1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương giới trong LĐQL CCLLCT 2022

97 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 226,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề 1: Đồng chí hãy trình bày những khái niệm cơ bản liên quan đến bình đẳng giới. Hãy đánh giá về nhận thức của xã hội nước ta nói chung, của giới lãnh đạo, quản lý nói riêng về bình đẳng giới ? 2 Đề 2: Đồng chí hãy phân tích những thách thức trong thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay. Đối với tổ chức (hoặc ngànhlĩnh vực) nơi đồng chí công tác, thách thức nào là lớn nhất? Vì sao? 6 Đề 3: Đồng chí hãy trình bày quan điểm của chủ nghĩa MácLênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về bình đẳng giới ? 9 Đề 4: Trình bày khung pháp luật và chính sách về bình đẳng giới ở VN hiện nay. Theo đc để hoàn thiện khung luật pháp và chính sách về BĐG, VN cần làm gì trong thời gian tới ? 13 Đề 5. Đồng chí hãy đánh giá thực trạng bộ máy thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam. Theo đồng chí cần hải làm để hoàn thiện và nâng cao năng lực bộ máy thúc đẩy BĐG ở Việt Nam hiện nay? Liên hệ vấn đề này ở tổ chức nơi đồng chí công tác ? 17 Đề 6. Đồng chí hãy phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong thực thi bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay. Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác? 21 Đề 7: Đồng chí hãy trình bày những giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay? Trong tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác cần chú ý tới những giải pháp nào để thúc đẩy bình đăng giới, nâng cao vai trò của phụ nữ ? 25 Đề 8. Đồng chí hãy trình bày khái niệm, vai trò, mục tiêu và một số công cụ phân tích giới. Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác ? 28 Đề 9: Đồng chí hãy trình bày khái niệm, vai trò, các bước tiến hành và các điều kiện đảm bảo lồng ghép giới. Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác ? 32 Đề 10: Đồng chí hãy trình bày vai trò và những nội dung cơ bản của kỹ năng hướng dẫn cán bộ nữ trong bối cảnh hiện nay. Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác ? 36 Đề 11: Trình bày khái niệm, vai trò và chu trình ủy quyền hiệu quả trong xây dựng năng lực cho cán bộ nữ. Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác? 41 Đề 12: Đồng chí hãy trình bày vai trò và những nội dung cơ bản của kỹ năng hướng dẫn cán bộ nữ trong bối cảnh hiện nay. Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác? 44 THAM KHẢO 49 TK1: Bất bình đẳng giới nguyên nhân của bạo lực gia đình 49 TK2: Bình đẳng giới thành công và thách thức 51 TK3: Giải pháp thực hiện bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ ở Việt Nam hiện nay 55 TK4: Một số giải pháp thực hiện bình đẳng giới trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số 57 TK5: Những hạn chế trong thực thi chính sách bình đẳng giới về chính trị ở Việt Nam 62 TK6: Những thách thức, cơ hội và giải pháp nâng cao vị thế, vai trò của phụ nữ Việt Nam khi bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư 68 TK7: Tầm quan trọng của lãnh đạo nữ nhìn từ các lý luận hiện đại 73 TK8: Tầm quan trọng của lãnh đạo nữ nhìn từ các lý luận hiện đại 80 TK9: THÚC ĐẨY THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG BỐI CẢNH TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC TỪ ĐẠI DỊCH COVID19 86 TK10: MỘT VÀI NÉT VỀ GIỚI TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN, NÔNG NGHIỆP VÀ THUỶ SẢN 88 TK11: Vai trò của thể chế đối với thực hiện bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam hiện nay 91 Đề 1: Đồng chí hãy trình bày những khái niệm cơ bản liên quan đến bình đẳng giới. Hãy đánh giá về nhận thức của xã hội nước ta nói chung, của giới lãnh đạo, quản lý nói riêng về bình đẳng giới ? a) Những khái niệm cơ bản liên quan đến bình đẳng giới Thứ nhất, Giới và giới tính: Giới và giới tính là hai khái niệm có quan hệ mật thiết với nhau. Sự phân biệt khái niệm “giới” và “giới tính” được quy định tại Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 như sau: “1. Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội. 2. Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ”. Như vậy, khái niệm “giới” và “giới tính” giúp phân biệt đặc điểm của nữ giới và nam giới để hiểu rõ thực chất và cơ chế hình thành các đặc điểm đó. Sự khác nhau giữa “giới tính” và “giới” được thể hiện cụ thể qua các nội dung sau: “Giới tính” là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về phương diện sinh học, có sẵn từ khi sinh ra, mang tính ổn định cao và bị quy định bởi quy luật sinh học. Ví dụ: Chỉ nam giới mới có tinh trùng, chỉ phụ nữ mới có trứng (trong độ tuổi sinh đẻ). Khác với giới tính, giới không mang tính bẩm sinh mà được hình thành trong quá trình sống, học tập của con người từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành. Nói cách khác, giới được thể hiện thông qua các hành vi hình thành trong quá trình xã hội hóa (từ sự tiếp nhận các khuôn mẫu hành vi, ứng xử, qua quá trình dạy dỗ, giáo dục trong gia đình, nhà trường, cộng đồng và xã hội). Nội hàm của khái niệm “giới” đề cập đến vị trí, vai trò của nam và nữ mà xã hội mong muốn, kỳ vọng ở nữ giới và nam giới liên quan đến các đặc điểm và năng lực nhằm xác định thế nào là một người nam giới hay một phụ nữ (hoặc trẻ em trai, trẻ em gái) trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định. Ví dụ: phụ nữ làm nội trợ, thêu thùa, chăm sóc con cái; nam giỏi xây dựng nhà cửa, làm kinh tế, chính trị... Thứ hai, Định kiến giới: Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 nêu rõ: “Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ”. Nói cách khác, đây là những suy nghĩ phổ biến của cộng đồng xã hội về khả năng và công việc của nữ giới và nam giới, tức là những gì nữ giới và nam giới có thể làm, cần làm và nên làm. Ví dụ: quan niệm xã hội phổ biến là phụ nữ thường nhẫn nại hơn, nam giới thường có khả năng lãnh đạo tốt hơn; phụ nữ cần tập trung chăm sóc con cái, trong khi nam giới cần tập trung kiếm tiền nuôi sống gia đình...

Trang 1

Mục Lục:

Đề 1: Đồng chí hãy trình bày những khái niệm cơ bản liên quan đến bình đẳng giới Hãy đánh giá về nhận

thức của xã hội nước ta nói chung, của giới lãnh đạo, quản lý nói riêng về bình đẳng giới ? 2

Đề 2: Đồng chí hãy phân tích những thách thức trong thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay Đối với tổ chức (hoặc ngành/lĩnh vực) nơi đồng chí công tác, thách thức nào là lớn nhất? Vì sao? 6

Đề 3: Đồng chí hãy trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về bình đẳng giới ? 9

Đề 4: Trình bày khung pháp luật và chính sách về bình đẳng giới ở VN hiện nay Theo đ/c để hoàn thiện khung luật pháp và chính sách về BĐG, VN cần làm gì trong thời gian tới ? 13

Đề 5 Đồng chí hãy đánh giá thực trạng bộ máy thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam Theo đồng chí cần hải làm để hoàn thiện và nâng cao năng lực bộ máy thúc đẩy BĐG ở Việt Nam hiện nay? Liên hệ vấn đề này ở tổ chức nơi đồng chí công tác ? 17

Đề 6 Đồng chí hãy phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong thực thi bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác? 21

Đề 7: Đồng chí hãy trình bày những giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay? Trong tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác cần chú ý tới những giải pháp nào để thúc đẩy bình đăng giới, nâng cao vai trò của phụ nữ ? 25

Đề 8 Đồng chí hãy trình bày khái niệm, vai trò, mục tiêu và một số công cụ phân tích giới Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác ? 28

Đề 9: Đồng chí hãy trình bày khái niệm, vai trò, các bước tiến hành và các điều kiện đảm bảo lồng ghép giới Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác ? 32

Đề 10: Đồng chí hãy trình bày vai trò và những nội dung cơ bản của kỹ năng hướng dẫn cán bộ nữ trong bối cảnh hiện nay Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác ? 36

Đề 11: Trình bày khái niệm, vai trò và chu trình ủy quyền hiệu quả trong xây dựng năng lực cho cán bộ nữ Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác? 41

Đề 12: Đồng chí hãy trình bày vai trò và những nội dung cơ bản của kỹ năng hướng dẫn cán bộ nữ trong bối cảnh hiện nay Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác? 44

THAM KHẢO 49

TK1: Bất bình đẳng giới- nguyên nhân của bạo lực gia đình 49

TK2: Bình đẳng giới - thành công và thách thức 51

TK3: Giải pháp thực hiện bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ ở Việt Nam hiện nay 55

TK4: Một số giải pháp thực hiện bình đẳng giới trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số 57

TK5: Những hạn chế trong thực thi chính sách bình đẳng giới về chính trị ở Việt Nam 62

TK6: Những thách thức, cơ hội và giải pháp nâng cao vị thế, vai trò của phụ nữ Việt Nam khi bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư 68

TK7: Tầm quan trọng của lãnh đạo nữ nhìn từ các lý luận hiện đại 73

TK8: Tầm quan trọng của lãnh đạo nữ nhìn từ các lý luận hiện đại 80

TK9: THÚC ĐẨY THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG BỐI CẢNH TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC TỪ ĐẠI DỊCH COVID-19 86

TK10: MỘT VÀI NÉT VỀ GIỚI TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN, NÔNG NGHIỆP VÀ THUỶ SẢN 88

TK11: Vai trò của thể chế đối với thực hiện bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam hiện nay 91

Trang 2

Đề 1: Đồng chí hãy trình bày những khái niệm cơ bản liên quan đến bình đẳng giới Hãy đánh giá về nhận thức của xã hội nước ta nói chung, của giới lãnh đạo, quản lý nói riêng về bình đẳng giới ?

a) Những khái niệm cơ bản liên quan đến bình đẳng giới

Thứ nhất, Giới và giới tính: Giới và giới tính là hai khái niệm có quan hệ mật thiết

với nhau Sự phân biệt khái niệm “giới” và “giới tính” được quy định tại Điều 5 Luật Bìnhđẳng giới năm 2006 như sau:

“1 Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội

2 Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ”

Như vậy, khái niệm “giới” và “giới tính” giúp phân biệt đặc điểm của nữ giới và namgiới để hiểu rõ thực chất và cơ chế hình thành các đặc điểm đó Sự khác nhau giữa “giớitính” và “giới” được thể hiện cụ thể qua các nội dung sau:

- “Giới tính” là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về phương diện sinh học,

có sẵn từ khi sinh ra, mang tính ổn định cao và bị quy định bởi quy luật sinh học Ví dụ:Chỉ nam giới mới có tinh trùng, chỉ phụ nữ mới có trứng (trong độ tuổi sinh đẻ)

- Khác với giới tính, giới không mang tính bẩm sinh mà được hình thành trong quátrình sống, học tập của con người từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành Nói cách khác, giớiđược thể hiện thông qua các hành vi hình thành trong quá trình xã hội hóa (từ sự tiếp nhậncác khuôn mẫu hành vi, ứng xử, qua quá trình dạy dỗ, giáo dục trong gia đình, nhà trường,cộng đồng và xã hội) Nội hàm của khái niệm “giới” đề cập đến vị trí, vai trò của nam và

nữ mà xã hội mong muốn, kỳ vọng ở nữ giới và nam giới liên quan đến các đặc điểm vànăng lực nhằm xác định thế nào là một người nam giới hay một phụ nữ (hoặc trẻ em trai,trẻ em gái) trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định Ví dụ: phụ nữ làm nội trợ,thêu thùa, chăm sóc con cái; nam giỏi xây dựng nhà cửa, làm kinh tế, chính trị

Thứ hai, Định kiến giới:

Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 nêu rõ: “Định kiến giới là nhận thức, thái độ vàđánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ” Nóicách khác, đây là những suy nghĩ phổ biến của cộng đồng xã hội về khả năng và côngviệc của nữ giới và nam giới, tức là những gì nữ giới và nam giới có thể làm, cần làm vànên làm Ví dụ: quan niệm xã hội phổ biến là phụ nữ thường nhẫn nại hơn, nam giớithường có khả năng lãnh đạo tốt hơn; phụ nữ cần tập trung chăm sóc con cái, trong khinam giới cần tập trung kiếm tiền nuôi sống gia đình

Những thay đổi trong định kiến giới theo thời gian đã được chứng minh ở một số khuvực trên thế giới Đến đầu thế kỷ XXI, sự khác biệt về vai trò xã hội của nam giới và nữgiới ở một số xã hội như Hoa Kỳ và châu Âu đã thu hẹp lại Các cơ hội giáo dục và việclàm gia tăng cùng với sự gia tăng việc tham gia các hoạt động chính trị, xã hội của phụ nữ

đã làm cho tình trạng bình đẳng giới được cải thiện ở nhiều xã hội Tuy nhiên, trong các

xã hội khác - ví dụ như ở một số nưóc Trung Đông - định kiến giới vẫn tồn tại dai dẳng.Định kiến giới ở những xã hội này thường đặt vai trò phụ nữ vào những bất lợi đáng kể vềquyền con người và quyền công dân, ví đụ như quyền bầu cử, ứng cử chính trị, quyềngiao thiệp xã hội, quyền được bảo vệ về mặt pháp lý

Thứ 3, Vai trò giới: Vai trò giới là tập hợp những hoạt động và hành vi ứng xử mà

nam giới và nữ giới học được và thể hiện trong thực tế, dựa trên mong đợi từ phía xã hội

Trang 3

đối với họ Các vai trò giới là đa dạng (tùy thuộc vào vị trí và bối cảnh), thay đối theo thờigian (tương ứng với sự thay đổi của các điều kiện và hoàn cảnh) và thay đổi theo sự thayđổi của quan niệm xã hội (tương ứng với việc chấp nhận hoặc không chấp nhận một hành

vi ứng xử vai trò nào đó),

Trong cuộc sống, nam và nữ đều tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội Tuynhiên, mức độ tham gia của nam và nữ trong các loại công việc là khác nhau, do nhữngquan niệm, chuẩn mực xã hội khác nhau quy định Việc nữ giới và nam giới thực hiệnnhững công việc khác nhau như vậy được gọi là sự đảm nhận các vai trò giới

Về bản chất, vai trò giới được quyết định bởi các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội Dovậy, nữ giới và nam giới được mong đợi làm những công việc khác nhau và có vị trí khácnhau ngay trong cùng một công việc Việc thực hiện những vai này khiến hai giới phụthuộc lẫn nhau Tuy nhiên, sự phụ thuộc đó cũng có thể thay đổi, do thực tể việc “đóngvai” của nam và nữ luôn thay đổi (vai trò giới thay đổi nhanh hơn định kiến giới)

Vai trò giới thường được xem xét ở ba lĩnh vực: sản xuất, tái sản xuất, cộng đồng:

- Vai trò sản xuất là các hoạt động làm ra sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ để tiêu

dùng và trao đổi thương mại Đây là những hoạt động tạo ra thu nhập và được trả công

Cả nữ giới và nam giới đều có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất nhưng do địnhkiến trong xã hội nên mức độ tham gia của họ không như nhau và giá trị công việc mà họtạo ra cũng không được nhìn nhận như nhau

- Vai trò tái sản xuất là các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy dỗ giúp tái sản

xuất dân số và sức lao động, bao gồm việc sinh con, các công việc chăm sóc gia đình,nuôi dạy và chăm sóc trẻ em, nấu ăn, dọn đẹp, giặt giũ, chăm sóc sức khỏe cho các thành

viên trong gia đinh Ở hầu hết các xã hội, phụ nữ và trẻ em gái thường đóng vai trò và chịu trách nhiệm chính trong các công việc tái sản xuất này.

- Vai trò cộng đồng bao gồm những hoạt động nhằm đảm bảo cung cấp và bảo vệ các

nguồn lực đáp ứng nhu cầu chung của cộng đồng như vệ sinh môi trường, nước sạch, dịch

vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục

Thứ 4, Nhu cầu giới: Nhu cầu giới là nhu cầu mà mỗi giới có nguyện vọng, yêu cầu

được đáp ứng để thực hiện tốt vai trò của mình Nhu cầu của nam khác nhu cầu của nữ và

do nhiều yếu tố khác nhau hình thành Nhu cầu nảy sinh từ đời sống hàng ngày thườnggóp phần củng cố phân cống lao động theo giới, có hai loại nhu cầu giới, gồm:

- Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu có liên quan đến cải thiện điều kiện sống hiện

tại nhưng vẫn duy trì mối quan hệ lệ thuộc của phụ nữ vào nam giới (lệ thuộc về kinh tế,việc ra quyết định )

- Nhu cầu giới chiến lược (còn gọi là lợi ích giới) là những nhu cầu giúp phụ nữ thoát

khỏi vị trí lệ thuộc, yếu kém, làm thay đổi mối quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ

Thứ 5, Phân biệt đối xử theo giới: Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006: Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị

trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xãhội và gia đình

Thứ 6, Bình đẳng giới: Bình đẳng giới là tình trạng không có sự phân biệt đối xử trên

cơ sở giới tính (về quyền, trách nhiệm và cơ hội) Nhờ vậy, nữ giới và nam giới được tôntrọng ngang nhau, được tiếp cận các nguồn lực như nhau, được thụ hưởng thành quả nhưnhau, có cơ hội và điều kiện như nhau để nhận biết được các quyền con người của mình

và khả năng đóng góp của bản thân vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội

Trang 4

của đất nước

Có ba kiểu quan niệm về bình đẳng giới là bình đẳng giới kiểu hình thức, bình đẳnggiới kiểu bảo vệ và bình đẳng giới kiểu thực chất

- Bình đẳng giới kiểu hình thức xuất phát từ quan niệm coi nam và nữ là giống như

nhau, không để ý đến sự khác biệt về sinh học cũng như sự khác biệt do xã hội quy định

Do vậy, xét về bản chất, kiểu quan niệm này tạo thêm gánh nặng cho phụ nữ, buộc họ phảithể hiện mình theo cách của nam giới

- Bình đẳng giới kiểu bảo vệ nhận diện được sự khác biệt giữa nam và nữ, nhưng cho

rằng cần tập trung xem xét các điểm yếu của phụ nữ để tạo ra những sự đối xử khác biệt

Quan niệm này dẫn đến việc cố gắng tạo ra những “vỏ bọc bảo vệ phụ nữ” Tuy nhiên,

việc thực hiện bình đẳng giới theo quan niệm này thực ra là cản trở quyền tự do lựa chọncủa phụ nữ Phụ nữ có thể bị tước đi hàng loạt cơ hội phát triển khiến tình trạng bất bìnhđẳng giới ngày càng trở nên trầm trọng

- Bình đẳng giới kiểu thực chất nhận rõ sự khác biệt giữa nam và nữ về sinh học và sự

khác biệt xã hội do lịch sử để lại Do vậy, quan niệm này chú ý đến bình đẳng trong phápluật và bình đẳng trong thực tế, tập trung điều chỉnh các môi trường có ảnh hưởng tiêu cựcđối với cả nam giới và phụ nữ, đồng thời chú ý tạo sự bình đẳng cho cả nam và nữ về cơhội, tiếp cận cơ hội và hưởng thụ cơ hội

Thứ 7, Nhạy cảm giới: Nhạy cảm giới là sự nhận thức đầy đủ và đúng đắn về nhu

cầu, vai trò và trách nhiệm khác nhau của nam giới và nữ giới, hiểu được rằng những khác biệt này có thể dẫn đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, mức độ tham gia, thụ hưởng các nguồn lực và thành quả phát triển.

Thứ 8, Trách nhiệm giới: Trách nhiệm giới là việc nhận thức được các vấn đề giới,

khác biệt giới và nguyên nhân của những khác biệt, từ đó đưa ra biện pháp tích cực nhằm giải quyết và khắc phục bất bình đẳng trên cơ sở giới Trách nhiệm giới chú trọng đến những biện pháp hoặc hành động thường xuyên, tích cực và nhất quán trong công việc để loại trừ nguyên nhân bất bình đẳng giới, nhằm đạt được bình đẳng giới

b) Đánh giá về nhận thức của xã hội nước ta nói chung, của giới lãnh đạo, quản lý nói riêng về bình đẳng giới?

Có thể nói, mục tiêu bình đẳng giới hiện là mối lưu tâm hàng đầu của các quốc gia nóiriêng và cộng đồng quốc tế nói chung Ngay từ thời điểm năm 1955, Liên Hợp quốc đãthống nhất quan điểm và thông qua Chương trình hành động giới, lồng ghép giới tại Hộinghị quốc tế về phụ nữ, lần thứ tư tại Bắc Kinh (Trung Quốc); Năm 1979 tiếp tục thôngqua Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ và mụctiêu thiên niên kỷ thứ ba cũng nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ.Đại hội đồng Liên Hợp quốc cũng đã quyết định đặt ra nhiều ngày lễ quốc tế, nhiều sựkiện trọng đại vì mục tiêu bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ Điều này cho thấy sự

ưu tiên đặc biệt của cộng đồng quốc tế về vấn đề bình đẳng giới

Việt Nam là một trong những quốc gia sớm dành cho công tác bình đẳng giới những

ưu tiên nhất định Cụ thể, trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ CộngHòa, Hiến pháp năm 1946, tại Điều 9 đã đề cập thẳng đến quyền bình đẳng nam nữ: “Đàn

bà ngang quyền với đàn ông trên mọi phương diện” Và trong di chúc của Bác, Ngườicũng trăn trở về vai trò và vị trí của người phụ nữ: “Đảng và Chính phủ cần phải có kếhoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng có thêm nhiều phụ nữphụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn

Trang 5

lên Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ” Và vấn đề này

đã được thể chế hóa thành các văn bản Luật như Luật Bình đẳng giới năm 2006, LuậtPhòng chống bạo lực gia đình năm 2007 hay ban hành các chương trình hành động như:Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 – 2020, Chương trìnhhành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020… để đảm bảo quyềnlợi cho người phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế và ngaychính trong gia đình của họ

Có thể nói lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các cơ quan đơn vị đã quan tâm triểnkhai công tác bình đẳng giới thông qua các luật, lồng ghép bình đẳng giới, các chươngtrình hành động Tuy nhiên, nhận thức trên thực tế hành động còn phụ thuộc vào khu vực,lĩnh vực, điều kiện cụ thể Cụ thể, sự quyết tâm giới lãnh đạo chưa cao trên thực tế, như

cụ thể trên lĩnh vực chính trị, các chỉ số tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội, HĐND các cấp chỉdừng lại ở khâu giới thiệu bầu, do vậy dẫn đến thực trạng sự tham gia phụ nữ còn hạn chế.Việc ban hành một số văn bản luật, còn chưa quán triệt bình đẳng nam, nữ như tuổi quyhoạch, tuổi nghỉ hưu nam, nữ, quy định tài sản chung vợ chồng trong luật đất đai Donhận thức trong tâm lý bảo vệ phụ nữ nên một số chính sách, luật còn chưa tạo ra cơ hộibình đẳng chọn nam, nữ

Tình trạng gia tăng sinh con thứ 3 trong đảng viên, kể cả trong cán bộ làm công tácliên quan đến bình đẳng giới, trong đó dễ hiễu là tâm lý sinh con một bề còn nặng, chothấy nhận thức một lĩnh vực này một bộ phận còn hạn chế

Tình trạng phổ biến khuôn mẫu định kiến giới mạnh mẽ trong sách giáo khoa là ví dụđiển hình, thể hiện nhận thức trọng nam, ăn sâu kể cả người làm chính sách, người làmkhoa học Thể hiện cụ thể qua minh họa ngành nghề định kiến giới…

Công tác tuyên truyền về bình đẳng giới đã góp phần làm chuyển biến nhận thức vàhành vi của cộng đồng dân cư về giới và bình đẳng giới trong quan hệ đối xử giữa nam và

nữ, trong thực hiện kế hoạch hoá gia đình, trong lựa chọn sinh con theo giới tính, về vị thếcủa phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội Trong công cuộc đổi mới, công tác này gópphần không nhỏ vào việc thay đổi nhận thức của phụ nữ theo hướng tiến bộ về vị trí, vaitrò của họ và giúp họ khẳng định được bản thân mình trong xã hội Tuy nhiên, nhận thứcvấn đề bình đẳng giới trong các nhóm xã hội (gia đình, dòng họ, làng xã, dân tộc, nghề

nghiệp) vẫn còn thiếu sự thống nhất Tư tưởng“trọng nam khinh nữ”ngự trị dai dẳng

trong xã hội vẫn tiếp tục là hệ quả xấu đối với nam giới trong đối xử với nữ giới, là ràocản trong quá trình thực hiện bình đẳng giới Sự bất bình đẳng giới vẫn tồn tại trong nhiềulĩnh vực như về quyền lợi, nghĩa vụ, phân công lao động, cơ hội việc làm, tiền lương, thunhập, cơ hội thăng tiến giữa nam và nữ

Nhận thức người dân còn phụ thuộc vào khu vực,việc chú trọng nâng cao nhận thứccho cả nam và nữ còn hạn chế Phụ nữ còn tự ti, an phận, cam chịu và chấp nhận vớinhững định kiến giới tồn tại trong xã hội Phong tục, tập quán lạc hậu theo kiểu “xuất giátòng phu”, “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, “đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”…còn tồntại khá phổ biến ở nhiều nơi là một trong những nguyên nhân cản trở mục tiêu bình đẳnggiới Ở khu vực vùng sâu, vùng xa còn nặng nề quan niệm con trai hơn con gái, công việcgia đình là trách nhiệm của riêng phụ nữ, định hướng nghề nghiệp vẫn theo hướng truyềnthống… nên việc đầu tư cho trẻ em gái trong học tập không được chú ý và quan tâm nhiềunhư với trẻ em trai

Tình trạng định kiến giới trong tuyển dụng người lao động, bổ nhiệm còn tâm lý e

Trang 6

ngại khả năng, đặc điểm sinh học của phụ nữ

Liên hệ địa phương: Các anh/chị tự liên hệ địa phương mình công tác Chú ý mặt đạt được/chưa được và giải pháp.

Đề 2 : Đồng chí hãy phân tích những thách thức trong thúc đẩy bình đẳng giới ở

Việt Nam hiện nay Đối với tổ chức (hoặc ngành/lĩnh vực) nơi đồng chí công tác, thách thức nào là lớn nhất? Vì sao?

Bài làm 1: Phân tích những thách thức trong thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay

Theo Điều 5, Luật BĐG năm 2006): “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước thực hiện nhiều bước đột phá về nhận thức

và hành động, từ khía cạnh luật pháp, chính sách đến thực tiễn và đạt được nhiều thành tựuquan trọng về bình đẳng giới Ở Việt Nam, Liên hợp quốc đánh giá là điểm sáng trong việcthực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ về BĐG Nhiều văn bản QPPL liên quan đến BĐGđược ban hành, điển hình như Luật BĐG 2006 và các bản hướng dẫn thi hành; Chiến lượcquốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu nâng cao nhận thức, thu hẹpkhoảng cách về giới và nâng cao vị thế của phụ nữ; tích cực thực hiện các sáng kiến quốc

tế và khu vực nhằm thúc đẩy việc bảo vệ quyền của phụ nữ và chống phân biệt đối xử đốivới phụ nữ Trong báo cáo “Triển vọng xã hội và việc làm của thế giới: Những xu hướng chophụ nữ năm 2018” của Liên hiệp quốc cho biết, thu nhập trung bình của nữ giới thấp hơn namgiới tới 23% Tỷ lệ này tại các nước Liên minh châu Âu khoảng 16%, tại Mỹ lao động nữđược trả lương thấp hơn nam giới tới 20%, trong khi đó ở Việt Nam mức độ chênh lệch giữanam và nữ chỉ 9,4% “Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XIV là 26,72%, tăng sovới hai khóa trước đó, cao hơn mức trung bình của thế giới (23,6%) và giữ vị trí tương đốitrong khu vực

Đặc biệt, đây là lần đầu tiên Quốc hội Việt Nam có Chủ tịch Quốc hội là nữ”, đưa ViệtNam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao ở khu vực và thế giới (đứngthứ 43/143 nước trên thế giới và thứ 2 trong ASEAN) Phụ nữ đảm nhiệm nhiều vị trí lãnhđạo chủ chốt của đất nước như Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng;14/30 Bộ hoặc cơ quan trực thuộc Chính phủ có Thứ trưởng là nữ Ở các địa phương,nhiều phụ nữ giữ vai trò chủ chốt ở các cấp, các ngành, góp phần giải quyết các vấn đềquan trọng

Trong lĩnh vực kinh tế, Theo báo cáo thẩm tra năm 2017 của Ủy ban về các vấn đề xãhội đánh giá, chỉ tiêu tỷ lệ nữ trong tổng số người được tạo việc làm mới, đạt 48% ngay từnăm đầu thực hiện Chiến lược quốc gia về BĐG (so với kế hoạch là 40% cho mỗi giới) đãđược duy trì ổn định đến nay Thời gian gần đây, nữ thành đạt trong lĩnh vực kinh doanhngày càng tăng mạnh thể hiện vai trò của phụ nữ trong xã hội không thua kém so với namgiới.Phụ nữ làm chủ cơ sở kinh doanh chiếm 31,6% Tuổi bình quân khi nghỉ hưu của laođộng nữ (54,1 tuổi 2016; 53,8 tuổi 2017) chỉ thấp hơn khoảng 3 tuổi so với lao động nam (57 tuổi)

Bên cạnh những thành tựu đã nêu, quá trình thực hiện BĐG ở Việt Nam đã và đang đặt rakhông ít khó khăn, thách thức Một trong những khung lý thuyết phổ biển hiện nay khi

Trang 7

nghiên cứu về bình đẳng giới là cách nhìn nhận về các rào cản, thách thức theo ba nhómyếu tố: cấu trúc, thể chế và văn hóa.

Đối với những thách thức mang tính cấu trúc, bao gồm: trình độ phát triển kinh tế

-xã hội, trình độ học vấn của phụ nữ và tỷ lệ phụ nữ trong các nghề nghiệp chuyên môn vàquản lý

Trước tiên, Về trình độ phát trỉển kinh tế - xã hội: Theo đánh giá của Ngân hàng thế

giới, Việt Nam là một trong những nền kinh tế đã thể hiện sự phát triển ngoạn mục trongkhoảng vài thập niên gần đây Thu nhập bình quân đầu người thực tế đã tăng từ 260USDvào năm 1995 lên 2.385 USD vào năm 2017 Tuy nhiên, vấn đề phát triển bền vững vẫn làmột thách thức lớn đối với Việt Nam Công cuộc đổi mới đất nước đã đạt được nhữngthành tựu vô cùng to lớn, nhưng đồng thời cũng làm tăng khoảng cách giữa các nhómngười trong một số lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực bình đẳng giới Chẳng hạn như: Tronglĩnh vực kinh tế, cơ hội của phụ nữ tiếp cận việc làm có thu nhập cao và các nguồn lựckinh tế vẫn còn thấp hơn so với nam giới

+ Thứ 2, Về lao động và việc làm: Các báo cáo nghiên cứu và thống kê quốc gia cho

thấy, tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động của Việt Nam thuộc hàng cao nhất thế giới.Tuy nhiên, đáng chú ý là có sự khác biệt giới rõ rệt trong thị trường lao động - điều có tácđộng mạnh mẽ đến địa vị kinh tể - xã hội của nữ giới và nam giới

Ví dụ: Theo báo cáo “Triển vọng việc làm và xã hội thế giới – Xu hướng cho phụ nữ” của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) năm 2017 thì: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của

phụ nữ Việt Nam là 72%, cao hơn mức trung bình thế giới (49%), mức trung bình của khuvực châu Á và nhóm các nước thu nhập trung bình thấp LĐN tại Việt Nam chiếm 48,4%tổng lực lượng lao động Tuy nhiên tỷ lệ nữ giới tại Việt Nam có việc làm thấp hơn 9% sovới nam giới Hiện có 7,8 triệu lao động nữ đang làm việc trong khu vực phi chính thứcvới điều kiện lao động không bảo đảm Tỷ lệ LĐN trong khu vực phi chính thức phải làmcông việc dễ bị tổn thương lên tới 59,6%, trong khi đó ở nam giới là 31,8% Khi DN cắtgiảm chi phí, lao động, đối tượng mà chủ doanh nghiệp hướng tới đầu tiên thường là LĐNvới nhiều lý do sức khỏe không bảo đảm, không có điều kiện nâng cao tay nghề, dẫn tớinăng suất lao động thấp Báo cáo cũng cho biết, có tới 57,3% số LĐN thất nghiệp ở nhómlao động chưa qua đào tạo và 50,2% trong nhóm đã được đào tạo nghề Đáng chú ý, tỷtrọng LĐN trong nhóm thất nghiệp có trình độ đại học lên tới 55,4%

+ Thứ 3, Về giáo dục và đào tạo: Việt Nam đang nỗ lực thực hiện mục tiêu xóa bỏ

khoảng cách giới trong giáo dục phổ thông và đã đạt được những thành tựu to lớn trongviệc mang đến cơ hội học tập cho cả nam và nữ Tuy nhiên, các chính sách cải cách đã làmgia tăng khoảng cách giới trong giáo dục Sự bất bình đẳng bén rễ ngay trong hệ thốnggiáo dục và biểu hiện ở tỷ lệ học sinh nữ tham gia ở cấp tiểu học và THCS thấp hơn tỷ lệhọc sinh nam, nhất là ở các vùng nghèo và vùng dân tộc thiểu số Học sinh nam có nhiều

cơ hội quay trở lại học tiếp hơn học sinh nữ Tỷ lệ trẻ em gái ở các tỉnh miền núi đi họccòn thấp, chủ yếu là các em phải ở nhà giúp gia đình, trường nội trú ở quá xa nhà và mộtvài nơi vẫn còn tục lệ lấy chồng sớm Báo cáo 'Ðánh giá tình hình giới ở Việt Nam 12-2006' do các tổ chức quốc tế: WB, ADB, DFID và CIDA phối hợp thực hiện cho thấy,trong quá trình đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa, mặc dù đã có nhiều cốgắng trong việc lồng ghép giới vào chương trình và các hoạt động ngoài giờ lên lớp,nhưng hiện nay vẫn còn có các định kiến giới trong các tài liệu giáo dục và sách giáo khoatrong việc chia sẻ việc nhà, phân biệt đối xử trong lực lượng lao động và các hành vi mang

Trang 8

lại rủi ro cho nam và nữ thanh niên (khảo sát sách giáo khoa Giáo dục Công dân lớp 9 mớicho thấy: nữ nhân vật xuất hiện trong 5/20 trường hợp nghiên cứu hoặc câu chuyện kểđược xem xét tới, nam nhân vật xuất hiện 11/20 và nhân vật trung tính xuất hiện 4/20) Bêncạnh đó, tỷ lệ nữ cán bộ quản lý giáo dục vẫn còn thấp, phần lớn chỉ giữ vị trí phó Họthường không được tham gia vào quá trình đưa ra quyết định, không được tiếp cận cácthông tin và thiếu cơ hội trao đổi, thảo luận, nhất là ở những vùng khó khăn, vùng dân tộcthiểu số.

Sự phân tách giới trong giáo dục đã đẩy phụ nữ ra khỏi các vị trí cần bằng cấp caohơn, cũng như tạo tiềm năng đẩy họ ra khỏi việc tham gia đầy đủ vào một số lĩnh vực vàngành nghề quan trọng

- Đối với những thách thức mang tính thể chế:

Việt Nam đã xây dựng được hệ thống văn bản pháp lý và bộ máy hoạt động vì mụctiêu bình đẳng giới tương đối đầy đủ Tuy nhiên, thực tế ở nhiều cấp, nhiều địa phương,hoạt động của các tổ chức này vẫn còn hạn chế; thiếu sự phối hợp, không rõ ràng, thậm chíchồng chéo trong phân định trách nhiệm giữa các cơ quan, đơn vị hoạt động vì bình đẳnggiới

Một số chính sách được tạo ra để “bảo vệ phụ nữ” không còn phù hợp trong thời kỳmới, gây ra những tác động không mong muốn, mâu thuẫn với sự vận hành của cơ chế thịtrường, như nữ nghỉ hưu ở tuổi 55, nam 60 đã han chế rất nhiều cơ hội được lao động vàcống hiến của phụ nữ; hay như các quy định yêu cầu cơ quan, doanh nghiệp sử dụng laođộng thực hiện ưu đãi lao động nữ và đảm bảo một số điều kiện đặc biệt như chế độ thaisản, chăm sóc trẻ em, cũng là những yếu tố rào cản đáng kể khiến các doanh nghiệp

“ngại” không muốn tuyển dụng lao động nữ vào làm việc

- Đối với, những thách thức mang tính văn hóa: Ở nước ta, nền văn hóa vẫn còn

mang nặng tư tưởng nho giáo nên các chuẩn mực giới thịnh hành trong quá khứ vẫn tiếptục gây áp lực đối với phụ nữ Phụ nữ thường được coi là thấp kém hơn so với nam giớitrong hầu hết các lĩnh vực dẫn đến vai trò kém quan trọng hơn trong công việc và họthường có tiếng nói yếu ớt hơn trong việc đưa ra các quyết định trong cuộc sống

Cho đến nay, nhiều người Việt Nam vẫn coi công việc chính của phụ nữ chi là sinh đẻ

và nấu ăn Các bậc cha mẹ chú trọng hơn đến tính “hướng ngoại” cho con trai và quan tâmnhiều hơn đến tính “hướng nội” cho con gái Những quan niệm lệch lạc đó dẫn đến hệ quảđàn ông tiếp tục là người đưa ra các quyết định quan trọng trong khi toàn bộ gánh nặngcủa những công việc không được trả lương trong gia đình đều dồn lên vai người phụ nữ.Ngoài ra, những khuôn mẫu định kiến giới mạnh mẽ vẫn còn tồn tại trong sách giáokhoa hiện hành đã góp phần củng cố sự thiên vị giới truyền thống Ở nhiều bức tranh minhhọa, vai trò của nam giới chủ yếu là ở cộng đồng và xã hội với tư cách là các nhà lãnh đạo,các học giả và công nhân có tay nghề kỹ thuật; tính cách mạnh mẽ, có lý trí, tự tin, độc lập

và được người khác tôn trọng Trong khi đó, phụ nữ thường được mô tả là nhút nhát, tìnhcảm, chăm chỉ, phụ thuộc vào sự giúp đỡ của người khác và chịu trách nhiệm chăm sóccon cái

Tư duy “trọng nam, khinh nữ” đã khiến nhiều phụ nữ trở thành nạn nhân của tình trạngbạo lực, lạm dụng cả về thể chất và tinh thần, để lại những hậu quả nghiêm trọng về sứckhỏe Do vậy, các cặp vợ chồng đã áp dụng rất nhiều phương pháp khác nhau để kiểm soátđược giới tính của đứa con mà họ sẽ sinh, bao gồm cả việc phá thai lựa chọn giới tính

2: Phân tích những thách thức thúc đẩy bình đẳng giới lớn nhất nơi đồng chí

Trang 9

Những định kiến về văn hóa - xã hội và vai trò truyền thống đã ràng buộc phụ nữ làmlãnh đạo cũng là những rào cản đối với sự phát triển của phụ nữ nói chung và nữ lãnh đạonói riêng Vẫn còn nhiều định kiến tồn tại như quan niệm “nam trưởng, nữ phó” hoặc chorằng phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong việc nội trợ, chăm sóc con cái, khiến phụ nữ ítđược ủng hộ vào các vị trí lãnh đạo có tầm ảnh hưởng lớn.

Định kiến giới không chỉ từ xã hội, gia đình hay từ phía nam giới đối với phụ nữ màđôi khi còn chính là định kiến, sự mặc cảm, tự ti của bản thân chị em phụ nữ về năng lựclãnh đạo, quản lý của chính mình Điều này dẫn đến tâm lý an phận, triệt tiêu ý thức phấnđấu của chị em Đây là một thách thức không nhỏ, đòi hỏi chị em phụ nữ phải vượt quanhững rào cản từ chính bản thân mình./

Đề 3: Đồng chí hãy trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về bình đẳng giới ?

1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về BĐG:

Từ khi xã hội phân chia thành giai cấp và xuất hiện tình trạng áp bức, bóc lột, ngườiphụ nữ luôn ở vị trí thấp kém nhất trong xã hội và là đối tượng bị áp bức nhất trong tất cảnhững người bị áp bức Do vậy, từ rất sớm, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã chỉ ra conđường và điều kiện để giải phóng phụ nữ, thực hiện b/đẳng nam nữ

Thứ nhất, về nguồn gốc dẫn tới sự bất bình đẳng giữa PN và NG

+ C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ nguồn gốc thấp kém của phụ nữ so với nam giới ởtrong gia đình và ngoài xã hội là đo sự bất bình đẳng về kinh tế đã dẫn tới sự thống trị củađàn ông đối với đàn bà và bất bình đẳng giới nảy sinh Ph.Ăngghen khẳng định: "Tìnhtrạng không bình quyền giữa đôi bên, do những qũan hệ xã hội trước kia để lại cho chúng

ta, tuy nhiên không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của việc áp bức đàn bà về mặt kinhtế”

+ Cùng với nguyên nhân kinh tế, C.Mác vả Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ, truyền thống vănhóa và xã hội (phong tục, tập quán lạc hậu) được sự cổ vũ mạnh mẽ của tôn giáo và sựbảo vệ vững chắc của pháp luật tư sản cũng là nguồn gốc rất cơ bản dẫn tới bất bình đẳngnam nữ, làm tăng thêm gánh nặng áp bức đối với phụ nữ Ph.Ăngghen cho rằng: “Tínhràng buộc vĩnh viễn của hôn nhân, thì một phần là kết quả của các điều kiện kinh tế, trong

đổ chế độ một vợ một chồng phát sinh, và phần nữa là một truyền thống của thời kỳ trong

đó mối liên hộ giữa những điều kiện kinh tế ấy với chế độ một vợ một chồng còn chưađược người ta hiểu một cách đúng đắn, và đã bị tôn giáo thổi phồng lên”, Các ông cũng

Trang 10

nhấn mạnh, chính bản thân người phụ nữ với sự cam chịu, nhẫn nhục, kém hiểu biét cànglàm cho sự bất bỉnh đẳng giới trở nên trầm kha trong xã hội tư bản.

- Thứ hai, về điều kiện giải phóng PN, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ

+ Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, con đường và điều kiện để giải phóng phụ nữ, thực

hiện bình đẳng giới trên thực tế - đó là con đường cách mạng xã hội nhằm xóa bỏ nguồn gốc tình tế mà từ đó đẻ ra mọi sự bất bình đẳng trong xã hội, bao gồm cả bất bình đẳng

giữa nam và nữ, trong đó chế độ sở hữu tư nhân phải được thay thế bằng sở hữu xã hội;phải đưa phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào công việc xã hội “Một sự bình đẳng thực

sự giữa PN và NG chỉ có thể trở thành hiện thực khi đã thủ tiêu được chế độ bóc lột của tưbản đối với cả hai giới và khi công việc nội trợ riêng trong GĐ đã trở thành một nền côngnghiệp XH”

+ Ph.Ăngghen nhấn mạnh: “ điều kiện tiên quyết để giải phóng phụ nữ là làm chotoàn bộ nữ giới trở lại tham gia nền sản xuất xã hội, và điều kiện đó lại đòi hỏi phải chogia đình cá thể không còn là một đơn vị kinh tế của xã hội nữa” Đồng thời cần phải tổchức lại cách phân công lao động xã hội và gia đình theo hướng giảm nhẹ gánh nặng giađình cho phụ nữ bằng cách xã hội hỏa một phần công việc gia đình

+ Luật pháp hóa mục tiêu bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa 2 giới: “…phải xác lập sựbình đẳng XH thật sự giữa hai bên, cũng như phương thức xác lập sự bình đẳng ấy, chỉ bộc

lộ ra hoàn toàn rõ ràng một khi mà cả vợ chồng đều bình đẳng trước PL”.

+ Cũng như C.Mác và Ph.Ẫngghen, V.I.Lênin xem xét tình trạng phụ nữ bị áp bức,

bóc lột, tình trạng bất bình đẳng giới từ những nguyên nhân kinh tế, xã hội, văn hóa sâu

xa của chúng Cải tạo toàn xẫ hội nhằm giải phóng tất cả những người lao động bị áp bức,bóc lột cũng là con đưòng giải phóng phụ nữ

+ V.LLênin rất quan tâm đến địa vị, vai trò của người phụ nữ Ông khẳng định mộtquan điểm chung rằng: “Địa vị của phụ nữ về mặt pháp lý là cái tiêu biểu nhất cho trình

độ văn minh” V.I.Lênin cho rằng: Để xóa bỏ vĩnh viễn tình trạng bất bình đẳng, cần sự nỗlực to lớn của Đảng, Nhà nước, toàn xã hội nhưng truớc hết và quyết định nhất là sự nỗlực của chính bản thân phụ nữ, “Việc giải phóng phụ nữ lao động phải là việc của bảnthân phụ nữ lao động Và nội đung đầu tiên phải thực hiện là: “Muốn để giải phóng phụ

nữ, muốn làm cho họ thật sự bình đẳng vói nam giới, thì phải có nền kinh tế chung của xãhội, phải để cho phụ nữ tham gia lao động sản xuất chung Như thế phụ nữ mới có địa vịbình đẳng vói nam giới

+ Theo V.I.Lênin, giành quyền bình đẳng cho phụ nữ không chỉ ghi nhận trong vănbản mà còn phải thực hiện Biện pháp hữu hiệu là mau chóng xóa bỏ khoảng cách giữa

“bình đẳng về mặt pháp luật” và “bình đẳng trong thực tế đời sống” cũng đã được V.I.Lênin chỉ ra và quyét tâm thực hiện khi ông còn sống và giữ cương vị lãnh đạo Đảng

và Nhà nưởc Xôviết Biện pháp đó là: “phải làm sao cho nữ công nhân ngày càng tham gia

nhiều hơn nữa vào việc quản lý các xí nghiệp công cộng, vào việc quản lý nhà nước” Vớiviệc thực hiện biện pháp này, V.I.Lênin hoàn toàn tin tưởng rằng: “Phụ nữ sẽ học tậpnhanh chóng và đuổi kịp được nam giới”

+ Toàn bộ hệ thống quan điểm của Mác, Ăngghen và Lênin về phụ nữ, giải phóng phụ

nữ và thực hiện quyền b/đẳng nam nữ được xây dựng trên cơ sở của triết học mácxít Đây làphương pháp tiếp cận khoa học, đồng thời là cơ sở lý luận đế phát triển khoa học về giới,hướng tới mục tiêu b/đẳng giới trong XH hiện nay

2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nam nữ bình quyền và giải phóng PN:

Trang 11

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi việc giải phóng phụ nữ là một trong nhữngmục tiêu đấu tranh cơ bản của sự nghiệp cách mạng Năm 1952, giữa lúc cuộc khángchiến chống thực dân Pháp đang trong thời kỳ đầy khó khăn, thách thức, nhân Ngày Quốc

tế phụ nữ 8-3, Người đã viết bài Nam nữ bình quyền, nêu rõ thực chất cuộc đấu tranh giải

phóng phụ nữ ở Việt Nam: “Nhiều người lầm tưởng đó là một việc dễ, chỉ: hôm nay anhnấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát thế là bình đẳng bìnhquyền, Lầm to! Đó là một cuộc cách mạng khá to và khó Vì trọng trai khinh gái là mộtthói quen mấy nghìn năm để lại Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình,mọi tầng lớp xã hội Vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế,vãn hóa, pháp luật Phải cách mạng từng người, tùng gia đỉnh, đến toàn dân Dù to và khónhưng nhất định thành công”

Những tư tường cốt lõi về bình đẳng giới của Ghủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện ở một sốluận điểm sau:

Thứ nhất, phụ nữ là một nửa xã hội, muốn xây đựng chủ nghĩa xã hội phải giải

phóng phụ nữ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí, vai trò của phụ nữ đối với lịch sử dântộc: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu màthêm tốt đẹp, rực rỡ”

Người có những luận điểm thể hiện tầm nhìn chiến lược khi đặt vấn đề giải phóngphụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ trong tương quan phát triển của xã hội mới,của chủ nghĩa xã hội: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội Nm không giải phóng phụ nữthì không giải phỏng một nửa lọài người Neu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủnghĩa xã hội chỉ một nửa

Thứ hai, giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình quyền là nhiệm vụ của Đảng,

Nhà nước và bản thân chị em phụ nữ.

Để thực hiện nam nữ bình quyền, Hồ Chí Minh nhắc nhở chị em: “Phải nâng cao tinhthần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; phải xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải pháttriển chí khí tự cường, tự lập”, Ngưòi chỉ rõ cho cảc cấp úy đảng và chính quyền “phải cóphương pháp đào tạo và giúp đỡ để nâng cao hơn nữa địa vị của phụ nữ” Người còn nổi,nếu cần bộ lãnli đạo là nữ mà ít, đấy là một thiếu sót của Đảng Nguyên nhân của tìnhtrạng phụ nữ ít được tham gia lãnh đạo quản lý, theo Người là vỉ: “Nhiều người còn đánhgiá không đúng khả nâng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi Như vậy lả rất sai” Ngườikhẳng định, giải phóng phụ nữ phải bằng pháp luật, chính sách, biện pháp cụ thể: “Từnay, các cấp đảng, chính quyền địa phương khi giao công tác cho phụ nữ, phải căn cứ vàotrình độ của từng người và cần phải tích cực giúp đỡ phụ nữ nhiều hơn nữa”, “Đảng vàChính pHủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ đế ngàythêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo Bản thân phụ nữ thìphải cố gắng vươn lên Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự chophụ nữ”

Đối vói Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng giải phóng phụ nữ và thực hiện nam nữ bìnhđẳng đã trở thành lý tưởng cách mạng, vừa thể hiện ý thức chính trị, lòng nhân ái vừa thểhiện giá trị văn hóa, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản của Người

3 Quan điểm của ĐCS Việt Nam về BĐG:

Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Nam nữ bỉnh quyền” làmột trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam Điều này được ghi nhận trong

Trang 12

Cương lĩnh chỉnh trị của Đảng năm 1930 Cương lĩnh cững nêu rõ giải phổng phụ nữ phảigắn với giải phóng dân tộc và giải phổng giai cấp.

Tư tưởng Hồ Ghí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nam nữ bìnhquyền được thể hiện và ghi nhận tại Điều 9 Hiến pháp đầu tiên của nước ta năm 1946:

“Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”

Ngay trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Ban

Bí thư Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 152-NQ/TW ngày 10-1-1967 về “một sốvấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận” ehỉ rõ: “Tư tường phong kiến đối với phụ nữcòn tồn tại khá sâu sắc trong một số cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo Thể hiện rõnhất tư tưởng hẹp hòi, “trọng nam khinh nữ”, chưa tin vào khả năng quản lý kinh té củaphụ nữ, chưa thấy hét những khó khăn trở ngại của phụ nữ ”

Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ mới, việc phát huy hơn nữa

vị trí, vai trò của các tầng lóp phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân

là yêu cầu, đòi hỏi lớn Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 7-6-1984 của Ban Bí thư về “một sốvấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ” chỉ rõ: “Nhiều cấp ủy đảng và lãnh đạo cácngành buông lỏng việc chỉ đạo thực hiện các nghị quyểt của Đảng về công tác đào tạo, bồidưỡng cán bộ nữ còn tư tưởng phong kiến, coi thường phụ nữ, đối xử thiếu công bằngvới chị em

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã cụ thể hóa quan điểm bình đẳng giới bằng nhữngnghị quyết và chỉ thị về công tác phụ nữ Cụ thể là:

Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12-7-1993 của Bộ Chính trị về “đổi mới và tăngcường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”, mục tiêu nhằm phát huy mạnh mẽvai ừò của phụ nữ trong công cuộc đổi mới đất nước, tạo điều kiện cho phong trào phụ nữ

có những bước tiến mới và tâng số lượng, chất lượng cán bộ nữ ừong hệ thống tổ chứcĐảng, Nhà nước, các đoàn thể và các tổ chức kinh tế, xã hội

Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16-5-1994 của Ban Bí thư Trang ương Đảng về “một sốvấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”, trong đó Đảng ta xác định rô: “Nâng cao

tỷ lộ cán bộ nữ tham gia quàn lý nhà nước, tham gia quản lý kinh tế xã hội là yêu cầu quantrọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chù của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng,trí tuệ và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ Chống những biểu hiện lệch lạc, coi thườngphụ nữ, khắt khe, hẹp hòi trong đánh giá, đề bạt cán bộ nữ”

Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ: “Phấnđấu đến năm 2020, phụ nữ được nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn chuyênmôn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; cóviệc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần; tham gia ngày càngnhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; đóng góp ngày càng lớn hơn cho

xã hội và gia đình Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳnggiói tiến bộ nhất của khu vực”

Thông báo số 196-TB/TW ngày 16-3-2015 về kết luận của Ban Bí thư về Đề án “Tăngcưòng sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữtrong tình hình mới” tiếp tục thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về côngtác phụ nữ và bình đẳng giới

Quan điểm chỉ đạo về công tác bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt từ Cươnglĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cho đén các kỳ Đại hội Đảng sau này Văn kiện Đạihội lần thứ XII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính

Trang 13

sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, chế độ thai sản, nghỉ dưỡng, khám, chữa bệnh,binh đẳng giới Thực hiện tốt chiến lược dân số, gia đình, chương trình hành động vìtrẻ em , đầu tư nâng cao chất lượng dân số, chi số phát triển con người, bảo đảm tống

tỷ suất sinh thay thế, giảm dần sự mất cân bằng tỷ lệ giới tính khi sinh ”

Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã thông qua Nghịquyết số 20-NQ/TW về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏenhân dân trong tình hình mới và Nghị quyết sổ 21-NQ/TW về công tác dân số trongtình hình mới, trong đó cổ những quan điểm chỉ đạo và mục tiêu cụ thể để đạt đượccác mục tiêu liên quan đến bình đẳng giới./

Đề 4: Trình bày khung pháp luật và chính sách về bình đẳng giới ở VN hiện nay Theo đ/c để hoàn thiện khung luật pháp và chính sách về BĐG, VN cần làm gì trong thời gian tới ?

1 Một số văn băn quốc tế về quyền phụ nữ và bình đẳng giới mà VN đã ký kết và tham gia

* Công ước về xỏa bỏ mọi hình thức phân biệt đổi xử với phụ nữ (CEDAW): là một

điều ước quốc tế với mục đích nhằm thông qua các biện pháp cần thiết để xóa bỏ phân biệtđối xử với phụ nữ dưới tất cả các hình thức và biểu hiện Ba trụ cột chính của CEDAW làbình đẳng thực chất, không phân biệt đối xử và nghĩa vụ quốc gia

Tinh thần của Công ước: bảo đảm nhân cách, phẩm giá và các quyền cơ bản của conngười cũng như quyền bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới Công ước không chỉ giải thích

rõ ý nghĩa của bình đẳng mà còn chỉ ra phương thức giành quyền bình đẳng đó

VN ký tham gia Công ước vào ngày 29-7-1980, phê chuẩn vào ngày 27-11- 1981 vàbắt đầu có hiệu lực vào ngày 19-3-1982

* Cương lĩnh hành động Bắc Kinh

Cương lĩnh hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ toàn cầu đến năm 2000 được thông quatại Hội nghị quốc tế về phụ nữ lần thứ IV được tổ chức tại Bắc Kinh (TQ) vào năm 1995với sự tham gia của 189 quốc gia nhằm cam kết thực hiện các mối quan tâm và quyền lợicủa phụ nữ toàn thế giới vào cuối thế kỷ XX

Cho đến nay, Cương lĩnh hành động vẫn là văn kiện toàn diện nhất về những vấn đềliên quan đến phụ nữ mà thế giới từng chứng kiến và vẫn còn nguyên giá trị

* Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) của LHQ: bao gồm 8 mục tiêu chung,

trong đó có hai mục tiêu liên quan trực tiếp đến bình đẳng giới và phụ nữ, đó là Mục tiêu 3

- Đảm bảo bình đẳng giới và nâng cao vị thế, năng lực cho phụ nữ và Mục tiêu 5 - Tăngcường sức khỏe bà mẹ

Đối với VN, báo cáo kết quả 15 năm thực hiện MDGs, "VN cơ bản hoàn thành cả 8mục tiêu, về mục tiêu thứ 3, VN đã đạt được nhiều tiến bộ về bình đẳng giới, đặc biệttrong lĩnh vực giáo dục, việc làm và các hoạt động chính trị”

* Mục tiêu phát triển bền vững của LHQ

Năm 2015, chương trình Nghị sự toàn cầu về phát triển đến năm 2030 với 17 mục tiêuphát triển bền vững (SDGs) như một lộ trình để chấm dứt đói nghèo, chống bất bình đẳng

và chống biến đổi khí hậu trong 15 năm tới Bình đẳng và bình đẳng giới được đặt ra nhưmột ưu tiên lớn của SDGs Vấn đề giới được lồng ghép vào tất cả các mục tiêu, trong đó,

có một mục tiêu riêng về bình đẳng giới (Mục tiêu 5): Đạt được hình đẳng giới và trao

Trang 14

quyền cho tất cà phụ nữ và trẻ em gái

2 Luật pháp, chính sách quốc gia về bình đẳng giới

Hệ thống pháp luật của VN được đánh giá là tiến bộ theo xu hướng đảm bảo các quyềncon người và không phân biệt đối xử Trong đó, Hiến pháp là văn bản pháp lý cao nhất,quy định:

“1, Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền

và cơ hội bình đẳng giới;

2, Nhà nước, XH và gia đình tạo đ/kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong XH;

3 Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”.

Đối với các luật, bộ luật liên quan đến các quy định đảm bảo quyền phụ nữ và bìnhđẳng giới gồm 2 nhóm: Luật pháp và chính sách về bình đẳng giới; Luật pháp và chínhsách lồng ghép vấn đề bình đẳng giới

2.1 Luật pháp và chính sách về bình đẳng giới

* Luật Bình đẳng giới năm 2006

Tháng 11-2006, Quốc hội đã thông qua Luật Bình đẳng giới, thể hiện rõ sự cam kếtcủa VN trong thúc đẩy bình đẳng giới Mục tiêu của bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối

xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển KT - XH và phát triểnnguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan

hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống XH và gia đình

Luật đã quy định về những nguyên tắc cơ bản của bình đẳng giới, trong đó không phânbiệt đối xử về giới là một nguyên tắc căn bản Đảm bảo lồng ghép vấn đề bình đẳng giớitrong xây dựng và thực thi pháp luật là một trong những nguyên tắc quan trọng lần đầutiên được đề cập trong Luật Bình đẳng giới

* Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007

Ngày 21/11/2007, Quốc hội nước ta khóa XII thông qua Luật PCBLGĐ

- Nội dung cơ bản của Luật quy định về: Phòng ngừa BLGĐ; Bảo vệ, hỗ trợ nạn nhânBLGĐ; Trách nhiệm của các cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong PCBLGĐ; Xử lý viphạm PL về PCBLGĐ và khiếu nại, tố cáo

* Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:

Ngày 19/6/2014, Quốc hội nước ta khóa XIII đã thông qua Luật HN&GĐ (Sửa đổi)

- Ng/tắc vợ chồng bình đẳng là một trong những ng/tắc cơ bản của Luật HN&GĐ trên

cơ sở ng/tắc nam nữ bình đẳng mà Hiến pháp đã quy định

- Luật có một số điểm mới đáng chú ý như: không cấm kết hôn đồng giới; cho phépmang thai hộ; công việc nội trợ coi như lao động có thu nhập…

* Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 là một trong những công

cụ quan trọng để đưa Luật BĐG vào cuộc sống Mục tiêu tổng quát: Đến năm 2020, về cơbản, bảo đảm BĐ thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên cácl/vực chính trị, inh tế, văn hóa, xã hội, góp phần vào sự pt nhanh và bền vững của đất nước

* Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020: Ngày

2-10-2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1696/QĐ-TTg phê duyệtChương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020 với mục tiêu:

- Truyền thông nâng cao nh/thức, thay đổi h/vi về BĐG

- Nâng cao năng lực cho đội ngũ nữ ĐB dân cử các cấp, nữ CB q/lý, nữ LĐ các cấp,

nữ CB thuộc diện quy hoạch

Trang 15

- Nâng cao năng lực cho các cq tham mưu trong c/tác hoạch định, t/chức triển khai các

CS t/động trực tiếp đến c/tác CB nữ

- Khuyến khích các Bộ, ngành, địa phương và các t/chức xd, thực hiện các mô hìnhtăng cường sự tham gia của PN và thúc đẩy BĐG trong những l/vực có nguy cơ bất BĐGcao

* Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020: Ngày 6-2-2014, Chính phủ ban hành Quyết định số 215/QĐ- TTg, phê duyệt “Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020” nhằm tạo sự

chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, giađình, cộng đồng và toàn xã hội trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình; qua đó, từngbước ngăn chặn và giảm dần số vụ bạo lực gia đình trên phạm vi toàn quốc

Các hoạt động và giải pháp cụ thể: Tăng cường sự l/đạo, chỉ đạo, kiểm tra của các cấp

ủy Đảng, c/quyền đối với c/tác PCBLGĐ Nâng cao n/lực QLNN, hoàn thiện h/thống CS,

* Bộ luật Lao động năm 2012:

Bộ luật Lao động được QH nước CHXHCN Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 3 thôngqua ngày 18/6/2012 nhằm thay thế Bộ luật Lao động cũ (đã qua 3 lần sửa đổi)

- Điều 4 quy định: “Bảo đảm nguyên tắc BĐG; quy định chế độ lao động và chínhsách xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động caotuổi, lao động chưa thành niên”

- Khoản 1, Điều 187 quy định: “Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóngbảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưukhi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi”

- Khoản 3, Điều 187 quy định “Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao,người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ởtuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm so với quy định”

Bộ luật Lao động sửa đổi 2012 quy định về lao động là người giúp việc gia đình đượcxem là một bước tiến trong việc bảo đảm quyền lợi của lao động nữ vì hầu hết lao độnggiúp việc gia đình là PN

* Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015: Luật Tổ chức Quốc

hội (2014), Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND (2015), Luật Tổ chức chính quyền địaphương (2015) là những VB pháp lý mới nhất quy định về bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND.Các quy định chung liên quan đến bầu cử như ng/tắc bầu cử, tuổi bầu cử và tuổi ứng cử,tiêu chuẩn của người ứng cử… đảm bảo ng/tắc không có sự phân biệt đối xử về giới

- Lần đầu tiên trong Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND (2015) đã quy định về tỷ lệ nữtrong danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH và ĐBHĐND ít nhất là 35%

* Luật Đất đai năm 2013: Luật Đất đai được QH nước CHXHCN Việt Nam khoá XIII,

kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 29/11/2013, có hiệu lực từ ngày 01/7/2014

- Điều 4 Luật Đất đai quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diệnchủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đấttheo quy định của Luật này”

Trang 16

Khoản 2 Điều 5 về người sử dụng đất gồm “hộ gia đình, cá nhân trong nước” -> Nhànước giao đất cho người sử dụng đất, trong đó có cho hộ gia đình, cá nhân, không phânbiệt nam hay nữ, chủ hộ là nam hay chủ hộ là nữ.

* Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015: Luật Ban hành VBQPPL

(2015) mở rộng phạm vi các văn bản PL cần lồng ghép v/đề BĐG đến NĐ của Cp, QĐ củaThủ tướng Cp, Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cq ngang Bộ để thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn do luật giao và để quy định chi tiết các luật, pháp lệnh, nghị quyết của QH,UBTVQH có chứa đựng các chính sách BĐG

3 Giải pháp hoàn thiện khung luật pháp và chính sách về BĐG: Để hoàn thiện khung luật pháp, và chính sách về BĐG, nước ta cầu phải:

- Sửa đổi, bổ sung pháp luật bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực k/tế: Nam, nữ bình

đẳng trong tham gia trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động SX, k/doanh,quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường vànguồn l/động Điều chỉnh Luật doanh nghiệp cho phù hợp với xu thế chung của đất nướchiện nay

- Sửa đổi, bổ sung pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị:

Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội; nam, nữbình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức;nam, nữ bình đẳng trong tham gia trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểuQuốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được và được giới thiệu ứng cử vào

cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; nam, nữ bình đẳng về tiêuchuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo cơquan, tổ chức

Sửa đổi, bổ sung pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, lao động, xã hội, dân sự: Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được

đối xử bình đẳng tại nơi làm việc; bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổnhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh; bình đẳng về độtuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng; bình đẳng trong việc tiếp cận, ứng dụng khoa học và côngnghệ; bình đẳng trong hưởng thụ văn hóa, tiếp cận và sử dụng các nguồn thông tin; bìnhđẳng trong tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khỏesinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế,…

- Chế tài pháp luật bình đẳng giới nói riêng cần phải được bổ sung theo hướng nghiêm khắc hơn: sự phân biệt đối xử với phụ nữ là những vi phạm pháp luật về quyền

bình đẳng của phụ nữ, do đó, người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm về hành vi củamình Vì vậy, chế tài pháp luật nói chung và chế tài pháp luật bình đẳng giới nói riêng cầnphải được bổ sung theo hướng nghiêm khắc hơn, đa dạng hơn áp dụng đối với nhiều loạichủ thể vi phạm như hiện nay

+ Sửa đổi, bổ sung trách nhiệm dân sự liên quan đến hành vi xâm phạm quyền bìnhđẳng giới

+ Sửa đổi, bổ sung trách nhiệm hành chính liên quan đến hành vi xâm phạm quyềnbình đẳng giới được quy định trong các điều khoản về hành vi xâm phạm và mức xử phạt

cụ thể

+ Sửa đổi, bổ sung chế tài hình sự đối với tội xâm phạm quyền bình đẳng giới Chế tàihình sự áp dụng cho những người có hành vi vi phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự

Trang 17

xâm hại tới quyền bình đẳng, quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ.

Bên cạnh đó, cần coi trọng việc phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, pháp luật vềquyền bình đẳng của phụ nữ nói riêng, không chỉ cho phụ nữ, mà còn cho mọi công dân,các công chức nhà nước, nhất là những người có thẩm quyền trong việc tổ chức thực hiện

và bảo vệ pháp luật Nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng giớitrong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Pháp luật về quyền bình đẳng giới không chỉ cần hoànthiện, mà còn đòi hỏi phải được các chủ thể trong xã hội, gia đình nhất là các cơ quan, tổchức trong hệ thống chính trị nhận thức, quán triệt và thực hiện đầy đủ trong thực tế

Hoàn thiện tổ chức, hoạt động của cơ quan tư pháp mà trung tâm là Tòa án để xét xửnghiêm minh, kịp thời các tranh chấp, các hành vi xâm phạm quyền bình đẳng giới; đàotạo lại và cập nhật đối với các công chức tư pháp các quan điểm về bình đẳng giới trongpháp luật và trong các hoạt động tư pháp; phát triển các tổ chức nghề nghiệp tư vấn, hỗ trợcho phụ nữ, nhằm tăng cường ở họ khả năng, năng lực chọn, tiếp cận và khả năng sử dụng

có hiệu quả các phương thức, cũng như các cơ quan, tổ chức để bảo vệ tốt nhất quyền và

tự do cơ bản của mình./

Đề 5 Đồng chí hãy đánh giá thực trạng bộ máy thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam.

Theo đồng chí cần hải làm để hoàn thiện và nâng cao năng lực bộ máy thúc đẩy BĐG ở Việt Nam hiện nay? Liên hệ vấn đề này ở tổ chức nơi đồng chí công tác ?

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều bước đột phá về nhậnthức và hành động nhằm thúc đẩy bình đẳng giới Liên hợp quốc đánh giá Việt Nam là

điểm sáng trong việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ về BĐG Để thực hiện Chiến lược quốc gia về BĐG, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng hệ thống các quan điểm chỉ đạo, cũng như xây dựng hệ thống các chính sách, pháp luật và bộ máy thúc đẩy về BĐG

Nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến BĐG được ban hành, tiêu biểu như LuậtBĐG 2006, Luật phòng chống bạo lực gia đình, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và cácchiến lược, chương trình như Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020,Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020…

Bên cạnh việc xây dựng các chính sách, pháp luật, Việt Nam đã chú trọng xây dựng, củng

cố bộ máy thúc đẩy BĐG bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới… Thực

trạng bộ máy thúc đẩy BĐG ở Việt Nam hiện nay như sau:

Dưới góc độ lập pháp, liên quan thúc đẩy BĐG có Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn: (1) Thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh thuộc

lĩnh vực bình đẳng giói do Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội giao; (2) Thẩm traviệc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghịquyết trình Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội; (3) Giám sát việc thực hiện luật,nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội thuộclĩnh vực bình đẳng giới; (4) Kiến nghị các vấn đề liên quan đến tố chức, hoạt động củacác cơ quan hữu quan và các chính sách, biện pháp để giải quyết các vấn đề bình đẳnggiới

Dưới góc độ quản lý nhà nước liên quan thúc đẩy bình đẳng giới, có các cơ quan như sau:

(1) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan chủ trì thực hiện quản lý nhà

nước về bình đẳng giới trong phạm vi cả nước, trong đó Vụ Bình đẳng giới có nhiệm vụ tham mưu trực tiếp cho lãnh đạo Bộ về xây dựng các chiến lược, chương trình, kế hoạch

Trang 18

dài hạn và hàng năm; xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm phápluật về bỉnh đẳng giới; xây dựng các chính sách nhằm xổa bỏ phân biệt đối xử về giớitrong các lĩnh vực kinh tế - xã hội như lao động, giáo đục, văn hóa, y tế, gia đình; theo dõi

và đánh giá các chiến lược liên quan đến giói; tổ chức các hoạt động khảo sát, truyềnthông và nâng cao nhận thức; xây dựng các báo cáo về bình đẳng giới

Phối hợp với các bộ liên quan chịu trách nhiệm về việc triển khai thực hiện Luật BĐG,xây dựng và triển khai các chiến lược, kế hoạch và chương trình khác hỗ trợ cho việc triểnkhai Chiến lược quốc gia về BĐG ở cấp quốc gia

Ở cấp tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm tham mưu choUBND tỉnh về công tác quản lý Nhà nước về bình đẳng giới

(2) Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năngquản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trong phạm vi cả nước

Trong đó, Vụ Gia đình thực hiện các nhiệm vụ: Hướng dẫn, tổ chức thực hiện chiến lược

phát triển gia đình Việt Nam; Hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về công tácgia đình và phòng, chống bạo lực gia đỉnh; Tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống, cáchứng xử trong gia đình; Xây dựng tiêu chí gia đình văn hóa

- Một số bộ và cơ quan ngang bộ khác, trên cơ sở phối hợp với Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bình đẳng giới trong phạm vi

bộ, ngành mình

Ngoài ra có các cơ quan tham mưu, thực hiện một số nhiệm vụ liên quan đến vấn

đề bình đẳng giới như sau:

- Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ: Được thành lập năm 1993, là một cơ quanliên ngành trực thuộc Chính phủ, có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu,phối hợp giải quyết những vấn đề liên ngành liên quan đến sự tiến bộ của phụ nữ trongphạm vi cả nước Theo Quyết định số 114/2008/QĐ-TTg ngày 22-8-2008 của Thủ tướngChinh phủ về kiện toàn Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, ủy ban cónhững nhiệm vụ chính sau: 1) Nghiên cứu, đề xuất vái Thủ tưóng Chính phủ phươnghướng, giải pháp để giải quyét những vấn đề liên ngành liên quan đến sự tiến bộ của phụnữ; 2) Giúp Thủ tướng Chính phủ phối hợp giữẩ các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộcChính phủ, ủy ban nhân dân các cấp và các đoàn thể trong việc tuyên truyền, phổ biến vàvận động nhân đân thực hiện chủ trương, chính sách của Đàng và pháp luật của Nhà nướcliên quan đến sự tiển bộ của phụ nữ; 3) Giúp Thủ tướng Chính phù đôn đốc các bộ, cơquan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương toong việc phối hợp thực hiện các mục tiêu quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ;4) Báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo định kỳ 6 tháng hoặc theo yêu cầu về tình hình hoạtđộng của ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ

Dưới ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, một hệ thống các ban vì sự tiến bộ củaphụ nữ đã được thành lập ở 18 bộ, 4 cơ quan ngang bộ, 8 cơ quan trực thuộc Chính phủ và

63 tỉnh, thành phố

- Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam: Là tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội được thành lậpnăm 1930 nhằm vận động phụ nữ tham gia đấu tranh giành độc lập dân tộc Điều 30 LuậtBinh đẳng giới quy định chức năng, nhiệm vụ của Hội như sau: Tham gia xây dựng chínhsách, pháp luật và tham gia quản lý nhà nước về bình đẳng giới; tham gia giám sát việc thựchiện pháp luật bình đẳng giới; tuyên truyền, vận động nhân dân, hội viên, đoàn viên thựchiện bình đẳng giới; tổ chức các hoạt động hỗ trợ phụ nữ góp phần thực hiện mục tiêu bình

Trang 19

đẳng giới; phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan bồi dưỡng, giới thiệu phụ nữ đủ tiêuchuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, phụ nữ đủ tiêu chuẩn thamgia quản lý, lãnh đạo các cơ quan trong hệ thống chính ữị; thực hiện phản biện xã hội đốivới chính sách, pháp luật về bình đẳng giới; đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa phụ nữ và trẻ em gái theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, Việt Nam còn có những cơ quan nghiên cứu, các tổ chức phi chính phủ

có nhiệm vụ thúc đẩy bình đẳng giới Các cơ quan, đơn vị này thông qua các hoạt độngnghiên cứu đã góp phần cung cấp cứ liệu cho việc hoạch định luật pháp, chính sách vềbình đẳng giới ở nước ta

Nhìn chung, các cơ quan, tổ chức hoạt động về bình đẳng giới có vai trò quan trọngtrong việc xây dựng, hoàn thiện các chính sách, pháp luật liên quan vấn đề bình đẳng giới;luôn đi đầu trongcông tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức về bình đẳng giớitrong xã hội

Tuy nhiên, hoạt động của bộ máy thúc đẩy bình đẳng giới ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế như sau:

- Việc giao nhiệm vụ quản lý nhà nước và sắp xếp tổ chức, bộ máy, bố trí cán bộ làmcông tác bình đẳng giới ở các bộ/ngành, địa phương vẫn còn chậm so với yêu cầu cấp thiếtcủa công tác và cuộc sống Cho đến nay, bộ máy các Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ cấp tỉnh,huyện vẫn chưa được hoàn thiện và các bộ, ngành còn lúng túng cả về mô hình tổ chứccũng như phương thức hoạt động Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về bìnhđẳng giới còn mỏng, chưa được đào tạo kiến thức, kỹ năng chuyên môn đáp ứng yêu cầu,nhiệm vụ được giao

- Hiện nay đang thiếu số liệu tách theo giới để theo dõi, giám sát, đánh giá mức độbình đẳng giới và tiến bộ xã hội Ví dụ: Tháng 3-2016, Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốchội có Báo cáo đánh giá việc thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn2011-2015, trong đó mới chỉ có 4 trong số 22 chỉ tiêu được hoàn thành, một nửa trong sốcác chỉ tiêu đó không thể đo lường được mức thay đổi do không thu thập được dữ liệu hay

do dữ liệu không phù hợp…, do vậy không thể lập kế hoạch với những giải pháp can thiệphiệu quả nhất cũng như sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả cho vấn đề bình đẳng giới

- Hàng năm các bộ, ngành, địa phương mới chỉ dành một phần ngân sách với tỷ lệ rất nhỏ phục vụ trực tiếp cho một số hoạt động liên quan đến vấn đề giới Mặt khác, các văn bản quy định về lập và phân bổ ngân sách không có yêu cầu về lồng ghép giới, cũng như không có hướng dẫn về các khía cạnh giới cần được quan tâm Ví dụ, hàng năm vào

khoảng tháng 5-6, Bộ Tài chính ban hành thông tư hướng dẫn lập dự toán ngân sách nhà nước cho năm sau, trong đó nêu rõ các nhiệm vụ ưu tiên chi từ ngân sách, nhưng chưa cụ thể hóa các yêu cầu của bình đẳng giới trong thu và chi ngân sách mà chỉ nêu ra yêu cầu chung là căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội… Ngay cả Luật Bình đẳng giới năm 2006 cũng không đề cập vấn đề ngân sách có tính đến yếu tố giới mà chỉ quy định tài chính cho các hoạt động cụ thể và trực tiếp về bình đẳng giới

- Có nhiều cơ quan cùng làm công tác liên quan đến vấn đề bình đẳng giới với sự phânchia trách nhiệm không rõ ràng, gây chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm, làm hạn chế hiệuquả công tác bình đẳng giới Cụ thể như: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có tráchnhiệm chung trong việc chủ trì triển khai Luật Bình đẳng giới, trong đó có vấn đề bạo lựctrên cơ sở giới thì Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng có trách nhiệm phối hợp với một

số bộ, cơ quan liên quan như Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Công an

Trang 20

và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc triển khai các chương trình và kếhoạch về phòng, chống bạo lực gia đình

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì xây dựng Chương trình hành động quốc gia

về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020 (ban hành kèm theo Quyết định số215/QĐ-TTg ngày 6-2-2014 của Thủ tướng Chính phủ) thì Đề án quốc gia về phòng ngừa

và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giói giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn 2030 (Quyết định số1464/QĐ-TTg được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 22-7-2016) lại giao cho BộLao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan chủ trì, phối hợp triển khai công tác nângcao nhận thức và xây dựng năng lực cho các bộ, ngành liên quan và xây dựng, triển khaicác mô hình thí điểm về bình đẳng giới

Để hoàn thiện và nâng cao năng lực bộ máy thúc đẩy BĐG ở Việt Nam hiện nay, xin

đề xuất một số giải pháp sau:

Thứ nhất, đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền nhất là phát huy vai trò của

người đứng đầu cơ quan, địa phương trong thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳnggiới; bố trí, phân công công tác đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức đảm bảo đúngquy định về bình đẳng giới Cần phân định rõ trách nhiệm của người đứng đầu khi các chỉtiêu về bình đẳng giới tại các cơ quan, đơn vị và địa phương không đạt được

Thứ hai, cần tiếp tục rà soát sắp xếp, tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của các cơ

quan làm nhiệm vụ liên quan đến vấn đề bình đẳng giới để giảm thiểu tình trạng phân táncũng như chồng chéo; có thể đổi tên “Ủy ban quốc gia về sự tiến bộ phụ nữ” thành “Ủyban quốc gia về bình đẳng giới”; đồng thời có thể giao nhiệm vụ tổng hợp các vấn đề vềBĐG cho Văn phòng Chính phủ thay vì để một bộ nào đó để bảo đảm bao quát nhất

Thứ ba, thiết lập cơ chế phối hợp hoạt động chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan thúc

đẩy bình đẳng giới Tăng cường vai trò, vị thế của các tổ chức xã hội trong thực thi chínhsách bình đẳng giới, đặc biệt là công tác tuyên truyền, tham gia hoạch định, điều chỉnh vàgiám sát chính sách

Thứ tư, nâng cao chất lượng xây dựng, ban hànhcác văn bản chỉ đạo, văn bản cụ thể

hóa các chính sách, luật pháp của Trung ương về bình đẳng giới của các bộ, ban, ngành vàcác cấp chính quyền địa phương Quan tâm hơn nữa công tác đào tạo nâng cao năng lựccho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là đội ngũ nữ cán bộ tiềm năng và cán

bộ làm tham mưu công tác bình đẳng giới và năng lực nghiên cứu, soạn thảo, tổ chức thựcthi và giám sát chính sách về các vấn đề liên quan đến BĐG trong LĐ, QL cho các cấp hộiphụ nữ

Thứ năm, bố trí kinh phí và các nguồn lực cụ thể đi kèm các văn bản chỉ đạo, văn bản

cụ thể hóa các chính sách, luật pháp của Trung ương về bình đẳng giới nhằm đảm bảo thựchiện hiệu quả các chính sách bỉnh đẳng giới đã ban hành

Liên hệ thực tiễn cơ quan, đơn vị công tác: tự liên hệ, với các nội dung chính như sau: Kết quả đạt được:

- Việc triển khai các chính sách, pháp luật:

- Nhận thức của cán bộ, công chức cơ quan về BĐG…

- Công tác cán bộ liên quan đến giới:

- Thực hiện chế độ liên quan đến giới:

Hạn chế:

Trang 21

Bình đẳng giới (BĐG) trong lãnh đạo, quản lý (LĐQL) có nghĩa là nam giới, nữ giới

có vị trí, vai trò ngang nhau trong công tác lãnh đạo, quản lý, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình ngang nhau và được thụ hưởng kết quả bổ nhiệm vào những vị trí lãnh đạo, quản lý chính thức trong hệ thống chính trị ngang nhau.

1 Thực trạng thực thi bình đẳng giới trong LĐQL ở Việt Nam hiện nay

- Thực trạng bình đẳng giới trong các cấp ủy đảng

Nghị quyểt số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa (hay NQ11) đã đưa ra chỉ tiêu cán bộ nữ trong các cấp ủy đảng:

“Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên”.

Tuy nhiên, sau đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015-2020 và đến cuối năm 2017, tỷ lệ cán

bộ nữ trong các cấp ủy đảng vẫn chưa đạt chỉ tiêu (cụ thể như tỷ lệ cấp ủy viên là nữ tại Đảng bộ, chi bộ cơ sở; Đảng bộ cấp huyện, tương đương và Đảng bộ trực thuộc Trung ương lần lượt là 19,69%; 14,3% và 13,3%).

Sau Đại hội Đảng toàn quốc nhiệm kỳ 2016-2021, kết quả cho thấy, trong BCH Trungương Đảng Cộng sản Việt Nam, tỷ lệ nữ ủy viên là 20/200 chiếm 10% và Bộ Chính trị có 3

nữ ủy viên trong tổng số 19 ủy viên, chiếm gần 15,8%

Như vậy, tỷ lệ nữ giới tham gia cấp ủy tại các cấp cơ sở, huyện, tỉnh và Trung ương mặc

dù có tăng hơn nhiệm kỳ trước, nhưng chưa đạt tỷ lệ 25% đề ra trong NQ11 và Chiến lược

quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 (hay CLQG).

- Thực trạng bình đẳng giới trong các cơ quan dân cử

NQ11 đã đưa ra chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2020 “nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân đân các cấp từ 35% đến 40%” Tuy nhiên, kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa

XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 cho thấy vẫn chưa đạt được chi

tiêu đề ra (như tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, HĐND cấp tỉnh, huyện, xã lần lượt là 26,72%, 26,54%, 27,85%, 26,59%)

Như vậy mặc dù nhiệm kỳ 2016-2021 bắt đầu có sự tăng tỷ lệ nữ trở lại và cũng lànhiệm kỳ có tỷ lệ nữ ứng cử viên sau vòng hiệp thương 3 cao nhất so với một số nhiệm kỳ

gần đây (đạt 38/79%) Tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng theo quy định cụ thể tại Luật bầu cử

Quốc hội và Hội đồng nhân đân năm 2015 đã nêu phải bảo đảm có ít nhất 35% tổng sốngười trong đanh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ nhưngtrong đợt bầu cử vừa qua có đến 23 địa phương chưa đảm bảo, thậm chí có địa phươngkhông có nữ tham gia

- Thực trạng bình đẳng giới trong bộ máy hành chính nhà nước cấp TƯ và ĐP

CLQG đề ra chỉ tiêu: “Phấn đấu đến năm 2020 đạt 95% bộ, cơ quan ngang bộ, cơ

Trang 22

quan thuộc Chính phù, ủy ban nhân dân các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ” Tuy nhiên,

tính đến hết tháng 8/2017, tình hình thực hiện và đánh giá khả năng thực hiện đến năm

2020 sẽ khó có khả năng đạt được, cụ thể:

Đến tháng 8-2017, có 12/30 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có nữcán bộ đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo chủ chốt; cấp tỉnh có 16/63 địa phương có nữ lãnhđạo chủ chốt chiếm tỷ lệ 25,39%;

Ở cấp huyện, một số địa phương có tỷ lệ nữ LĐQL cấp huyện cao từ 20% trở lên như:

Bình Dương (24,24%), Thành phố Hồ Chí Minh (22,45%), Ninh Binh (20,69%) Các tỉnh

Cà Mau, Bình Thuận, Bình Định không có nữ LĐQL ở cấp này

Ở cấp xã, một số địa phương có tỷ lệ nữ LĐQL cao là Thành phố Hồ Chí Minh (chiếm 32,18%), thành phố Đà Năng (25,79%), Bình Dương (25,40%), Đồng Nai (24,8%) Tuy

nhiên nhiều tỉnh, thành phố có tỷ lệ nữ LĐQL cấp xã dưới 5%, trong đó phần lớn là cáctỉnh, thành phố miền Bắc

- Thực trạng bình đẳng giới trong LĐQL trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các

nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động”,

Tuy nhiên, việc thu thập số liệu chỉ tiêu này hiện đang gặp nhiều khó khăn, chưa có cơ

quan được giao chủ trì thực hiện thống kê số liệu về “cơ quan, tổ chức có tỷ lệ 30% trở lên nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động”, do đó không thu thập được số liệu

này

2 Những vấn đề đặt ra đổi với bình đẳng giới trong LĐQL ở VN

- Từ số liệu thực tiễn dã nêu tính đến cuối 2017 nổi lên một số vấn đề chung như:

+ Thứ nhất, chưa có chi tiêu nào về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị mà Đảng

và Nhà nước ta đặt ra đạt được cho đến sau Đại hội Đảng lần thứ XII và cuộc bầu cử đạibiếu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp năm 2016

+ Thứ hai, chế tài xử lý đối với những đơn vị không tuân thủ nghiêm những quy định

của luật, nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới trong lĩnh vựcchính trị chưa được thực hiện

+ Thứ ba, thiếu hệ thống số liệu cập nhật về tình hình nữ giới tham gia LĐQL trong

bộ máy hành chính nhà nước và trong các cơ quan của Đảng, các tổ chức CT - XH

- Những nhóm khó khăn ảnh hưởng đến quá trình thực hiện bình đẳng giới trong lãnhđạo, quản lỷ trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay

* Nhóm những khó khăn liên quan đến khung luật pháp, chính sách về bình đẳnggiới trong lĩnh vực chính trị và công tác cán bộ

+ Thứ nhất, hệ thống chỉ tiêu về bình đẳng giói trong lĩnh vực chính trị ở nước ta chưa

toàn diện vì hiện nay chưa có các chỉ tiêu về tỷ lệ nữ giới làm lãnh đạo cấp vụ và tươngđương, cấp phòng và tương đương trong bộ máy chính quyền nhà nước, các cơ quan củaĐảng vả các tổ chức chính trị-xã hội các cấp Việt Nam cũng chưa có quy định về tỷ lệ nữgiới trong các khâu của quá trình cán bộ từ tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển cán bộ để

đảm bảo đạt được tỷ lệ cán bộ nữ ở khâu bổ nhiệm cán bộ.

Hệ thống chỉ tiêu bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị chưa mang tính toàn diện dẫn

Trang 23

đến tình trạng khó giám sát việc thực hiện bình đẳng giới trong cắc khâu của quá trinh cán

bộ trong bộ máy hành chính nhà nước, cảc cơ quan của Đảng, các tổ chức chính trị - xãhội

+ Thứ hai, hệ thống chỉ tiêu về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị ở Việt Nam còn

chưa cụ thể, có lúc những chỉ tiêu còn mang tính định tính và không xác định được tỷ lệ phầntrăm

+ Thứ ba, các vãn bản quy định hệ thống chi tiêu đôi khi còn dùng những cụm từ

mềm, không mang tính bắt buộc, chưa toàn diện và còn mang tính định tính dẫn đến một

số cơ quan trong hệ thống chính trị chưa nhận thấy tầm quan trọng trong việc thực hiệnchỉ tiêu về bình đẳng giới hoặc thực hiện một cách chung chung, đối phó, điều này giảithích được tại sao tỷ lệ nữ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị chưa đạt được chỉ tiêu

đã đặt ra

+ Thứ tư, quy định khác nhau 5 năm về độ tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ tuy mang

tính bảo vệ, nhưng đồng thời lại gây ra bất lợi cho phụ nữ làm hạn ché quyền và cơ hộicông bằng trong việc tham gia và đóng góp vào công việc LĐQL xã hội

+ Thứ năm, một số chính sách liên quan đến công tác cán bộ chưa nhạy cảm giới đang

gây ra những khó khăn, bất lợi cho nữ giới trong tiếp cận các cơ hội LĐQL như:

++ Về quy hoạch cán bộ, hiện nay các văn bản về quy hoạch cán bộ đang gây ra một

số khó khăn trong việc thực hiện bình đẳng giới như việc quy định chỉ tiêu cấp ủy nữ vàchỉ tiêu quy hoạch cấp ủy nữ hiện hành còn thiếu tính khoa học, bởi vì muốn đạt tối thiểu15% nữ cấp ủy thì quy định về chi tiêu quy hoạch cấp ủy nữ phải cao hơn con số 15% haynhư quy định về độ tuổi chênh lệch 5 năm giữa nam và nữ trong các văn bản hướng dẫn

về quy hoạch cán bộ là một bất lợi cho nữ giới, đặc biệt là đối với cán bộ nữ có mongmuốn được quy hoạch vào các vị trí LĐQL cao hơn khi thâm niên công tác của họ caohơn

++ Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, quy định về độ tuổi cử đi học Cao cấp lý luận chính

trị tập trung chênh lệch 5 năm giữa nam và nữ đã giới hạn đối với nữ yêu cầu dưới 35 tuổitrong khi đây là độ tuổi thường đang trong thời gian sinh nở và nuôi con nhỏ, làm giảm cơhội đào tạo tập trang để thăng tiến của nữ giới

++ Về luân chuyển, đi thực tể, biệt phải đối với cán bộ nữ, hiện nay, các quy định về

luân chuyến cán bộ là giống nhau đối với cả cán bộ nam và cán bộ nữ Tuy nhiên, vai trògiới trong gia đình giữa nam và nữ là khác nhau Việc quy định luân chuyển, biệt phái cán

bộ giống nhau giữa nam và nữ đang hạn chế điều kiện, cơ hội được tiếp cận và hoàn thànhnhiệm vụ luân chuyển, biệt phái cán bộ đối với nữ giới Kết quả là, tỷ lệ luân chuyển củacông chức nữ ở cấp TƯ và ĐP tương ứng là 0,8 và 0,9 (lần) trong 5 năm và thấp hơn tỷ lộnày ở nam công chức

++ Về đánh giá cán bộ, định kiến giới và suy nghĩ chủ quan có lúc, có nơi vẫn còn

tồn tại trong quá trình đánh giá cán bộ

++ Về bổ nhiệm cán bộ, hiện nay các tiêu chuẩn cụ thể cho các vị trí LĐQL là giống

nhau cho cả cán bộ nữ và nam, nhưng cơ hội được bổ nhiệm của cán bộ nữ bị hạn chế hơncán bộ nam do sự chênh lệnh 5 năm về độ tuổi quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ và ngoài racòn có định kiến giới tồn tại trong thực tiễn bổ nhiệm cán bộ

++ Công tác phát triển đảng viên cấp xã/phường đang gặp khỏ khăn Về thực chất

đây là một khâu trong công tác tạo nguồn cán bộ LĐQL,tuy nhiên trên thực tế ở cấp xãcủa một số tỉnh gặp khó khăn lớn mà nguyên nhânqua khao sát cho thấy nữ giới ít được

Trang 24

gia đình ủng hộ để tham gia hoạt động xã hội vì trợ cấp thấp và ảnh hưởng đến thời gianchăm sóc gia đình.

* Nhóm khó khăn liên quan đến văn hóa, nhận thức về bình đẳng giới với phụ nữ + Thứ nhất, định kiến giới thể hiện ngay trong các giai đoạn của quá trình tuyển dụng

cán bộ hoặc quy hoạch cán bộ trên thực tế vẫn có xu hướng trọng nam giới vì tâm lý vànhận thức sợ trách nhiệm của nữ trong việc mang thai, sinh nở và chăm sóc gia đình sẽkhông đảm nhiệm được công việc được tốt bằng nam giới

+ Thứ hai, định kiến giới về vai trò trong gia đình còn tồn tại khá phổ biến đang hạn

chế các cơ hội phát triển sự nghiệp và phát triển mạng lưới nghề nghiệp của nữ giới

* Những khó khăn liên quan đến năng lực và việc thực hiện vai trò của các cấp ủy đảng, các cấp chỉnh quyền, các cơ quan, tồ chức hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ trong việc thúc đẩy bình đẳng giới trong chỉnh trị.

+ Thứ nhất, một số nơi cấp ủy đảng và chính quyền chưa phát huy hiệu quả vai trò

lãnh đạo, chỉ đạo trong công tác thực hiện bình đẳng giới mà biểu hiện cụ thể trong các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo về thực hiện bình đẳng giới thiếu tính cụ thể và quyết liệt

+ Thứ hai, do một số cấp ủy đảng và chính quyền chưa phát huy hết vai trò lãnh đạo,

chỉ đạo trong thể hiện ở việc chưa ý thức đầy đủ vai trò và tầm quan trọng của các cơ quan, đơn vị hoạt động vì bình đẳng giới tại cơ quan, đơn vị dẫn đến tình trạng thiếu nguồn nhân lực tài lực và không ổn định về tổ chức dẫn đến hiệu quả công tác hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới không ổn định và chưa cao

+ Thứ ba, năng lực của Hội Liên hiệp Phụ nữ, Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp và

sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong hệ thống chính trị về việc thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị đôi lúc và một số nơi còn hạn chế

3 Liên hệ thực tiễn tại địa phương, đơn vị hoặc tỉnh của các đồng chí.

THAM KHẢO

Vĩnh Thạnh là huyện miền núi tỉnh Bình Định với 09 đơn vị hành chính (08 xã, 01 thị trấn), trong đó phụ nữ chiếm trên 51%, lao động nữ chiếm gần 85%, sản xuất chính là

nông nghiệp Một số kết quả đạt được về triển khai bình đẳng giới thời gian qua như:

Công tác quy hoạch, đào tạo, thực hiện chính sách đối với cán bộ, CCVC: Phụ nữ

tham gia ngày càng nhiều vào đời sống chính trị, cụ thể

- Tỷ lệ nữ tham gia BCH Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2015-2020 tại cấp huyện: 06/38

đồng chí, chiếm tỷ lệ 15,78% (tăng 7,21%), cấp xã: 20/133 đồng chí, đạt 15,03% (tăng 2,8%), các chi, Đảng bộ trực thuộc Huyện ủy: 15/80 đồng chí, đạt 18,75%.

- Tỷ lệ đại biểu HĐND cấp xã là 38/211, đạt 18,01% (giảm 0,91%), cấp huyện là 07/30 đại biểu, đạt 23,33% (tăng 13,33%);

Nữ cán bộ lãnh đạo (trưởng, phó) cấp huyện 22 đồng chí; cấp xã 32 đồng chí Nữ côngchức trong cơ quan hành chính Nhà nước từ cấp xã đến cấp huyện chiếm 30%,

Trong lĩnh vực kinh tế, lao động: Ban vì sự tiến bộ phụ nữ phối hợp với Hội Liên hiệp

phụ nữ tổ chức dạy nghề ngắn hạn cho 55 hội viên; tư vấn nghề cho hơn 100 chị; tạo điều kiệncho phụ nữ nghèo và cận nghèo, các đối tượng chính sách khác vay vốn phát triển kinh tế, tạoviệc làm tăng thu nhập, góp phần ổn định cuộc sống; tỷ lệ giảm nghèo đạt bình quân05%/năm

Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo: Công tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp

vụ, lý luận chính trị, phát triển đảng viên nữ, đề bạt cán bộ nữ tham gia công tác LĐQL ngàycàng được quan tâm Theo đó, tỷ lệ cán bộ chuyên trách cấp xã, LĐQL cấp huyện là nữ đạt

Trang 25

chuẩn trên 90%; Tỷ lệ cán bộ giáo viên nữ đạt chuẩn 100%, vượt chuẩn 85% Có 09/09 xã, thịtrấn trên địa bàn huyện đạt chuẩn xóa mù chữ và trì kết quả phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độtuổi và chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục trung học cơ sở

Trong lĩnh vực gia đình

Đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hóa , qua đó tình trạng phụ nữ bị bạo lực giađình giảm đáng kể và không xảy ra tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn, phátđộng nhiều phong trào góp phần tạo sự bình đẳng của phụ nữ trong đời sống gia đình như: học

tập 4 chuẩn mực đạo đức của phụ nữ Việt Nam “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”; xây dựng gia đình theo tiêu chí “No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”; thực hiện Đề án “Giáo dục phẩm chất đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước”, Đề án

“Giáo dục 5 triệu bà mẹ nuôi dạy con tốt” đạt kết quả cao

Đề 7: Đồng chí hãy trình bày những giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay? Trong tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác cần chú ý tới những giải pháp nào để thúc đẩy bình đăng giới, nâng cao vai trò của phụ nữ ?

Bài làm:

Bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý có nghĩa là nam giới, nữ giới có vị trí, vai tròngang nhau trong công tác lãnh đạo, quản lý, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy nănglực của mình ngang nhau và được thụ hưởng kết quả bổ nhiệm vào những vị trí lãnh đạo,quản lý chỉnh thức trong hệ thong chính trị ngang nhau

Thúc đẩy sự tham gia lãnh đạo, quản lý của nữ giới trong hệ thống chính trị ở ViệtNam phù hợp với đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Đảng và Nhànước ta đã thể hiện cam kết chính trị mạnh mẽ đối với công tác thúc đẩy bình đẳng giớitrong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua việc phê duyệt các Công ước quốc tếliên quan đén bình đẳng giới như Công ước CEDAW Cam kết chính trị của Đảng và Nhànước về bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý cũng được thể hiện trong các vãn bản phápluật cao nhất như Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, LuậtBình đẳng giới năm 2006, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dânnăm 2015

Qua những thực trạng, khó khăn trở ngại cũng như thách thức khi riển khai các chủtrương bình đẳng giới… khi triển khai thực tế cần có những giải pháp khắc phục cụ thể để

có thể thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay Chúng ta hãy

xét qua bốn nhóm giải pháp sau hướng đến tháo gỡ các nhóm khó khăn đã vả đang kìm

hãm sự tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ trong hệ thổng chính trị ở nước ta hiện naybao gồm:

- Thứ nhất, nhóm các giải pháp liên quan đến khung luật pháp, chính sách thúc đầy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay:

Một là, rà soát lại những chỉ tiêu về tỷ lệ nữ làm lãnh đạo, quản lý còn đang mang tính

định tính và thiếu cụ thể trong Chiển lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020

và Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bổ sung những chỉ tiêu cụ thể, định lượng về tỷ lệ nữlãnh đạo, quản lý như đưa chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý trong các bộ, ngành,

ủy ban nhân dân, trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, cảc tổ chức chính trị, xã hội, bổ

Trang 26

sung các chỉ tiêu cho nữ giới trong toàn bộ quá trình cán bộ, đảm bảo các chỉ tiêu cán bộđược cập nhật hàng năm.

Hai là, rà soát lại hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến sự tham gia lãnh đạo,

quản lý của nữ giới, xóa bỏ những quy định đang hạn chế sự tham gia, tiếp cận cơ hội vàthụ hưởng các cơ hội làm lãnh đạo, quản lý đối với nữ giới trong hệ thống chính trị Điều

187 về độ tuổi nghỉ hưu trong Bộ luật Lao động cần được xem xét và điều chỉnh để đảmbào công bằng giới

Ba là, rà soát các quy định của Đảng và Nhà nước về độ tuổi, đào tạo, bồi dưỡng, đề

bạt, bổ nhiệm, nghỉ hưu, xác định những bất hợp lý và bất lợi đối với phụ nữ khi thực hiệnnhững quy định này để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Luật Bình đẳng giới

Bốn là, rà soát lại những quy định của Đảng và Nhà nước về tiêu chuẩn quy hoạch, đào

tạo, luân chuyển, biệt phái và bổ nhiệm cán bộ tính đến vai trò giới trong gia đình của phụ

nữ để đưa ra những quy định phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nam giới và nữgiới

Năm là, bổ sung những hình thức hướng đẫn các phương pháp đạt tỷ lệ chỉ tiêu cán bộ

lãnh đạo nữ trong các văn bản liên quan đến công tác cán bộ

Sáu là, bổ sung và tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát cụ thể, các hình thức

khen thưởng và kỷ luật vào các văn bản về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị và côngtác cán bộ của Đảng và Nhà nước

Bảy là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các chính sách và dịch vụ xã hội nhằm chia sẻ

trách nhiệm chăm sóc trẻ em, người cao tuổi, người bệnh, góp phần tạo điều kiện tốt hơncho nữ giới tham gia có hiệu quà vào công tác lãnh đạo, quản lý

- Thứ hai, nhóm các giải pháp liên quan đến văn hóa, nhận thức về bình đẳng giới trong chính trị:

Một là, toàn bộ hệ thống chính trị cần tăng cường và đa dạng hóa công tác tuyên

truyền về bình đẳng giới trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó tính đến thếmạnh của các phương tiện truyền thông hiện đại Đa dạng hóa các hình ảnh của nữ giới vớicác vai trò và nghề nghiệp khác nhau, đặc biệt trong vai trò lãnh đạo, quản lý

Hai là, đưa nội dung bình đẳng giới vào toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân nhằm tạo

nên những thế hệ công dân Việt Nam có tư tưởng bình đẳng giới và sớm được tiếp xúc với

tư tưởng bình đẳng giới từ những cấp học đầu đời cho đến các cấp học cao hơn, giúp từngbước nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong gia đình và toàn xã hội

Ba là, bảo đảm các chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị có môn học Bình

đẳng giới hoặc có nội dung bình đẳng giới nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm giới vàtrang bị các kỹ năng lãnh đạo, quản lý thúc đẩy bình đẳng giới cho đội ngũ cán bộ lãnhđạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị Việt Nam Lồng ghép bình đẳng giới vàoocác chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên viên trong toàn bộ hệ thống chính trị nhằmtừng bước đẩy lùi định kiến giới tại công sở

Bốn là, từng bước thay đổi vai trò của nam giới trong gia đình bằng việc chia sẻ trách

nhiệm đối với những công việc lao động không được trả công trong gia đình thông quanhiều hình thức tuyên truyền, vận động và tôn vinh nam giới chia sẻ công việc gia đình

- Thứ ba, nhóm các giải pháp liên quan đến việc nâng cao vai trò, năng lực của các cấp ủy đảng, các cấp chính quyền và các cơ quan hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới:

Trang 27

Một là, tiếp tục tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng và chính

quyền các cấp trong việc kịp thời quán triệt các văn bản của Đảng về bình đẳng giới trongtoàn bộ hệ thống chính trị

Hai là, nâng cao chất lượng các văn bản chỉ đạo, văn bản cụ thể hóa các chính sách,

luật pháp của Trung ương về bình đẳng giới của các bộ, ban, ngành và các cấp chínhquyền địa phương Cụ thể hóa các chỉ tiêu bình đẳng gỉới vào kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội của các địa phương

Ba là, bố trí kinh phí và các nguồn lực cụ thể đi kèm các văn bản chỉ đạo, văn bản

cụ thể hóa các chính sách, luật pháp của Trung ương về bình đẳng giới của các bộ, ban,ngành và các cấp chính quyền địa phương đảm bảo thực hiện hiệu quả các chính sáchbình đẳng giới đã ban hành

Bốn là, ban hành cơ chế phối hợp và giao trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan, đơn vị

thuộc hệ thống chính trị trong việc thực hiện các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước

về thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và Nhà nước đối với việc

triển khai, thực hiện các văn bản, các chỉ tiêu về binh đẳng giới nói chung, bình đẳng giớitrong lĩnh vực chính trị nói riêng

Sáu là, xây đựng và triển khai mạng lưới cán bộ nữ và chương trình hướng dẫn cán bộ

nữ tại các bộ, ngành và các tỉnh, thành với kinh phí và nguồn nhân lực đi kèm

Bảy là, tăng cường đầu tư nguồn lực cho các đơn vị hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới

trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động hiệu lực,hiệu quả Trong đó, đặc biệt chú trọng đầu tư phát triển năng lực nghiên cứu chính sáchbình đẳng giới trong chính trị dựa trên bằng chứng cho các đơn vị hoạt động thúc đẩy bìnhđẳng giới nhằm nâng cào chất lượng công tác tham mưu chính sách bình đẳng giới cho cáccấp ủy đảng và chính quyền từ Trung ương đển địa phương

Tám là, nâng cao năng lực nghiê cứu chính sách dựa trên bằng chứng về các vấn đề

liên quan đến bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý cho các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ vànâng cao năng lực tham mưu chính sách cho cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh để kịp thời

đề xuất các tham mưu chính sách liên quan đến bình đẳng giới trong lãnh đạo và quản lýcho Tỉnh ủy, ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân tỉnh

- Thứ tư, nhóm các giải pháp nâng cao năng lực và sự tự tin cho cán bộ nữ:

Một là, Trung ương giao Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xây dựng nội dung

chương trình bồi dưỡng cho cán bộ lãnh đạo nữ và bố trí kinh phí để Học viện tổ chức tậphuấn cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo nữ và dự nguồn cán bộ lãnh đạo nữ trong toàn bộ hềthống chính trị theo định kỳ hàng năm nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của sựtham gia lãnh đạo, quản lý của nữ giới và các biện pháp chiến lược thúc đẩy bình đẳnggiới

Hai là, giao Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xây đựng nội dung chương trình

hướng đẫn cán bộ nữ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sự tự tin, phát triển mạng lưới nghềnghiệp, mạng lưới lãnh đạo và chuẩn bị nguồn lãnh đạo nữ kế cận và triển khai nhân rộngchương trình này ra các bộ, ngành, các tỉnh trong toàn quốc,

* Trong cơ quan nơi cá nhân tôi công tác cần chú ý những giải pháp để thúc đẩy bình đăng giới, nâng cao vai trò của phụ nữ, như sau:

(các đ/c tự liên hệ)

Trang 28

Đ 8 Đ ng chí hãy trình bày khái ni m, vai trò, m c tiêu và m t s ề ồ ệ ụ ộ ố công c phân tích gi i Liên h v n đ này t ch c ho c ngành n i đ ng ụ ớ ệ ấ ề ở ổ ứ ặ ơ ồ chí công tác ?

BÀI LÀM

1 Khái niệm, vai trò, mục tiêu của phân tích giới.

* Khái niệm: Phân tích giới là hoạt động nghiên cứu, phân tích nhằm tìm hiểu về mối

tương quan giữa nam và nữ, nhu cầu và ưu tiên của mỗi giới trong một lĩnh vực cụ thể Đó

là quá trình thu thập và phân tích thông tin về sự khác biệt giữa nam và nữ bằng cách xemxét:

- Những công việc/hoạt động mà nam và nữ tham gia

- Điều kiện và nhu cầu thực hiện các quyền cơ bản như quyền sống, quyền làmviệc, quyền được phát triển của nam và nữ

- Mức độ tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực phát triển, mức độ hưởng lợi củanam, nữ từ các chính sách và thành quả của phát triển

- Tiếng nói và sự tham gia của nam và nữ vào quá trình ra quyết định đối với cuộcsống cũng như các vấn đề quan trọng của cộng đồng, tổ chức và xã hội

- Tác động tích cực hoặc tác động không mong muốn của một chính sách cụ thể đốivới nam, nữ và các nhóm xã hội là khác nhau

* Vai trò: Phân tích giới cung cấp thông tin và những dữ liệu về thực trạng, mối quan

tâm và nhu cầu của nam và nữ trong một lĩnh vực, chính sách cụ thể Đây chính là cơ sở quan trọng cho xây dựng chính sách Các chính sách chỉ hiệu quả khi giải quyết đúng các vấn đề phát triển dựa vào nhu cầu của người dân, trong đó có các nhóm thụ hưởng chính sách khác nhau, bao gồm nam, nữ và các nhóm dễ bị chịu thiệt thòi (người nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, nhóm di cư ) Mỗi nhóm có điều kiện kinh tế, xẫ hội

và văn hoá khác nhau nên mối quan tâm và nhu cầu của họ cũng khác nhau

Phân tích giới, một phần quan trọng của phân tích chính sách, không chỉ cung cấpthông tin đầu vào cho quá trình xây dựng chính sách mà còn xem xét các tác động củachính sách đến nam, nữ và các nhóm xã hội khác nhau Từ đó, cung cấp căn cứ lý luận vàthực tiễn cho việc xây dựng chính sách mới hay điều chỉnh, thay đổi chính sách hiện hànhnhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của nam và nữ Kinh nghiệm của các nước cho thấy, ngay

cả khi các chính sách phát triển trung tính về giới (được hiểu theo nghĩa không có sự phânbiệt giới) thì vẫn cỏ thể có tác động khác nhau đối với nam và nữ hoặc tạo ra những kếtcục phân biệt về giới

Phân tích giới được thực hiện ở các cấp độ khác nhau (cấp cộng đồng, cấp tổ chức/cơquan và cấp ngành/lĩnh vực), tùy thuộc vào mục tiêu và nhóm đối tượng thụ hưởng chínhsách Người lãnh đạo, quản lý có vai trò quyết định đối với việc lựa chọn quy mô, nguồnlực và cấp độ của phân tích giới Ở cấp độ chính sách (ngành, lĩnh vực), phân tích giớicung cấp những hàm ý chính sách quan trọng, qua đó giúp các nhà hoạch định chính sáchxem xét ý nghĩa của những khác biệt giới đối với việc thiết kế và thực thi chính sách Ởcấp độ tổ chức, nhận thức được tầm quan trọng của phân tích giới giúp người lãnh đạo,quản lý điều hành và lãnh đạo tổ chức theo hướng có trách nhiệm giới

Trang 29

* Mục tiêu của phân tích giới là nhằm xác định được các vấn đề giới hay bất bình

đẳng giới đang tồn tại trong một ngành hay một lĩnh vực cụ thể, đồng thời chỉ ra nguyênnhân, các yếu tố ảnh hưởng đến sự khác biệt giới đó

2 Một số công cụ phân tích giới.

Phân tích giới được thực hiện ở các mức độ khác nhau, từ việc tiến hành trong thờigian ngắn và ít tốn kém đến việc đòi hỏi có nhiều thời gian hơn và nguồn lực, chi phí caohơn Các nhà hoạch định chính sách quyết định mức độ phân tích giới, tùy thuộc vào nộidung chính sách, lĩnh vực hoạt động và mục tiêu cụ thể của phân tích giới

Phần này giới thiệu bốn khung phân tích giới hay bốn công cụ phân tích giới có tínhđến bối cảnh thực tiễn và kinh nghiệm áp dụng các công cụ này trong thời gian qua ở ViệtNam Các công cụ phân tích giới giúp chúng ta hiểu được sự khác biệt giới liên quan đếnphân công lao động xã hội, sự tham gia, tiếng nói và mức độ hưởng lợi từ các chính sách,chương trình giữa nữ và nam, trẻ em trai và trẻ em gái; và các yếu tố ảnh hưởng đến sựkhác biệt giới đó

2.1 Phân tích phân công lao động theo giới

Có bốn loại công việc được đề cập khi phân tích về phân công lao động giữa nam vànữ: công việc gia đình, công việc sản xuất, công việc cộng đồng và công việc chính trị.Mức độ tham gia của nam và nữ vào các công việc này phản ánh sự phân công lao động

xã hội theo giới trong một bối cảnh cụ thể

Công việc gia đình bao gồm công việc chăm lo và duy trì các nhu cầu cơ bản của hộ

gia đình và các thành viên trong gia đình như thức ăn, chỗ ở, chăm sóc sức khỏe, giáodục, Công việc này được gọi là công việc chăm sóc không lương hay công việc chămsóc không được trả công (khi nó được thực hiện chủ yếu bởi chính các thành viên của giađình) Công việc gia đình không thể thiếu đối với sự tồn tại của con người, nhưng thườngkhông được xem là “công việc thực sự”, mặc dù nó tốn nhiều thời gian, công sức và chủyếu đo phụ nữ thực hiện

Công việc sản xuất là những công việc tạo ra sản phẩm, mang lại thu nhập cho người

lao động, bao gồm những ngành nghề khác nhau như: sản xuất hàng hóa và dịch vụ chotiêu dùng và thương mại, công việc làm công ăn lương, công việc tự tạo việc làm

Công việc cộng đồng là các hoạt động thực hiện vì lợi ích chung của cộng đồng và tập

thể Công việc mang tính tự nguyện, không được trả công như các hoạt động vì môitrường, chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Công việc (vai trò) chính trị là sự tham gia vào các hoạt động ra quyết định trong hệ

thống chính trị như giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý trong cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng

và tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp)

2.2 Phân tích mức độ tiếp cận và kiểm soát nguồn lực, lợi ích

Để hoàn thành bất kỳ loại công việc, nhiệm vụ nào, người thực hiện cần sử dụng cácnguồn lực Sử dụng nguồn lực hiệu quả sẽ mang lại lợi ích cho người thực hiện hoặc chonhững người khác

Tiếp cận là khả năng sử dụng nguồn lực và thực tế sử dụng nguồn lực để hoàn thànhcông việc Trong khi đó, kiểm soát là quyền được ra quyết định và quản lý việc sử dụngnguồn lực Khả năng tiếp cận và kiểm soát nguồn lực có ý nghĩa quan trọng đối vớingười thực hiện công việc trong việc đảm bảo tính hiệu quả, năng suất lao động và lợiích mà công việc đem lại

Trang 30

Thực tế cho thấy, nam và nữ thường có mức độ khác nhau về tiếp cận nguồn lực cầnthiết để thực hiện công việc Mức độ kiểm soát lợi ích có được từ công việc đã thực hiện,hay từ quá trình phát triển nói chung cũng khác nhau giữa nam và nữ Sự khác biệt nàyxuất phát từ vai trò giới truyền thống và định kiến xã hội đã ăn sâu trong suy nghĩ của conngười.

2.3 Phân tích sự tham gia vào quá trình ra quyết định

Trong quá trình hoạt động của các tổ chức, thiết chế xã hội, ở mọi cấp độ (gia đình, cơquan, cộng đồng và xã hội) đều cần phải đưa ra các quyết định, có những quyết định đễdàng hơn nhưng cũng có những quyết định khó khăn và phức tạp hơn, nhất là khi quyếtđịnh đó liên quan đến lợi ích, quan điểm, cách nhìn nhận vấn đề khác nhau giữa nhữngngười tham gia vào quá trình ra quyết định Sự đa dạng về các nhóm thụ hưởng chính sáchcũng là một thách thức trong quá trình ra quyết định để đảm bảo rằng quyết định đó đápứng nhu cầu và mong đợi của họ một cách tốt nhất

Phân tích sự tham gia vào quá trình ra quyết định giúp chúng ta trả lời một loạt cáccâu hỏi sau đây: (i) Quyết định đó tác động đến cuộc sống của nhóm đối tượng nào? Aichịu tác động nhiều nhất của quyết định đó? (iỉ) Những ai được tham gia vào quá trình raquyết định? Ai là người ra quyết định? Ai có tiếng nói quyết định cuối cùng? (iii) Sự khácbiệt giới trong các mô hình ra quyết định là gì?

Sự tham gia và tiếng nói của nữ, nam vào quá trình ra quyết định có thể khác nhau tùythuộc vào bối cảnh vả điều kiện cụ thể của quá trình ra quyết định, cấp độ ra quyết định(gia đình, cộng đồng, cơ quan, xã hội) phản ánh mức độ ảnh hưởng của quyết định vàphạm vi lan tỏa đến nhóm đối tượng chịu tác động cùa quyết định

2.4 Phân tích nhu cầu giới và các yếu tố ảnh hưởng

Thực hiện phân tích giới trên ba góc độ nêu trên (phân công lao động, tiếp cận vàkiểm soát nguồn lực và lợi ích, tham gia vào quá trình ra quyết định) cho thấy, khoảngcách giới hay bất bình đẳng giới đang tồn tại trong một ngành, một lĩnh vực hay trong một

cơ quan/tổ chức Trên cơ sở đó, cần tìm hiểu nguyên nhân và nhu cầu cụ thể của nam và

nữ trong lĩnh vực chính sách được phân tích Cụ thể, cần trả lời những câu hỏi sau đây:

- Những thuận lợi và khó khăn/thách thức của nữ và nam trong lĩnh vực chính sách làgì?

- Nhóm đối tượng cụ thể nào (ví dụ nữ/nam thuộc nhóm hộ nghèo, nữ/nam nôngthôn, hay nữ/nam di cư, nhóm khuyết tật, ) bị tác động nhiều nhất của chính sách đó?

- Nguyên nhân dẫn đến khoảng cách giới trong lĩnh vực chính sách là gì? (nhận thức,

kỹ năng, luật pháp/chính sách, thể chế, )

- Nam và nữ có nhu cầu gì? Có gì giống và khác nhau trong mối quan tâm và ưutiên của họ trong lĩnh vực chính sách được phân tích hay không?

3 Các bước tiến hành phân tích giới

Trước khi tiến hành phân tích giới, cần xác định được lĩnh vực cần phân tích Ví dụ,trong lĩnh vực giáo dục có thể lựa chọn một vấn đề hay lĩnh vực hẹp hơn như phân tíchgiới trong giáo dục phổ thông, phân tích giới trong đào tạo đại học hay phân tích giới đốivới đào tạo sau đại học, tùy thuộc vào nội đung của chính sách có liên quan Sau khi đãxác định được lĩnh vực cần phân tích giới, cần tiến hành các bước sau đây:

Bước 1: Thu thập và phân tích thông tin, sổ liệu tách biệt giới tỉnh

- Phân tích giới bắt đầu bằng việc thu thập số liệu về nam giới vả nữ giới trong lĩnhvực được lựa chọn để phân tích Các số liệu, thông tin tách biệt theo giới tính là những

Trang 31

con số, thông tin cho phép so sánh giữa nam và nữ trong một vấn đề hay lĩnh vực cụ thể.Đây là các thông tin định lượng Các số liệu điều tra cấp quốc gia như: điều tra lao động,việc làm; điều tra mức sống hộ gia đình; điều tra dân số và nhà ở hay các điều tra, số liệuthống kê của các ngành, lĩnh vực là các nguồn cung cấp thông tin quan trọng Tuy nhiên,thực tế cho thấy các số liệu thống kê trong nhiều trường hợp không tách biệt theo giớitính.

Bước 2: Rà soát văn bản chính sách và đánh giá quá trình thực hiện chính sách từ góc độ giới.

Mục tiêu của việc rà soát văn bản chính sách là phân tích những điểm mạnh và hạnchế, bất cập của chính sách từ góc độ giới và chỉ ra những khoảng trống cần giải quyết.Câu hỏi bao trùm là: văn bản chính sách có được xây dựng trên cơ sở tính đến những khácbiệt về giới không?

Thứ nhất, khi rà soát các văn bản chính sách hay chương trình, dự án có liên quan,

Cần làm rõ: Khía cạnh về giới đã được đề cập trong mục tiêu, nội dung hoạt động hay giảipháp của chính sách, chương trình hay chưa? Neu có đã hợp lý chưa? Có khả thi và hiệuquả hay không? Nếu chưa, cần thay đổi như thế nào?

Thứ hai, cần tìm hiểu tác động của chính sách đối với nữ và nam (đối tượng thụ

hưởng chính sách) trong quá trình triển khai thực hiện Kinh nghiệm cho thấy, trong hầuhết các trường hợp, chính sách không có sự phân biệt đối xử (thường được gọi là chínhsách trung tính về giới), nhưng tác động chính sách là khác nhau đối với nữ, nam và cácnhóm xã hội dễ bị tổn thương

Thứ ba, phân tích nhận thức, kỹ năng và năng lực về giới của các cơ quan, tổ chức có

trách nhiệm trong việc xây dựng, thực thi và giám sát chính sách là một nội dung quantrọng trong đánh giá chính sách từ góc độ giới Đây có thể là một trong những nguyênnhân hạn chế hiệu quả chính sách nhìn từ lăng kính giới

Bước 3 : Tiến hành tham vấn

Tham vấn là hoạt động quan trọng trong phân tích chính sách vì đây là cách thứcnhanh và hiệu quả để có được thông tin và ý kiến của các nhóm đối tượng thụ hưởngchính sách

- Đối với phân tích giới, tham vấn yêu cầu thu thập các ý kiến của nữ và nam đểtìm hiểu nhu cầu của họ liên quan đến nội dung chính sách và quá trình thực thi chínhsách Nội dung tham vấn bao gồm mối quan tâm và sự ưu tiên; những thuận lợi và khókhăn; khả năng tham gia và ý kiến đề xuất của mỗi giới về lĩnh vực chính sách Các nộidung tham vấn cần có liên hệ với các thông tin thu thập được ở bước 1

Bước 4: Tổng hợp vấn đề, phân tích xu thế bất bình đẳng giới trong lĩnh vực chính sách.

Sau khi đã thực hiện thu thập, phân tích thông tin số liệu tách biệt theo giới tính (bước

1), rà soát văn bản chính sách và đánh giá quá trình thực hiện từ góc độ giới (bước 2) và

tiến hành tham vấn (bước 3), bước tiếp theo cần tiến hành là phân tích và tổng hợp cácthông tin định lượng và định tính để chỉ ra các vấn đề bắt bình đẳng giới đang tồn tạitrong lĩnh vực chính sách

Các vấn đề bất bình đẳng giới trong lĩnh vực chính sách được phân tích thường bị tác động bởi nhiều nguyên nhân, yếu tố khác nhau Đó có thể là:

- Nguyên nhân về nhận thức, kiến thức và kỹ năng

- Nguyên nhân về thể chế, bộ máy và nguồn lực

Trang 32

- Nguyên nhân về luật pháp, chính sách

4 Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác

ĐC tham khảo phân tích nêu trên để tự liên hệ nơi địa phương công tác của mình./.

Đề 9: Đồng chí hãy trình bày khái niệm, vai trò, các bước tiến hành và các điều kiện đảm bảo lồng ghép giới Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác ?

Quan điểm giới mới được du nhập vào Việt Nam nhưng đã có tác động mạnh mẽ đếnnhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Sự du nhập và truyền bá quan điểm giới đã trải qua bagiai đoạn với những xu hướng và đặc trưng khác nhau Để nâng cao tác động của quanđiểm giới góp phần tạo lập sự bình đẳng giới cần thực hiện một loạt giải pháp vừa cụ thểvừa tổng thể Một trong những giải pháp đó là Lồng ghép giới Lồng ghép giới là sử dụngquan điểm Giới và Phát triển (GAD) nhằm xem xét một cách toàn diện hơn mối quan hệgiữa nam giới và nữ giới trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, ra quyết định, thụhưởng và khuyến khích trong một hệ thống cụ thể Hệ thống đó có thể là một tổ chức, mộtchính phủ hay một xã hội

nữ Việt Nam: “Lồng ghép giới là biện pháp chiến lược nhằm đạt được bình đẳng giớitrong phạm vi toàn xã hội”

Như vậy, lồng ghép giới được hiểu là biện pháp hiệu quả nhằm giải quyết các vấn đềbất bình đẳng giới một cách có hệ thống, nhất quán và xuyên suốt Đó là biện pháp hướngtới giải quyết nguyên nhân gốc rễ gây nên bất bình đẳng giới, qua đó tạo dựng mối quan

hệ bình đẳng và bền vững giữa nam và nữ

* Vai trò của LGG

Lồng ghép giới ngày càng được thừa nhận là giải pháp bền vững, vì cách tiếp cận nàyđảm bảo sự thay đổi và điều chỉnh về thể chế, chính sách và chương trình phát triển theohướng có trách nhiệm giới Phương pháp lồng ghép giới không nghiên cứu phụ nữ mộtcách tách biệt mà nhấn mạnh đến mô hình phát triển vì lợi ích của cả nam và nữ, vì mụctiêu công bằng và phát triển bền vững Phương pháp lồng ghép giới nhấn mạnh vai trò và

sự hợp tác quan trọng của nam giới trong tạo dựng mối quan hệ bình đẳng nam, nữ Chính

vì vậy, biện pháp này được xem là bền vững và có hiệu quả lâu dài

Lồng ghép giới còn được xem là phương tiện quan trọng để đạt được các mục tiêutăng trưởng kinh tế, giảm nghèo bền vững, cải thiện giáo dục, bảo đảm an ninh, môitrường và sự thịnh vượng chung của nhân loại Do vậy, lồng ghép giới được xem là mộtcách tiếp cận đối với phát triển

*Các bước tiến hành:

Bước 1: Xác định và lựa chọn vấn đề giới cần giải quyết (trong phạm vi của chương trình, chính sách)

Trang 33

Dựa vào kết quả của phân tích giới, bước đầu tiên của quá trình lồng ghép giới là việclựa chọn vấn đề giới nào để giải quyét Trong một ngành, lĩnh vực liên quan có thể đangtồn tại nhiều vấn đề giới, song trong khuôn khổ và phạm vi của một chương trình, chínhsách chỉ có thể lựa chọn một hay một số vấn đề để giải quyết.

Tiêu chí lựa chọn: 1) Phù hợp với mục tiêu, nội dung và hoạt động của chươngtrình/chính sách; 2) Tính khả thi về thời gian và nguồn lực; 3) Giải quyết vấn đề này cóảnh hưởng đến số đông và có tác động tích cực về lâu dài hay không

Bước 2: Xác định mục tiêu, chỉ tiêu về giới

Cơ sở để xây dựng mục tiêu, chỉ tiêu về giới:

- Dựa vào kết quả của phân tích giới, nghĩa là dựa vào khoảng trống về giới vànhững bất cập hiện hành

- Tham khảo các mục tiêu, chỉ tiêu về giới trong các chương trình, chính sách hiệnhành hoặc các chương trình, chính sách đã thực hiện trong thời gian trước đó sẽ cung cấpthông tin để xây dựng mục tiêu và chỉ tiêu về giới

- Tùy thuộc vào nội dung của chính sách, chương trình, đề án, các mục tiêu về giớicần gắn với các mục tiêu chung của nội dung chính sách

Bước 3: Xác định hoạt động, biện pháp thực hiện và kinh phí lồng ghép giới

Xác định biện pháp:

Một là, tìm hiểu từ thực tế về các biện pháp thích hợp với nhóm đối tượng hưởng lợi

chính sách nhằm đạt được mục tiêu và chỉ tiêu về giới đã đề ra Có thể bao gồm các nhómbiện pháp sau đây (cần chú ý: nhóm nữ - nam nghèo; nhóm nữ - nam dân tộc thiểu số )

- Biện pháp phù hợp với điều kiện của nữ/trẻ em gái và nam/trẻ em trai

- Biện pháp thúc đẩy sự tham gia của nữ/trẻ em gái và nam/trẻ em trai

- Biện pháp tăng tiếp cận các nguồn lực của nữ/trẻ em gái và nam/trẻ em trai

- Biện pháp tăng mức độ hưỏng lợi từ chính sáeh của nữ/trẻ em gái và nam/trẻ emtrai

Trong quá trình xây dựng các biện pháp thực hiện, không nên mặc định rằng mọi biệnpháp chung đều phù hợp cho cả nam và nữ Thực tế cho thấy, do vai trò giới khác nhaunên trẻ em gái/phụ nữ và trẻ em trai/nam giới có mức độ tham gia và hưởng lợi khác nhau

từ các biện pháp được áp dụng Tính đến những điều kiện đặc thù và xem xét các yéu tốảnh hưởng từ góc độ giới là điều cần thiết để quyết định các biện pháp chính sách

Hai là, học hỏi kinh nghiệm từ các chính sách thành công, các trường hợp điển hình,

kinh nghiệm từ các địa phựơng khác và quốc tế; tham vấn các ban, ngành, cơ quan vàchuyên gia về giới Trên cơ sở tìm hiểu từ thực tế và kinh nghiệm thực hiện các chính sách

có tác động tốt về bình đẳng giới cần đảm bảo rằng các biện pháp đưa ra là phù hợp vàhiệu quả đối với cả nữ và nam Trong quá trình xây dựng các biện pháp, cần dự báo tácđộng của các biện pháp và hoạt động bình đẳng giới đối với việc thực hiện chính sách mộtcách bền vững và hiệu quả

Dự toán kinh phí

- Nguồn lực tài chính có ý nghĩa quan trọng góp phần thực hiện thành công lồngghép giới vào chính sách Thực tế cho thấy, các chính sách về bình đẳng giới đã khôngđược thực thi có hiệu quả vì không có hoặc nguồn ngân sách chưa tương xứng với nộidung của các hoạt động

- Trong dự toán tổng thể kinh phí cho các hoạt động chung của chương trình/đề án,ngay từ đầu cần xác định rõ ngân sách dành cho các hoạt động liên quan đến quá trình

Trang 34

thực hiện lồng ghép giới (tuyên truyền, tập huấn giới; hỗ trợ nhóm nữ, nam thiệt thòi nângcao năng lực, các hoạt động, điều tra/khảo sát về giới, xây dựng mô hình sản xuất cho cácnhóm đặc thù ).

- Đa dạng hóa các nguồn tài chính hỗ trợ cho quá trình lồng ghép giới ngoài nguồnngân sách nhà nước,

Bước 4: Kiểm tra, giám sát, đánh giá từ góc độ giới

- Xây dựng chỉ số về giới

Xây dựng các chỉ số cần đáp ứng tiêu chí: cụ thể, lượng hóa được, khả thi, phùhợp/thực tế, tính đến yếu tố thời gian (tiêu chí SMART) Có hai loại chỉ số: chỉ số địnhlượng và chỉ số định tính

- Nội dung kiểm tra, giám sát, đánh giá từ góc độ giới

+ Kết quả giám sát cần chú ý, so sánh sự khác biệt giới trên các mặt: tiếp cận cácnguồn lực, hưởng lợi từ kết quả, tham gia các hoạt động cụ thể và tham gia vào việc raquyết định

+ Chỉ ra và phân tích nguyên nhân của sự khác biệt giữa nam và nữ Chú ý nhữngbất cập từ góc độ giới trong công tác chỉ đạo, điều hành, giám sát

+ Trong quá trình kiểm tra, giám sát, lấy ý kiến của nữ và nam về sự tham gia của họvào các hoạt động, về những tác động của chính sách đối với bản thân họ và sự thay đổicủa quan hệ giới

- Biểu mẫu thống kê, báo cáo hoạt động, báo cáo giám sát

Để đảm bảo quá trình kiểm tra, giảm sát có đầy đủ các thông tin về giới, các biểu mẫubáo cáo (báo cáo kết quả hoạt động, báo cáo định kỳ, báo cáo đánh giá tác động ) cầnyêu cầu thu thập số liệu tách biệt theo nam/nữ và yêu cầu cung cấp thông tin phân tích vềgiới Trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất, thay đổi hoặc điều chỉnh cần thiết đối với quátrình thực hiện chính sấch liên quan đến nội dung về lồng ghép giới

* Các điều kiện đảm bảo LGG:

- Cam kết ủng hộ của lãnh đạo các cấp:

Sự khẳng định chính thức của các nhà lãnh đạo, quản lý về tầm quan trọng của bìnhđẳng giới đối với sự phát triển bền vững chính là điểm khởi đầu cho quá trình lồng ghépgiới

- Cơ chế quản lý phù hợp để thúc đẩy công tác lồng ghép giới: Cơ chế quản lý thúc

đẩy bình đẳng giới trong tổ chức bao gồm: thể chế hóa công tác lồng ghép giới, xây dựng

kế hoạch đổi mới tổ chức, phân công vai trò và trách nhiệm rõ ràng về thực hiện lồng ghépgiới và quy định về các hình thức động viên, phê bình hợp lý và kịp thời

- Nâng cao năng lực đảm bảo lồng ghép giới có hiệu quả

Cán bộ của tổ chức, nhất là các cán bộ có vai trò và trách nhiệm tham mưu cho lãnhđạo về công tác lồng ghép giới, cần phải có nền tảng kiến thức về lý thuyết giới để giúp họkhi thực hiện bất kỳ công việc hay một lĩnh vực hoạt động nào đều phải nhìn nhận quan hệgiới trong mối quan hệ biện chứng với phát triển, nhận diện được các vấn đề bất bình đẳnggiới gây cản trở tới sự phát triển của mỗi cá nhân, cơ quan/tổ chức và xã hội

- Đảm bảo quá trình lập ngân sách và sử dụng ngân sách của tổ chức có tính đến những khác biệt về giới nhằm thúc đẩy bình đẳng giới: Một trong những nguồn lực quan

trọng để tiến hành lồng ghép giới chính là nguồn lực về tài chính Ngân sách có tráchnhiệm giới đề cập đến toàn bộ quá trình lập kế hoạch, phê chuẩn, thực hiện, giám sát và

Trang 35

kiểm toán ngân sách có tính đến các mối quan tâm về giới và đảm bảo các khía cạnh giớiđược phân tích trong toàn bộ quá trình ngân sách.

- Xây dựng môi trường văn hóa có trách nhiệm: Lồng ghép giới có thể vấp phải sự

phản ứng, nhất là đối với những người đã quen với cách làm cũ, những người ngại sự thayđổi và những người hoài nghi về hiệu quả của sự thay đổi Trong bối cảnh này, vai trò củanhững người lãnh đạo/quản lý là đặc biệt quan trọng Người lãnh đạo, quản lý phải lànhững người đi đầu trong việc chứng minh rằng, sự thay đổi là cần thiết, là hợp với xu thếcủa phát triển và sẵn sàng hành động đề thúc đẩy quá trình thay đổi ngay cả khi còn cónhiều người phản đối

Phần liên hệ

Trong những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đã tích cực triểnkhai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vềbình đẳng giới Công tác bình đẳng giới trên địa bàn huyện đạt được nhiều kết quả tíchcực, đạt được như vậy là nhờ thực hiện chính sách lồng ghép giới hiệu quả Địa phương đãtriển khai thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước cho các cán

bộ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ , Ngoài ra, đã tạo điều kiện cho cácthành viên trong Ban, cán bộ tham mưu về công tác bình đẳng giới cấp xã tham gia đầy đủcác lớp tập huấn nâng cao năng lực về công tác bình đẳng giới do cấp trên tổ chức Côngtác phối hợp giữa các ngành trong quá trình thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới ở địaphương được triển khai thực hiện thường xuyên

Những tồn tại, hạn chế:

- Trong chỉ đạo, điều hành ở một số nơi chưa thực sự sâu sát với nhiệm vụ của công tácbình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ Do đó, sự phối hợp đôi khi còn lúng túng, chưa đạt hiệuquả cao

- Công tác triển khai hướng dẫn thực hiện của Ban vì sự tiến bộ phụ nữ còn mang tính chấtchung chung, trừu tượng và chưa đi vào cụ thể nội dung thực hiện Nguồn kinh phí phân bổ chohoạt động bình đẳng giới còn hạn chế nên chưa đáp ứng được yêu cầu hoạt động

- Bộ máy cơ quan vì sự tiến bộ của phụ nữ huyện tuy đã được kiện toàn, song chất lượng vàhoạt động còn hạn chế, cán bộ làm công tác của ban là cán bộ kiêm nhiệm nên việc tham mưu,giúp việc cơ quan thường trực Ban còn hạn chế

- Tư tưởng định kiến về giới vẫn còn tồn tại trong nhân dân kể cả một bộ phận cán bộ, côngchức Vẫn còn tình trạng phân biệt đối xử về độ tuổi và điều kiện tuyển dụng giữa nam và nữ

- Công tác thống kê số liệu có tách biệt giới chưa được quan tâm đúng mức và hướng dẫn

cụ thể, gây trở ngại cho quá trình tổng hợp, báo cáo và xây dựng chính sách, kế hoạch liên quanđến bình đẳng giới

- Các chỉ tiêu đề ra trong kế hoạch Kế hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳnggiới giai đoạn 2016 - 2020 không phù hợp với tình hình thực tế và việc thu thập số liệu để báocáo rất khó thực hiện theo yêu cầu

Giải pháp

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông nâng cao nhận thức tuyên truyền

bằng nhiều hình thức đa dạng nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành

về bình đẳng giới

Thứ hai, đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền nhất là phát huy vai trò của

người đứng đầu cơ quan, địa phương trong thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳnggiới

Trang 36

Thứ ba, phối hợp chặt chẽ với các phòng, ban, ngành, đặc biệt là các ngành thực hiện các

mục tiêu của kế hoạch hành động về bình đẳng giới

Thứ tư, đưa nhiệm vụ bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ vào Nghị quyết của các cấp uỷ

Đảng, nghị quyết của HĐND các cấp để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện

Thứ năm, quan tâm bố trí kinh phí hoạt động; bồi dưỡng và tăng cường trách nhiệm của

đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ các cấp

Thứ sáu, ban hành các chính sách nhằm tạo điều kiện và khuyến khích phụ nữ tự trau

dồi, nâng cao trình độ và tham gia tích cực vào các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội.Phát huy vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ trong việc bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ

Thứ bảy, tăng cường kiểm tra việc thực hiện công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ

của phụ nữ; thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới./

Đề 10: Đồng chí hãy trình bày vai trò và những nội dung cơ bản của kỹ năng hướng dẫn cán bộ nữ trong bối cảnh hiện nay Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác ?

Hướng dẫn có thể được hiểu theo hai cấp độ Ở cấp độ thứ nhất, hướng dẫn mang tính

đơn lẻ, chỉ mối quan hệ tự nguyện, có sự tôn trọng và tin tưởng giữa một người có nhiềukinh nghiệm với một người có ít kinh nghiệm hơn nhằm mục đích hỗ trợ người ít kinhnghiệm xây dựng năng lực, kỹ năng, kiến thức và sự tự tin Ở cấp độ này, chỉ cần sự tựnguyện của người hướng dẫn và người được hướng dẫn, mối quan hệ hướng dẫn có thể

được hình thành và phát triển Ở cẩp độ thứ hai, hướng dẫn được nâng lên thành một

chương trình, được triển khai trong một cơ quan, tổ chức nhằm phát triển nguồn nhân lựctại cơ quan đó, được lãnh đạo cơ quan đồng ý, phê đuyệt và bố trí nguồn lực, bố trí một hệthống hỗ trợ, trong đó quan trọng nhất là điều phối viên chương trình hướng dẫn

Sự cần thiết cửa việc xây dựng một chương trình hướng dẫn cán bộ nữ trong hệ thống chính trị Việt Nam

Việc xây dựng và vận hành một chương trình hướng dẫn cán bộ nữ tại Việt Nam là cầnthiết, vì một số lý do cơ bản sau đây:

Thứ nhất, mặc dù Đảng và Nhà nước Việt Nam có cam kết chính trị rất mạnh mẽ trong

việc thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị và đã đưa ra những chỉ tiêu cán bộ nữtrong các cấp ủy đảng, các cơ quan dân cử, các cơ quan Đảng và các tổ chức chính trị-xãhội đề ra trong Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hỏa, hiện đại hóa, trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới 2011-

2020 và một số văn bản khác, nhưng đến nay các chỉ tiêu cơ bàn về tỷ lệ nữ trong các cấp

ủy đảng, trong các cơ quan dân cử vẫn chưa đạt được Ngày 16-3-2015, trong Thông báo số196-TB/TW về Đề án “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bình đẳng giới

và vì sự tiến bộ của phụ nữ trong tình hình mới” Ban Bí thư đã đánh giá: “Kết quả thựchiện các chỉ tiêu phụ nữ tham gia vào các vị trí quản lý, lãnh đạo theo Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị không đạt kế hoạch và có xu hướng giảm” Báocáo số 454/BC-CP ngày 17-10-2017 của Chính phủ về việc thực hiện mục tiêu quốc gia vềbình đẳng giới nêu ra: Trong tổng số 22 chi tiêu của Chiến lược đề ra đến năm 2020, đếnnay có 8 chỉ tiêu đã đạt và sẽ duy trì đạt vào năm 2020, 2 chỉ tiêu không đạt - đó là chỉ tiêu

về tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy đảng, đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấpnhiệm kỳ 2016-2021 và một số chỉ tiêu đã được các bộ, ngành, địa phương triển khai nhưng

Trang 37

không có khả năng thu thập đầy đủ số liệu, trong đó có chỉ tiêu nữ lãnh đạo chủ chốt trong

cơ quan, tổ chức có tỷ lệ trên 30% nữ

Thứ hai, nâng cao số lượng và chất lượng lãnh đạo nữ trong hệ thống chính trị Việt

Nam hiện nay được xác định là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị, của xã hội và giađinh Muốn đạt được những chỉ tiêu về lãnh đạo nữ trong hệ thống chính trị, Đảng, Nhànước, các cơ quan, tổ chức cần sáng tạo, nghiên cứu, đề xuất và thử nghiệm các phươngpháp, cách thức khác nhau nhằm nâng cao số lượng, chất lượng cán bộ nữ làm lãnh đạo,quản lý Tổ chức thực hiện các chương trình hướng dẫn cán bộ nữ là một biện pháp chiếnlược để nâng cao số lượng, chất lượng cán bộ nữ trong vai trò lãnh đạo, quản lý và thựchiện bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý mà nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng vàđưa đến kết quả thành công Do đó, Việt Nam cần cân nhắc và áp dụng chương trình hướngdẫn cán bộ nữ tại các cơ quan, đơn vị trong toàn hệ thống chính trị Việt Nam

Thứ ba, chương trinh hướng dẫn cán bộ nữ có những ưu điểm trong việc nâng cao số

lượng và chất lượng cán bộ lãnh đạo nữ mà nhiều biện pháp và hình thức khác không có.Biện pháp hướng dẫn cán bộ nữ bổ sung những mục đích, lợi ích và cách thức nâng caonăng lực mà các chương tình tập huấn, đào tạo truyền thống khó có thể có được

Thứ tư, chương trình hướng dẫn cán bộ nữ giúp hỗ trợ cán bộ nữ trong hệ thống chính

trị vượt qua những tình huống khó khăn trong quá trình công tác, triển khai nhiệm vụ vàquá trình vươn lên trở thành những nhà lãnh đạo, quản lý

Thứ năm, chương trình hướng dẫn cản bộ nữ truyền đạt lại những kinh nghiệm, kỹ năng

lãnằ đạo, quản lý, xây dựng sự tự tin và phát triển mạng lưới nghề nghiệp, mạng lưới lãnhđạo cho cán bộ nữ một cách hiệu quả trong tương lai

Thứ sáu, triển khai chương trinh hướng dẫn cán bộ nữ thực chất là một biện pháp thúc

đẩy chia sẻ tri thức, kinh nghiệm trong tổ chức, giúp lưu giữ lại những kinh nghiệm và kiếnthức quý báu của những người có thâm niên, kinh nghiệm để khi những cán bộ lãnh đạo,những cán bộ có nhiều kinh nghiệm nghỉ chế độ hoặc chuyển công tác, tổ chức không mất

đi những tri thức ngầm chưa được vật chất hóa thành các văn bản

Thứ bảy, các nghiên cứu, phỏng vấn cán bộ nữ trong hệ thống chính trị Việt Nam đã chỉ

ra rằng, các cán bộ nữ có nhu cầu được hướng dẫn và trên thực tế cán bộ nữ ít được thamgia vào các mối quan hệ hướng dẫn cán bộ (có thế có dưới các hình thức đơn lẻ) trongtương quan so sánh với nam giới hơn

+ Những nội dung cơ bản của kỹ năng hướng dẫn cán bộ nữ

Các bước xây dựng một chương trình kèm cặp, hướng dẫn cán bộ nữ tại cơ quan

Triển khai hướng dẫn cán bộ nữ có thể được thực hiện ở cả hai cấp độ là: cấp độ cánhân và cấp độ tổ chức, Có 5 bước xây dựng một chương trình hướng dẫn cán bộ nữ ở cấp

độ tổ chức:

Bước 1 : Đảm bảo có sự tham gia của lãnh đạo cơ quan.

Sự tham gia của lãnh đạo cơ quan, đặc biệt là của người đứng đầu có vai trò quyết địnhđến việc một chương trình hướng dẫn cán bộ nữ có được thực hiện và thực hiện có hiệu quảkhông Chi khi dự thảo chương trinh hướng dẫn cán bộ nữ được lãnh đạo cơ quan đồng ý vềchủ trương thì các hoạt động của chương trinh mới được triển khai đồng bộ, nhất quán vàđược đảm bảo các nguồn lực để thực hiện

Để đảm bảo có sự tham gia của lãnh đạo cơ quan, điều phối viên chương trình và nhóm

đề xuất chương trình cần phải xây dựng một đề án hoặc một đề xuất thực hiện chương trìnhhướng dẫn cán bộ nữ tại cơ quan trình lên lãnh đạo Bản đề xuất này phải nói rõ được

Trang 38

chương trình hướng dẫn cán bộ nữ là gì, mục đích, mục tiêu, các bước thực hiện chươngtrình và đề xuất các nguồn lực cần thiết để triển khai chương trình Đây là một khâu quantrọng quyết định sự việc một chương trình hướng dẫn cán bộ nữ ở cấp độ tổ chức cổ đượcthực hiện hay không.

Bước 2: Xác định mục tiêu chương trình hướng dẫn cán bộ nữ.

Mục tiêu được xác định thông qua các yéu tố:

- Các vấn đề hiện tại của tổ chức, thực trạng thực hiện bình đẳng giới trong tổ chức

- Định hướng tương lai và mục tiêu của tổ chức

- Sự chuẩn bị sẵn sàng và hiệu quả làm việc của nhân viên, đặc biệt là nhân viên nữtrong tổ chức

Thiết lập mục tiêu rõ ràng, có tính kết nối và được truyền đạt thông suốt trong tổ chứcthông qua thông báo của lãnh đạo tổ chức cổ vai trò quan trọng đổi với sự thành công củamột chương trình hướng dẫn cán bộ nữ,

Bước 3: Lập kế hoạch cho chương trình.

Bước lập kế hoạch cần chương trình hướng dẫn chủ yếu được điều phối viên cùachương trình chuẩn bị, có sự tham gia của nhóm đề xuất đề án/chương trình Bước lập kếhoạch cần thực hiện những nội dung sau:

- Xác định sơ bộ các đối tượng tham gia chương trình

- Hình thức quan hệ giữa người hướng dẫn và người được hưóng dẫn

- Xây dựng tiêu chí tuyển chọn người tham gia

- Đảm bảo hướng dẫn là một phần công việc của người tham gia

- Xây dựng phiếu đăng ký tham gia cho người hướng dẫn và người được hướng dẫn

- Xếp cặp người hướng dẫn và người được hướng dẫn

- Người hướng dẫn và người được hướng dẫn thực hiện xây dựng mục tiêu và nộidung hướng dẫn

- Tổ chức đào tạo, tập huấn cho người hướng dẫn và người được hướng dẫn

- Xây dựng phương án đánh giá, giám sát chương trình hướng dẫn

Bước 4: Triển khai chương trình hướng dẫn cán bộ nữ tại cơ quan.

Sau khi kế hoạch thực hiện chương trình hướng dẫn cán bộ nữ đã đựợc chuẩn bị cụthể và được lãnh đạo cơ quan phê duyệt, điều phối viên chương trình và các thành viêntham gia chương trình sẽ thực hiện triển khai chương trình hướng dẫn cán bộ nữ như kếhoạch đã xây dựng, bao gồm các bước triển khai sau:

1) Thực hiện buổi làm việc xin chủ trương của lãnh đạo cơ quan

2) Gửi phiếu đăng ký tham gia cho người hướng đẫn và người được hưóng dẫn.3) Rà soát hồ sơ đăng ký, xếp cặp người hướng dẫn và người được hưóng dẫn

4) Tổ chức cuộc họp đầu tiên vả đưa ra mục tiêu của chương trình hướng dẫn đốivới tất cả đối tượng tham gia cuộc họp

5) Tổ chức các cuộc họp trong khoảng thời gian nhất định đã được xác định trong

ké hoạch

6) Rà soát tiến độ đạt mục tiêu,

7) Tự đánh giá chương trình hướng dẫn để kịp thời điều chỉnh khi cần

8) Điều phối viền thường xuyên kiểm tea cả người ằướng dẫn và người được hướngdẫn để đảm bảo họ có gặp gỡ và tuân thủ thỏa thuận hợp tác

Bước 5: Giám sát, rà soát và đánh giá.

Trang 39

Vai trò quan trọng của điều phối viên là giám sát, rà soát và đánh giá chương trình Điềuphối viên chương trình hướng dẫn cán bộ nữ có thể thiết lập hệ thống giám sát qua:

- Đánh giá chương trình đành cho người hướng dẫn;

- Đánh giá chương trình dành cho người được hướng dẫn;

- Đánh giá chương trình đành cho cả người hướng dẫn và người được hướng dẫn;

- Tổng hợp đánh giá của người hướng dẫn, người được hướng dẫn và đánh giáchung của người hưóng dẫn, người được hướng dẫn và chương trinh hướng dẫn cán bộ nữ,

từ đó chủ động điều chỉnh chương trình hướng dẫn cho phù hợp hơn với nhu cầu thực tếcủa người hướng dẫn và người được hướng dẫn

- Tái tổ chức chương trình hướng dẫn lần tiếp theo

* Liên hệ vấn đề này ở tổ chức (hoặc ngành) nơi công tác

Bước 1 : Đảm bảo có sự tham gia của lãnh đạo cơ quan.

Là thủ trưởng của đơn vị, bản thân luôn nhận thấy rõ tầm quan trọng của công táchướng dẫn cán bộ nữ trong đơn vị, đặc biệt là đối với những nữ cán bộ trong công tácĐoàn Từ nhận thức như vậy, bản thân đã chủ động đề ra và hỗ trợ, cũng như thúc đẩycông tác hướng dẫn nữ cán bộ

Bước 2 Xác định mục tiêu: Trên cơ sở thực tiễn và năng lực của từng nữ cán bộ.Thường trực Thành Đoàn đã tiến hành thảo luận và làm rõ những vấn đề và lĩnh vực màngười được hướng dẫn cảm thấy cần được hỗ trợ, những điều mà người này mong muốnđạt được trong ngắn hạn và dài hạn Các lĩnh vực này có thể bao gồm: phát triển khả năngtrình bày ý tưởng, nâng cao sự tự tin khi phát biểu trước công chúng, có thêm nhiều thôngtin về quá trình ra quyết định của tổ chức, tăng cường kỹ năng viết, giảm bớt va chạmtrong mối quan hệ giữa bản thân với người quản lý và các đồng nghiệp, nâng cao hiểu biết

về nghề nghiệp và tạo lập được định hướng phát triển nghề nghiệp rõ ràng, biết cách đảmbảo mình sẽ được vào danh sách đề bạt thăng tiến

Bước 3 Xây dựng Kế hoạch hành động của một chương trình Hướng dẫn

- Bằng cáchnào/Ai

Ngà

y tháng

Trao đổi những mục tiêu của chương trình hướng dẫn/dìu dắt

với các đối tượng cụ thể

Tổ chức cuộc họp ban đầu để người lãnh đạo thúc đẩy

chương trình, làm rõ các mục tiêu và chức năng nhiệm vụ của

người tham gia

Xác định những người hướng dẫn và những người được

hướng dẫn có nhu cầu (có thể thông qua đề cử hoặc đăng ký)

Xếp cặp những người hướng dẫn và người được hướng dẫn

tiềm năng một cách phù hợp Tổ chức các buổi trao đổi ngắn/đào

tạo với người hướng dẫn và người được hướng dẫn để chia sẻ

những thông tin cơ bản quan trọng, truyền đạt cho cả người

hướng dẫn và người được hướng dẫn vai trò nhiệm vụ của họ,

xem xét cụ thể các vấn đề và cố gắng đạt được sự thống nhất về

các quy định và nguyên tắc hoạt động của chương trình hướng

dẫn/dìu dắt

Trang 40

Hỗ trợ người hướng dẫn và người được hướng dẫn xây dựng

chương trình họp định kỳ, ký kết thỏa thuận hướng dẫn và xác lập

các mục tiêu

Giám sát thông qua thư điện tử và điện thoại

Vận hành mạng lưới hoặc các sự kiện đào tạo cho tất cả

những người hướng dẫn và người được hướng dẫn

Gửi bài viết thường kỳ, danh sách các gợi ý, thông tin liên

quan đến các mục tiêu của chương trình hướng dẫn/dìu dắt

Đánh giá chương trình

Rà soát và điều chỉnh chương trình dựa trên kết quả đánh giá

Bước 4: Triển khai chương trình hướng dẫn cán bộ nữ tại cơ quan.

Trên cơ sở kế hoạch thực hiện chương trình hướng dẫn cán bộ nữ đã được chuẩn bịnhư trên thì tiến hành họp cơ quan và phân công nhiệm vụ cho người hướng dẫn là cán bộ

có kinh nghiệm và kỹ năng để hướng dẫn

Định kỳ vào ngày 25 hàng tháng, bản thân sẽ tiến hành phiên họp để rà soát tiến độđạt mục tiêu và đánh giá chương trình hướng dẫn để kịp thời nhắc nhở và điều chỉnh

Trong đó luôn nhắc nhở người hướng dẫn và được hướng dẫn đảm bảo được các tiêuchí

- Luôn giữ cơ chế đối thoại cởi mở

- Xác định các mong muốn, kỳ vọng

- Hãy là người tham gia tích cực

- Hãy trở nên đáng tin cậy và nhất quán

- Hãy có ý thức về sự đa dạng văn hóa

- Tôn trọng thông tin cá nhân

Bước 5: Giám sát, rà soát và đánh giá.

Với vai trò là thủ trưởng đơn vị, bản thân thường xuyên tiến hành rà soát và đánh giáhiệu quả của chương trình hướng dẫn cán bộ nữ trên cơ sở các bản đánh giá chương trình củangười hướng dẫn, người được hướng dẫn Từ đó từ đó chủ động điều chỉnh chương trìnhhướng dẫn cho phù hợp hơn với nhu cầu thực tế của người hướng dẫn và người được hướngdẫn

Khi kết thúc chương trình hướng dẫn thì đánh giá rút kinh nghiệm để điều chỉnh cho cácchương trình hướng dẫn cán bộ nữ những lần tiếp theo

Đề 11: Trình bày khái niệm, vai trò và chu trình ủy quyền hiệu quả trong xây dựng năng lực cho cán bộ nữ Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí công tác?

* Khái niệm kỹ năng ủy quyền hiệu quả:

Ngày đăng: 27/09/2021, 17:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w