế
quan và Thương mại (GATT) với tư cách
là một sự thoả thuận có nhiều nội dung ký
kết mang tính chất tuỳ ý đã tỏ ra không
thích hợp Do đó, ngày 15/4/1994, tại
Marrakesh (Marốc), kết thúc Hiệp
Uruguay, các thành viên của GATT đã
cùng nhau ký Hiệp định thành lập Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) nhằm kế tục
và phát triển sự nghiệp của GATT Theo
đó, WTO chính thức được thành lập độc
lập với hệ thống Liên Hợp Quốc và đi vào
hoạt động từ 1/1/1995
B/ MỤC TIÊU CỦA WTO
Các bên ký kết Hiệp định này thừa
nhận rằng: Tất cả những mối quan
hệ của họ (tức các bên ký kết thành
lập ra WTO) trong lĩnh vực kinh tế
và thương mại phải được thực hiện với mục tiêu nâng cao mức sống, bảo đảm đầy đủ việc làm và một khối lượng thu nhập và nhu cầu thực tế lớn và phát triển ổn định;
mở rộng sản xuất, thương mại hàng hoá và dịch vụ, trong khi đó vẫn đảm bảo việc sử dụng tối ưu nguồn lực của thế giới theo đúng mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ và duy trì môi trường và nâng cao các biện pháp để thực hiện điều đó theo cách thức phù hợp với những nhu cầu và mối quan tâm riêng rẽ của mỗi bên
ở các cấp độ phát triển kinh tế khác nhau
Các bên ký kết Hiệp định thừa nhận thêm rằng: cần phải có nỗ lực tích cực để bảo đảm rằng các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những quốc gia kém phát triển nhất, duy trì được tỷ phần tăng trưởng trong thương mại quốc tế tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia đó;
Các bên ký kết Hiệp định mong muốn đóng góp vào những mục tiêu này bằng cách tham gia vào những thoả thuân tương hỗ và cùng có lợi theo hướng giảm đáng kể thuế và các hàng rào cản trở thương mại khác và theo hướng loại bỏ sự phân
Trang 4biện đối xử trong các mối quan hệ
thương mại quốc tế;
Do đó, các bên ký kết Hiệp định,
quyết tâm xây dựng một cơ chế
thương mại đa biên chặt chẽ, ổn
định và khả thi hơn; quyết tâm duy
trì những nguyên tắc cơ bản và tiếp
tục theo đuổi những mục tiêu đang
đặt ra cho cơ chế thương mại đa
biên này
Tuy nhiên, nếu "mục tiêu kinh
tế" của WTO là nhằm thúc đẩy tiến
trình tự do hoá thương mại hàng
hoá, dịch vụ, trao đổi các sáng chế,
kiểu dáng, phát minh (gọi chung là
quyền tài sản sở hữu trí tuệ) thì các
hoạt động của WTO nhằm giải
quyết các bất đồng và tranh chấp
thương mại phát sinh giữa các thành
viên theo các quy định đã thoả
thuận, trên cơ sở các nguyên tắc cơ
bản của công pháp quốc tế và luật lệ
của WTO chính là mục tiêu chính
trị của WTO
Mục tiêu cuối cùng của các mục
tiêu kinh tế và chính trị nêu trên là nhằm
tới "mục tiêu xã hội" của WTO là nhằm
nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm,
tăng thu nhập cho người dân, phát triển
bền vững, bảo vệ môi trường
C/ NHỮNG NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC HIỆP ĐỊNH CỦA WTO:
Mỗi thành viên sẽ không dành cho sản phẩm của công dân nước mình đối xử
ưu đãi hơn so với sản phẩm của người nước ngoài (Đãi ngộ quốc gia- NT)
* Nguyên tắc thứ hai: Thương mại phải
ngày càng được tự do hơn thông qua đàm phán
Các hàng rào cản trở thương mại dần dần được loại bỏ, cho phép các nhà sản xuất hoạch định chiến lược kinh doanh dài hạn có thời gian điều chỉnh, nâng cao sức cạnh tranh hoặc chuyển đổi cơ cấu Mức độ cắt giảm các hàng rào bảo hộ được thoả thuận thông qua các cuộc đàm phán song phương và đa phương
Trang 5* Nguyên tắc thứ ba: Dễ dự đoán
Các công ty, nhà đầu tư và chính
phủ nước ngoài có thể vững tin rằng các
rào cản thương mại (gồm rào cản quan
thuế, phi quan thuế và các rào cản khác) sẽ
không được dựng lên tuỳ tiện; ngày càng
có thêm những cam kết về mặt pháp lý
trong việc giảm thuế suất và mở cửa thị
trường trong WTO
* Nguyên tắc thứ tư: Tạo ra môi trường
cạnh tranh ngày càng bình đẳng
Hạn chế tác động tiêu cực của các
biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như
bán phá giá, trợ cấp hay dành các đặc
quyền cho một số doanh nghiệp nhất định
* Nguyên tắc thứ năm: Dành cho các
thành viên đang phát triển một số ưu đãi
Dành cho các nước chậm phát triển
nhiều thời gian hơn để điều chỉnh, tính linh
hoạt cao hơn và những ưu đãi đặc biệt
2/ Một số hiệp định chính của WTO:
Hiệp định chung về Thuế quan và
Thương mại 1994 (GATT 1994)
Hiệp định chung về Thương mại
Dịch vụ (GATS)
Hiệp định về Các khía cạnh liên
quan đến Thương mại của Quyền
Sở hữu Trí tuệ (TRIPS)
Hiệp định về các Biện pháp Đầu tư
liên quan đến Thương mại (TRIMS)
Hiệp định về Nông nghiệp (AoA)
Hiệp định về Hàng Dệt may (ATC)
Hiệp định về các Rào cản Kỹ thuật
đối với Thương mại (TBT)
Hiệp định về Định giá Hải quan
Hiệp định về Kiểm định Hàng trước
Trang 6VÀI NÉT VỀ HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ
THUẾ QUAN
VÀ THƯƠNG MẠI – GATT
1 Sự hình thành và phát triển của
GATT:
GATT ra đời do sự thất bại của
việc thành lập Tổ chức Thương mại Quốc
tế (International Trade Organization –
ITO)
Thoạt tiên, 50 nước thỏa thuận thiết
lập ITO, một cơ quan của Liên hiệp quốc,
để điều chỉnh các quan hệ thương mại
quốc tế
Nhằm mục đích đó, năm 1946, 23
trong số 50 nước đã thương lượng và thoả
thuận giảm thuế quan và không tăng thuế
quan
Thoả thuận trên được ký kết ngày
23/10/1947 với tên gọi là Hiệp định
Chung về Thuế quan và Thương mại
(General Agreement on Tariffs and Trade
– GATT), có hiệu lực vào 1-1-1948, trong
khi các nước vẫn đang thương lượng về
bản Dự thảo Điều lệ ITO
Kết quả đã giảm 45.000 dòng thuế,
tác động đến một khối lượng thương mại
10 tỉ USD, 1/5 thương mại thế giới lúc bấy
giờ Sau đó, Mỹ đã không phê chuẩn Điều
lệ của ITO nên tổ chức này không ra đời,
nhưng các nước ký kết GATT thì vẫn tiếp
tục thực hiện hiệp định này
2 Chức năng của GATT
GATT có những chức năng cơ bản như sau:
hoá, dịch vụ
Là một cơ quan quốc tế để chính phủ các nước giải quyết các tranh chấp trong phạm vi
* Nguyên tắc thứ nhất: Nguyên tắc không
phân biệt đối xử trong thương mại, hay là đối xử tối huệ quốc
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, quy định các nước thành viên
Trang 7dành cho nhau ưu đãi tối huệ quốc
về thuế xuất nhập khẩu và đối xử
bình đẳng trong thương mại
Nguyên tắc này có hai ngoại lệ là:
- Các nước tham gia các khối
mậu dịch tự do hay liên minh
thuế quan khu vực như EU,
NAFTA, AFTA… có quyền
áp dụng với nhau một biểu
thuế, một hàng rào phi quan
thuế riêng
- Các nước đang phát triển được
ưu đãi riêng, được các nước
phát triển dành cho Hệ thống
ưu đãi phổ cập (GSP) với thuế
suất thấp hơn thuế suất tối huệ
quốc
* Nguyên tắc thứ hai: Nguyên tắc có đi có
lại
Một nước quyết định mở cửa thị
trường của mình (hạ thuế nhập khẩu, bỏ
bớt các quy định đối với hàng nhập) có
quyền đòi hỏi các thành viên khác có
những nhượng bộ tương tự
* Nguyên tắc thứ ba: Nguyên tắc công
khai và cạnh tranh lành mạnh
Yêu cầu các nước thành viên không
được tăng và từng bước giảm hàng rào phi
thuế quan, thừa nhận quyền đánh thuế chống phá giá và chống trợ cấp xuất khẩu
* Nguyên tắc thứ tư: Nguyên tắc khước từ
một số nghĩa vụ của GATT
Cho phép mỗi thành viên có quyền
áp dụng biện pháp cấp thiết (như hạn chế nhập khẩu hoặc đình chỉ những nhượng bộ
về quan thuế) để bảo vệ ngành công nghiệp trong nước đang bị thương tổn, hoặc do khó khăn về cán cân thanh toán
* Nguyên tắc thứ năm: Nguyên tắc ưu
tiên cho hàng hoá của các nước đang phát triển
Ngoài hệ thống GSP, còn có các ưu đãi về tiếp cận thị trường, hoặc ít bị ràng buộc bởi nguyên tắc có đi có lại
4 Quá trình hoạt động
Hoạt động của GATT chủ yếu thông qua các Vòng Đàm phán, cụ thể là:
5 Vòng Đàm phán đầu (1947 – 1961) nhằm giảm thuế quan
Vòng Đàm phán thứ 6 (1964 – 1967) mở rộng thêm đối với các biện pháp chống bán phá giá (62 nước tham gia)
Trang 8 Vòng Đàm phán thứ 7 (1973 –
1979), gọi là Vòng Đàm phán
Tokyo, mở rộng thêm các biện pháp
phi thuế quan và các hiệp định
khung (102 nước tham gia)
Vòng Đàm phán thứ 8 (1986 –
1994), còn gọi Vòng Đàm phán
Urugoay, mở rộng cho cả thuế
quan, phi thuế quan, các nguyên tắc
về dịch vụ và đầu tư liên quan đến
thương mại, quyền sở hữu trí tuệ,
giải quyết tranh chấp, hàng dệt may,
hàng nông nghiệp và đặt cơ sở cho
sự ra đời của WTO (123 nước tham
gia)
Tính đến tháng 7/1994, GATT có
123 nước thành viên, chiếm khoảng 90%
tổng kim ngạch thương mại thế giới Từ
1/1/1995, WTO đã thay thế cho GATT,
với 123 nước thành viên và 25 nước nộp
đơn xin gia nhập
5 Sự giống và khác nhau giữa GATT và
WTO:
Theo như đã nói ở trên, WTO ra đời dựa trên cơ sở kế tục của GATT, nên nội dung của cả hai hiệp định này đều đưa ra các nguyên tắc về hiệp định chung về thuế quan và thương mại, tuy nhiên đi phân tích sâu hơn thì GATT và WTO có sự khác nhau như sau:
- GATT chưa bao giờ là một
tổ chức, chỉ là một hiệp ước giữa các bên ký kết
- Hiệp định chỉ mang
- WTO là một
tổ chức quốc
tế được các nước thành
chuẩn
- Hiệp định mang tính thường trực
Trang 9- Điều chỉnh cả thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ
- Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO nhanh
mang tính tự động hơn của GATT
- Phán quyết không thể bị phong tỏa
D/ VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ GIA NHẬP
WTO CỦA VIỆT NAM:
1.Các mốc đánh dấu chặng đường gia
nhập WTO của Việt nam:
Chúng ta đã đàm phán 11 năm với
hơn 200 cuộc, trong đó đàm phán đa
phương (14 phiên), song phương (28 đối tác); nước nhanh nhất (3 phiên), nước chậm nhất (13 phiên) Ðây là số lượng nhiều nhất trong đàm phán Việt Nam với các tổ chức quốc tế (với ASEAN chúng ta mất hai năm, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ chúng ta mất bốn năm)
- 4-1-1995: Đơn xin gia nhập WTO của
Việt Nam được Đại hội đồng tiếp nhận
- 31-1-1995: Ban xem xét công tác gia
nhập (WP) của Việt Nam được thành lập với chủ tịch là ông Eirik Glenne, đại sứ Na
Uy tại WTO
- 24-8-1995: Việt Nam nộp bị vong lục về
chế độ ngoại thương VN và gửi tới Ban thư ký WTO để luân chuyển đến các thành viên của ban công tác
Năm 1998-1999: Các phiên hỏi và trả lời
với ban xem xét công tác xét duyệt
Đầu năm 2002: Việt Nam gửi bản chào
ban đầu về thuế quan và dịch vụ tới WTO
và bắt đầu tiến hành đàm phán song phương với một số thành viên trên cơ sở bản chào ban đầu về thuế quan và dịch vụ
- 9-10-2004: Việt Nam và EU đạt thỏa
thuận về việc Việt Nam gia nhập WTO
- 9-6-2005: Việt Nam và Nhật Bản đạt
được thỏa thuận cơ bản về vấn đề mở đường cho Việt Nam sớm gia nhập WTO
Trang 10- 12-6-2005: Việt Nam cử một phái đoàn
đàm phán hùng hậu sang Washington
trước thềm chuyến thăm Mỹ chính thức
của Thủ tướng Phan Văn Khải với quyết
tâm đi đến kết thúc đàm phán song
phương
- 18-7-2005: Việt Nam và Trung Quốc đạt
thỏa thuận về việc mở cửa thị trường để
Việt Nam gia nhập WTO
-31-5-2006: Ký thỏa thuận kết thúc đàm
phán song phương với Mỹ - nước cuối
cùng trong 28 đối tác có yêu cầu đàm phán
song phương
- 26-10-2006: Việt Nam hoàn tất đàm phán
đa phương tốt đẹp với các nước Cuộc đàm
phán trước đó diễn ra căng thẳng và tưởng
chừng không thể kết thúc được cho đến
phút chót
2 Vài nét về lịch sử gia nhập WTO của
Việt nam
a/ Bối cảnh chung: Việt Nam xin
gia nhập WTO trong bối cảnh sau đây:
- Việc gia nhập WTO của Việt Nam
diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đã
là thành viên của ASEAN (từ ngày
25/7/1995), thành viên của Asem
(3/1996) và APEC (11/1998) Việt
Nam đang trong quá trình xúc tiến
tự do hoá thương mại nhằm thực thi các nghĩa vụ thành viên của các tổ chức này
- Tiến trình tự do hoá thương mại toàn cầu đang được các nước nỗ lực thúc đẩy Đặc biệt, Vòng Đàm phán Thiên niên kỷ sắp được khởi xướng
sẽ là một bước đi lớn thúc đẩy tự do hoá thương mại sâu rộng hơn nữa Các nước trong tiến trình gia nhập WTO hiện đang hết sức cố gắng xúc tiến việc gia nhập của mình
- Với chủ trương hội nhập, Việt Nam
đã có nhiều biến chuyển về mặt chính sách, cơ cấu nhằm thực hiện tốt hơn tiến trình tự do hoá thương mại của mình Tình hình kinh tế trong nước đã có nhiều biểu hiện
tích cực
- Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền
tệ châu Á tuy không trực tiếp nhưng
đã có những ảnh hưởng đáng kể đến tình hình kinh tế của Việt Nam Đến nay, các nước trong khu vực đã bắt đầu tỏ ra có những dấu hiệu phục
hồi
Trang 11b/ Tiến trình gia nhập WTO:
Sau khi Bản Vị vong lục được
luân chuyển giữa các nước thành
viên, Việt Nam đã nhận được rất
nhiều câu hỏi về chế độ ngoại
thương của mình và đã tiến hành
nhiều đợt trả lời các câu hỏi đó
Việt Nam đã nhận được 1.174 câu
hỏi và đã trả lời 1.148 câu Các câu
trả lời của Việt Nam được đánh giá
là nghiêm túc, có chất lượng cao
Đến nay, Việt Nam cùng Ban Công tác
về việc gia nhập WTO của Việt Nam đã tiến hành 3 phiên họp
Phiên I: ngày 28/7/1998
27- Phiên II: ngày 3/12/1998
Phiên III: ngày 22/7/1999
Trong ba phiên họp này, đoàn Việt Nam đã thực hiện minh bạch hoá một cách tổng thể, toàn diện và sâu sắc thực trạng hệ thống và diễn biến chính sách thương mại của Việt Nam về hàng hoá, dịch vụ, sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng đưa ra chương trình thể chế hoá pháp luật
Việt Nam cũng tiến hành xây dựng một
số tài liệu quy định của WTO, bao gồm:
- Bảng hiện trạng về hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản (theo mẫu biểu WT/ACC/4)
- Bảng doanh nghiệp thương mại nhà nước (theo mẫu biểu G/STR/4)
- Bảng trợ cấp công nghiệp
Trang 12Các tài liệu này về cơ bản đã
hoàn thành, đang trong quá trình
hoàn thiện có thể nộp cho Ban Thư
ký theo quy định Sau đó, Việt Nam
phải chuẩn bị các nội dung đàm
phán mở cửa thị trường, đặc biệt là
các bản chào về hàng hoá mà trọng
tâm là thuế và phi thuế để nộp cho
Ban Thư ký, trước khi phiên họp
thứ 4 của Ban Công tác về việc gia
nhập của Việt Nam được tiến hành
vào tháng 2/2000
Sau phiên họp này, Việt Nam tiếp
tục hoàn chỉnh các câu trả lời để kết thúc
giai đoạn 1 của quá trình gia nhập WTO
(giai đoạn tường trình) và chuyển sang giai
đoạn 2 (giai đoạn đàm phán song phương)
Giữa tháng 4-2002, Việt Nam đã có
phiên họp với Ban Công tác và đã thoả
thuận tiếp tục đàm phán vào tháng 9 hoặc
10 năm 2002 để kết thúc giai đoạn đàm
phán song phương, chuyển sang giai đoạn
3 (soạn thảo điều kiện và lộ trình gia nhập
WTO)
Cho đến nay, Việt Nam đã thương
lượng việc ký hiệp định thương mại song
phương với hơn 40 nước thành viên WTO Việc hai nước đã phê chuẩn Hiệp định Thương mại Song phương Việt – Mỹ là một đóng góp lớn thúc đẩy quá trình này,
vì thương lượng với Mỹ được coi là khó khăn nhất trong quá trình gia nhập Oâng
Ho Seung, Chủ tịch Ban Công tác, đã đề nghị Ban Thư ký WTO soạn thảo một báo cáo nêu những quyền lợi và nghĩa vụ của Việt Nam khi gia nhập WTO, nhưng một
số nước như Mỹ, Úc cho là còn quá sớm,
và yêu cầu Việt Nam tiếp tục thể chế hoá những cam kết của mình về đầu tư, vệ sinh thực phẩm, hàng rào kỹ thuật, sở hữu trí
tuệ và chế độ hải quan trước khi gia nhập
E/ NHỮNG CAM KẾT LỚN CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO:
1 Cam kết đa phương
a/ Về nền kinh tế thị trường:
Việt Nam chấp nhận bị coi là nền kinh tế phi thị trường trong 12 năm tức là không muộn hơn 31/12/2018
Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu
ta chứng minh được với đối tác nào là kinh
tế Việt Nam hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó ngừng áp dụng
Trang 13chế độ “phi thị trường” đối với ta Chế độ
“phi thị trường” chỉ có ý nghĩa trong các
vụ kiện chống bán phá giá Và các thành
viên WTO không có quyền áp dụng cơ chế
tự vệ đặc thù đối với hàng xuất khẩu nước
ta dù ta bị coi là nền kinh tế phi thị trường
b/ Về dệt may:
Các thành viên WTO sẽ không
được áp dụng hạn ngạch dệt may đối với
Việt Nam khi vào WTO (riêng trường hợp
ta vi phạm quy định WTO về trợ cấp bị
cấm đối với hàng dệt may thì một số nước
có thể có biện pháp trã đũa nhất định)
Ngoài ra thành viên WTO cũng sẽ không
được áp dụng tự vệ đặc biệt đối với hàng
dệt may của nước ta
c/ Về trợ cấp:
Phi nông nghiệp, Việt Nam đồng ý
bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm
theo quy định WTO như trợ cấp xuất khẩu
và trợ cấp nội địa hóa Tuy nhiên với các
ưu đãi đầu tư dành cho hàng xuất khẩu đã
cấp trước ngày gia nhập WTO, ta được bảo
lưu thời gian quá độ là 5 năm (trừ ngành
dệt may)
d/ Về trợ cấp nông nghiệp:
Việt Nam cam kết không áp dụng
trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản từ thời
điểm gia nhập Tuy nhiên, ta bảo lưu
quyền được hưởng một số quy định riêng
của WTO dành cho nước đang phát triển trong lĩnh vực này Đối với loại hỗ trợ mà WTO quy định phải cắt giảm nhìn chung
ta duy trì được ở mức không quá 10% giá trị sản lượng Ngoài mức này, ta còn bảo lưu thêm một số khoản hỗ trợ nữa vào khoảng 4.000 tỷ đồng mỗi năm Các loại trợ cấp mang tính chất khuyến nông hay trợ cấp phục vụ phát triển nông nghiệp được WTO cho phép nên ta được áp dụng không hạn chế
e/ Về quyền kinh doanh (quyền xuất nhập khẩu hàng hóa):
Việt Nam đồng ý cho doanh nghiệp
và cá nhân nước ngoài được quyền xuất nhập khẩu hàng hóa như người Việt Nam
kể từ khi gia nhập, trừ các mặt hàng thuộc danh mục thương mại nhà nước (như xăng dầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa hình, báo chí) và một số mặt hàng nhạy cảm khác mà ta chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi (như gạo và dược phẩm)
Cam kết của Việt Nam đồng ý cho phép doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam được đăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam Quyền xuất nhập khẩu chỉ là quyền đứng tên trên tờ khai hải quan để làm thủ tục xuất nhập khẩu Trong mọi trường hợp,
DN và cá nhân nước ngoài sẽ không được
tự động tham gia vào hệ thống phân phối trong nước Các cam kết về quyền kinh
Trang 14doanh sẽ không ảnh hưởng đến quyền của
ta trong việc đưa ra các quy định để quản
lý dịch vụ phân phối, đặc biệt đối với sản
phẩm nhạy cảm như dược phẩm, xăng dầu,
báo - tạp chí…
f/ Về thuế tiêu thụ đặc biệt đối với
rượu và bia:
Các thành viên WTO đồng ý cho ta
thời gian chuyển đổi không quá 3 năm để
điều chỉnh lại thuế tiêu thụ đặc biệt đối với
rượu và bia cho phù hợp với quy định
WTO Hướng sửa đổi là đối với rượu trên
20 độ cồn hoặc sẽ áp dụng một mức thuế
tuyệt đối hoặc một mức thuế phấn trăm
Đối với bia, sẽ chỉ áp dụng một mức thuế
phần trăm
Đối với doanh nghiệp nhà nước
(DNNN), doanh nghiệp thương mại nhà
nước, cam kết trong lĩnh vực này là nhà
nước sẽ không can thiệp trực tiếp hay gián
tiếp vào hoạt dộng DNNN Tuy nhiên, nhà
nước với tư cách là một cổ đông được can
thiệp bình đẳng vào hoạt động của DN như
Điều 52 và 104 của Luật DN quy
định một số vấn đề quan trọng có liên quan
đến hoạt động của công ty TNHH và Công
ty cổ phần chỉ được phép thông qua khi có
số phiếu đại diện ít nhất là 65% hoặc 75% vốn góp chấp thuận Quy định này có thể
vô hiệu hóa quyền của bên góp đa số vốn trong liên doanh Do vậy, ta đã xử lý theo hướng cho phép các bên tham gia liên doanh được thỏa thuận vấn đề này trong điều lệ công ty
h/ Về một số biện pháp hạn chế nhập khẩu:
Ta đồng ý cho nhập khẩu xe máy phân phối lớn không muộn hơn ngày 31/5/2007 Với thuốc lá điếu và xì gà, ta đồng ý bỏ biện pháp cấm nhập khẩu từ thời điểm gia nhập Tuy nhiên sẽ chỉ có một DN nhà nước được quyền nhập khẩu toàn bộ thuốc lá điều và xì gà Mức thuế nhập khẩu mà ta đàm phán được cho hai mặt hàng này là rất cao Với ôtô cũ ta cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không quá 5 năm
i/ Về cam kết thực hiện minh bạch hóa:
Ngay từ khi gia nhập Việt Nam sẽ công bố dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ quốc hội và Chính phủ ban hành để lấy ý kiến nhân dân Thời hạn dành cho việc góp
ý và sửa đổi tối thiểu là 60 ngày Việt Nam cũng cam kết sẽ đăng công khai các văn bản pháp luật trên các tạp chí, trang tin điện tử của bộ, ngành
Trang 15j/ Một số cam kết liên quan khác:
thuế xuất khẩu:
Việt Nam chỉ cam kết sẽ giảm thuế
xuất khẩu đối với phế liệu kim loại đen và
màu theo lộ trình, không cam kết về thuế
xuất khẩu của các sản phẩm khác
Về đa phương, Việt Nam còn đàm
phán một số vấn dề đa phương khác như
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là sử
dụng phần mềm hợp pháp trong cơ quan
Chính phủ Định giá tính thuế xuất nhập
khẩu, các biện pháp đầu tư liên quan đến
thương mại, các biện pháp hàng rào kỹ
thuật trong thương mại… Với nội dung
này, ta cam kết tuân thủ các quy định của
WTO kể từ khi gia nhập
2 Cam kết về thuế nhập khẩu
Mức cam kết chung của Việt Nam
là đồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ
biểu thuế (10.600 dòng) Mức thuế bình
quân toàn biểu được giảm từ mức hiện
hành 17,4% xuống còn 13,4% thực hiện
dần trung bình 5 - 7 năm Mức thuế bình
quân đối với hàng nông sản giảm từ mức
hơn 1/3 dòng số dòng thuế sẽ phải cắt
giảm, chủ yếu là các dòng có thuế suất trên
20% Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm đối với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ôtô - xe máy… vẫn duy trì được mức bảo hộ nhất định
Những ngành có mức giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản
phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc và thiết bị điện - điện tử Bên cạnh đó, Việt Nam đạt được mức thuế trần cao hơn mức đang áp dụng đối với nhóm hàng xăng dầu, kim loại, hóa chất là phương tiện vận tải
Cam kết của Việt Nam sẽ cắt giảm thuế theo một số hiệp định tự do theo ngành của WTO (giảm thuế xuống 0% hoặc mức thấp) Đây là hiệp định tự nguyện của WTO nhưng các nước mới gia nhập đều phải tham gia một số ngành Ngành mà ta cam kết tham gia là sản phẩm công nghệ thông tin, dệt may và thiết bị y
tế Ta cũng tham gia một phần với thời gian thực hiện từ 3 - 5 năm đối với ngành thiết bị máy bay, hóa chất và thiết bị xây dựng
Về hạn ngạch thuế quan, ta bảo
lưu quyền áp dụng với đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối
3 Cam kết về mở của thị trường dịch vụ
a/ Về diện cam kết:
Trang 16Trong Hiệp định thương mại song
phương (BTA) với Hoa Kỳ ta đã cam kết 8
ngành dịch vụ (khoảng 65 phân ngành)
Trong thỏa thuận WTO, ta cam kết đủ 11
ngành dịch vụ, tính theo phân ngành
khoảng 110 ngành Về mức độ cam kết,
với hầu hết các ngành dịch vụ, trong đó có
những ngành nhạy cảm như bảo hiểm,
phân phối, du lịch… ta giữ được mức độ
cam kết gần như trong BTA Riêng viễn
thông, ngân hàng và chứng khoán, để sớm
kết thúc đàm phán, ta đã có một số bước
tiến nhưng nhìn chung không quá xa so với
hiện trạng và đều phù hợp với định hướng
phát triển đã được phê duyệt cho các
ngành này
b/ Cam kết chung cho các ngành
dịch vụ:
Về cơ bản như BTA, rước hết, công
ty nước ngoài không được hiện diện tại
Việt Nam dưới hình thức chi nhánh, trừ
phi điều đó được ta cho phép trong từng
ngành cụ thể Ngoài ra, công ty nước ngoài
tuy được phép đưa cán bộ quản lý vào làm
việc tại Việt Nam nhưng ít nhất 20% cán
bộ quản lý của công ty phải là người Việt
Nam Cuối cùng, ta cho phép tổ chức và cá
nhân nước ngoài được mua cổ phần trong
các doanh nghiệp Việt Nam nhưng tỷ lệ
phải phù hợp với mức mở cửa thị trường
ngành đó Riêng ngân hàng ta chỉ cho phép
ngân hàng nước ngoài mua tối đa 30% cổ
phần
c/ Dịch vụ khai thác hỗ trợ dầu khí:
Đồng ý cho phép các DN nước ngoài được thành lập công ty 100% vốn nước ngoài sau 5 năm kể từ khi gia nhập
để đáp ứng các dịch vụ hỗ trợ khai thác dầu khí Tuy nhiên, Việt Nam còn giữ nguyên quyền quản lý các hoạt động trên biển, thềm lục địa và quyền chỉ định các ty thăm dò, khai thác tài nguyên Bảo lưu được một danh mục các dịch vụ dành riêng cho các DN Việt Nam như dịch vụ bay, dịch vụ cung cấp trang thiết bị và vật phẩm cho dàn khoan xa bờ… Tất cả các công ty vào Việt Nam cung ứng dịch vụ hỗ trợ dầu khí đều phải đăng ký với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền
d/ Dịch vụ viễn thông:
Việt Nam có thêm một số nhận nhượng so với BTA nhưng ở mức độ hợp
lý, phù hợp với chiến lược phát triển của
ta Cụ thể là cho phép thành lập liên doanh
đa số vốn nước ngoài để cung cấp dịch vụ viễn thông không gắn với hạ tầng mạng (phải thuê mạng do DN Việt Nam nắm quyền kiểm soát) và nới lỏng một chút về việc cung cấp dịch vụ qua biên giới để đổi lấy giữ lại hạn chế áp dụng cho viễn thông
có gắn với hạ tầng mạng (chỉ các các doanh nghiệp nhà nước nắm đa số vốn mới đầu tư hạ tầng mạng, nước ngoài chỉ được góp vốn đến 49% và cũng chỉ được liên
Trang 17doanh với đối tác Việt Nam đã được cấp
phép)
e/ Dịch vụ phân phối:
Về cơ bản giữ được như BTA, tức
là khá chặt só với các nước mới gia nhập
Trước hết, về thời điểm cho phép thành lập
DN 100% vốn nước ngoài là như BTA
(1/1/2009) Thứ hai, tương tự như BTA, ta
không mở cửa thị trường phân phối xăng
dầu, dược phẩm, sách báo, tạp chí, băng
hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quý
cho nước ngoài Nhiều sản phẩm nhạy cảm
như sắt thép, xi măng, phân bón… ta chỉ
mở cửa thị trường sau 3 năm DN có vốn
đầu tư nước ngoài, mở điểm bán lẻ thứ hai
trở đi phải được ta cho phép theo từng
trường hợp cụ thể
f/ Dịch vụ bảo hiểm:
Về tổng thể, mức độ cam kết ngang
BTA, tuy nhiên, ta đồng ý cho Hoa Kỳ
thành lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ
sau 5 năm kể từ ngày gia nhập
g/ Dịch vụ ngân hàng:
Ta đồng ý cho thành lập ngân hàng
con 100% vốn nước ngoài không muộn
hơn ngày 1/4/2007 Ngoài ra ngân hàng
nước ngoài muốn được thành lập chi
nhánh tại Việt Nam nhưng chi nhánh đó
không được phép mở chi nhánh phụ và vẫn
phi chịu hạn chế về huy động tiền gửi bằng
VND từ thể nhân Việt Nam trong vòng 5 năm kể từ khi ta gia nhập WTO Ta vẫn giữ được hạn chế về mua cổ phần trong ngân hàng Việt Nam (không quá 30%)
h/ Dịch vụ chứng khoán:
Ta cho phép thành lập công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài và chi nhánh sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO
G/ CAM KẾT CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO TRONG LĨNH VỰC DU
LỊCH NÓI RIÊNG:
Ngành
và phân ngành
Hạn chế tiếp cận
thị
Hạn chế đối xử
quốc gia
Cam kết
bổ
Trang 18(2) Không hạn chế
(3) Không hạn chế, ngoại trừ trong vòng 8 năm kể
từ ngày gia nhập, việc cung cấp dịch vụ cần tiến
(1) Không hạn chế
(2) Không hạn chế
(3) Không hạn chế
(4) Chưa
hành song song với đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo hoặc mua lại khách sạn Sau
đó không hạn chế
(4) Chưa cam kết, ngoại trừ các cam kết chung
cam kết, ngoại trừ các cam kết chung
B Dịch
vụ đại lý
lữ hành
& điều hành tour
(CPC
(1) Không hạn chế
(2) Không
(1) Không hạn chế
(2) Không hạn chế
Trang 19
7471) hạn chế
(3) Không
trong doanh nghiệp có vốn đàu tư
NN là công dân VN
Được phép đưa khách vào du lịch
VN (Inbound)
và lữ hành nội địa đối với khách vào du lịch Việt Nam như là một phần của dịch vụ đưa khách vào
du lịch Việt Nam
(4) Chưa cam kết, trừ các cam kết chung
(4) Chưa cam kết, trừ các cam kết chung
a
Phương thức cung cấp: 1 Cung cấp qua
biên giới; 2 Tiêu dùng ở nước ngoài; 3 Hiệndiện thương mại; 4 Hiện diện thể nhân
* Nội dung cam kết
- Diện cam kết: Việt Nam chỉ cam
kết dịch vụ khách sạn và nhà hàng, dịch vụ đại lý lữ hành và điều hành tour du lịch Không cam kết dịch vụ hướng dẫn viên du lịch
- Đối với dịch vụ đại lý lữ hành và điều hành tour du lịch:
Trang 20+ Mở cửa thị trường: Việt
Nam chỉ cho phép các nhà cung cấp
dịch vụ nước ngoài thành lập liên
doanh với đối tác Việt Nam, không
hạn chế vốn nước ngoài trong liên
doanh
+ Đối xử quốc gia: Không
hạn chế, ngoại trừ:
• Hướng dẫn viên du lịch trong doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải là
người Việt Nam;
• Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có
vốn đầu tư nước ngoài chỉ được phép cung
cấp dịch vụ Inbound và lữ hành nội địa đối
với khách vào du lịch Việt Nam như là
một phần của dịch vụ đưa khách vào du
lịch VN
- Một số lưu ý:
+ Mở cửa thị trường:
• Không cho phép doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài (phù hợp với Điều
+ Đối xử quốc gia:
• Không cam kết cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được
cung cấp dịch vụ Outbound
H/ THỰC TRẠNG CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM – CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRƯỚC NGƯỠNG
CỬA GIA NHẬP WTO:
1 Thực trạng của nền kinh tế Việt nam:
Ngoại thương và hội nhập kinh tế quốc tế: Chính sách đổi mới, mở cửa và
công nghiệp hóa đã mở ra cho Việt Nam những cơ hội mới để phát huy những lợi thế so sánh vốn có về tài nguyên thiên