* Song phương: Các biện pháp thuế đối kháng Trợ cấp xuất khẩu nếu gây thiệt hại cho nền công nghiệp của nước nhập khẩu cũng có thể bị kiện theo cơ chế song phương và có thể bị áp thuế
Trang 1Trang 1
TÀI TRỢ XUẤT KHẨU
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI VIỆT NAM THỰC THI CAM KẾT CỦA WTO VỀ
BỎ TÀI TRỢ XUẤT KHẨU
1/ Khái niệm về tài trợ và tài trợ xuất
khẩu
- Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) có hai bộ tiêu chuẩn về trợ cấp
Một bộ áp dụng cho nông sản, được đề
cập trong Hiệp định Nông nghiệp Một bộ
áp dụng cho sản phẩm phi nông nghiệp,
được quy định trong Hiệp định về Trợ cấp
và Biện pháp đối kháng (SCM) Đối với
nông sản, cho tới trước Hội nghị Hồng
Kông 12-2005, WTO không cấm hình
thức trợ cấp nào cả, kể cả trợ cấp xuất
khẩu Tuy nhiên, trước sức ép của các
thành viên cũ, các thành viên mới gia
nhập WTO từ năm 1995, kể cả Trung
Quốc và Campuchia, đều phải cam kết
loại bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản
- Với sản phẩm phi nông nghiệp, trợ
cấp được chia thành ba nhóm lớn Nhóm
đèn đỏ là trợ cấp bị cấm sử dụng, bao
gồm trợ cấp xuất khẩu (lấy xuất khẩu làm
tiêu chí để cho hưởng trợ cấp) Theo
SCM, trợ cấp xuất khẩu không chỉ là trợ
cấp dựa trên kết quả xuất khẩu mà còn
bao gồm cả trợ cấp dựa trên mục tiêu
hoặc tiềm năng xuất khẩu Các loại trợ
cấp này đều bị cấm bất kể chúng được quy định trong luật hay không (theo luật định - de jure hoặc trên thực tế - de facto)
và trợ cấp thay thế nhập khẩu (trợ cấp để khuyến khích sử dụng đầu vào trong nước, khuyến khích nội địa hóa) Nhóm đèn vàng là trợ cấp riêng biệt cho một ngành hoặc một vùng, gây lệch lạc thương mại, tuy không bị cấm sử dụng nhưng có thể bị “trả đũa” (bị đánh thuế chống trợ cấp hoặc bị kiện ra WTO) Nhóm đèn xanh là trợ cấp được coi là ít gây lệch lạc cho thương mại (trợ cấp R&D, trợ cấp phát triển vùng khó khăn ), được phép áp dụng mà không bị “trả đũa” Tuy nhiên, WTO đưa ra những tiêu chí rất chặt chẽ cho trợ cấp loại này
- Với cả trợ cấp nông nghiệp và phi nông nghiệp, WTO đều có ngoại lệ dành cho các nước chậm và đang phát triển Thí
dụ, với trợ cấp phi nông nghiệp, Hiệp định SCM liệt kê một số thành viên có GNP bình quân đầu người dưới 1.000 đô la Mỹ/năm và cho phép họ được duy trì trợ cấp xuất khẩu (trong danh sách này có cả
Ấn Độ, Indonesia và Philippines) Hiệp định cũng cho phép các thành viên là nền
Trang 2Trang 2
kinh tế chuyển đổi được xóa bỏ dần trợ cấp
bị cấm trong vòng bảy năm, kể từ
1-1-1995 Tuy nhiên, bất kể quy định của Hiệp
định SCM, các thành viên gia nhập WTO
từ năm 1995 đều không được hưởng bất kỳ
ngoại lệ gì, trừ một vài trường hợp hãn
hữu, quy mô trợ cấp nhỏ, thời gian xin
chuyển đổi ngắn (thí dụ, Jordan được duy
trì chỉ hai chương trình trợ cấp xuất khẩu
trong vòng hai năm) Thực tế này và việc
ép các nước mới gia nhập phải bãi bỏ trợ
cấp xuất khẩu nông sản là những ví dụ
điển hình của cái gọi là “tiêu chuẩn kép”
trong đàm phán gia nhập WTO mà các tổ
chức như Oxfam và Action Aid đã đề cập
- Muốn hiểu về trợ cấp xuất khẩu, trước
hết phải biết thế nào là trợ cấp Theo Điều
1.1 của HĐ SCM, trợ cấp phải là một
khoản hỗ trợ tài chính của chính phủ cho
tư nhân, và khoản hỗ trợ đó phải mang lại
món nợ cho bên được nhận hỗ trợ Bên
cạnh đó, khoản hỗ trợ phải mang tính chất
khu biệt, có nghĩa là cấp cho những doanh
nghiệp nhất định nào đó Hỗ trợ tài chính
bao gồm: (a) Cơ chế của chính phủ mang
lại các khoản tiền trực tiếp (như cho vay),
hoặc có thể mang lại các khoản tiền trực
tiếp đó (ví dụ như đứng ra bảo đảm cho
vay); (b) Các khoản thu nhập của chính
phủ đến hạn có thể có, nhưng được bỏ qua
hoặc không thu (ví dụ như miễn giảm
thuế); (c) Chính phủ cung cấp hàng hoá
hoặc dịch vụ, hoặc mua hàng hoá; (d) Chính phủ trả tiền cho một thiết chế do mình lập ra hoặc chỉ đạo tư nhân thực hiện các công việc (a) - (c) nói trên
- Trong quá trình xem xét tranh chấp về trợ cấp, các ban hội thẩm và Ban phúc thẩm của WTO đã giải thích cụ thể hơn các thuật ngữ Trong các vụ US-Lead and Bismuth II, US-Sofwood Lumber IV, Canada-Aicraft, và Brazil - Aicraft; Ban phúc thẩm giải thích thế nào là "món lợi": (a) Món lợi phải tạo ra từ sự khác biệt cụ thể dựa trên lợi thế so sánh với thị trường,
ví dụ nếu doanh nghiệp nhận được khoản vay với điều kiện như mọi doanh nghiệp khác trên thị trường, thì nó không bị coi là trợ cấp ngay cả khi nó mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp; (b) Nếu DNNN trước đây được trợ cấp, nay tư nhân hoá theo đúng giá thị trường, thì khoản trợ cấp trước kia không bị gán cho doanh nghiệp mới (no pass - through of subsidies); (c) Về thời điểm để xác định có trợ cấp hay không, nếu doanh nghiệp đã nhận được cam kết pháp lý của chính phủ về khoản trợ cấp thì đó đã được coi là thời điểm nhận trợ cấp, ngay cả khi trên thực tế doanh nghiệp chưa nhận được xu nào
- Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét cụ thể hơn trợ cấp xuất khẩu Đây là dạng trợ cấp
bị cấm trong WTO, vì thế nó còn được gọi
Trang 3Trang 3
là trợ cấp "đèn đỏ" Trợ cấp xuất khẩu là
dạng trợ cấp phụ thuộc vào hoạt động xuất
khẩu, tức là doanh nghiệp muốn nhận trợ
cấp này thì phải sử dụng nó cho mục đích
xuất khẩu (Điều 3.1 HĐ SCM) Phụ lục I
của HĐ SCM cũng cung cấp danh sách
tham khảo những trợ cấp nào thì bị liệt vào
trợ cấp xuất khẩu
- Trợ cấp xuất khẩu có thể là chính
thức (de jure), cũng có thể là trên thực tế
(de facto) Trong vụ Canada -Automotive
Industry, Ban phúc thẩm giải thích rằng,
một cách chính thức, "phụ thuộc vào hoạt
động xuất khẩu" có nghĩa là "điều kiện để
nhận trợ cấp được thể hiện thành câu chữ
trong văn bản liên quan; hoặc điều kiện đó
được thể hiện rõ, dù gián tiếp, trong chính
sách liên quan" Vì thế, trong vụ này, Ban
phúc thẩm phán rằng, việc miễn một loati
thuế nhập khẩu cho doanh nghiệp liên
quan đến xuất khẩu cũng bị coi là trợ cấp
xuất khẩu chính thức Còn trong vụ
Canada-Aicraft, Ban phúc thẩm giải thích
trợ cấp xuất khẩu chính thức là loại trợ cấp
"dù trực tiếp hay gián tiếp có mục đích hỗ
trợ và phát triển nền xuất khẩu của
canada"
- Cũng theo Ban phúc thẩm trong vụ
Canada-Aicraft, trợ cấp xuất khẩu trên
thực tế "được luận ra từ việc tổng hợp tất
cả các sự kiện thực tế liên quan" tuỳ theo
từng vụ Ví dụ, trong vụ Australia-Leather, Ban hội thẩm đã phân tích các sự việc để
đi đến kết luận công ty Howe đã nhận trợ cấp xuất khẩu của Chính phủ Úc, mặc dù trên văn bản hoặc chính sách không hề có trợ cấp nào như thế cho Howe Điều kiện ban đầu để nhận khoản trợ cấp này là công
ty Howe phải tăng sản lượng, mở rộng sản xuất và thị trường Thế nhưng, Ban hội thẩm nhận xét, thị trường Úc quá nhỏ đối với Howe, cho nên để đáp ứng điều kiện nói trên, công ty buộc phải tăng lượng xuất khẩu Khi ký kết hợp đồng trợ cấp, Chính phủ Úc chắc chắn thấy trước điều này, như vậy đã chủ ý hỗ trợ hoạt động xuất khẩu của Howe Ban hội thẩm kết luận, "những
sự việc này trên thực tế đã biến các mục tiêu tăng trưởng bán hàng thành mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu"
2/ Vai trò và hậu quả của tài trợ
- Trợ cấp xuất khẩu được quy định trong các điều XVI và VI của Hiệp định GATT 1994 (gọi tắt là GATT 1994), và Hiệp định của WTO về trợ cấp và các biện pháp đối kháng 1995 (gọi tắt là HĐ SCM) Ngoài ra, Hiệp định về nông nghiệp (HĐ NN) cũng nói đến dạng trợ cấp này
- Ngoài ra, còn có "luật án lệ" (case law) do các bạn hội thẩm (panel) và Ban
Trang 4Trang 4
phúc thẩm (Appellate Body) của WTO
phát triển qua thực tiễn phán xét các tranh
chấp giữa các quốc gia thành viên Chúng
ta sẽ thấy vai trò của "luật án lệ" này trong
khi xem xét các quy định thành văn của
WTO, cụ thể trong bài này là các quy định
về trợ cấp xuất khẩu
- Các tranh chấp về trợ cấp xuất khẩu
có thể giải quyết theo hai kênh: đa phương
và song phương Đa phương trong cơ chế
giải quyết tranh chấp của WTO và song
phương khi tự quốc gia đó tiến hành điều
tra và áp dụng các biện pháp thuế đối
kháng
* Đa phương: Đưa ra WTO
Nếu một quốc gia thành viên WTO
(tạm gọi là A) tin rằng quốc gia thành viên
khác (B) áp dụng trợ cấp xuất khẩu, trước
hết A có quyền yêu cầu tham vấn với B
Nếu trong vòng 30 ngày (hoặc lâu hơn tuỳ
theo thoả thuận đôi bên), các cuộc tham
vấn vẫn không đem lại giải pháp thích
dáng, bất cứ bên nào cũng có quyền yêu
cầu Hội đồng giải quyết tranh chấp
(Dispute Settlement Body-DSB) của WTO
thành lập một ban hội thẩm 3 người để
xem xét vụ việc Trong vòng 90 ngày kể từ
khi thành lập, ban hội thẩm phải xem xét
và công bố bản báo cáo cuối cùng cho tất
cả các nước thành viên Ban này có thể tự mình quyết định liệu có trợ cấp xuất khẩu hay không; hoặc cũng có thể nhờ đến sự giúp đỡ của Tổ chuyên gia thường trực (Permanent Group of Experts - PGE) thuộc
Uỷ ban trợ cấp và Các biện pháp thuế đối kháng Mặc dù đây không phải là điều khoản bắt buộc, nhưng một khi đã đề nghị PGE trợ giúp, Ban hội thẩm phải chấp nhận ý kiến kết luận của PGE và không được sửa đổi kết luận đó PGE cũng có quyền tư vấn cho bất kỳ thành viên WTO nào về trợ cấp, trong đó có trợ cấp xuất khẩu
Nếu các bên kháng án, DSB phải thông qua báo cáo cuối cùng của ban hội thẩm trong vòng 30 ngày kể từ khi nó được công bố Trong trường hợp kháng án, Ban phúc thẩm sẽ xem xét lại những vấn đề về luật (không xem xét những vấn đề về sự việc) Ban phúc thẩm phải công bố báo cáo cuối cùng trong vòng 60 ngày kể từ khi nhận đơn kháng án, nhưng nếu trong vòng
30 ngày vẫn chưa thể công bố báo cáo, Ban này phải giải thích nguyên nhân Quy trình này ngắn hơn một nửa so với các quy trình giải quyết tranh chấp khác
Nếu Ban hội thẩm hoặc Ban phúc thẩm cho rằng có trợ cấp xuất khẩu, quốc gia bị đơn phải huỷ bỏ ngay trợ cấp trong thời hạn do DSB quy định Trong thời hạn
Trang 5Trang 5
đó, nếu trợ cấp xuất khẩu vẫn không bị huỷ
bỏ, quốc gia nguyên đơn có quyền áp dụng
biện pháp trả đũa (countermeasures) thích
đáng Theo Điều 22.4, Hiệp định về giải
quyết tranh chấp trong WTO, các biện
pháp trả đũa tính theo mức độ thiết hại
Tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều trường
hợp trọng tài phán quyết rằng biện pháp trả
đũa được tính theo mức độ trợ cấp, ví dụ
trong vụ Brazil-Aircraft
* Song phương: Các biện pháp thuế đối
kháng
Trợ cấp xuất khẩu nếu gây thiệt hại
cho nền công nghiệp của nước nhập khẩu
cũng có thể bị kiện theo cơ chế song
phương và có thể bị áp thuế đối kháng theo
quy trình chung về áp dụng các biện pháp
thuế đối kháng khác Muốn vậy, trước hết
nước nhập khẩu phải chứng minh 3 điều
kiện : (a) xác định được đó là có trợ cấp
xuất khẩu như đã trình bày ở phần thứ
nhất; (b) xác định được có thiệt hại xảy ra
đối với ngành sản xuất mặt hàng tương tự
của nước nhập khẩu; (c) xác định được
mối liên quan giữa hai yếu tố trên, đồng
thời thiệt hại do các yếu tố khác gây ra
không được quy cho trợ cấp xuất khẩu
Tiếp theo, các điều 11 đến 13 của
HĐ SCM quy định cụ thể quy trình khởi
xướng và tiến hành điều tra về trợ cấp và
áp dụng các biện pháp chống trợ cấp Quy trình này phải đảm bảo tính minh bạch, mọi bên liên quan phải có cơ hội bảo vệ quyền lợi của mình, cơ quan có thẩm quyền phải giải trình rõ tại sao họ lại phán quyết như thế này chứ không như thế kia
Cơ quan có thẩm quyền ở nước nhập khẩu có thể áp dụng một trong 3 dạng biện pháp sau đây: (a) Sau khi điều tra sơ
bộ ít nhất được 60 ngày, áp dụng các biện pháp đối kháng tạm thời không quá 4 tháng; (b) Nếu nước xuất khẩu tự nguyện huỷ bỏ hoặc hạn chế trợ cấp, hoặc xem xét lại giá nhập khẩu khiến cho cơ quan có thẩm quyền đồng ý rằng thiệt hại sẽ không còn xảy ra, thì cuộc điều tra sẽ được tạm dừng hoặc chấm dứt mà không áp dụng các biện pháp tạm thời hoặc thuế đối kháng; (c) Nếu cho rằng cả 3 điều kiện nói trên đều đã được xác minh, nước nhập khẩu có thể áp thuế đối kháng
Mức thuế đối kháng không được vượt quá mức trợ cấp Thậm chí, nếu mức thiệt hại nhỏ hơn mức trợ cấp thì áp mức thuế tương ứng với thiệt hại Thuế đối kháng phải được áp dụng trên nguyên tắc không phân biệt đối xử và không hối tố Sau một thời gian nhất dịnh (muộn nhất là 5 năm) sau khi áp dụng hoặc sau lần xem xét lại mới nhất, thuế đối kháng phải chấm dứt
Trang 6Trang 6
Tuy nhiên, nếu cơ quan có thẩm quyền xác
minh được rằng nếu chấm dứt áp thuế đối
kháng sẽ dẫn đến việc phục hồi trợ cấp và
xảy ra thiệt hại, thuế đối kháng sẽ không
được huỷ bỏ Nếu không hài lòng với phán
quyết cuối cùng của cơ quan có thẩm
quyền, có thể kiện lên toà án nước nhập
khẩu theo quy trình xem xét lại các quyết
định hành chính
Trước hết, WTO là nơi kiện tụng
giữa các quốc gia Hầu hết các vụ kiện về
trợ cấp đều liên quan đến trợ cấp xuất
khẩu Vì thế, chính phủ là nơi biết rõ nhất
và chia sẻ những tri thức đó Thế nhưng,
những gì diễn ra xung quanh vụ thép
Trung Quốc giá rẻ vào Việt Nam cho thấy,
có vẻ như ngay cả các cơ quan liên quan
trực tiếp nhất cũng chỉ biết lơ mơ và trả lời
còn lờ mờ về thương mại quốc tế, cụ thể là
về bán phá giá Có lẽ đối với trợ cấp cũng
không khá hơn Điều này quả thật rất đáng
ngại
Trợ cấp xuất khẩu nói riêng và
những kiện tụng khác liên quan đến
thương mại quốc tế nói chung trong WTO
đòi hỏi một vốn tri thức khổng lồ và cặn kẽ
về pháp luật, kinh tế, chính trị và cả các
chuyên ngành khác Nó cũng cần thứ tiếng
Anh tuyệt hảo để tranh cãi trước các ban
hội thẩm và Ban phúc thẩm, trước cơ quan
nước ngoài, để ra phán quyết tâm phục
khẩu phục với đại diện các nước Ngoài ra,
nó cần những kỹ năng chuyên sâu như hùng biện, ngoại giao Những điều kiện này trước hết tối cần thiết cho những chuyên viên của Bộ Thương mại và có thể
là Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp sẽ thay mặt chính phủ trực tiếp hầu kiện ở WTO
Như đã thấy, cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO chịu ảnh hưởng lớn từ luật án lệ của hệ thống Anh - Mỹ Cách giải thích luật ở đấy rất giống với cách thẩm phán Mỹ hoặc Anh giải thích luật: họ không chỉ vận dụng các điều khoản được trực tiếp quy định trong các Hiệp định của WTO, mà còn viện dẫn đến cả những nguồn khác như luật tập quán quốc tế, lịch
sử của hiệp định, ý đồ của nhà soạn thảo Ngay cả khi viện dẫn câu cú của luật, họ cũng có thể giải thích khá rộng, có khi ngược với ý đồ ban đầu của văn bản Biết
và hiểu được tư duy này để: thứ nhất, không bị ngã ngửa khi nghe lập luật và phán quyết; thứ hai, để sống chung với nó, lựa theo nó để lập luận tốt nhất cho mình Cùng một mức độ về chứng cứ, con người,
cứ ai lập luận thuyết phục hơn thì họ nghe
Thứ ba, khi cần tìm hiểu luật của WTO, không thể bỏ qua các bản báo cáo của các ban hội thẩm và Ban phúc thẩm Các bản báo cáo này là một nguồn không thể thiếu của luật WTO, vì vậy, nếu cứ quen như ở
Trang 7Trang 7
nhà chỉ chăm chăm lục tìm văn bản sẽ
không đủ
Đó là cho chính phủ Nhưng điều
này không có nghĩa là doanh nghiệp không
có việc gì làm ở đây Ví dụ, đừng hy vọng
nhiều vào việc trợ cấp xuất khẩu, vì phần
lớn nó sẽ rơi vào trường hợp bị cấm, bị áp
thuế rất cao, lợi bất cập hại Mặt khác, dù
cơ hội ít ỏi, nhưng cũng cần tìm hiểu cặn
kẽ để xem lúc nào có thể nhận trợ cấp xuất
khẩu mà không bị cấm Doanh nghiệp
cũng có thể chủ động đề nghị chính phủ
điều tra các mặt hàng nhập khẩu cùng loại
có nhận trợ cấp nhập khẩu hay không;
hoặc yêu cầu chính phủ đưa vấn đề ra cơ
chế giải quyết tranh chấp của WTO
Nhưng muốn thế, giống như chính phủ, họ
cũng phải nắm rõ các quy định liên quan
và nắm được các thông tin cần thiết để tin
rằng có sự trợ cấp như vậy Bài học chung
nhất là biết để tránh, khi nhỡ xảy ra rồi thì
biết để sửa và chịu thiệt hại ít nhất
3/ Phân loại các hình thức tài trợ
- Ngay tại Điều 1 của Hiệp định này đã
quy định: Một ngành công nghiệp được
coi là đã nhận được trợ cấp khi ngành này
“được lợi” do 4 hành động sau đây của
Chính phủ: 1/Hoạt động của Chính phủ
liên quan đến việc chuyển tiền trực tiếp (ví
dụ các khoản cho vay không, cho vay và
hỗ trợ cổ phiếu), bảo đảm chuyển tiền hoặc chuyển nợ trực tiếp (như bảo lãnh thuế) 2/Chính phủ miễn hoặc hoãn thu các khoản thuế đến hạn (ví dụ các biện pháp khuyến khích tài chính như tín dụng, thuế) 3/Chính phủ cung cấp hàng hoá hoặc dịch
vụ ngoài cơ sở hạ tầng chung hay mua hàng hoá 4/Chính phủ tài trợ cho một cơ chế cấp vốn Tuy vậy, không phải mọi hoạt động trợ cấp đều bị WTO loại bỏ Theo Hiệp định SCM có thể phân ra các loại trợ cấp như sau: 1/Trợ cấp bị cấm vận hoàn toàn (hay có thể gọi là “trợ cấp đèn đỏ”) bao gồm trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp khuyến khích sử dụng hàng nội so với hàng nhập khẩu 2/ Trợ cấp không bị cấm nhưng có thể là đối tượng của các biện pháp đối kháng (gọi là ềtrợ cấp đèn vàngể) 3/Trợ cấp không bị cấm và cũng không là đối tượng của các biện pháp đối kháng (gọi là “trợ cấp đèn xanh”)
- Theo Hiệp định SCM thì tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của Quỹ Hỗ trợ Phát triển là một hình thức trợ cấp xuất khẩu Vấn đề đặt ra ở đây là khi gia nhập WTO, tín dụng
hỗ trợ xuất khẩu có tiếp tục duy trì được hay không và nếu còn tồn tại thì sẽ có biến đổi gì? Hiện nay SCM hầu như không còn ngoại lệ dành cho nước phát triển hoặc những nền kinh tế chuyển đổi nữa vì thế tất cả các ềtrợ cấp đèn đỏể đều bị hạn chế
Trang 8Trang 8
hoặc nếu nó vẫn được duy trì sử dụng thì
đương nhiên sẽ trở thành đối tượng của các
biện pháp đối kháng (điển hình là áp mức
thuế cao vào sản phẩm được trợ cấp .)
Dẫu vậy thì WTO vẫn ưu ái hơn tới các
nước đang phát triển khi có thể cho phép
một số nước có thời gian quá độ 8 năm để
từng bước loại bỏ trợ cấp xuất khẩu và có
thời gian 5 năm chuyển tiếp để cắt giảm
các trợ cấp khuyến khích sử dụng hàng nội
so với hàng nhập khẩu
- Vì vậy, tính từ thời điểm này thì tín
dụng hỗ trợ xuất khẩu chỉ còn được tối đa
là 10 năm nữa để duy trì và cắt giảm dần
dần theo đúng lộ trình mà đoàn đàm phán
gia nhập WTO có thể thương lượng đạt
được Đồng thời trong quãng thời gian đó
hoạt động tín dụng này cũng cần có sự
chuyển biến cho phù hợp hoặc thậm chí có
thể ch m dứt hoàn toàn Tuy nhiên, khi mà
hầu như không một quốc gia thành viên
nào của WTO lại không duy trì trợ cấp thì
Việt Nam cũng sẽ phải nghiên cứu để duy
trì trợ cấp phù hợp nhất Quan trọng là
hình thức trợ cấp này nên thuộc loại “đèn
xanh” và cũng có thể là “đèn vàng”, nhưng
có thể được bỏ qua không sử dụng các biện
pháp đối kháng hay biện pháp đối kháng
sử dụng có thể chấp nhận được
- Trong vòng 5-10 năm tới tín dụng hỗ
trợ xuất khẩu phải thực sự tạo điều kiện
thuận lợi để thúc đẩy xuất khẩu, hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đối với những ngành hàng ưu thế (như nông sản, thuỷ sản, hạt tiêu, hạt điều, gạo, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng mây tre lá .) hay những thị trường thế mạnh (thị trường Đông Âu truyền thống, thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, EU, Mỹ .) đủ sức trụ vũng và cạnh tranh được trên thị trường quốc tế Tiến tới dù không còn sự hỗ trợ này của Chính phủ thì các doanh nghiệp, các ngành hàng trên sẽ lại có được sự giúp sức của Hiệp hội ngành nghề, làng nghề hay Hiệp hội doanh nghiệp lúc đó là đủ tầm hỗ trợ Vì thế ngay từ bây giờ song song với việc hỗ trợ xuất khẩu thì Chính phủ cũng cần quan tâm tới việc hỗ trợ hình thành và phát triển các hiệp hội làng nghề hoặc hiệp hội doanh nghiệp rất cần đối với doanh nghiệp Việt Nam trong tương lai
- Vì vậy, tính từ thời điểm này thì tín dụng hỗ trợ xuất khẩu chỉ còn được tối đa
là 10 năm nữa để duy trì và cắt giảm dần dần theo đúng lộ trình mà đoàn đàm phán gia nhập WTO có thể thương lượng đạt được Đồng thời trong quãng thời gian đó hoạt động tín dụng này cũng cần có sự chuyển biến cho phù hợp hoặc thậm chí có thể ch m dứt hoàn toàn Tuy nhiên, khi mà hầu như không một quốc gia thành viên nào của WTO lại không duy trì trợ cấp thì Việt Nam cũng sẽ phải nghiên cứu để duy
Trang 9Trang 9
trì trợ cấp phù hợp nhất Quan trọng là
hình thức trợ cấp này nên thuộc loại “đèn
xanh” và cũng có thể là “đèn vàng”, nhưng
có thể được bỏ qua không sử dụng các biện
pháp đối kháng hay biện pháp đối kháng
sử dụng có thể chấp nhận được
- Mặt khác, trong xu thế hội nhập kinh
tế quốc tế, mong muốn trở thành thành
viên của WTO trở thành hiện thực thì trợ
cấp có còn nữa hay không? Thực tế tất cả
các nước thành viên WTO đều duy trì trợ
cấp cho doanh nghiệp, đó là loại ềđèn
xanhể hay “đèn vàng” chấp nhận được: ví
dụ như trợ cấp cho hoạt động nghiên cứu
và phát triển (R&D); trợ cấp phát triển khu
vực; Trợ cấp bảo vệ môi trường
- Cùng với lộ trình cắt giảm dần dần
hoạt động hỗ trợ xuất khẩu trong đó có tín
dụng hỗ trợ xuất khẩu thì Chính phủ và
Quỹ Hỗ trợ phát triển cũng nên nghiên cứu
xem xét mở rộng sang các hoạt động tín
dụng ưu đãi cho các hoạt động “đèn xanh”
trên mà đặc biệt là hoạt động nghiên cứu
và phát triển (R&D) hay hoạt động bảo vệ
môi trường làm định hướng phát triển cho
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt
Nam trong hội nhập
* Trợ cấp bị cấm: là các khoản trợ cấp
yêu cầu người nhận phải đáp ứng được
những mục tiêu xuất khẩu nhất định, hoặc phải sử dụng hàng trong nước thay cho hàng nhập khẩu Chúng bị cấm vì chúng được xây dựng nhằm làm biến dạng thưưong mại quốc tế, và do đó có khả năng tác động tiêu cực đến trao đổi thương mại của các thành viên khác Những trợ cấp này phải bị dỡ bỏ dần theo một thời gian biểu quy định Chúng có thể bị đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO nếu không tuân theo thời gian biểu dỡ bỏ đó Nếu cơ chế giải quyết tranh chấp kết luận rằng một khoản trợ cấp thuộc nhóm bị cấm, khoản trợ cấp đó phải được dỡ bỏ ngay lập tức Nếu không được dỡ bỏ, nước nguyên đơn có thể có những biện pháp phản kháng lại khoản trợ cấp đó Trong trường hợp ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại bởi hàng nhập khẩu được trợ cấp, thuế chống trợ cấp có thể được áp dụng đối với hàng nhập khẩu
* Trợ cấp có thể áp dụng: đối với
những khoản trợ cấp trong nhóm này, nước nguyên đơn phải chứng minh được rằng khoản trợ cấp đó có tác động tiêu cực đối với lợi ích của họ Nếu không chứng minh được điều đó, khoản trợ cấp được phép áp dụng Hiệp định quy định ba hình thức thiết hại có thể gây ra bởi các khoản trợ cấp thuộc nhóm này Thứ nhất, trợ cấp của một nước có thể gây thiệt hại đến ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu Thứ
Trang 10Trang 10
hai, trợ cấp của một nước có thể gây thiệt
hại đến xuất khẩu của một nước khác khi
hàng của 2 nước cạnh tranh với nhau trên
thị trường của một nước thứ ba Thứ ba,
trợ cấp nội địa của một nước có thể gây
thiệt hại đối với hàng xuất khẩu của các
nước khác được bán trên thị trường của
nước áp dụng biện pháp trợ cấp Cũng
giống như trường hợp trên, khi ngành sản
xuất trong nước bị thiệt hại bởi hàng nhập
khẩu được trợ cấp, thuế chống trợ cấp có
thể được áp dụng đối với hàng nhập khẩu
- Hiệp định công nhận rằng trợ cấp có
thể đóng một vai trò quan trọng ở các nước
phát triển cũng như trong việc chuyển đổi
từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang các
nền kinh tế thị trường
4/ Những điểm chính (hiệp định) của
WTO về chống tài trợ trong lĩnh vực
công nghiệp, nông nghiệp
- Một trong những nội dung mà cả Quỹ
Hỗ trợ phát triển, các tổ chức tín dụng ưu
đãi của Nhà nước đến các doanh nghiệp
xu t khẩu quan tâm tìm hiểu để có những
bước chuyển biến phù hợp với tiến trình
Việt Nam gia nhập WTO là: Hiệp định về
trợ cấp và các biện pháp đối kháng -
Countenrvailing Measures (SCM) SCM là
một trong rất nhiều Hiệp định của WTO
mà mục đích chung của các Hiệp định này
là ngăn cấm hoặc hạn chế các ảnh hưởng xấu tới hoạt động thương mại giữa các nước thành viên WTO, nhằm tạo ra một sân chơi chung bình đẳng cho mọi thành viên của Tổ chức này
- Theo Hiệp định SCM thì tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của Quỹ Hỗ trợ Phát triển là một hình thức trợ cấp xuất khẩu Vấn đề đặt ra ở đây là khi gia nhập WTO, tín dụng
hỗ trợ xuất khẩu có tiếp tục duy trì được hay không và nếu còn tồn tại thì sẽ có biến đổi gì? Hiện nay SCM hầu như không còn ngoại lệ dành cho nước phát triển hoặc những nền kinh tế chuyển đổi nữa vì thế tất cả các ềtrợ cấp đèn đỏể đều bị hạn chế hoặc nếu nó vẫn được duy trì sử dụng thì đương nhiên sẽ trở thành đối tượng của các biện pháp đối kháng (điển hình là áp mức thuế cao vào sản phẩm được trợ cấp .) Dẫu vậy thì WTO vẫn ưu ái hơn tới các nước đang phát triển khi có thể cho phép một số nước có thời gian quá độ 8 năm để từng bước loại bỏ trợ cấp xuất khẩu và có thời gian 5 năm chuyển tiếp để cắt giảm
Hiệp định nông nghiệp của WTO yêu cầu các nước phải giảm các hình thức trợ cấp bóp méo thương mại và chia trợ cấp thành các nhóm:
Trang 11Trang 11
* Hộp Xanh lá cây: gồm các biện
pháp hỗ trợ không hoặc hầu như không
gây bóp méo thương mại nên các nước
được phép duy trì không giới hạn Đặc
điểm của các biện pháp hỗ trợ thuộc Hộp
Xanh lá cây là do ngân sách chính phủ chi
cấp khuyến khích sử dụng hàng nội so với
hàng nhập khẩu
* Hộp Xanh lơ: gồm các khoản chi
trả trực tiếp từ ngân sách nhà nước mà gắn
với sản xuất và thuộc các chương trình thu
hẹp sản xuất nông nghiệp Các nước không
phải cam kết cắt giảm các biện pháp này
* Hộp Hổ phách: gồm các biện
pháp hỗ trợ bị coi là gây bóp méo sản xuất
và thương mại, vì thế các nước phải cam
kết cắt giảm theo một lộ trình nhất định
Các biện pháp được xếp vào Hộp Hổ
phách có thể là hỗ trợ giá, trợ cấp gắn với
sản xuất, tức là tất cả biện pháp hỗ trợ
trong nước mà không nằm trong Hộp Xanh
lá cây và Xanh lơ Theo qui định của hiệp
định nông nghiệp, tổng mức hỗ trợ gộp
cho phép đối với nước đang phát triển là
10% giá trị sản lượng của sản phẩm nếu là
hỗ trợ cho sản phẩm cụ thê, và là 10% giá
trị sản xuất nông nghiệp cả nước nếu là hỗ
trợ không
5/ Vài nét về cam kết của Việt Nam về việc gia nhập WTO về tài trợ xuất khẩu, nêu lộ trình bỏ tài trợ xuất khẩu
- Việt Nam cũng đã cam kết xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản kể từ ngày gia nhập WTO và ràng buộc trợ cấp xuất khẩu nông sản ở mức 0 trong Biểu cam kết về hàng hóa Đối với trợ cấp bị cấm theo quy định của Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO, Việt Nam cam kết xóa bỏ trợ cấp theo tỷ lệ nội địa hoá hoặc yêu cầu sử dụng nguyên liệu trong nước và trợ cấp trực tiếp từ ngân sách theo thành tích xuất khẩu từ thời điểm gia nhập
WTO
Đối với một số trợ cấp xuất khẩu bị cấm dưới hình thức ưu đãi đầu tư đã cấp cho các dự án sản xuất hàng xuất khẩu được cấp phép trước khi gia nhập, Việt Nam đề nghị được áp dụng giai đoạn chuyển đổi 5 năm để xóa bỏ từng bước các trợ cấp này nhằm bảo đảm tôn trọng cam kết của Chính phủ với các nhà đầu tư hiện tại và
ổn định môi trường kinh doanh trong nước
- Với nông sản, cũng như các thành viên mới gia nhập khác, Việt Nam cam kết
sẽ xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu kể từ ngày gia nhập WTO Các hình thức hỗ trợ nông
Trang 12Trang 12
nghiệp khác không gắn với xuất khẩu vẫn
được duy trì
- Với sản phẩm phi nông nghiệp, trong
suốt 12 năm đàm phán, Việt Nam đã kiên
trì thuyết phục các thành viên WTO cho
Việt Nam hưởng ngoại lệ của Hiệp định về
Trợ cấp và Biện pháp đối kháng (SCM)
nhưng do đàm phán gia nhập là đàm phán
một chiều, các nước mới gia nhập trước đó
đều không đòi được ngoại lệ nên cuối cùng
Việt Nam đã cam kết như sau:
+ Bãi bỏ trợ cấp thay thế nhập khẩu
(như thuế ưu đãi theo tỷ lệ nội địa hóa) và
các loại trợ cấp xuất khẩu dưới hình thức
cấp phát trực tiếp từ ngân sách nhà nước
(như bù lỗ cho hoạt động xuất khẩu,
thưởng theo kim ngạch xuất khẩu, hỗ trợ
lãi suất cho hợp đồng xuất khẩu…) kể từ
khi gia nhập WTO
+ Với trợ cấp xuất khẩu “gián tiếp”
(chủ yếu dưới dạng ưu đãi đầu tư dành cho
sản xuất hàng xuất khẩu), sẽ không cấp
thêm kể từ khi gia nhập WTO Tuy nhiên,
với các dự án đầu tư trong và ngoài nước
đã được hưởng ưu đãi loại này từ trước
ngày gia nhập WTO, ta được một thời gian
quá độ là năm năm để bãi bỏ hoàn toàn
Riêng với ngành dệt - may, tất cả các loại trợ cấp bị cấm theo Hiệp định SCM, dù là trực tiếp hay gián tiếp, đều được bãi bỏ ngay từ khi Việt Nam gia nhập WTO
Tóm lại, Việt Nam đã cam kết xóa bỏ hoàn toàn trợ cấp bị Hiệp định SCM cấm
kể từ khi gia nhập, chỉ bảo lưu năm năm cho các ưu đãi đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu (ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất ) đã cấp cho các dự án từ trước ngày gia nhập WTO (nhưng không bao gồm các dự án dệt-may) Các hình thức hỗ trợ khác cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, nếu không gắn với xuất khẩu hoặc khuyến khích thay thế hàng nhập khẩu, vẫn tiếp tục được duy trì
+ Giai đoạn quá độ năm năm là ngoại lệ chưa từng có kể từ ngày WTO được thành lập Trước yêu cầu kiên trì và chính đáng của Việt Nam, một nước đang phát triển ở trình độ thấp và đang trong quá trình chuyển đổi, các thành viên WTO
đã phải nhân nhượng Tuy chưa được như mong muốn nhưng kết quả đàm phán này
đã phần nào giúp các doanh nghiệp của ta
có thêm thời gian để tự điều chỉnh, tránh được sự thay đổi đột ngột
Trang 13Trang 13
* Tác động tới doanh nghiệp:
+ Việc bãi bỏ trợ cấp xuất khẩu và
trợ cấp nội địa hóa chắc chắn sẽ ảnh hưởng
tới một số doanh nghiệp Để đánh giá mức
độ ảnh hưởng, cần xem xét các khía cạnh
như đối tượng và quy mô được hưởng trợ
cấp, hiệu quả thực tế của trợ cấp, mối quan
hệ giữa trợ cấp với nâng cao hiệu quả, sức
cạnh tranh và khả năng của Nhà nước
trong việc chuyển đổi từ trợ cấp thuộc diện
phải bãi bỏ sang các hình thức trợ cấp khác
được WTO cho phép
+ Về quy mô, không có nhiều số
liệu để phân tích Tuy nhiên, với ngân sách
còn hạn chế như hiện nay (và trong nhiều
năm tới), có thể khẳng định con số là rất
khiêm tốn Chế độ thưởng theo kim ngạch
xuất khẩu được áp dụng từ 1998 nhưng
mãi tới 2004, tổng tiền thưởng mới đạt
29,4 tỉ đồng, tương đương gần 2 triệu đô la
Mỹ (báo Tuổi Trẻ ngày 25-7-2006) Số
doanh nghiệp được thưởng là 349 Thật
khó để nói rằng hàng vạn doanh nghiệp
xuất khẩu của ta, với kim ngạch xuất khẩu
trên 30 tỉ đô la Mỹ/năm, lại “gặp khó khăn
nghiêm trọng” khi Nhà nước bãi bỏ hình
thức trợ cấp này
+ Đối tượng được hưởng trợ cấp
xuất khẩu cũng là việc cần bàn Có ý kiến
cho rằng bãi bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản
sẽ khiến nông dân gặp khó khăn, nhưng từ trước tới nay, đã bao giờ người nông dân được tiếp cận trực tiếp trợ cấp xuất khẩu, hay đối tượng được hưởng chỉ là các doanh nghiệp? Cứ cho là doanh nghiệp được hưởng thì giá mua sản phẩm của nông dân sẽ tăng lên thì còn cần xét xem điều
+ Trong báo cáo của Bộ Tài chính
về những cam kết của Việt Nam gia nhập WTO cho biết, theo quy định của WTO về trợ cấp tập trung chủ yếu vào việc phân biệt giữa các hình thức trợ cấp được phép với các trợ cấp không được phép Trợ cấp được phép áp dụng bao gồm các hỗ trợ cho nghiên cứu phát triển, hỗ trợ vùng khó khăn, hỗ trợ bảo vệ môi trường Trợ cấp
bị cấm, chủ yếu là các khoản trợ cấp xuất khẩu hoặc thay thế hàng nhập khẩu sẽ phải
Cụ thể, trong cam kết WTO, Việt Nam phải bỏ toàn bộ trợ cấp xuất khẩu đối với hàng nông sản ngay khi gia nhập; với các khoản hỗ trợ trong nước được duy trì ở mức 10% giá trị sản lượng như các nước đang phát triển khác trong WTO Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính thì mức hỗ trợ trong nước thực tế hiện nay đang thấp hơn 10%