Tiểu luận - trục lợi bảo hiểm trong vận tải đường biển.
Trang 1KHOA KINH TẾ - LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-OOO -TRỤC LỢI BẢO HIỂM TRONG
VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN
GVHD: Thạc sỹ Hoàng Lâm Cường
Trang 2Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ TRỤC LỢI BẢO HIỂM
I CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG BẢO HIỂM
1 Bảo hiểm (Insurance)
Có nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm nhưng định nghĩa sau được thừa nhậnmột cách rộng rãi:
Bảo hiểm là sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm đối với người được bảo hiểm về những tổn thất của đối tượng bảo hiểm do những rủi ro đã được thỏa thuận gây
ra với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm.
Như vậy, bản chất của bảo hiểm là sự phân chia rủi ro, tổn thất của một hay củamột số người cho cả cộng đồng tham gia bảo hiểm cùng gánh chịu
2 Người bảo hiểm (Insurer)
Là người ký kết hợp đồng với người được bảo hiểm, nhận rủi ro tổn thất về phíamình và được hưởng một khoản phí bảo hiểm
3 Người được bảo hiểm (Insured)
Là người có quyền lợi bảo hiểm được một công ty bảo hiểm đảm bảo Người cóquyền lợi bảo hiểm là người mà khi có sự cố bảo hiểm xảy ra thì dẫn họ đến một tổn thất,một trách nhiệm pháp lý hay làm mất đi của họ những quyền lợi được pháp luật thừanhận
4 Đối tượng bảo hiểm (Subject matter insured)
Là đối tượng mà vì nó người ta phải ký kết hợp đồng bảo hiểm Đối tượng bảohiểm gồm ba nhóm chính: tài sản, con người và trách nhiệm dân sự
Trong đề tài này, chúng ta chỉ nghiên cứu về bảo hiểm tài sản
5 Trị giá bảo hiểm (Insurance value)
Là giá trị của tài sản và các chi phí hợp lý khác có liên quan như phí bảo hiểm,cước phí vận tải, lãi dự tính
6 Số tiền bảo hiểm (Insurance amount)
Là số tiền mà người được bảo hiểm kê khai và được người bảo hiểm chấp nhận
Số tiền bảo hiểm có thể nhỏ hơn, bằng hoặc lớn hơn giá trị bảo hiểm Nếu số tiềnbảo hiểm nhỏ hơn trị giá bảo hiểm thì gọi là bảo hiểm dưới giá trị, bằng trị giá bảo hiểmthì gọi là bảo hiểm trên giá trị Khi bảo hiểm lớn hơn giá trị thì phần lớn hơn đó vẫn cóthể phải nộp phí bảo hiểm nhưng không được bồi thường khi tổn thất xảy ra
7 Phí bảo hiểm (Insurance Premium)
Trang 3Là một tỷ lệ phần trăm nhất định của trị giá bảo hiểm hay số tiền bảo hiểm Phíbảo hiểm chính là khoản tiền mà người được bảo hiểm phải trả cho người bảo hiểm đểđối tượng bảo hiểm của mình được bảo hiểm.
8 Tỷ lệ phí bảo hiểm (Insurance rate)
Là một tỷ lệ phần trăm nhất định thường do các công ty bảo hiểm công bố Tỷ lệphí bảo hiểm được tính dựa vào thống kê rủi ro tổn thất trong nhiều năm Xác suất xảy rarủi ro càng lớn thì tỷ lệ phí bảo hiểm càng cao
Các công ty bảo hiểm thường công bố bảng tỷ lệ phí bảo hiểm cho từng nghiệp vụbảo hiểm
9 Rủi ro (Risk)
Là những đe dọa nguy hiểm mà con người không lường trước được, là nguyênnhân gây nên tổn thất cho đối tượng bảo hiểm Ví dụ như: Tàu mắc cạn, đắm, cháy, đâm
va, chiến tranh, đình công …
10 Tổn thất (Loss, Average, Damage)
Là sự mất mát, hư hại do rủi ro gây nên Ví dụ : Tàu bị đắm, hàng bị ướt, tàu đâmphải đá ngầm, hàng bị vỡ…
II KINH DOANH BẢO HIỂM
1 Kinh doanh bảo hiểm
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đíchsinh lời, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên
cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểmcho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảohiểm
2 Bảo hiểm tài sản
Bảo hiểm tài sản là loại hình bảo hiểm, theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm tiến hànhthu phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm và cam kết bồi thường cho bên được bảo hiểmkhi tài sản mua bảo hiểm gặp những rủi ro trong phạm vi bảo hiểm dẫn đến tổn thất
III TRỤC LỢI BẢO HIỂM
1 Khái niệm
Với những khái niệm trên, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm đượcthực hiện trên cơ sở doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm đểđổi lại họ được quyền thu những khoản phí nhất định từ người mua bảo hiểm Khi doanhnghiệp bảo hiểm thu phí của bên mua bảo hiểm cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệpbảo hiểm sẽ phải gánh chịu một mức trách nhiệm đối với người được bảo hiểm tươngứng mức phí bảo hiểm đã thu Đây là yếu tố để chứng minh rằng, quan hệ kinh doanh bảohiểm là quan hệ xã hội mang tính chất song vụ, quyền lợi bên này cũng chính là nghĩa vụ
Trang 4của bên kia và ngược lại Tham gia vào quan hệ bảo hiểm, các bên nhằm mục đích hợptác với nhau để đạt được những lợi ích nhất định Để thiết lập nên quan hệ mang tính hợptác, tương trợ này, bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ cam kết:không được cố ý thực hiện những hành vi có thể gây thiệt hại cho phía đối tác Như vậy,những hành vi lừa dối nhằm gây thiệt hại cho phía bên kia để đạt được những quyền lợitài chính nhất định trong quan hệ bảo hiểm, chúng ta có thể coi là việc kiếm lời bất hợppháp.
Theo quy định tại Thông tư 31/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thựchiện Nghị định 118 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
thì: “Trục lợi bảo hiểm là hành vi cố ý lừa dối của tổ chức, cá nhân nhằm thu lợi bất
chính khi tham gia bảo hiểm, bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm và giải quyết khiếu nại bảo hiểm”.
Như vậy, nói đến trục lợi bảo hiểm là phải nói đến hành vi của tổ chức, cá nhânđược thực hiện một cách cố ý nhằm thu lợi bất chính Nhận dạng hành vi trục lợi bảohiểm phải chú trọng đến việc tổ chức, cá nhân tham gia vào quan hệ bảo hiểm (bao gồmbồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm, giải quyết khiếu nại bảo hiểm) nhằm thu lợi bấtchính cho mình Tổ chức, cá nhân được đề cập trong khái niệm trục lợi bảo hiểm trên đây
có thể là bên mua bảo hiểm, bên được bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm, thậm chí
có thể là hành vi gian lận trong bảo hiểm của đại lý bảo hiểm và doanh nghiệp môi giớibảo hiểm Cho dù là tổ chức, cá nhân nào đi chăng nữa, nhưng nếu muốn thực hiện đượchành vi trục lợi bảo hiểm, thì các chủ thể này cũng phải tham gia vào quan hệ kinh doanhbảo hiểm
Tóm lại, chúng ta có thể khẳng định: Trục lợi bảo hiểm là hành vi kiếm lời bất hợppháp của các chủ thể tham gia vào quan hệ kinh doanh bảo hiểm
Tương tự như vậy, trục lợi bảo hiểm tài sản là việc các bên tham gia vào quan hệbảo hiểm tài sản nhằm thực hiện các hành vi lừa dối để được hưởng quyền lợi tài chính
mà lẽ ra mình không được hưởng hoặc hưởng lợi lớn hơn quyền lợi tài chính mà mìnhđược hưởng
2 Các dạng trục lợi bảo hiểm
a Khai tăng giá trị giá tổn thất
Hành vi này thường được thực hiện bằng cách lợi dụng tổn thất xảy ra để làm hưhỏng thêm tài sản được bảo hiểm nhằm được trả tiền bồi thường cao hơn, hoặc làm hưhỏng toàn bộ tài sản đã được bảo hiểm để được bồi thường tài sản có trị giá lớn hơn Mộtcách khác là tổn thất ít, lẽ ra không được bồi thường, nhưng làm cho tổn thất vượt quámức miễn thường để được bồi thường
Ví dụ: Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa bằng đường biển quy định: “Mức miễnthường là 0,35% trách nhiệm qua cân tại cảng” Trên thực tế, trọng lượng hàng hóa bịthiếu là 0,34% nên không được bồi thường Bên mua bảo hiểm có thể trục lợi bảo hiểmqua việc “tìm cách” nâng con số này lên trên 0,35% để được bồi thường
b Đã xảy ra tổn thất mới đi mua bảo hiểm
Trang 5Hình thức trục lợi bảo hiểm này không phải là hiếm Đối tượng bảo hiểm (máymóc, phương tiện vận chuyển…) đã bị tổn thất tức là sự kiện bảo hiểm đã xảy ra, bênmua bảo hiểm mới đi giao kết hợp đồng bảo hiểm để được bồi thường hoặc được trả tiềnbảo hiểm.
Ví dụ: Tàu biển đã bị đắm, toàn bộ hàng hóa bị tổn thất, chủ hàng mới đi mua bảohiểm Thực tế cho thấy, có khi người bán bảo hiểm không biết là tàu đã bị đắm, nhưngphần lớn là có sự “bắt tay… bẩn” với nhau để ghi ngày giao kết hợp đồng bảo hiểm trướcngày xảy ra đắm tàu, làm cho hợp đồng bảo hiểm có giá trị pháp lý Đúng ra là hợp đồngnày vô hiệu vì sự kiện bảo hiểm đã xảy ra, đối tượng bảo hiểm (ở đây là hàng hóa) khôngcòn tồn tại (Điều 22, Luật Kinh doanh bảo hiểm)
Ví dụ: Một tài sản trị giá 10 tỷ đồng được mua bảo hiểm ở 3 doanh nghiệp bảohiểm với số tiền bảo hiểm ở mỗi doanh nghiệp là 10 tỷ đồng Khi có tổn thất toàn bộ, 3công ty phải trả 30 tỷ đồng, trong khi lẽ ra chỉ phải cùng nhau chi trả tổng cộng là 10 tỷđồng
d Cố ý gây tổn thất cho đối tượng bảo hiểm
Đây là hình thức trục lợi bảo hiểm rất tinh vi, có kiến thức nghiệp vụ cao về bảohiểm, được chuẩn bị kỹ lưỡng, số tiền trục lợi thường lớn, rất khó điều tra hoặc tìm rađược sự thật thì tốn nhiều công sức, tiền của Một cách khá phổ biến là tìm cách hủy hoạitài sản trong một hoàn cảnh được dàn dựng như thật Ví dụ như cố ý đánh đắm tàu biểntrong một tình huống được tạo ra rất hợp lý (thời tiết xấu, hỏng máy, cố ý đâm va…) Tấtnhiên là kẻ trục lợi nắm vững mọi điều khoản của hợp đồng bảo hiểm để chắc chắn rủi rokhông nằm trong trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợpđồng để không bị từ chối bồi thường Kiểu trục lợi này rất nguy hiểm, với hậu quảnghiêm trọng về mặt tài chính cho doanh nghiệp bảo hiểm khi có thông đồng giữa bênmua bảo hiểm và những “con sâu” trong doanh nghiệp bảo hiểm để nâng giá trị tài sảnđược bảo hiểm trước khi tham gia bảo hiểm
Ví dụ: Một tàu biển trị giá 30 triệu đô-la, được “bắt tay” nâng lên 32 triệu đô-la;sau đó tàu bị đắm rất “hợp lý” và “ngẫu nhiên”, số tiền bảo hiểm phải trả là 32 triệu đô-la(gian lận 2 triệu đô-la!) Một cách làm khác là thay thế những thiết bị đắt tiền của tài sản
Trang 6được bảo hiểm bằng những đồ “rởm” sau đó hủy hoại tài sản đó Dĩ nhiên là số tiền bồithường sẽ được tính cho đồ “xịn” như khi tham gia bảo hiểm Cách trục lợi này thườngxảy ra với các tài sản có giá trị cao, có lắp đặt thiết bị đắt tiền như tàu thủy, xe chuyêndụng…
e Khai ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm trước thời hạn hợp đồng
Hợp đồng bảo hiểm phải có thời hạn bảo hiểm, tức là nếu trong khoảng thời gian
đó có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm chongười thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm
Ví dụ: Một “Giấy chứng nhận bảo hiểm môtô-xe máy” có ghi thời hạn bảo hiểm:
24 tháng, từ 8 giờ 50 phút ngày 28-9-2005 đến 8 giờ 50 phút ngày 28-9-2007 Nếu tai nạncho người đi xe máy xảy ra ngày 29-9-2007 thì kẻ trục lợi bảo hiểm sẽ “đạo diễn” saocho tai nạn xảy ra trước 8 giờ 50 phút ngày 28-9-2007
f Lập hồ sơ giả
Cách trục lợi này thường phải có “tay trong” ở các doanh nghiệp bảo hiểm và “bắttay” với đường dây sửa chữa đối tượng bảo hiểm là tài sản như phương tiện vận tải, máymóc, thiết bị… Tuy không có tổn thất thực tế đối với đối tượng bảo hiểm nhưng vẫn cóđầy đủ chứng từ hợp lệ (hóa đơn sửa chữa, mua vật tư, phụ tùng…) với đầy đủ chữ kýthật, dấu thật, chứng từ thật hoàn toàn nhưng chỉ có “sự thật” là… giả
g Tạo dựng hiện trường giả
Trục lợi bảo hiểm theo cách này thường biểu hiện ở việc tạo ra một hiện trườngnhư… thật
Ví dụ: Giả vờ bị mất cắp hàng hóa thì khóa cửa kho bị phá, niêm phong hầm hàng
bị mở, mái kho bị dỡ ra…
Có trường hợp còn “đóng kịch” là bị cướp tài sản, bị trói, nhét giẻ vào miệng; tựđốt nhà kho sau khi tẩu tán tài sản…, thay hàng hóa, phương tiện vận chuyển bị hư hỏngnhưng không tham gia bảo hiểm bằng hàng hóa, phương tiện vận chuyển có tham gia bảohiểm để lập sơ đồ, bản ảnh, bản vẽ… nhằm hợp lý hóa hồ sơ
Ví dụ: Đánh tráo biển số của xe ôtô không tham gia bảo hiểm nhưng bị tai nạnbằng biển số của xe có tham gia bảo hiểm nhưng không bị tai nạn… Trong bảo hiểmnhân thọ, đã xảy ra việc tự gây thương tích như gẫy chân, tay, vỡ đầu… sau khi đã thamgia bảo hiểm với số tiền bảo hiểm rất lớn, nhưng khi doanh nghiệp bảo hiểm nghi ngờ,phối hợp với cảnh sát giao thông để dựng lại hiện trường tai nạn thì thấy không thể… gẫychân, tay, vỡ đầu được vì khai là do ngã xe máy mà xe và mặt đường không có một vếtxây sát nào và khai thời gian ngã vào giờ tan tầm mà lại không có ai trông thấy để làmchứng
Trang 7Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG TRỤC LỢI BẢO HIỂM
I QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN
CỦA BÊN MUA BẢO HIỂM VÀ DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM TRONG QUAN HỆ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM
Cơ sở hình thành nên quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin trongquan hệ thương mại nói chung, đó là tất cả các giao dịch kinh doanh cần thực hiện trên cơ
sở tin cậy lẫn nhau Trong thực tế, điều đó có nghĩa là các bên khi tham gia vào các hoạtđộng kinh doanh không được phép có bất kỳ hành vi gian lận hay mưu toan lừa đảo nào.Điều này không có nghĩa rằng, người bán phải có nghĩa vụ chỉ ra các khiếm khuyết đốivới sản phẩm mà họ bán ra Tuy nhiên, khi giới thiệu, thông báo hoặc trả lời câu hỏi,người bán hàng phải đưa ra những câu trả lời trung thực
Trong quan hệ bảo hiểm tài sản, để đạt được lợi ích của mình, các bên tham giacần phải tuân thủ triệt để nguyên tắc này Sở dĩ chúng ta khẳng định như vậy, bởi vì, sảnphẩm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm mang tính khá đặc thù, là sản phẩm mang tínhtrừu tượng thể hiện ở việc tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên đều hoàn toàn khôngthể biết trước được sản phẩm mà hai bên thỏa thuận mua bán có hình thành trong tươnglai hay không Tức là, doanh nghiệp bảo hiểm thì không thể biết được trách nhiệm củamình đối với sản phẩm mình bán ra có phát sinh hay không, ngược lại, bên được bảohiểm cũng không thể biết được tài sản mình mua bảo hiểm có thể bị tổn thất hay không.Như vậy, khác với các giao dịch mua bán thông thường có đối tượng mua bán là hànghóa, các bên có thể nhìn thấy được hàng hóa mà mình tham gia mua bán, trong bảo hiểmtài sản, yếu tố này sẽ được hình thành trong tương lai, tuy nhiên có thể hình thành hoặckhông, phụ thuộc vào việc rủi ro có xảy ra hay không và có trong phạm vi bảo hiểm màhai bên cam kết hay không
Ngoài ra, còn phải kể đến một đặc thù: hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạtđộng mang tính nghiệp vụ cao, kỹ thuật bảo hiểm tài sản mang tính trừu tượng và khóhiểu Các quy tắc, điều khoản bảo hiểm chứa đựng những thuật ngữ chuyên ngànhthường khó hiểu, nên dẫn đến việc một số khách hàng dù cố gắng đến mấy vẫn không thểhiểu rõ nội dung của nó Như vậy, nếu thiếu sự cung cấp các thông tin liên quan đến hợpđồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm khó có thể đi đến quyết định giao kết hợp đồng
Tại Điểm a, Khoản 2 Điều 17 Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật KDBH) quy định:Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện,điều khoản bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm Khoản 1 Điều 19 LuậtKDBH cũng quy định: Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có tráchnhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điềukiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải chịu tráchnhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin đó Ngược lại, bên mua bảo hiểm khitham gia quan hệ bảo hiểm cũng phải công bố các thông tin liên quan đến tài sản màmình mua bảo hiểm Theo quy định tại Điểm b, Khoản 2 Điều 18, Luật KDBH thì: “Bênmua bảo hiểm có nghĩa vụ kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp
Trang 8đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm” Và để đảm bảo nguyên tắctrung thực tuyệt đối của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, bên mua bảo hiểm cũng phảichịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của những thông tin mà họ đưa ra Tuynhiên, như đã trình bày, chỉ có doanh nghiệp bảo hiểm là người biết rõ nhất sản phẩm bảohiểm mà mình thiết kế, bao gồm những thông tin nào là cần thiết cho việc hình thành nênquan hệ hợp đồng bảo hiểm, do vậy, pháp luật cho phép bên mua bảo hiểm chỉ phải cungcấp các thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảohiểm mà thôi Như vậy, nếu việc không cung cấp thông tin từ phía bên mua bảo hiểm là
do doanh nghiệp bảo hiểm không yêu cầu, thì doanh nghiệp bảo hiểm cũng không được
áp dụng trường hợp này để đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng theo quy định tạiKhoản 2 Điều 19, Luật KDBH về trách nhiệm cung cấp thông tin
Để tránh những tranh chấp xảy ra trong việc thực hiện quy định của pháp luật vềnghĩa vụ cung cấp trong quan hệ bảo hiểm tài sản, theo chúng tôi, trước khi giao kết hợpđồng, các bên cần thiết phải lập biên bản ghi rõ những nội dung mà doanh nghiệp bảohiểm yêu cầu cũng như những thông tin mà bên mua bảo hiểm cung cấp cho doanhnghiệp bảo hiểm Bởi lẽ, tham gia vào quan hệ kinh doanh bảo hiểm còn có các chủ thểtrung gian đó là các đại lý bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, nếu các chủ thểnày - vì quyền lợi của mình mà không chú trọng đến việc thực hiện quy định của phápluật về nghĩa vụ cung cấp thông tin - có thể gây bất lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm vàbên mua bảo hiểm Theo quy định của pháp luật thì đại lý bảo hiểm là chủ thể thay mặtdoanh nghiệp bảo hiểm trong việc thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm còn doanh nghiệpmôi giới bảo hiểm là chủ thể thực hiện các công việc liên quan đến quan hệ bảo hiểmtheo yêu cầu của bên mua bảo hiểm
II QUY ĐỊNH VỀ GIỚI HẠN BỒI THƯỜNG
Mục đích của bảo hiểm tài sản là khôi phục lại tình trạng tài chính ban đầu chongười được bảo hiểm ngay sau khi tổn thất xảy ra Sự khôi phục này được gọi là bồithường Trong quan hệ bảo hiểm tài sản, thuật ngữ “bồi thường” đóng vai trò hết sứcquan trọng, nó xác định phạm vi trách nhiệm tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm Bồithường là cơ chế mà công ty bảo hiểm sử dụng để cung cấp khoản tài chính với mục đíchhoàn trả cho người được bảo hiểm những gì đã mất do việc tài sản bảo hiểm gặp tổn thấttrong phạm vi rủi ro được bảo hiểm Như vậy, có thể khẳng định, bồi thường được coi là
sự đền bù chính xác về tài chính, đủ để khôi phục tình trạng tài chính ban đầu của ngườiđược bảo hiểm như trước khi xảy ra tổn thất
Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, một trong những nội dung mà các bên không thể
bỏ qua, đó là, phải xác định mối liên hệ giữa bồi thường và quyền lợi được bảo hiểm.Mối liên hệ này thể hiện ở quyền lợi tài chính của người được bảo hiểm đối với tài sảnbảo hiểm Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm trả cho ngườiđược bảo hiểm không được vượt quá mức độ quyền lợi tài chính của người đó đối với tàisản bảo hiểm Điều này cũng có nghĩa rằng, người tham gia bảo hiểm tài sản không đượckiếm lời qua con đường bảo hiểm, nhiều nhất người bảo hiểm cũng chỉ được bồi thườngnhững gì mình đã mất chứ không thể nhiều hơn những gì đã mất
Trang 9Quán triệt nguyên tắc bồi thường trong bảo hiểm tài sản, Luật KDBH đã quy định
về căn cứ bồi thường tại Điều 46 như sau: Số tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểmphải trả cho người được bảo hiểm được xác định trên cơ sở giá thị trường của tài sản tạithời điểm, nơi xảy ra tổn thất và mức độ thiệt hại thực tế và số tiền bồi thường mà doanhnghiệp bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm.Với quy định về giới hạn bồi thường trên đây, chúng tôi xin có một số nhận xét như sau:
Thứ nhất, pháp luật đã quy định, căn cứ để xem xét bồi thường trong quan hệ bảo
hiểm tài sản là “giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm, nơi xảy ra tổn thất
và mức độ thiệt hại thực tế” Tuy nhiên, vấn đề xác định giá thị trường là một việc khákhó khăn Sở dĩ chúng tôi đưa ra nhận xét trên đây vì giá thị trường thường tính được đốivới những tài sản còn mới, trong khi đó, tài sản rơi vào trường hợp bảo hiểm phải là tàisản đã qua sử dụng Vì vậy, việc xác định thiệt hại thực tế xảy ra đối với tài sản bảo hiểmchỉ mang tính ước đoán Để thực hiện được điều khoản về căn cứ bồi thường, doanhnghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm phải thống nhất về cách thức và biện pháp xácđịnh giá trị của tài sản bảo hiểm tại thời điểm và nơi xảy ra tổn thất
Thứ hai, mục đích của Điều 46 là nhằm để chống trục lợi bảo hiểm trong khi đó
lại cho phép các bên thỏa thuận về số tiền bồi thường mà không dựa vào căn cứ bồithường Quy định này vô hình trung đã làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật Vìvậy, tại Khoản 1 và 2 Điều 46 nên bỏ cụm từ “trừ trường hợp có thỏa thuận khác tronghợp đồng bảo hiểm” để đảm bảo mục đích chống trục lợi cũng như đảm bảo tính thốngnhất và nghiêm minh của pháp luật
III QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TRÙNG
Bảo hiểm trùng là trường hợp bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm vớihai doanh nghiệp bảo hiểm trở lên để bảo hiểm cho cùng một đối tượng với cùng điềukiện và sự kiện bảo hiểm Pháp luật không cấm bên mua bảo hiểm mua bảo hiểm trùngcho tài sản bởi vì đây là quyền định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản Tức là, chủ tàisản được quyền mua bảo hiểm cho tài sản tại nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau vớicùng điều kiện và sự kiện bảo hiểm nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình đối với tàisản
Tuy nhiên, trong quan hệ này, bên được bảo hiểm không được phép lợi dụng yếutố: phí bảo hiểm phải trả cho một tài sản là rất nhỏ so với giá trị tài sản để yêu cầu bảohiểm nhiều lần cho tài sản tại nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau nhằm mục đíchnhận được khoản tiền bảo hiểm lớn hơn nhiều lần so với giá trị của tài sản bảo hiểm Đểngăn chặn mục đích trục lợi trong trường hợp này, khoản 2 Điều 44 Luật KDBH quyđịnh: “Trong trường hợp các bên giao kết hợp đồng bảo hiểm trùng, khi xảy ra sự kiệnbảo hiểm, mỗi doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường theo tỷ lệ giữa sốtiền bảo hiểm đã thỏa thuận trên tổng số tiền của tất cả các hợp đồng mà bên mua bảohiểm đã giao kết Tổng số tiền bồi thường của các doanh nghiệp bảo hiểm không vượtquá giá trị thiệt hại thực tế của tài sản” Quy định trên có thể được hiểu là, pháp luật
Trang 10không cấm bên mua bảo hiểm mua bảo hiểm nhiều lần cho một tài sản tại nhiều doanhnghiệp bảo hiểm với cùng điều khoản và sự kiện bảo hiểm, nhưng khi mua thì phải cónghĩa vụ thông báo cho các doanh nghiệp bảo hiểm khác biết về điều này Trên cơ sở cáchợp đồng bảo hiểm đã giao kết, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ cùng chịu trách nhiệmtrong phạm vi cam kết của mình trên tổng giá trị thiệt hại.
Ví dụ: Ông A có một chiếc xe ôtô hiệu M Ngày 2/3/2005 ông A mua bảo hiểmvật chất xe (bảo hiểm tài sản) tại doanh nghiệp bảo hiểm B với số tiền bảo hiểm là 1,1 tỷđồng Ngày 3/4/2005 ông A lại mua bảo hiểm cho chiếc xe tại doanh nghiệp bảo hiểm Cvới số tiền bảo hiểm là 900 triệu đồng Cả hai hợp đồng bảo hiểm trên đều cùng điều kiện
và sự kiện bảo hiểm Ngày 5/8/2005, chiếc xe bị tai nạn (rủi ro xảy ra trong phạm vi bảohiểm), tổn thất toàn bộ Giá trị của chiếc xe được định giá tại thời điểm tổn thất là 800triệu đồng
Trong trường hợp trên, trách nhiệm của hai doanh nghiệp bảo hiểm được xác địnhnhư sau:
- Doanh nghiệp bảo hiểm B phải chịu trách nhiệm bồi thường là: 1,1 tỷ (sồ tiềnbảo hiểm đã thỏa thuận giữa doanh nghiệp B và ông A) chia cho 2 tỷ (là tổng số tiền bảohiểm của hai hợp đồng giao kết với doanh nghiệp bảo hiểm B và C tức 1,1 tỷ cộng với
900 triệu) được tỷ lệ là 55% nhân với giá trị thiệt hại thực tế là 800 triệu Vậy, số tiền màdoanh nghiệp bảo hiểm B phải bồi thường là 440 triệu đồng
- Doanh nghiệp bảo hiểm C phải chịu trách nhiệm bồi thường là: 900 triệu chiacho 2 tỷ được tỷ lệ là 45% nhân với giá trị thiệt hại thực tế là 800 triệu sẽ ra số tiền bồithường là 360 triệu
Như vậy, từ ví dụ trên đây cho thấy, theo quy định của pháp luật, ông A sẽ khôngđược nhận khoản tiền bồi thường từ các doanh nghiệp bảo hiểm lớn hơn thiệt hại thực tếxảy ra là 800 triệu (cụ thể, cộng cả hai khoản tiền bồi thường từ hai doanh nghiệp bảohiểm là 440 triệu + 360 triệu = 800 triệu)
Với quy định trên đây, có quan điểm cho rằng, quy định tại điều 44, Luật KDBH
có thể dẫn đến cách hiểu rằng, pháp luật không cho phép bên mua bảo hiểm được giaokết hợp đồng bảo hiểm trùng trong bảo hiểm tài sản Những người theo quan điểm nàylập luận rằng, Khoản 2, Điều 44 quy định “Trong trường hợp các bên giao kết hợp đồngbảo hiểm trùng… doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường theo tỷ lệ giữa
số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận trên tổng số tiền bảo hiểm của tất cả các hợp đồng bảohiểm mà bên mua bảo hiểm đã giao kết” thực chất chỉ là giải quyết hậu quả xảy ra, chứkhông phải là sự thừa nhận của pháp luật trong việc cho phép giao kết hợp đồng bảo hiểmtrùng trong bảo hiểm tài sản Tuy nhiên, chúng tôi lại không nhất trí với quan điểm trên,bởi lẽ, pháp luật không cấm giao kết hợp đồng bảo hiểm trùng trong bảo hiểm tài sản vàmục đích của bên mua bảo hiểm khi tham gia vào quan hệ bảo hiểm tài sản là nhằmchuyển giao rủi ro và để giảm bớt rủi ro, bên mua bảo hiểm có thể mua bảo hiểm cho tàisản của mình tại nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau với cùng một điều kiện và sựkiện bảo hiểm Sở dĩ họ chọn cách thức này vì bản thân hoạt động của các doanh nghiệpbảo hiểm cũng hàm chứa các rủi ro, nếu một trong các doanh nghiệp bảo hiểm này phásản thì bên mua bảo hiểm có thể đòi bồi thường ở các doanh nghiệp bảo hiểm còn lại.Yếu tố mà pháp luật cấm ở đây là khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, bên mua bảo hiểm không
Trang 11được đòi các doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường theo thỏa thuận trong hợp đồng, tức saukhi nhận tiền bồi thường thì số tiền này lớn hơn nhiều lần thiệt hại của tài sản bảo hiểm.Nếu bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm trùng rồi lập hồ sơ đòi từng doanhnghiệp bảo hiểm trả tiền bồi thường theo từng cam kết để nhận được số tiền lớn hơn giátrị tài sản, thì hành vi này được xem là lừa đảo và sẽ bị xử lý theo quy định của Bộ luậtHình sự.
IV QUY ĐỊNH VỀ BẢO HIỂM TRÊN GIÁ TRỊ
Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng và cộng đồng nhữngngười tham gia bảo hiểm nói chung, một yêu cầu được đặt ra đối với bên mua bảo hiểmkhi tham gia vào quan hệ bảo hiểm tài sản là họ phải có quyền lợi đối với tài sản bảohiểm và chỉ được mua bảo hiểm cho tài sản trong phạm vi quyền lợi tài chính mà họ cóđược từ tài sản ở đây, chúng ta phải hiểu rằng, trong bảo hiểm tài sản, không ai ngoàibên mua bảo hiểm là người biết rõ nhất về giá trị của tài sản mà mình đang sở hữu, dovậy, khi tiến hành bảo hiểm cho tài sản, bên mua bảo hiểm phải trung thực trong việc đưa
ra số tiền bảo hiểm Pháp luật đã quy định, số tiền bảo hiểm là số tiền mà bên mua bảohiểm yêu cầu bảo hiểm cho tài sản đó Quy định này cũng có thể được hiểu là, khi bênmua bảo hiểm đã yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm gánh chịu một tổn thất tương ứng với
số tiền bảo hiểm thì cũng có nghĩa rằng, bên mua bảo hiểm có quyền lợi tài chính từ tàisản bảo hiểm tương đương với số tiền bảo hiểm
Như vậy, trong bảo hiểm tài sản, sẽ không thể hình thành nên một giao dịch mà sốtiền bảo hiểm cao hơn giá thị trường của tài sản tại thời điểm giao kết hợp đồng Lý do,bên mua bảo hiểm không thể yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm gánh chịu thay mình mộttổn thất mà họ không thể có được, bởi vì, quyền lợi tài chính mà bên mua bảo hiểm thực
có chỉ được tính đúng bằng giá thị trường của tài sản Nếu trường hợp do vô ý, bên muabảo hiểm nhầm tưởng về giá trị của tài sản mà giá trị này cao hơn giá thị trường của tàisản tại thời điểm giao kết, thì số tiền mà bên mua bảo hiểm nhận được cũng không vượtquá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm Tức là, trong trường hợp này, pháp luật chỉthừa nhận tính hợp pháp của giao dịch trong phạm vi giá thị trường của tài sản, còn phầnvượt quá sẽ vô hiệu Tuy nhiên, trên thực tế, việc nhầm tưởng này sẽ rất khó xảy ra, bởi
lẽ khi một người sở hữu một tài sản có giá trị, họ sẽ phải thường xuyên quan tâm đến cácthông tin liên quan đến quyền lợi tài chính của mình đối với tài sản Đồng thời trước khitham gia vào một giao dịch với mục đích bảo vệ quyền lợi tài chính đối với tài sản, họphải là người biết rõ nhất giá trị tài sản cần bảo vệ là bao nhiêu Vì thế trên thực tế, hợpđồng bảo hiểm tài sản được giao kết trên giá trị thường là do bên mua bảo hiểm cố ý đểđược hưởng quyền lợi tài chính nhiều hơn mình có Khi xảy ra trường hợp trên, chúng ta
có thể coi đây là hành vi trục lợi Nếu bên mua bảo hiểm thực hiện hành vi trục lợi thôngqua việc cố tình yêu cầu một số tiền bảo hiểm lớn hơn giá thị trường của tài sản thì phápluật không thừa nhận giao dịch này
Cụ thể, Khoản 1 Điều 42 Luật KDBH quy định “Hợp đồng bảo hiểm tài sản trêngiá trị là hợp đồng trong đó số tiền bảo hiểm cao hơn giá thị trường của tài sản được bảohiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm