1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bai tiểu luận luật đầu tư: Bàn về vấn đề thu hút FDI tại Việt Nam

20 2K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 136 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ phát triển kinh tế xã hội ở mức thấp hơn rất nhiều so với nước khác. Với tốc độ phát triển nhanh chóng của các nước phát triển , thì khoảng cách kinh tế ngày càng giãn ra. Vì vậy nhiệm vụ phát triển kinh tế của nước ta trong những năm tới là vượt qua tình trạng của một nước nghèo, nâng cao mức sống của nhân dân và từng bước hội nhập vào quỹ đạo kinh tế Thế Giới. Tính tất yếu của kinh tế xã hội với hình thức cao của nó là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài là xu thế phát triển của thời đại .Việt nam cũng không nằm ngoài quy luật đó và những vấn đề đặt ra là thu hút FDI như thế nào ? Với mục tiêu xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp và tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa với mục tiêu lâu dài là cải bước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế phù hợp... Muốn thực hiện tốt điều đó cần phải có một lượng vốn lớn. Muốn có lượng vốn lớn cần phải tăng cường sản xuất và thực hiện tiết kiệm. Nhưng với tình hình của nước ta thì thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng là một cách tích lũy vốn nhanh có thể làm được. Đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp nói riêng là một hoạt động kinh tế đối ngoại có vị trí vai trò quan trọng, trở thành xu thế của thời đại. Đó là kênh chuyển giao công nghệ, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm việc làm và thu nhập, nâng cao tay nghề cho người lao động , năng lực quản lý, tạo nguồn thu cho ngân sách... Trên cơ sở thực trạng của đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, ta cũng cần phải chú ý tới vấn đề tính cực và tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài . Cũng không phải là một nước thụ động mất dân vị thế mà xem vốn đầu tư nước ngoài là quan trọng. Nhận thức đúng vị trí vai trò của nhà đầu tư trong nước trong tương lai phải là chủ yếu. Nhận thức đúng đắn vị trí vai trò của đầu tư nước ngoài là hết sức cần thiết. Chính phủ cũng đã ban hành chính sách đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Đồng thời tạo mọi điều kiện lợi nhuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài . Chúng ta bằng những biện pháp mạnh về cải thiện môi trường đầu tư , kinh doanh .... Để thu hút đầu tư nước ngoài. Với phương châm của chúng ta là đa dạng hóa, đa phương hóa hợp tác đầu tư nước ngoài trên cơ sở hai bên cùng có lợi và tôn trọng lẫn nhau. Bằng những biện pháp cụ thể để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tổng thể chiến lược phát triển và tăng trưởng kinh tế la một thành công mà ta mong đợi.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ phát triển kinh

tế xã hội ở mức thấp hơn rất nhiều so với nước khác Với tốc độ phát triển nhanh chóng của các nước phát triển , thì khoảng cách kinh tế ngày càng giãn

ra Vì vậy nhiệm vụ phát triển kinh tế của nước ta trong những năm tới là vượt qua tình trạng của một nước nghèo, nâng cao mức sống của nhân dân và từng bước hội nhập vào quỹ đạo kinh tế Thế Giới

Tính tất yếu của kinh tế xã hội với hình thức cao của nó là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài là xu thế phát triển của thời đại Việt nam cũng không nằm ngoài quy luật đó và những vấn đề đặt ra là thu hút FDI như thế nào ?

Với mục tiêu xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp và tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa với mục tiêu lâu dài là cải bước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế phù hợp Muốn thực hiện tốt điều đó cần phải có một lượng vốn lớn Muốn có lượng vốn lớn cần phải tăng cường sản xuất và thực hiện tiết kiệm Nhưng với tình hình của nước ta thì thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng là một cách tích lũy vốn nhanh có thể làm được Đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp nói riêng là một hoạt động kinh tế đối ngoại có vị trí vai trò quan trọng, trở thành xu thế của thời đại Đó là kênh chuyển giao công nghệ, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm việc làm và thu nhập, nâng cao tay nghề cho người lao động , năng lực quản lý, tạo nguồn thu cho ngân sách

Trên cơ sở thực trạng của đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, ta cũng cần phải chú ý tới vấn đề tính cực và tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài Cũng không phải là một nước thụ động mất dân vị thế mà xem vốn đầu tư nước ngoài

là quan trọng Nhận thức đúng vị trí vai trò của nhà đầu tư trong nước trong tương lai phải là chủ yếu

Nhận thức đúng đắn vị trí vai trò của đầu tư nước ngoài là hết sức cần thiết Chính phủ cũng đã ban hành chính sách đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Đồng thời tạo mọi điều kiện lợi nhuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài Chúng ta bằng những biện pháp mạnh về cải thiện môi trường đầu tư , kinh doanh Để thu hút đầu tư nước ngoài Với phương châm của chúng ta là đa dạng hóa, đa phương hóa hợp tác đầu tư nước ngoài trên cơ sở hai bên cùng có lợi và tôn trọng lẫn nhau Bằng những biện pháp cụ thể để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tổng thể chiến lược phát triển và tăng trưởng kinh tế la một thành công mà ta mong đợi

Trang 2

Khái quát chung về FDI.

Khái niệm.

FDI là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Foreign Direct Investmen” và được dịch sang tiếng Việt là đầu tư trực tiếp nước ngoài Có nhiều khái niệm về FDI như sau:

- Theo khái niệm của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF(1997): FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp

- Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): Đầu tư trực tiếp là

hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp Có các mục đầu tư như:

+ Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư

+ Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có

+ Tham gia vào một doanh nghiệp mới

+ Cấp tín dụng dài hạn (>5 năm)

- Theo Tổ chức tương mại thế giới WTO: Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy

ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó

- Theo luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam:

Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật này

Từ các khái niệm trên, ta có thể hiểu FDI là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư, thiết lập cơ sở sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý,… nhằm mục đích thu lợi nhuận và chi phối hoặc toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp

Trang 3

Nếu xét trên khía cạnh về quyền sở hữu thì về bản chất, FDI được thực hiện với quyền sở hữu về tài sản đầu tư của chủ đầu tư nước ngoài Nếu xét trên khía cạnh cán cân thanh toán, FDI thường được định nghĩa là phần tăng thêm giá trị

sổ sách của lượng đầu tư ròng ở một quốc gia được thực hiện bởi nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời nhà đầu tư này cũng chính là chủ sở hữu chính và nắm quyền kiểm soát quá trình đầu tư đó

Đặc điểm

Từ khái niệm và bản chất của FDI, ta có thể thấy FDI có các đặc điểm chính sau đây:

- FDI là hình thức đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận

- Đây là hình thức đầu tư bằng vốn tư nhân nên mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế tiếp nhận

- Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên tham gia, lợi nhuận và rủi ro được phân chia theo tỷ lệ vốn góp đầu tư

- FDI giúp ích cho quá trình toàn cầu hóa

FDI gắn trực tiếp với quá trình sản xuất trực tiếp, tham gia vào sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu và tạo thành cơ sở của sự hoạt động của các công ty đa quốc gia

-Cơ cấu và hình thức FDI ngày càng trở nên đa dạng hơn

Điều này liên quan đến sự hình thành hệ thống phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng và sự thay đổi của môi trường kinh tế thương mại toàn cầu

Ở các nước công nghiệp phát triển, cơ cấu FDI đã có sự thay đổi mạnh mẽ

Xu hướng đầu tư hiện nay của nguồn vốn FDI là vào các ngành có hàm lượng khoa học cao, đặc biệt là các ngành: Điện tử, chất dẻo, hóa chất và chế tạo máy Trong khi đó, tỉ trọng đầu tư các ngành công nghiệp dùng nhiều vốn và lao động thì FDI giảm rõ rệt Tỉ trọng FDI đi vào các ngành dịch vụ tăng lên, một số lĩnh vực được ưu tiên là các dịch vụ thương mại, bảo hiểm, các dịch vụ tài chính và giải trí

-Sự gắn bó ngày càng chặt chẽ giữa FDI với thương mại và chuyển giao công nghệ

Thông thường, một chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài được nhằm vào mục đích tăng tiềm năng xuất khẩu của một nước Mặt khác, các công ty nước ngoài được lựa chọn ngành và địa điểm đầu tư, cũng dựa trên cơ sở tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thương trường quốc tế

Trang 4

FDI đã và đang trở thành kênh quan trọng nhất của việc chuyển giao công nghệ Xu hướng này ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau Đây chính là hình thức có hiệu quả của việc lưu chuyển vốn và kỹ thuật trên phạm vi quốc tế

Phân loại FDI

Có thể phân loại FDI theo nhiều cách:

Phân loại theo hình thức thâm nhập:

Đầu tư mới

Đầu tư mới là hoạt động đầu tư trực tiếp vào các cơ sở sản xuất kinh doanh hoàn toàn mới ở nước ngoài, hoặc mở rộng một cơ sở sản xuất kinh doanh đã tồn tại

Mua lại và sát nhập qua biên giới

Mua lại và sáp nhập qua biên giới là một hình thức FDI liên quan đến việc mua lại hoặc hợp nhất với một doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động

Các hình thức của sáp nhập bao gồm:

- Sáp nhập theo chiều ngang: là hình thức sáp nhập diễn ra giữa các công ty trong cùng một ngành kinh doanh (hay có thể nói là giữa các đối thủ cạnh tranh)

- Sáp nhập theo chiều dọc: là hình thức sáp nhập của các công ty khác nhau trong cùng một dây chuyền sản xuất ra sản phẩm cuối cùng Có 2 dạng sáp nhập theo chiều dọc là: Liên kết giữa nhà cung cấp và công ty sản xuất, sáp nhập theo chiều ngang là: Liên kết giữa công ty sản xuất và nhà phân phối Sáp nhập theo chiều dọc diễn ra nhiều trong lĩnh vực dầu mỏ

- Sáp nhập hỗn hợp: là hình thức sáp nhập giữa các công ty kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau Mục tiêu của những vụ sáp nhập như vậy là đa dạng hóa, và chúng thường thu hút sự chú ý của những công ty có lượng tiền mặt lớn

Phân loại theo quy định của Luật Đầu tư Việt Nam:

Doanh nghiệp liên doanh

Doanh nghiệp trong nước liên doanh với nước ngoài gọi tắt là liên doanh là hình thức được sử dụng rộng rãi nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới từ trước đến nay Nó công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và có hiệu quả thông qua hoạt động hợp tác

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Loại hình doanh nghiệp này hoạt động theo sự điều hành quản lý của chủ đầu

tư nước ngoài, nhưng vẫn phải tùy thuộc vào các điều kiện về môi trường kinh doanh của nước sở tại, đó là các điều kiện về: chính trị,kinh tế, luật pháp, văn hóa, mức độ cạnh tranh, …

Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh

Trang 5

Đây là hình thức đầu tư trong đó các bên quy trách nhiệm và phân chia thành quả kinh doanh cho mỗi bên, từ đó tiến hành đầu tư, kinh doanh mà không thành lập pháp nhân mới

Hình thức này không phân phối lợi nhuận và chia sẻ rủi ro mà phân chia kết quả kinh doanh chung theo tỉ lệ góp vốn hoặc theo thỏa thuận từ đầu của hai bên

Đầu tư theo hợp đồng BTO, BT, BOT

BOT dùng chỉ các mô hình sử dụng đầu tư tư nhân để thực hiện xây dựng cơ

sở hạ tầng trực thuộc khu vực nhà nước, sau đó nhà đầu tư sẽ kinh doanh trong một thời gian nhất đinh để thu hồi vốn và đạt được một mức lợi nhuận hợp lý Vào cuối giai đoạn vận hành, dự án sẽ được chuyển giao quyền sở hữu cho chính phủ nước sở tại

Đối với hợp đồng BT, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư sẽ chuyển giao lại cho nước sở tại và nhận được thanh toán bằng tiền hoặc tài sản nào đó tương xứng với vốn bỏ ra ban đầu và một tỉ lệ lợi nhuận hợp lí

Đối với hợp đồng BTO, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao lại cho nước sở tại và được chính phủ nước này dành cho quyền kinh doanh công trình đó hoặc công trình khác trong một khoảng thời gian đủ để hoàn vốn và có lợi nhuận thích hợp

3 hình thức hợp đồng này diễn ra ở lĩnh vực hẹp hơn các doanh nghiệp FDI khác, chủ yếu cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, được hưởng các ưu đãi đầu tư hơn các doanh nghiệp FDI khác

Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và công ty con

Mô hình công ty này là một trong những mô hình tổ chức quản lý được thừa nhận rộng rãi nhất ở hầu hết các nước

Mô hình này được thành lập dưới dạng công ty cổ phần và chỉ giới hạn hoạt động của mình trong việc sở hữu vốn, qu yết định chiến lược và giám sát hoạt động quản lý của các công ty con Tuy nhiên, các công ty con vẫn duy trì quyền kiểm soát hoạt động kinh doanh của mình một cách độc lập

Phân loại theo tính chất nguồn vốn:

Vốn chứng khoán

Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty

Vốn tái đầu tư

Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm

Trang 6

Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ

Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau

Phân theo động cơ của nhà đầu tư

Vốn tìm kiếm tài nguyên

Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng) Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh

Vốn tìm kiếm hiệu quả

Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi,điều kiện pháp lí v.v

Vốn tìm kiếm thị trường

Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh dành mất Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu

Những nhân tố thúc đẩy FDI

- Nhu cầu chu chuyển vốn:

Thông thường, chi phí sản xuất ở các nước thừa vốn là lớn hơn ở các nước thiếu vốn, dẫn đến sự chênh lệch năng suất Vì sự chênh lệch này mà hình thành dòng chảy của vốn đâu tư từ nơi dư thừa đến nơi thiếu hụt nhằm tối đa hóa lợi nhuận

- Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước Helpman và Sibert, Richard S Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên (số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có được do dùng thêm một đơn vị của yếu tố sản xuất) của vốn giữa các nước Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn Còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận Vì chi phí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn Tuy nhiên như vậy

Trang 7

không có nghĩa là tất cả những hoạt động nào có năng suất cận biên cao mới được các Doanh nghiệp đầu tư sản xuất mà cũng có những hoạt động quan trọng, là sống còn của Doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất cho dù hoạt động đó cho năng suất cận biên thấp

- Chu kỳ sản phẩm Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kỳ sống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoan sản phẩm mới; giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa Akamatsu Kaname cho rằng đối với sản phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât của nước ngoài Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI

Raymond Vernon lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này

có rất nhiều nhà cung cấp Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn

- Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia

Stephen H Hymes, John H Dunning, Rugman A A và một số người khác cho rằng các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực

cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên

họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai,chính trị) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn và công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng ta dễ dàng nhận ra lợi ích của việc này

- Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại

Việc một nước bị thâm hụt thương mại quá lớn từ nước đối tác sẽ dễ dàng dẫn đến những xung đột thương mại song phương Vì thế, việc tăng cường đầu

tư trực tiếp vào nước bị thâm hụt, sản xuất và bán các sản phẩm này ngay tại nước bị thâm hụt sẽ làm giảm tình trạng nhập khẩu từ nước thặng dư Ví dụ,

Trang 8

Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường

đó Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu

- Khai thác chuyển giao và công nghệ

Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa Nhật Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ Ví

dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ Các công ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng

có chính sách tương tự Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ Việc công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM Hay việc TCL (Trung Quốc) trong sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL-Thompson Electroincs, việc National Offshore Oil Corporation (Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu lửa mua lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như vậy

- Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên

Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú, giá rẻ

Tác động của FDI đối với nền kinh tế.

Tác động tích cực.

FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, giúp cho nước tiếp nhận đầu tư huy động mọi nguồn lực sản xuất (vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ…).Hoạt động FDI đã trực tiếp đóng góp vào GDP của các nước tiếp nhận đầu tư, tăng thu nhập của người lao động

Hoạt động FDI thông qua các hoạt động di chuyển vốn; công nghệ; kỹ năng

đã góp phần nâng cao năng suất lao động của nước tiếp nhận đầu tư

FDI bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế.

Nguồn vốn đầu tư cho phát triển được lấy từ 2 nguồn là nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài Nguồn vốn trong nước được hình thành từ tiết kiệm và đầu tư Nguồn vốn nước ngoài được hình thành thông qua vay; đầu tư

Trang 9

gián tiếp; đầu tư trực tiếp Nhưng đối với các nước nghèo và đang phát triển thì luôn lâm vào tình trạng thiếu vốn Theo Paul A Samuelson, thì các hoạt động sản xuất và đầu tư ở các nước này lâm vào một vòng luẩn quẩn:

Thu nhập thấp => tiết kiệm và đầu tư thấp => khả năng phát triển của vốn và tích tụ vốn thấp => không đủ vốn cho đầu tư => năng suất thấp và lại quay trở lại chu kỳ bàn đầu

Do vậy để phá vỡ được vòng luẩn quẩn kia thì nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một phương án rất thích hợp và đầu tư trực tiếp nước ngoài có ưu thế hơn so với các nguồn vốn khác:

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài không tạo ra khoản nợ

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tính ổn định cao và không thuận lợi cho việc rút vốn như các khoản vay hoặc đầu tư gián tiếp

- Lợi nhuận chỉ được chuyển về nước khi dự án tạo ra lợi nhuận và một phần lợi nhuận được các chủ đầu tư sử dụng để tái đầu tư

FDI góp phần vào quá trình phát triển công nghệ.

Công nghệ có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, giúp các nước đang phát triển theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các nước công nghiệp phát triển dựa vào lợi thế của nước đi sau (kế thừa những thành tựu khoa học kỹ thuật của nhân loại) Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển khoa học - công nghệ nâng cao năng lực sản xuất và nâng cao năng suất lao động tại nước tiếp nhận đầu tư

Tác động tích cực của FDI đối với phát triển công nghệ qua:

- Chuyển giao công nghệ: để công nghệ mới và tiên tiến phục vụ hoạt động sản xuất thì cần phải chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển Do hoạt động chuyển giao công nghệ ngày càng phức tạp

do vậy chuyển giao công nghệ thông qua FDI là một kênh chuyển giao hiệu quả

và chi phí thấp Chuyển giao công nghệ thông qua FDI đã làm cho khoảng cách công nghệ giữa nước đi đầu và nước tiếp nhận đầu tư bị thu hẹp Hình thức chuyển giao được thực hiện thông qua: Chuyển giao bên trong là hình thức chuyển giao giữa công ty mẹ và công ty con (nước tiếp nhận đầu tư) Chuyển giao bên ngoài được thực hiện giữa các công ty khác nhau liên doanh với doanh nghiệp trong nước; hỗ trợ công nghệ…

- Hoạt động phổ biến công nghệ: Hoạt động FDI tạo ra hiệu ứng tích cực đối với các doanh nghiệp của nước tiếp nhận đầu tư (i) thông qua cạnh tranh sẽ thúc đẩy việc cải thiện và nâng cao công nghệ trong nước; (ii) di chuyển lao động từ nơi có trình độ công nghệ cao đến các nước đang phát triển góp phần chuyển giao công nghệ)

Trang 10

Nâng cao chất lượng lao động

Chất lượng lao động có ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia FDI tác động đến vấn đề lao động của nước tiếp nhận đầu tư

cả về số lượng lẫn chất lượng Số lượng là việc giải quyết việc làm cho người lao động Còn chất lượng lao động, FDI làm thay đổi cơ bản nâng cao năng lực

và kỹ năng lao động thông qua: đào tạo trực tiếp và gián tiếp nâng cao trình độ lao động

- Trực tiếp đào tạo: Do các công ty nước ngoài hoặc có doanh nghiệp có vốn FDI phải tuyển dụng lao động địa phương Để lao động địa phương có thể sử dụng thành thạo những công nghệ tiên tiến đã được chuyển giao, phương thức đào tạo có thể là: đào tạo trực tiếp thông qua các khóa học do các chuyên gia của công ty giảng dạy hoặc kết hợp với các cơ sở đào tạo trong nước tiếp nhận đầu tư

- Gián tiếp nâng cao chất lượng lao động của nước tiếp nhận đầu tư Các nước đầu tư FDI yêu cầu đầu tư vào nước có chất lượng lao động cao để không mất nhiều thời gian và chi phí đào tạo Do vậy, với chính sách thu hút đầu tư nước ngoài các nước tiếp nhận đầu tư phải có chiến lược phát triển nguồn nhân lực có hiệu quả để đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng

FDI góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho người lao động.

Giải quyết việc làm tại các nước tiếp nhận đầu tư: hoạt động đầu tư đã góp phần làm giảm tỉ lệ thất nghiệp ở những quốc gia này Thứ nhất: trực tiếp tạo việc làm bằng cách tuyển dụng lao động địa phương vào các doanh nghiệp có vốn FDI Thứ hai, FDI gián tiếp tạo ra việc làm thông qua các doanh nghiệp cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn FDI

Vấn đề nâng cao thu nhập, người lao động làm việc trong các công ty có vốn FDI thường cao hơn so với làm tại các doanh nghiệp trong nước Nguyên nhân

là sản lượng sản xuất tại các doanh nghiệp FDI thường cao hơn với các doanh nghiệp trong nước; lao động có chất lượng cao hơn; công ty GDI có thị trường rộng lớn và quy mô lớn

FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư.

Cơ cấu đầu tư của một quốc gia là cấu trúc của nền kinh tế hay nói các khác

là tổng thể các mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố cấu thành nền kinh tế

Ba yếu tố cơ bản cấu thành nên cơ cấu kinh tế của một quốc gia là: cơ cấu thành phần kinh tế; cơ cấu ngành kinh tế; cơ cấu vùng kinh tế Trong số ba yếu

tố đó, cơ cấu ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng nhất quyết định hình thức của những cơ cấu kinh tế khác Do vậy, việc thay đổi cơ cấu ngành kinh tế sẽ

Ngày đăng: 23/06/2014, 22:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w