1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu Luận LKT

34 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Vấn Đề Pháp Lý Về Phá Sản Doanh Nghiệp
Tác giả Đặng Thị Thùy Trang, Nguyễn Thái Long, Đỗ Thị Kiều Giang, Khưu Đinh Tuấn Khải, Lưu Thành Tính, Huỳnh Thị Kiều Tiên, Lê Quang Hậu
Người hướng dẫn Phan Thị Hồng Oanh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố TPHCM
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 73,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật phá sản qui định các chủ nợ có quyền chủ động yêu cầu mở thủ tục phásản, đồng thời cho phép các chủ nợ được bảo vệ tối đa lợi ích của mình như: kiểm tra,giám sát hoạt động của

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM

KHOA KINH TẾ - -

TIỂU LUẬN MÔN LUẬT KINH TẾ

Huỳnh Thị Kiều Tiên 18104050

TPHCM, 7/2020 NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

-

Trang 2

Điểm bài tiểu luận:

1

2

3

4

5

Tổng điểm

Giảng viên ký tên

BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ

ST

1 Nguyễn Thái Long

Đối tượng áp dụng và căn cứ pháp lý; Cơ quan

có thẩm quyền giải quyết phá sản doanh nghiệp

Hoàn thành tốt

2 Đặng Thị Thùy Trang Đối tượng có quyền và

nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu Toàn án giải quyết

Hoàn thành tốt

Trang 3

phá sản; Thủ tục giải quyết phá sản

3 Đỗ Thị Kiều Giang

Khái niệm, đặc điểm củaphá sản doanh nghiệp;

Phân loại phá sản; Phần kết luận

Hoàn thành tốt

4 Khưu Đinh Tuấn Khải

Phần mở đầu, vai trò củaluật phá sản và so sánh giữa giải thể và phá sản

Hoàn thành tốt

5 Lê Quang Hậu Phương hướng hoàn thiện luật phá sản

Hoàn thành tốt

6 Lưu Thành Tính Tổng hợp bài tiểu luận

Hoàn thành tốt

7 Huỳnh Thị Kiều Tiên Những hạn chế và bất cập.

Hoàn thành tốt

MỤC LỤC

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, do sự tác động của quy luật kinh tế trong đó có quy luậtcạnh tranh nên đã làm nảy sinh các mối quan hệ mới mà bản thân kinh tế kế hoạch hoákhông hàm chứa được Đó là hiện tượng phá sản

Tuy nhiên phá sản là một vấn đề từ lý luận đến thực tiễn là một quá trình tìm hiểu vànghiên cứu bởi khi một doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đếnnền kinh tế và đặc biệt là quyền lợi của người lao động ít nhiều sẽ bị xáo trộn như tiềnlương, các chế độ, việc làm và các vấn đề tiêu cực phát sinh và các khoản nợ củadoanh nghiệp

Đối với nước ta việc phá sản vẫn là một vấn đề mới mẻ Cho nên thực tiễn giải quyếtphá sản của nước ta trong thời gian qua còn gặp không ít khó khăn vướng mắc Chính

vì vậy mà việc nắm bắt, hiểu biết đầy đủ về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phásản của doanh nghiệp là sự cần thiết và cấp bách Vì những lý do trên nhóm chúng tôiquyết định chọn đề tài: “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp” nhằm để tìm hiểuthêm một phần nào đó về luật phá sản của nước ta hiện nay

2 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về các vấn đề pháp lý trong việc phá sản doanh nghiệp theo căn cứ pháp lý

là Luật phá sản doanh nghiệp 2014

3 Mục tiêu nghiên cứu

Hiểu rõ các vấn đề trong luật phá sản đồng thời thấy được một số vấn đề bất cập còntồn tại trong Luật phá sản 2014 từ đó đưa ra một số phương án hoàn thiện hơn choLuật phá sản

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 5

Sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích nghiên cứu các tài liệu, Tổng hợp là liênkết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thông lý thuyếtmới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng.

PHẦN 2: NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LUẬT CHUNG VỀ PHÁ SẢN.

1.1 Khái niệm, đặc điểm của phá sản doan nghiệp.

1.1.1 Khái niệm:

Theo Khoản 2 - Luật Phá sản 2014, phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xãmất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản

Theo Khoản 1- Luật Phá sản 2014, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán

là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thờihạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán

1.1.2 Đặc điểm:

Tính lịch sử: Phá sản là một hiện tượng kinh tế - xã hội gắn liền với nền kinh tế thị

trường Bởi vậy, nó mang tính chất lịch sử rất rõ rệt Trong những giai đoạn phát triểncủa lịch sử xã hội loài người, khi xã hội không tồn tại nền kinh tế thị trường thì phásản cũng không có cơ sở để tồn tại Ngay cả khi có nền kinh tế hàng hóa là mức độthấp của kinh tế thị ttrường thì phá sản cũng không tồn tại

Chẳng hạn phá sản không phát sinh ở nền kinh tế tiểu thủ công nghiệp của cácnước phương Tây thời kì tiền tư bản Với nền sản xuất thấp kém, năng suất lao độngthấp dẫn đến cầu luôn cao hơn cung, các nhà sản xuất hầu như không gặp bất kì khókhăn nào trong quá trình tiêu thụ hàng hóa Vì vậy, việc họ phá sản là không thể xảy

Trang 6

đến tình trạng các khoản nợ của doanh nghiệp dường như biến mất Lỗ đâu Nhà nước

bù đó, doanh nghiệp tồn tại phụ thuộc vào ý muốn và sự chỉ đạo từ phía Nhà nước.Không có thị trường với đúng nghĩa của nó và không có cạnh tranh Phá sản cũngkhông tồn tại trong nền kinh tế như vậy

Tính khách quan:Phá sản không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất cứ ai trong xã

hội Ngược lại, nó là kết quả của quá trình kinh doanh không hiệu quả của doanhnghiệp Quá trình kinh doanh không hiệu quả đó của doanh nghiệp lại được lý giải bởihai nguyên nhân cũng mang tính khách quan sau đây:

Dựa trên cơ sở lý luận về vòng đời của doanh nghiệp:

Doanh nghiệp nào cũng trải qua một vòng đời gồm ba giai đoạn: khởi nghiệp,chín muồi và khủng hoảng Trong nền kinh tế, doanh nghiệp cũng giống như một thựcthể sống, sinh ra, phát triển và mất đi Điều này hoàn toàn phù hợp với qui luật sinhtồn, cũng như qui luật biến đổi và tồn tại của sự vật, hiện tượng Là một phần của giaiđoạn khủng hoảng, phá sản vì thế mang tính khách quan , độc lập với ý chí con người.Trong thực tế, nguyên nhân dẫn đến phá sản tức là nguyên nhân dẫn đến một thươnggia, một doanh nghiệp lâm vào tình trạng không có đủ khả năng thanh toán các khoản

nợ thường rất khác nhau

Có trường hợp là do chính sách Nhà nước thay đổi khiến doanh nghiệp trở taykhông kịp: giới Ngân hàng thương mại thế giới đã từng chứng kiến hệ thống ngânhàng của Argentina bị phá sản hàng loạt vào năm 2001 mà nguyên nhân là do Chínhphủ Argentina đã ban hành Luật Corralito Theo đó, mọi tài khoản ngân hàng toànquốc bị đóng băng trong 12 tháng nhằm giải quyết tình trạng các nhà đầu tư nướcngoài muốn tháo chạy khỏi Argentina

Cũng có trường hợp là do sự tác động của khủng hoảng nền kinh tế trong nướchoặc phạm vi quốc tế; và cũng không loại trừ do doanh nghiệp quản lý kém hiệu quảhoặc xây dựng chiến lược kinh doanh không phù hợp mà điển hình nhất là trường hợpcủa hãng sản xuất xe hơi General Motor Các nhà kinh tế cho rằng, một trong nhữngnguyên nhân khiến General Motor phá sản là do sự chậm chạp, kém năng động và sự

Trang 7

rối rắm về quản trị với những thủ tục phức tạp trong phong cách lãnh đạo của giới lãnhđạo hãng này

Dựa trên đặc điểm của nền kinh tế thị trường:

Kinh tế thị trường là mức phát triển cao của nền kinh tế hàng hóa, nơi mà sựphân công lao động, chuyên môn hóa trong sản xuất đã đạt trình độ cao Cùng với sựtiến bộ của khoa học kĩ thuật, năng suất lao động tăng lên làm cho của cải sản xuất rangày một nhiều hơn và vì thế cạnh tranh giữa các nhà cung ứng sản phẩm và dịch vụ

đã trở nên khắc nghiệt.Đã có thời gian câu nói “thương trường là chiến trường” trởthành câu nói của miệng, là bài học nhắc nhở dành cho các nhà quản lí doanh nghiệp.Trong cuộc chiến sống còn như vậy, việc có các doanh nghiệp yếu thế hơn, làm ănkém hiệu quả dẫn đến thua lỗ rồi phá sản là điều tất yếu

Ngoài ra, ngày nay chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy một thực tế là chính nềnkinh tế thị trường với mục tiêu hướng mạnh về lợi nhuận đã làm cho nhiều doanhnghiệp chỉ chạy theo lợi ích trước mắt mà đầu tư vào các hoạt động thương mại chứanhiều rủi ro mà lại không có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả Khi thị trường đỗ

vỡ, những khoản đầu tư ồ ạt đã không thể thu về được đẩy doanh nghiệp đến bên bờvực mất khả năng chi trả dẫn đến phá sản Điều này cũng có nghĩa là kinh tế thị trườngkhuyến khích cho doanh nghiệp làm giàu nhưng cũng chính nó đẩy doanh nghiệp lâmvào tình trạng phá sản

Không phải ngẫu nhiên mà các nhà kinh tế phương Tây cho rằng phá sản cũnggắn liền với hoạt động kinh doanh như lợi nhuận Phá sản cùng với lợi nhuận tạo thành

“cái gậy” và “củ cà rốt” theo đuổi các thương gia, các doanh nghiệp trong suốt cuộcđời kinh doanh của họ

Điều này cho thấy tính khách quan của phá sản

Tính chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật: Là hiện tượng kinh tế - xã hội gắn liền với

nền kinh tế thị trường, phá sản chịu sự điều chỉnh của pháp luật - phấp luật về phá sản.Lúc đầu những qui định về phá sản chỉ là những nguyên tắc pháp lí, những chế địnhđược qui định trong văn bản pháp luật về thương mại, trong các qui định điều chỉnhhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Sau này, do những tác động mang tính xã hộicủa phá sản, nhiều nước đã ban hành đạo luật riêng về phá sản

Trang 8

Tuy nhiên, có một thực tế là các nước Xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, do luậtphá sản ra đời muộn nên gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng và thi hành luật phásản Trong đó các nước có nền kinh tế thị trường phát triển sớm như Hoa Kì, Úc,Pháp, là các nước đã có kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực thi luật phá sản,đặc biệt là trong việc phục hồi hoạt động của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phásản Trong tình trạng khủng hoảng tài chính tiền tệ đang diễn ra như hiện nay, nhiềudoanh nghiệp của Hoa Kì đã và đang bị phá sản và việc xử lý doanh nghiệp bị phá sảntheo Chương 7 và Chương 11 của Luật phá sản Hoa Kì đang thu hút sự chú ý của cácdoanh nghiệp trên Thế giới

Điều này có nghĩa là từ thời cổ đại cho tới nay, phá sản luôn luôn chịu sự điềuchỉnh của pháp luật Điều này cũng đòi hỏi mọi doanh nghiệp ngay khi có ý tưởngthành lập doanh nghiệp đã phải tìm hiểu kĩ những qui định về phá sản song song vớiviệc tìm hiểu những qui định của pháp luật về việc đăng kí thành lập doanh nghiệpcũng như những qui định về tự do kinh doanh, tự do thương mại tring cả quá trình tồntại, phát triển, hưng thịnh và tiêu vong của mình

1.2 Phân loại phá sản:

1.2.1 Cơ sở nguyên nhân:

Phá sản trung thực: Phá sản trung thực là hậu quả của việc mất khả năng thanh toán donhững nguyên nhân khách quan hay những rủi ro bất khả kháng gây ra Phá sản trungthực cũng có thể từ những nguyên nhân chủ quan nhưng không phải do sự chủ ý nhằmchiếm đoạt tài sản của người khác

Ví dụ : sự yếu kém về năng lực tổ chức, quản lý hoạt động; sự thiếu khả năngthích ứng với những biến động trên thương trường

Phá sản gian trá: Phá sản gian trá là hậu quả của những thủ đoạn gian trá, có sắp đặttrước nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác

Ví dụ: Hành vi gian lận trong khi ký hợp đồng, tẩu tán tài sản, cố tình báo cáosai, để qua đó tạo ra lý do phá sản không đúng sự thật

1.2.2: Cơ sở phát sinh quan hệ pháp lý:

Phá sản tự nguyện:Phá sản tự nguyện là do phía doanh nghiệp mắc nợ, tự làm đơn yêucầu phá sản khi thấy mình mất khả năng thanh toán, không có điều kiện thực hiệnnghĩa vụ trả nợ đối với chủ nợ

Trang 9

Phá sản bắt buộc:Phá sản bắt buộc là do phía các chủ nợ làm đơn yêu cầu phá sảndoanh nghiệp mắc nợ nhằm thu hồi các khoản nợ từ doanh nghiệp mắc nợ.

1.2.3: Cơ sở đối tượng bị giải quyết phá sản:

Phá sản cá nhân: Phá sảncá nhân là cá nhân bị phá sản phải chịu trách nhiệm vô hạnđối với các khoản nợ

Phá sản pháp nhân: Phá sản pháp nhân là phá sản một tổ chức, tổ chức này phải gánhchịu hậu quả của việc phá sản Việc trả nợ cho chủ nợ của pháp nhân dựa trên tài sảncủa pháp nhân

1.3 Vai trò của Luật phá sản:

Pháp luật phá sản có vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế - xã hội nói chung vàcác chủ thể nói riêng, điều này được thể hiện ở những nội dung sau:

Pháp luật phá sản bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ nợ, là cơ sở pháp lí để cácchủ nợ thực hiện việc đòi nợ một cách hợp pháp

Khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, chủ nợ là những ngườiđầu tiên có nguy cơ không đòi được các khoản nợ Do vậy, pháp luật phá sản đã đặtyêu cầu bảo vệ lợi ích của các chủ nợ

Pháp luật phá sản qui định các chủ nợ có quyền chủ động yêu cầu mở thủ tục phásản, đồng thời cho phép các chủ nợ được bảo vệ tối đa lợi ích của mình như: kiểm tra,giám sát hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã, giải quyết những vấn đề liên quantrực tiếp đến quyền lợi của mình, khiếu nại các quyết định của Tòa án, nhằm mụcđích thu hồi các khoản nợ của các chủ nợ

Pháp luật phá sản bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho doanh nghiệp, hợp tác xãmắc nợ, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp, hợp tác xã lâm tình trạng phá sản phục hồihoạt động kinh doanh hoặc rút khỏi thương trường một cách hợp pháp

Trang 10

Pháp luật phá sản bảo vệ quyền và lợi ích cho doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợthông qua các qui định như: ấn định thời gian ngừng trả nợ, tạo điều kiện cho doanhnghiệp, hợp tác xã thương lượng với các chủ nợ để được xóa nợ, mua nợ, giảmnợ… Đồng thời qui định cơ chế, biện pháp để doanh nghiệp, hợp tác xã khôi phục lạihoạt động kinh doanh, thanh lí tài sản nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp, hợp tác xãtiếp tục tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc rút khỏi thị trường.

Pháp luật phá sản bảo vệ lợi ích hợp pháp cho người lao động bằng các qui định cụthể, pháp luật phá sản xác định rõ cơ sở pháp lí để người lao động bảo vệ lợi ích củamình thông qua việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, tham gia hội nghị chủ nợ,qui định thứ tự ưu tiên phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã

Pháp luật phá sản phần bảo vệ trật tự kỉ cương trong xã hội: Khi doanh nghiệp bịphá sản thì chủ nợ nào cũng muốn lấy được càng nhiều càng tốt tài sản còn lại củadoanh nghiệp bị phá sản Như vậy nếu không có Luật để đưa vấn đề phân chia tài sảncủa con nợ theo một trật tự nhất định, nhằm bảo đảm sự công bằng và khách quan mà

cứ để mạnh ai người nấy lấy một cách vô tổ chức thì sẽ gây ra tình trạng lộn xộn, mấttrật tự, gây ra mâu thuẫn giữa chủ nợ với con nợ, giữa chủ nợ với nhau Bằng việc giảiquyết công bằng, thỏa đáng mối quan hệ về lợi ích giữa chủ nợ và con nợ và giữa cácchủ nợ với nhau, pháp luật về phá sản góp phần giải quyết mâu thuẫn, hạn chế nhữngcăng thẳng có thể có giữa họ với nhau, nhờ đó đảm bảo được trật tự kỷ cương của xãhội

Pháp luật phá sản góp phần tạo động lực cạnh tranh, cơ cấu lại nền kinh tế Khidoanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, pháp luật phá sản qui định thủtục phục hồi hoạt động kinh doanh Phục hồi kinh doanh được coi là biện pháp thiếtthực và hiệu quả nhằm giúp doanh nghiệp, hợp tác xã thoát khỏi tình trạng phá sản,góp phần tạo dựng một nền kinh tế ổn định Khi việc tổ chức lại hoạt động kinh doanhkhông khả thi thì thủ tục thanh lí doanh nghiệp, hợp tác xã và đi đến chấm dứt hoạtđộng kinh doanh là kết quả tất yếu Như vậy, thủ tục thanh lí nhằm loại bỏ nhữngdoanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh kém hiệu quả góp phần làm trong sạch môitrường kinh doanh, thông qua đó góp phần cơ cấu lại nền kinh tế

Trang 11

- Đều dẫn đến việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp

- Đều bị thu hồi con dấu và giấy chứng nhận đăng ký

- Đều phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản

Khác nhau.

Giải thể doanh nghiệp

Căn cứ pháp lý chính: Luật Doanh nghiệp 2014

Nguyên nhân: Theo Luật Doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp bị giải thể khi thuộc mộttrong các trường hợp sau:

- Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyếtđịnh gia hạn

- Theo quyết định của những người có quyền nộp đơn yêu cầu giải thể doanhnghiệp

- Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định trong thờihạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp

- Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Loại thủ tục: Giải thể doanh nghiệp là một loại thủ tục hành chính do người có thẩmquyền trong doanh nghiệp tiến hành làm việc với Cơ quan đăng ký kinh doanh

Thứ tự thanh toán tài sản:

Trang 12

- Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của phápluật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể vàhợp đồng lao động đã ký kết.

- Thông qua quyết định giải thể doanh nghiệp

- Tiến hành tổ chức thanh lý tài sản doanh nghiệp

- Thông báo công khai quyết định giải thể doanh nghiệp

- Doanh nghiệp tiến hành thanh toán các khoản nợ và phân chia phần tài sảncòn lại theo quy định

- Nộp hồ sơ giải thể

- Cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia

về đăng ký doanh nghiệp

Hậu quả pháp lý: Doanh nghiệp bị xóa tên trong sổ đăng ký kinh doanh và chấm dứt

Nguyên nhân: Theo Luật Phá sản 2014, doanh nghiệp được công nhận là phá sản khi

đồng thời thỏa mãn hai điều kiện:

- Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán các khoản nợ, tức là doanh nghiệpkhông thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từngày đến hạn thanh toán

- Doanh nghiệp bị Tòa án nhân dân tuyên bố phá sản

Trang 13

Người có quyền nộp đơn yêu cầu: Những người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tụcphá sản bao gồm:

- Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần

- Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần,Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viêntrở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợpdanh của công ty hợp danh

- Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở nhữngnơi chưa thành lập công đoàn cơ sở

Loại thủ tục: Phá sản là một loại thủ tục tư pháp do Tòa án có thẩm quyền quyết địnhsau khi nhận được đơn yêu tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạnhai thành viên trở lên, Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Thànhviên hợp danh của công ty hợp danh Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp,

Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thờigian liên tục ít nhất 06 tháng

Thứ tự thanh toán tài sản:

Sau khi đã thanh toán hết các khoản trên mà vẫn còn tài sản thì phần còn lại nàythuộc về: chủ doanh nghiệp tư nhân; chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn mộtthành viên; thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai

Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưutiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ

Trình tự thủ tục: Trình tự, thủ tục phá sản của doanh nghiệp được tiến hành như sau:

Trang 14

- Nộp đơn cho Tòa án yêu cầu mở thủ tục phá sản.

- Tòa án xem xét và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

- Tòa án mở thủ tục phá sản đối với những trường hợp đã đáp ứng đủ điều kiện

mở thủ tục phá sản

- Phục hồi doanh nghiệp

- Thanh lý tài sản

- Ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản

Hậu quả pháp lý: Doanh nghiệp bị phá sản vẫn có thể tiếp tục hoạt động nếu như cóngười mua lại toàn bộ doanh nghiệp (Không phải lúc nào doanh nghiệp cũng bị xóatên và chấm dứt sự tồn tại)

Thái độ nhà nước: Nhà nước có thể hạn chế quyền tự do kinh doanh đối với chủ sởhữu hay người quản lý điều hành

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP.

2.1 Đối tượng áp dụng và căn cứ pháp lý:

Đối tượng áp dụng: Theo Khoản 1 Điều 2 Luật phá sản thì Luật phá sản áp dụng đốivới doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã ( hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã gọichung là hợp tác xã ) được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật ViệtNam

Căn cứ pháp lý: Theo Luật phá sản năm 2014

2.2 Cơ quan có thẩm quyền giải quyết phá sản doanh nghiệp:

Cơ quan có thẩm quyền giải quyết phá sản doanh nghiệp là Tòa án nhân dân cấp tỉnh

và Tòa án nhân dân cấp huyện Cụ thể đó là:

Theo Khoản 1 Điều 8 Luật Phá sản năm 2014 có quy định Tòa án nhân dân cấp tỉnh

có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng

ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã tại tỉnh đó

và thuộc một trong các trường hợp sau :

- Vụ việc phá sản có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ởnước ngoài;

Trang 15

- Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có chi nhánh, văn phòng đạidiện ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;

- Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có bất động sản ở nhiềuhuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;

- Vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã,thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) mà Tòa

án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết do tính chất phức tạp của vụ việc

Theo Khoản 2 Điều 8 Luật Phá sản năm 2014 có quy định Tòa án nhân dân cấphuyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sởchính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó và không thuộc trường hợp quyđịnh tại khoản 1 Điều này

2.3 Đối tượng có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu nhà nước giải quyết phá sản:

Chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được chia làm hai nhóm chính:

- Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu phá sản

- Chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu phá sản

Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu phá sản:

Chỉ định phá sản được đặt ra trước hết là nhằm bảo vệ các quyền về tài sản của chủ nợ,việc giải quyết phá sản là giải quyết quan hệ tài sản giữa chủ nợ và doanh nghiệp mắc

nợ Do đó đối tượng đầu tiên có quyền làm đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nhiệp

mắc nợ là chủ nợ Khoản 1, điều 5, luật phá sản 2014 quy định “Chủ nợ không có bảo

đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán” Theo đó, chủ thể là chủ nợ có quyền nộp đơn

yêu cầu mở thủ tục phá sản ở đây là chủ nợ không có bảo đảm bằng tài sản của doanhnghiệp mặc nợ và chủ nợ có bảo đảm một phần tài sản của doanh nghiệp mắc nợ Luậtphá sản 2014 vẫn giữ nguyên thành phần chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tụcphá sản, quy định này tạo điều kiện cho các chủ nợ không có bảo đảm và các chủ nợ

có bảo đảm một phần có cơ hội lựa chọn thủ tục thích hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi

Trang 16

ích hợp pháp của mình khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Thờiđiếm phát sinh quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ là hết thời hạn

03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiệnnghĩa vụ thanh toán nghĩa là thời điểm doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanhtoán

Khoản 2, điều 5, luật phá sản 2014 quy định “Người lao động, công đoàn cơ sở, công

đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở tủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán” Chủ thể có quyền nộp đơn

yêu cầu mở thủ tục phá sản là người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cơ sở cấptrên trực tiếp Luật phá sản 2014 có quy định thêm hai đối tượng có quyền nộp đơntrong nhóm này à công đoàn cơ sở và công đoàn cơ sở cấp trên trực tiếp (đối vớinhững nơi không có công đoàn cấp cơ sở) Thời điểm phát sinh quyền nộp đơn yêucầu mở thủ tục phá sản của những chủ thể này là thời điểm hết thời hạn 03 tháng kể từngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ đến hạn đối với người lao động

mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán

Khoản 5, điều 5, luật phá sản 2014 quy định “Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ

20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phàn mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều lệ công ty quy định” Theo đó, chủ

thể là cổ đông hoặc nhóm cổ đông có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản gồm:

- Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trongthời gian liên tục ít nhất 06 tháng

- Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thờigian liên tục ít nhất 06 tháng và được quy định trong Điều lệ công ty

Khoản 6, điều 5, luật phá sản 2014 quy định:“Thành viên hợp tác xã hoặc người đại

diện theo pháp luật của hợp tác xã, thành viên của liên hiệp hợp tác xã có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mất khả năng

Trang 17

thanh toán” Đối tượng áp dụng là hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã vì chỉ có hai

đối tượng này mới tồn tại thành viên hợp tác xã, thành viên của liên hiệp hợp tác xã.Thời điểm phát sinh quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là thời điểm hợp tác

xã, liên hiệp hợp tác xã mất khả năng thanh toán Tức là thời điểm hợp tác xã, liên hiệphợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ khi đến hạn thanh toán

Chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu phá sản:

Khoản 3, điều 5, luật phá sản 2014 quy định:”Người đại diện theo pháp luật của

doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán”.

Khoản 4, điều 5, luật phá sản 2014 quy định:”Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội

đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu

mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán”.

Theo đó, chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:

- Người đại diện pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã

- Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần,Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viêntrở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợpdanh của công ty hợp danh

Riêng nhóm chủ thể thứ hai chỉ áp dụng cho đối tượng là doanh nghiệp vì thành viênchỉ ở các loại hình doanh nghiệp mới xuất hiện các chủ thể trên Ở hợp tác xã thì chỉ

có thành viên hợp tác xã và hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã, các chủ thểnày đã được quy định có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tại khoản 6 điều 5luật này

Thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là khi doanh nghiệp,hợp tác xã mất khả năng thanh toán, không trả được các khoản nợ đến hạn

2.4 Thủ tục giải quyết phá sản:

2.4.1: Nộp đơn, nhận đơn và mở thủ tục phá sản:

Ngày đăng: 01/10/2021, 12:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w