Ngoài ra, trong bối cảnh Trung Quốc đang mở rộng kiểm soát biển Đông, đời sống của các hộ ngư dân ven biển của tỉnh Thừa Thiên Huế cũng có thể bị ảnh hưởng đáng kể do các ngư trư
Trang 10
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC III
-*** -
BÁO CÁO TÓM TẮT
KẾT QUẢ ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NGUỒN THU NHẬP VÀ
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO CÁC HỘ NGƯ DÂN
VÙNG BÃI NGANG VEN BIỂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
(Ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu) (Ký, ghi rõ họ tên)
TS Hoàng Hồng Hiệp ThS Châu Ngọc Hòe PGS TS Trần Xuân Bình ThS Nguyễn Thanh Khanh ThS Vũ Thái Hạnh
ThS Ngô Tuấn Huy
Đà Nẵng, tháng 08 năm 2019
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thừa Thiên Huế là tỉnh ven biển thuộc vùng Kinh tế trọng điểm Miền Trung, có nhiều tiềm năng và lợi thế trong phát triển kinh tế biển, nhất là kinh tế thủy sản1 Tuy nhiên, Thừa Thiên Huế lại có đến 31 xã thuộc 4 huyện ven biển nằm trong danh sách
311 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo giai đoạn 2013 - 2015 thuộc 22 tỉnh của cả nước2, chiếm 10% tổng số xã bãi ngang đặc biệt khó khăn của cả nước Điều này cũng hàm ý rằng, tỉnh Thừa Thiên Huế là một trong số ít những địa phương có số xã vùng bãi ngang đặc biệt khó khăn nhiều nhất trong cả nước Thời gian qua, tỉnh Thừa Thiên Huế đã thực hiện nhiều chương trình, dự án hỗ trợ người dân ở các xã bãi ngang ven biển phát triển kinh tế, góp phần nâng cao thu nhập, xóa đói và giảm nghèo Tuy nhiên, hiện tại thu nhập của các hộ ngư dân vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn còn thấp, đời sống của họ còn rất khó khăn, nguy
cơ nghèo và tái nghèo luôn thường trực ở khu vực này
Đặc biệt, hệ thống chính sách phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế dành cho khu vực này trong thời gian tới cũng cần thiết phải được điều chỉnh phù hợp với bối cảnh ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản vùng ven bờ của tỉnh sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng nghiêm trọng3 bởi mặt trái của quá trình phát triển công nghiệp và du lịch, nổi bật là sự kiện ô nhiễm môi trường sinh thái biển nghiêm trọng từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế do công ty FORMOSA Hà Tĩnh gây nên4 Ngoài ra, trong bối cảnh Trung Quốc đang mở rộng kiểm soát biển Đông, đời sống của các hộ ngư dân ven biển của tỉnh Thừa Thiên Huế cũng có thể bị ảnh hưởng đáng kể do các ngư trường khai thác xa bờ truyền thống hàm chứa nhiều yếu tố bất ổn, nhiều nguy cơ đối với hoạt động đánh bắt thủy sản xa bờ (những rủi ro về tính mạng, tài sản, hiệu quả hoạt động đánh bắt,…) Chính vì vậy, việc đánh giá đúng thực trạng và tìm ra những giải pháp
1 Tỉnh Thừa Thiên Huế có 126 km bờ biển và hơn 22.000 ha diện tích đầm phá Tam Giang - Cầu Hai; 45 xã, thị trấn ven biển và đầm phá với trên 35 vạn dân, trong đó có gần 23.000 lao động đánh bắt, nuôi trồng thủy sản
2 Quyết định số 539/QĐ-TTg ngày 01/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh sách các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo giai đoạn 2013-2015
3 Hiện tại, đội tàu thuyền khai thác ven bờ có công suất dưới 20CV của tỉnh còn chiếm tỷ lệ khá cao (56,76%), điều này cũng hàm ý rằng thu nhập, đời sống đại bộ phận cộng đồng ngư dân khai thác ven bờ của tỉnh, nhất là vùng bãi ngang đặc biệt khó khăn sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong ngắn và trung hạn
4 Ngày 26/4, Sở TN&MT Thừa Thiên – Huế cho biết: Sở vừa tiến hành khảo sát và lấy 9 mẫu nước và 7 mẫu trầm tích tại khu vực đầm Lập An (gần cửa biển Lăng Cô, huyện Phú Lộc), vùng ven bờ xã Quảng Công (huyện Quảng Điền) và các xã Điền Hương, Điền Hải (huyện Phong Điền) khu vực xảy ra hiện tượng cá chết hàng loạt, bất thường trên địa bàn Kết quả đo đạc và phân tích các mẫu nước này bước đầu cho thấy, tổng hàm lượng nitơ tính theo amoni (NH4+-N), hàm lượng kim loại nặng crôm (Cr) lại vượt giới hạn cho phép theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 10-MT:2015/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển cũng như QCVN 08 - MT:2015/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt Kết quả này cho thấy, môi trường biển đã bị nhiễm độc kim loại nặng và nguyên nhân cá biển, cá nuôi chết không phải do dịch bệnh mà do một tác nhân cực mạnh - chất độc trong môi trường nước xuất hiện từ phía bắc của tỉnh Thừa Thiên - Huế (Nguồn: Tuoitre Online, ngày 26/04/2016, lúc 14h28)
Trang 32
thiết thực, mang tính hệ thống, căn bản, lâu dài để cải thiện và nâng cao thu nhập của những hộ ngư dân vùng bãi ngang ven biển giúp họ nâng cao nội lực, thực sự thoát nghèo, chống tái nghèo là vấn đề hết sức cấp bách đối với tỉnh Thừa Thiên Huế
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thực trạng bức tranh đời sống, thu nhập, chi tiêu, tình trạng nghèo, đặc điểm nhân khẩu học, sinh kế của các hộ ngư dân vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
- Lượng hóa những nhân tố và mức độ ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ ngư dân vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể, khả thi góp phần cải thiện, nâng cao thu nhập cho các nhóm hộ ngư dân vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề thu nhập và những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ ngư dân vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế; các giải pháp nâng cao thu nhập của cộng đồng ngư dân này trong thời gian tới Thu nhập ở nghiên cứu này là tổng thu nhập ròng từ các hoạt động sinh kế của ngư dân, gồm cả thu nhập ngư nghiệp và phi ngư nghiệp Các khoản thu nhập bất thường (trúng số, thừa kế, kiều hối,….) không được tính trong thu nhập của hộ
Hộ ngư dân trong nghiên cứu là những hộ gia đình vùng bãi ngang ven biển có tham gia hoạt động khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản, và là hộ có nguồn thu nhập chủ yếu từ hoạt động ngư nghiệp
Vùng bãi ngang ven biển trong nghiên cứu là vùng bãi ngang có vùng bãi cát bờ biển tiếp xúc hoàn toàn với biển (bãi ngang thuần túy) và vùng có bãi cát tiếp xúc một phần với biển (bãi ngang không thuần túy)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Nhiệm vụ khoa học tập trung nghiên cứu trên phạm vi 4 huyện có các xã/phường bãi ngang thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế gồm huyện Phú Lộc, Phú Vang, Quảng Điền, Phong Điền Riêng thị xã Hương Trà chỉ có 7 km bờ biển với
2 xã đặc thù vùng bãi ngang là Hương Phong và Hải Dương, song 2 xã này chỉ chiếm 5% tổng diện tích tự nhiên và 12,7% tổng dân số toàn huyện, điều này cho thấy đặc thù bãi ngang của huyện là rất thấp, do vậy đề tài không đưa thị xã Hương Trà vào phạm vi không gian nghiên cứu Tại 4 huyện trong phạm vi nghiên cứu, đề tài tiến hành khảo sát thực tế và điều tra bằng bảng hỏi 12 xã/phường vùng bãi ngang ven biển của tỉnh Thừa Thiên Huế, gồm Lộc Bình, Lộc Vĩnh, Vinh Hiền - huyện Phú Lộc; Phú Hải, Phú Thuận, Vinh Thanh, Vinh An và thị trấn Thuận An – huyện Phú Vang; Phong Hải, Điền Hương – huyện Phong Điền; Quảng Công, Quảng Phước – huyện Quảng Điền
Trang 4Phạm vi thời gian: Cuộc điều tra được tiến hành vào thời điểm năm 2017 sau khi sự cố ô nhiễm môi trường biển Formosa xảy ra vào năm 2016 Các vấn đề sinh kế, thu nhập được hỏi cả thời điểm 2015 (trước khi xảy ra sự cố) và thời điểm đã diễn ra sự cố năm 2016 Các dữ liệu thứ cấp chủ yếu được thu thập và phân tích từ năm 2010
Phạm vi nội dung nghiên cứu: Vấn đề thu nhập, sinh kế, đời sống kinh tế, xã hội các hộ ngư dân và cơ chế chính sách gắn với cộng đồng ngư dân vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
4 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu của đề tài
4.1 Cách tiếp cận
Nhiệm vụ khoa học sử dụng cách tiếp cận liên ngành, đa ngành, xem xét đối tượng nghiên cứu một cách tổng thể và hệ thống dưới góc độ khoa học xã hội để nghiên cứu xử lý, giải quyết các vấn đề đặt ra Sử dụng cách tiếp cận định lượng để mô hình hóa và lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình ngư dân vùng bãi ngang ven biển này; nhấn mạnh cách tiếp cận thực tiễn là quan trọng nhằm tái hiện bức tranh tổng thể về thu nhập, đời sống, sinh kế của các hộ ngư dân vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế một cách xác thực nhất
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ đạo của đề tài gồm các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Tựu trung, đề tài sử dụng các phương pháp và kỹ thuật cơ bản sau:
- Phương pháp thống kê:
- Phương pháp điều tra xã hội học:
- Sử dụng các phương pháp kinh tế lượng:
- Phương pháp chuyên gia:
- Phương pháp, mô hình để phân tích chuỗi giá trị:
- Sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, mô tả, so sánh, hệ thống… làm
phương pháp luận cho việc hoàn thành báo cáo tổng hợp đề tài này
5 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
6 Kết cấu của đề tài
Kết cấu đề tài gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thu nhập và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ ngư dân vùng bãi ngang ven biển
Chương 2: Thực trạng kinh tế xã hội của các hộ ngư dân vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
Chương 3: Lượng hóa những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ ngư dân vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 51.1 Một số vấn đề lý luận về thu nhập hộ gia đình ngư dân vùng bãi ngang ven biển
1.1.1 Một số khái niệm liên quan
Thu nhập của hộ ngư dân trong nghiên cứu này được xác định là tổng các khoản thu nhập ròng của hộ gia đình có ngư dân tham gia hoạt động thủy sản (ngư nghiệp) Trong đó, thu nhập từ hoạt động ngư nghiệp là cấu thành chủ yếu nhất trong tổng thu nhập hộ ngư dân
1.1.2 Đặc điểm vùng bãi ngang ven biển
1.1.3 Đặc trưng kinh tế, thu nhập hộ gia đình ngư dân vùng bãi ngang ven biển
Thứ nhất, kinh tế hộ ngư dân vùng bãi ngang ven biển có tính cố kết cộng đồng cao Thứ hai, thu nhập từ hoạt động ngư nghiệp là nguồn thu nhập chính cấu thành
nền tảng kinh tế hộ gia đình ngư dân vùng bãi ngang ven biển
Thứ ba, lực lượng lao động của hộ ngư dân vùng bãi ngang ven biển tham gia
vào hoạt động ngư nghiệp, hoạt động kinh tế thường là nam giới
Thứ tư, hoạt động kinh tế hộ gia đình ngư dân vùng bãi ngang ven biển thường
được tổ chức với quy mô nhỏ, lẻ, tự phát, đa số ít có sự liên kết với các hộ ngư dân và các tổ chức kinh tế xã hội bên ngoài
1.2 Khung lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ ngư dân vùng bãi ngang ven biển
1.2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên; điều kiện kinh tế, xã hội của cộng đồng ngư dân
Hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung, hoạt động ngư nghiệp nói riêng là hoạt động kinh tế chịu ảnh hưởng và bị sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện tự nhiên
Do vậy, thu nhập của các hộ gia đình ngư dân ven biển cũng bị ảnh hưởng mạnh mẽ của điều kiện tự nhiên gắn với hoạt động sản xuất ngư nghiệp
1.2.2 Những đặc trưng nghề nghiệp cấu thành thu nhập của hộ ngư dân
Nhóm các nhân tố phản ánh đặc trưng nghề nghiệp tác động trực tiếp đến thu nhập từ hoạt động ngư nghiệp, và gián tiếp tác động đến tổng thu nhập của hộ ngư dân gồm: ngành nghề ngư nghiệp, phương tiện khai thác và công nghệ khai thác, phương thức tổ chức khai thác, tham gia vào hiệp hội hoặc tổ đoàn kết ngư dân, kinh nghiệm
và lòng yêu nghề của ngư dân
Trang 61.2.3 Các đặc điểm nhân khẩu học của hộ ngư dân
Các đặc điểm nhân khẩu học là những nhân tố nội sinh ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tạo thu nhập của các hộ gia đình ngư dân Tựu trung gồm các nhân tố cơ bản sau: Năng lực của chủ hộ (tuổi, kinh nghiệm, trình độ), số nhân khẩu và số thành viên phụ thuộc của hộ
1.2.4 Các cơ chế, chính sách của nhà nước
Trong bối cảnh trình độ và nhận thức của ngư dân ven biển còn khá hạn chế, công tác khuyến ngư của nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản nói chung và nâng cao thu nhập cộng đồng ngư dân nói riêng
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế
1.3.1.1 Kinh nghiệm quản lý nghề cá của Nhật Bản
1.3.1.2 Kinh nghiệm quản lý nghề cá xa bờ của Trung Quốc
1.3.2 Kinh nghiệm phát triển ngành khai thác hải sản xa bờ vùng Nam Trung Bộ
1.3.2.1 Khái quát các nguồn lực ngành khai thác hải sản xa bờ Nam Trung Bộ
1.3.2.2 Kết quả hoạt động khai thác hải sản xa bờ vùng Nam Trung Bộ
1.3.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Thừa Thiên Huế
Một là, chú trọng phát triển ngành đánh bắt hải sản theo hướng công nghiệp,
hiện đại song phải đảm bảo tính bền vững của nguồn lợi thủy sản, đảm bảo tôn trọng và đề cao vai trò của cộng đồng ngư dân trong xây dựng và thực thi các chính sách phát triển ngư nghiệp
Hai là, cần tạo sự chuyển biến lớn trong tư duy hoạch định chính sách ngư
nghiệp và tư duy đánh bắt của ngư dân
Ba là, kinh nghiệm từ Nhật Bản và Trung Quốc trong phát triển ngành khai thác
hải sản cho thấy, sự hỗ trợ và đầu tư ban đầu về cơ sở hạ tầng ngư nghiệp của nhà
nước đóng vai trò hết sức quan trọng
Bốn là, Việt Nam cần rút ra bài học ý nghĩa từ các quốc gia châu Phi trong quản
lý và phát triển hoạt động đánh bắt hải sản Theo đó, cần thận trọng trong các chương trình, chính sách phối hợp, hợp tác với Trung Quốc trong khai thác hải sản Ngoài ra, địa phương cần triệt để chống tham nhũng và chống thất thoát như là yêu cầu đầu tiên
Trang 76
để gia tăng hiệu quả và tránh thất thoát nguồn lực trong các chương trình, đề án, chính sách hỗ trợ ngư dân phát triển ngư nghiệp
Năm là, cộng đồng ngư dân vùng ven biển Nam Trung Bộ đã khai thác triệt để
tiềm năng kinh tế biển của vùng bằng việc phát triển mạnh mẽ ngành khai thác hải sản
xa bờ trở thành sinh kế chính trong cấu thành thu nhập của cộng đồng ngư dân vùng ven biển
Sáu là, các chính sách phát triển ngành thủy sản của Trung ương và địa phương
là xung lực mới trong việc thúc đẩy phát triển đội tàu khai thác hải sản xa bờ hiện đại của vùng Nam Trung Bộ trong bối cảnh tranh chấp biển Đông và an ninh biển diễn biến ngày càng phức tạp
1.4 Tổng quan vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
1.4.1 Tổng quan vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
1.4.2 Tổng quan điều kiện kinh tế - xã hội
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CÁC HỘ NGƯ DÂN
VÙNG BÃI NGANG VEN BIỂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1 Thực trạng phát triển hoạt động ngư nghiệp vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
2.1.1 Thực trạng phát triển hoạt động khai thác thủy sản
2.1.1.1 Quy mô sản xuất khai thác thủy sản
Trong giai đoạn 2005 - 2015, số lượng tàu thuyền khai thác hải sản tỉnh Thừa Thiên Huế có xu hướng tăng nhẹ Theo đó, tổng công suất máy cũng có xu hướng gia tăng nhanh Tốc độ tăng số lượng tàu thuyền nghề cá bình quân cả giai đoạn là 0,1%/năm, tăng từ 1.956 chiếc năm 2005 lên 1.938 chiếc năm 2015 Nhất là từ năm
2009 đến nay, do tác động của việc hỗ trợ giá dầu theo Quyết định số 289/QĐ-TTg ngày 18 tháng 03 năm 2008 về ban hành một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân của Thủ tướng Chính phủ, nên số lượng tàu thuyền nghề cá có tốc độ tăng nhanh hơn so với những năm trước đó Theo đó, nhóm tàu có công suất máy từ 90 CV trở lên tăng nhanh, với tốc độ tăng bình quân trên 12%/năm Điều này thể hiện xu hướng phát triển ngành khai thác hải sản hướng ra khơi xa của địa phương, phù hợp với chủ trương phát triển khai thác của Trung ương Tính đến năm 2016, tổng số phương tiện khai thác của tỉnh
có 2034 chiếc, trong đó khai thác xa bờ có 293 chiếc và gần bờ có 1741 chiếc So với
Trang 8năm 2010, tổng số phương tiện khai thác có sự giảm nhẹ là do giảm nhanh các phương tiện có công suất nhỏ và có sự tăng tương đối phương tiện công suất lớn
Bảng 2.1 Số lượng phương tiện khai thác tỉnh Thừa Thiên Huế
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế 2016
Như vậy, có thể nhận thấy đặc trưng phát triển khai thác thủy sản ở vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn chủ yếu là các phương tiện có công suất nhỏ (dưới 45 CV), các phương tiện có công suất lớn đã từng bước được quan tâm đầu tư nhờ vào các chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế thủy sản Các phương tiện
có công suất nhỏ chiếm tỷ trọng lớn, điều này đồng nghĩa với việc thu nhập của hộ ngư dân vẫn còn ở mức thấp do khai thác gần bờ và nguồn lợi thủy sản ven bờ đang ngày càng suy giảm
2.1.1.2 Cơ cấu ngành nghề sản xuất
Cơ cấu nghề khai thác hải sản của Thừa Thiên Huế phát triển khá đa dạng, với nhiều loại ngành nghề Hiện nay, có khoảng gần 30 loại nghề khai thác hải sản, được xếp vào 6 họ nghề chủ yếu là lưới vây, lưới rê, lưới kéo, lưới vó mành, nghề câu, nghề khác Trong đó, chủ yếu có 2 loại họ nghề chính lả lưới vây (nghề vây rút chì) và lưới
rê (rê cản, rê cá lạc, rê hổn hợp…) đánh bắt cho 2 vụ cá Nam và Bắc trong năm Trong
cơ cấu nghề nghiệp phần lớn tàu thuyền đánh bắt đều trang bị 2 nghề chính là nghề vây rút chì và rê cản để tham gia đánh bắt cả 2 vụ cá quanh năm Ngoài ra các tàu đều trang bị thêm các nghề phụ khác như lưới rê mực, câu mực, rê 3 màng… để tăng hiệu quả khai thác Những năm gần đây ngư dân mạnh dạn đầu tư du nhập thêm một số nghề mới như rê cá lạc, rê hổn hợp, rê cá chim, bẫy vọ ốc hương… các nghề này đã từng bước phát huy hiệu quả trong nâng cao thu nhập cho cộng đồng ngư dân Trong
cơ cấu nghề khai thác hải sản, nhóm nghề khai thác cá nổi chiếm ưu thế, điển hình là các nghề khai thác các loài như: Ruốc (Moi), cá Khoai, cá Trích, cá Nục, cá Chim,…
Trang 98
2.1.1.3 Sản lượng, giá trị sản xuất
Bảng 2.6: Sản lượng khai thác thủy sản các huyện vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
ĐVT: tấn
Các huyện vùng bãi ngang 36262 42557 45481 48919 40504
Tỷ lệ % so với sản lượng toàn tỉnh 89,22 89,42 89,52 90,09 89,21
Nguồn: Niên Giám thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 2012, 2017
2.1.1.4 Tổ chức hoạt động khai thác
Mô hình sản xuất hộ gia đình nắm giữ đa số tàu thuyền và lao động nghề cá Đây là thành phần đóng góp phần lớn sản lượng khai thác của tỉnh Trong những năm gần đây, mặc dù đang có sự chuyển từ khai thác ven bờ ra xa bờ ở các huyện vùng bãi ngang ven biển, nhưng do hạn chế về nguồn vốn nên việc đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ gặp nhiều khó khăn, hiểu biết ít về luật pháp kinh tế, thiếu kiến thức cạnh tranh trong kinh doanh, kế toán yếu kém nên ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
Theo số liệu thống kê, trên địa bàn toàn tỉnh Thừa Thiên Huế có 66 tổ, đội hợp tác khai thác hải sản trên biển với gần 1.900 tàu thuyền nghề cá và gần 8.500 lao động khai thác hải sản trực tiếp Trong đó, có 44 tổ, đội là phân hội nằm trong 15 Chi hội nghề cá các xã ven biển, thành lập và hoạt động theo hệ thống Hội nghề cá, 20 tổ đoàn kết trên biển được thành lập theo Nghị định số 151/2007/NĐ-CP ngày 10/10/2007 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác
2.1.1.5 Thực trạng công nghệ, triển vọng phát triển ngư nghiệp
Bảng 2.10: Đánh giá công nghệ khai thác của các hộ gia đình ngư dân vùng bãi
ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 102.1.1.6 Ngư trường khai thác và bảo vệ nguổn lợi thủy sản
Bảng 2.11: Ngư trường khai thác hải sản của cộng đồng ngư dân vùng bãi ngang
ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
TT Ngư trường Tỷ lệ % tàu thuyền khai
Nguồn: Kết quả điều tra 2017
2.1.1.7 Những khó khăn của hộ gia đình khai thác thủy sản
Bảng 2.13 Khó khăn của hộ gia đình khai thác thủy sản
không khó khăn
Không khó khăn
Bình Thường/
Không ý kiến
Khó khăn
Rất khó khăn
Trang 1110
2.1.1.8 Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Bảng 2.14 Thị trường tiêu thụ sản phẩm của hộ ngư dân vùng bãi ngang ven biển
tỉnh Thừa Thiên Huế
T
T Thị trường
Tỷ lệ % hộ gia đình có bán trên thị trường này
Tỷ lệ % là thị trường chính của hộ gia đình
Ghi chú
Nguồn: Kết quả điều tra 2017
2.1.2 Thực trạng phát triển hoạt động nuôi trồng thủy sản
2.1.2.1 Quy mô, sản lượng nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.15: Diện tích nuôi trồng thủy sản các huyện vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế 5
Đơn vị tính: ha
Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 5855,99 6199,31 5871,2 5506,6
Phân theo loại thủy sản
Phân theo phương thức nuôi
Nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến 2988,21 2709,76 2206,6 2332
Phân theo loại nước nuôi
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 2017
5 Gồm 4 huyện: Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang và Phú Lộc
Trang 122.1.2.2 Các loại hình nuôi trồng thủy sản
Rất cao
2 Kỹ thuật, công nghệ nuôi
Nguồn: Kết quả điều tra 2017
2.1.2.4 Các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
Bảng 2.22 Đánh giá chất lượng các yếu tố đầu vào của hộ gia đình nuôi trồng
thủy sản
TT Đánh giá Rất
thấp Thấp
Trung bình Cao
Rất cao
2 Hiệu quả của các loại thuốc
3 Hệ thống thủy lợi cấp nước
cho nuôi trồng thủy sản hiện
nay
4 Hệ thống thủy lợi thoát nước
cho nuôi trồng thủy sản hiện
nay
5 Khả năng thích ứng với môi
Nguồn: Kết quả điều tra 2017
2.1.2.5 Hạ tầng nuôi trồng thủy sản đầm phá
2.1.2.6 Những khó khăn, thách thức của hộ gia đình nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.23 Những khó khăn của hộ gia đình trong nuôi trồng thủy sản
TT Khó khăn
Hoàn toàn không
KK
Không khó khăn
Trung bình/
KYK
Khó khăn
Rất khó khăn
5 Khó khăn về kỹ thuật nuôi
Trang 1312
6 Khó khăn về thị trường đầu ra 5.4 13.8 28.1 41.9 10.8
8 Khó khăn về chất lượng con
9 Khó khăn về nguồn nước sạch
Nguồn: Kết quả điều tra 2017
2.1.2.7 Một số các đánh giá của hộ gia đình về nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.24 Một số đánh giá về nuôi trồng thủy sản của hộ gia đình
TT Khó khăn
Hoàn toàn không đồng ý
Không đồng ý
Trung bình/
KYK
Đồng
ý
Rất đồng ý
1 Năng suất nuôi trồng thủy sản
ngày càng suy giảm so với 5
năm trước đây
2 Rủi ro thua lỗ trong nuôi trồng
tăng nhiều so với 05 năm
4 Xử lý nước thải trong sản xuất
5 Sự cố Formosa gây thiệt hại
lớn đến hoạt động nuôi trồng
thủy sản
6 Thời tiết bất thường ảnh
hưởng ngày càng lớn đến hoạt
động nuôi trồng
7 Tình trạng xâm nhập mặn ảnh
hưởng nghiêm trọng đến hoạt
động nuôi trồng
8 Hiện nay hoạt động nuôi trồng
thủy sản của ông/ bà đã trở lại
bình thường
Nguồn: Kết quả điều tra 2017
2.1.3 Thực trạng phát triển dịch vụ thủy sản
2.1.3.1 Chế biến thủy sản vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
a/ Dịch vụ chế biến thủy sản huyện Phú vang
Hiện nay trên địa bàn huyện có trên 139 cơ sở chế biến thủy sản, giải quyết việc làm cho trên 442 lao động, doanh thu bình quân hàng năm trên 40 tỷ đồng Tập trung chủ yếu ở thị trấn Thuận An, xã Phú Thuận, Phú Hải, Phú Diên Đây là mặt hàng truyền thống của địa phương, phương thức sản xuất thủ công chiếm đa số, việc sử
Trang 14dụng máy móc thiết bị đơn giản (Như: máy xay, máy ép,…), sản phẩm bán ra thị trường chủ yếu ở dạng thô Đa số các cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ nên việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, bảo hộ nhãn mác, kiểu dáng sản phẩm không được các cơ sở quan tâm Sản phẩm chủ yếu tiêu thụ nội địa nên giá trị thấp, hiệu quả kinh tế không cao
b/ Chế biến thủy sản Phú Lộc
Hiện nay trên địa bàn huyện có khoảng trên 60 cơ sở chế biến thủy sản; chế biển thủy hải sản đạt 1.800 tấn; trong đó, nước mắm 50 ngàn lít/năm, tôm chua và mắm các loại: 850 tấn/năm doanh thu bình quân hàng năm trên 20 tỷ đồng tập trung chủ yếu ở xã Lộc Vĩnh, Vinh Hiền, Vinh Mỹ, Lăng Cô Hàng năm đã trích ngân sách
từ nguồn kinh phí khuyến công để hỗ trợ cho các hộ phát triển sản xuất kinh doanh và đăng ký thương hiệu trên thị trường nhưng nhìn chung hiệu quả đạt được chưa cao, vẫn còn duy trì tình trạng chế biến truyền thống, mang tính thủ công, nhỏ lẻ chưa có
cơ sở chế biến công nghiệp, do thị trường đầu ra thiếu ổn định và khả năng tiếp cận công nghệ mới vào chế biến còn hạn chế; chủ yếu tập trung chế biến nước mắm, sản phẩm chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường Qua điều tra tại các cơ sở sản xuất giải quyết việc làm cho khoảng hơn 500 lao động địa phương, tạo ra thu nhập cho người lao động khoảng từ 3,5 đến 4 triệu đồng/tháng
c/ Chế biến thủy sản Phong Điền
Trong những năm trở lại đây sản lượng khai thác biển, đầm phá ổn định qua hằng năm, đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nghề chế biến thủy sản, nhất là chế biến nước mắm, ruốc Năm 2015, trên địa bàn huyện có 01 cơ sở chế biến nước mắm có thương hiệu trên thị trường (Nước mắm Đảnh Vân - Phong Hải) hàng năm chế biến xuất khẩu trên 100.000 lít nước mắm; ngoài ra còn có hơn 100 gia đình chế biến nước mắm, ruốc trên địa bàn huyện
Năm 2016, sự cố môi trường biển đã ảnh hưởng rất lớn đến ngư dân ven biển, đầm phá, trong đó có những cá nhân, tổ chức hoạt động thu mua, chế biến thủy sản với
01 tổ chức và 1.308 lao động
2.1.3.2 Dịch vụ hậu cần nghề cá vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
Hiện nay, Thừa Thiên Huế là tỉnh có đội tàu dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển mạnh nhất trong khu vực từ Nghệ An đến Bình Định Đội tàu này không chỉ cung ứng các dịch vụ riêng cho đội tàu khai thác hải sản trong tỉnh, mà còn cung ứng dịch vụ cho các đội tàu khai thác hải sản của nhiều tỉnh khác Theo số liệu thống kê, trên địa bàn toàn tỉnh, đội tàu hậu cần dịch vụ thu mua hải sản, cung ứng nhiên liệu và nhu yếu phẩm trên biển với số lượng 85 chiếc, chiếm gần 33% số tàu thuyền nghề cá có công suất trên 90 CV và chiếm gần 5% tổng số tàu thuyền nghề cá toàn tỉnh
Trang 1514
2.1.2.3 Hệ thống cảng cá, khu neo đậu, cơ sở đóng tàu thuyền
Trên địa bàn Thừa Thiên Huế có 02 cảng cá (Cảng cá Thuận An, Cảng cá Tư Hiền), 07 bến cá trọng điểm (Phú Hải, Phú Thuận, Cầu Hai, Bãi Dâu, Hải Dương, Vinh Hiền, Lăng Cô) và 04 khu neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền nghề cá đã được đầu tư xây dựng phục vụ hoạt động nghề cá của tỉnh và vùng Bắc Trung Bộ (gồm các khu neo đậu tránh bão: Phú Hải, Thuận An, đầm Cầu Hai và Vinh Hiền)
Theo thống kê năm 2017, trên địa bàn Thừa Thiên Huế có 04 cơ sở đóng mới, cải hoán, nâng cấp tàu cá đủ điều kiện theo quy định của Nghị đinh số 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ, với khả năng đóng mới của một cơ sở khoảng 12 chiếc/năm và khả năng sửa chữa, nâng cấp, cải hoán khoảng 50 chiếc/năm
Trên địa bàn tỉnh còn có một số cơ sở đóng, sửa tàu thuyền nghề cá có quy mô nhỏ khác, bao gồm: Thuận An (01 cơ sở), Vinh Hiền (02 cơ sở), Lộc Bình (01 cơ sở) và 01 đội đóng, sửa tàu thuyền lưu động Tổng công suất đóng mới và sửa chữa tàu thuyền nghề cá hàng năm của các cơ sở này đạt khoảng 300 tàu/năm
2.1.2.4 Đánh giá chung về dịch vụ hậu cần thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 2.25 Dịch vụ hậu cần nghề cá của vùng bãi ngang ven biển Thừa Thiên Huế
kém Kém T.Bình Tốt
Rất tốt
1 Cơ sở hạ tầng cầu cảng cá, bến cá 0.0 9.2 60.1 17.4 13.2
2 Luồng, lạch, cửa biển cho tàu cập
cảng
1.6 16.8 53.6 18.3 9.7
3 Hệ thống kho lưu trữ tại cảng cá 10.3 29.3 48.9 6.4 5.2
5 Khu neo đậu tàu thuyền và trú bão 0.0 15.6 55.9 16.6 11.9
6 Tàu hậu cần thu mua tại chỗ 7.9 22.0 53.8 9.1 7.9
7 Cơ sở hạ tầng cầu cảng cá, bến cá 2.4 17.1 63.7 5.7 11.2
Nguồn: Kết quả điều tra năm 2017
Trang 162.2 Thực hoạt động kinh tế phi ngư nghiệp của ngư dân vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 2.26: Thu nhập của hộ gia đình ngư dân vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế có được theo nhóm ngành nghề 2016
TT Hoạt động ngư nghiệp Thu nhập (triệu
đồng)
Tỷ lệ đóng góp vào thu nhập trung bình của hộ gia đình (%)
2.3.1 Đặc điểm nhân khẩu học
Bảng 2.27 Các đặc trưng nhân khẩu học của hộ gia đình ngư dân vùng bãi ngang
ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
Giá trị lớn nhất
Giá trị nhỏ nhất
Nguồn: Kết quả điều tra 2017
Trang 17nghiệp
Tổng thu nhập
Nguồn: Kết quả điều tra 2017
Bảng 2.29: Chi tiêu của hộ gia đình ngư dân vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa
Nguồn: Kết quả điều tra 2017
2.3.3 Thực trạng đời sống xã hội của các hộ ngư dân vùng bãi ngang ven biển
Bảng 2.30 Đánh giá mức sống của hộ gia đình và thu nhập hộ gia đình so với 5 năm trước theo tỷ trọng
Nguồn: Kết quả điều tra 2017
Trang 182.3.4 Đánh giá ảnh hưởng của sự cố môi trường biển do FORMOSA gây ra đối với đời sống, thu nhập, sinh kế của cộng đồng ngư dân vùng bãi ngang ven biển
Theo Báo cáo Tổng kết công tác bồi thường, hỗ trợ thiệt hại do sự cố môi trường biển tại tỉnh Thừa Thiên Huế của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, sự cố môi trường biển vào xảy ra vào tháng 04/2016 tại tỉnh Thừa Thiên Huế là hết sức nghiêm trọng, gây thiệt hại đến hệ sinh thái biển và nguồn lợi hải sản, ảnh hưởng lớn đến sản xuất, kinh doanh và đời sống của gần 46.500 người, ước khoảng 13.000 hộ dân ở 230 thôn/xóm, 42 xã/ thị trấn của 04 huyện và 01 thị xã
a Về khai thác thủy sản
Theo Báo cáo, tổng số tàu thuyền khai thác biển của tỉnh Thừa Thiên Huế bị thiệt hại là 4.160 chiếc, trong đó tàu không lắp máy là 1.676 chiếc, tàu có lắp máy là 2.484 chiếc; tổng số tàu thuyền khai thác đầm phá bị thiệt hại là 8.439 chiếc, trong đó
có 5.211 tàu không lắp máy và 3.228 tàu lắp máy Với tổng số 17.112 lao động khai thác bị ảnh hưởng trực tiếp Từ ngày 06/4/2016 đến ngày 30/9/2016, chỉ có 50-80% tàu công suất trên 90CV tham gia khai thác, tuy nhiên giá bán sản phẩm khai thác bị giảm nghiêm trọng Đối với tàu khai thác ven bờ từ 20 hải lý trở vào công suất dưới 90CV hơn 90% tàu phải nằm bờ, người lao động không có việc làm ổn định và thu nhập thấp; năng suất khai thác rất thấp (bằng khoảng 10% so với trước thời gian xảy ra sự cố môi trường) Sản lượng thủy sản khai thác năm 2016 giảm 21,8% so với năm
2015 (giảm 8.550 tấn) Năm 2017, sản lượng khai thác đạt 36.242 tấn, tăng 15,4% so với năm 2016
b Về dịch vụ hậu cần nghề cá, tiêu thụ thủy sản
Theo Báo cáo, hoạt động kinh doanh, dịch vụ hậu cần nghề cá bao gồm: chế biến hải sản (làm nước mắm, làm mắm); các cơ sở làm nước đá; kinh doanh ngư lưới
cụ, thu mua hải sản; dịch vụ tại cảng cá Theo đó, sự cố đã ảnh hưởng lớn đến dịch vụ hậu cần nghề cá, làm giảm thu nhập và mất việc làm của khoảng 9.029 người
Trong thời điểm năm 2016 do tâm lý lo ngại sử dụng sản phẩm thủy sản khai thác trong vùng bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường đã lan rộng trong toàn tỉnh nên việc tiêu thụ hải sản trên địa bàn gặp nhiều khó khăn Giá bán các sản phẩm hải sản giảm mạnh (trung bình từ 20-30% so với cùng kỳ năm 2015) Đặc biệt, việc tiêu thụ sản phẩm hải sản trên thị trường của tỉnh bị ảnh hưởng giảm sút nghiêm trọng: giá bán sản phẩm hải sản khai thác ngoài 20 hải lý giảm 30-50%, sản phẩm hải sản khai thác trong 20 hải lý có thời điểm không tiêu thụ được Các tổ chức, cá nhân kinh doanh hải sản đã hạ giá bán, thậm chí chấp nhận bán lỗ nhưng vẫn khó tiêu thụ trên thị trường
Lượng hải sản tồn trong kho của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh hải sản trong tỉnh khoảng gần 500 tấn, trong đó có khoảng 22 tấn hải sản không đảm bảo an toàn
Trang 19c Về nuôi trồng thủy sản
Theo Báo cáo, toàn tỉnh có 2.882 ha nuôi tôm, trong đó nuôi tôm sú xen ghép là 2.387 ha và nuôi tôm chân trắng là 495 ha Sự cố môi trường biển năm 2016 đã làm chết 170 ha nuôi tôm chân trắng trên cát, 43 ha nuôi tôm chân trắng trên ao đất bị chết;
10 ha nuôi cá lợ mặn và trên 2.000 ha nuôi tôm sú xen ghép bị ảnh hưởng về giảm giá bán Đối với nuôi lồng bè, có khoảng 19.441 m3 lồng bị thiệt hại với hơn 115 tấn cá nuôi bị chết Số lượng giống bị thiệt hại khoảng 8,9 triệu con giống thủy sản các loại Năm 2016, sản lượng nuôi trồng thủy sản giảm 8,6% so với năm 2015 (giảm 1.300 tấn) Năm 2017, sản lượng nuôi trồng đạt 14.681 tấn, tăng 4,8% so với năm 2016
d/ Biến động thu nhập của hộ gia đình ngư dân vùng bãi ngang ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế sau sự cố môi trường biển Formosa
Kết quả điều tra cho thấy, tổng thu nhập trung bình của hộ gia đình năm
2016 chỉ đạt 110 triệu đồng/hộ, chỉ bằng 48,03% tổng thu nhập bình quân của hộ gia đình năm 2015 Trong đó, hoạt động khai thác xa bờ có thu nhập khá lớn với
266 triệu đồng/hộ; trong khi đó hoạt động khai thác gần bờ chỉ đạt 69 triệu đồng/hộ; hoạt động nuôi trồng thủy sản có thu nhập trung bình chỉ đạt 22 triệu đồng
và dịch vụ thủy sản đạt 37 triệu đồng, hoạt động kinh tế phi ngư nghiệp của hộ gia đình tạo ra 61 triệu đồng/hộ
Bảng 2.35: Thu nhập của hộ gia đình ngư dân vùng bãi ngang ven biển phân theo
nhóm ngành nghề
ĐVT: triệu đồng/hộ
Năm Chỉ tiêu
Khai thác xa
bờ
Khai thác gần
bờ
NTTS DVTS
Phi ngư nghiệp
Tổng thu nhập
Thu nhập cao nhất 1800 740 1800 200 300 1900