Đây là những cây vải dại, quả có hình dạng, mầu sắc và gai giống hệt vải trồng, chỉ khác quả nhỏ khoảng 6-8 gam, cùi mỏng, ăn chua…Ở các vùng này, người ta còn tìm được những cây vải dại
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta hiện nay có rất nhiều cây ăn quả đặc sản được nghiên cứu nhân rộng để phục vụ nhu cầu đời sống và xuất khẩu Trong số đó cây vải thiều Thanh Hà là một trong số đặc sản nổi tiếng ở Hải Dương
Cây vải còn được gọi là “lệ chi” danh pháp là Litchi chinsis, thuộc họ
bồ hòn (sapindaceace) Nó là loại cây ăn quả thân gỗ vùng nhiệt đới, có
nguồn gốc ở miền Nam Trung Quốc, tại đó người ta gọi là Lizhi - lệ chi Kéo dài về phía nam tới Indonesia và phía đông tới Philipin tại đây người ta gọi là Alupag
Ở châu Á cây vải được trồng nhiều ở Trung Quốc, Ấn Độ Còn Việt Nam thì được trồng ở Lục Ngạn - Bắc Giang, Chí Linh - Hải Dương xong vải ngon nhất vẫn là vải thiều Thanh Hà - Hải Dương Vải thiều có nguồn gốc ở thôn Thúy Lâm xã Thanh Sơn huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương, xuất hiện cách đây gần hai trăm năm do cụ Hoàng Văn Cơm mang về trồng
Vải thiều Thanh Hà có đặc điểm: quả vải hạt nhỏ, vỏ mỏng, cùi dầy, vị ngọt, hương thơm, mã quả đẹp, trái vải giúp dễ tiêu hóa an thần, dùng vải tươi hay khô đều tốt Vải sấy khô cùi đen lại, dẻo quánh ngọt vô cùng Khi ăn có cảm giác như ăn một quả táo tầu thường có vị thuốc bắc, là một quả đặc sản không một vùng vải nào có được Là một loại quả đã được dùng trong việc tiến vua
Trước đây cây vải thiều đã được người dân huyện Thanh Hà gọi với tên trìu mến “cây vải - cây vàng” Vì chính loại cây này đã đem lại nguồn thu nhập tương đối cao, xóa đói giảm nghèo và đại đa số nhiều gia đình giàu nên
vì vải Xong hiện nay đối với nông dân huyện Thanh Hà đang phải khốn đốn
vì nó
Trang 2Vì phần lớn diện tích đất canh tác đều trồng vải mà thực trạng hiện nay
ở Thanh Hà thì vải “được mùa thì rớt giá” - “được giá thì mất mùa” Khi toàn đất nước trong giai đoạn phát triển công nghiệp hóa, điều kiện thay đổi nhiều gia đình ở khu vực huyện Thanh Hà đã chặt vải và chuyển sang trồng ổi, quất Cũng có nơi còn giữ được cây vải nhưng lại không chăm sóc cây vải chu đáo
Do vậy năng suất, chất lượng và lợi ích kinh tế không cao
Là sinh viên chuyên ngành Kĩ thuật nông nghiệp, đam mê lĩnh vực khoa học thực nghiệm đồng thời là người con của vùng đất Thanh Hà Do vậy
em chọn đề tài: “Nghiên cứu thực trạng cây vải thiều và đề xuất giải pháp phát triển cây vải thiều Thanh Hà - Hải Dương”
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
Xác định được một số giải pháp phát triển vải quả ở Thanh Hà - Hải Dương
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học về thực trạng diện tích, sản lượng, cơ cấu giống vải ở huyện Thanh Hà trong thời gian gần đây
Là cơ sở cho việc đánh giá nguồn thực liệu, áp dụng một số biện pháp phát triển vải quả ở Thanh Hà - Hải Dương
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Những nghiên cứu về nguồn gốc, phân bố và phân loại
1.1.1 Nguồn gốc và phân bố
1.1.1.1 Những nghiên cứu ngoài nước
Cây vải có nguồn gốc ở miền Nam Trung Quốc, bắc Việt Nam, bán đảo Malaysia và được trồng cách đây trên 3.000 năm Hiện tại, ở Trung Quốc vẫn còn có những cây vải tổ trên 1.000 năm tuổi ở huyện Bồ Điền tỉnh Phúc Kiến, trong đó cây to nhất có chu vi thân đạt 5,6m, đường kính tán cây chỗ lớn nhất đến 40m, chiều cao cây trên 16m và năm cho thu hoạch cao nhất đến 1,5 tấn quả (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998) [7]
Nhiều tài liệu Trung Quốc cho biết, hiện tại còn nhiều nơi có cây vải dại như núi Tạ Hoài Sơn, huyện Liên Giang, tỉnh Quảng Đông; Thạch Phượng Sơn, huyện Bác Bạch, tỉnh Vân Nam Căn cứ điều tra thực địa và từ góc độ lịch sử, hình thái và đặc trưng quần lạc sinh thái đã cho thấy: đảo Hải Nam có nhiều cây vải dại Ngoài ra, ở Dương Xuân, Hóa Châu, Liêm Giang
và trên sáu vạn núi lớn ở vùng giáp gianh huyện Bác Bạch và huyện Hồ Bắc của tỉnh Quảng Tây đều có cây vải dại, chứng tỏ cây vải có nguồn gốc phát sinh từ Trung Quốc (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998) [7]
Cũng theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998 [7], vào cuối thế
kỉ 17, từ Trung Quốc, những cây vải đầu tiên được đưa đến Myanma, sau đó lan rộng sang Đài Loan, Mautirius, Madagasca và Tây Ấn Cuối thế kỉ 18, vải được đưa sang Ấn Độ, Anh, Pháp, Úc, Mỹ
Đến cuối thế kỉ 19, cây vải được đưa đến trồng tại Israel Vào những năm 30 của thế kỉ 20, các công nhân Hoa Kiều gốc Quảng Đông đã đưa vải vượt qua xích đạo vào Công Gô Hiện nay, vải được trồng ở gần 30 nước trên thế giới nhưng chủ yếu phân bố ở các nước vùng Đông Nam Á, Châu Đại Dương, các đảo ở Thái Bình Dương và miền Nam Châu Phi
Trang 4Ở châu Á các nước trồng vải là: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Malaysia, Bănglades, Campuchia, Lào, Myanma, Philippin, Srilanca, Inđônexia và Nhật Bản
Ở châu Phi có: Nam Phi, Madagasca, Côngô, Ga Bông, Mautirius và Rêuyniong
Ở châu Đại Dương có: Australia và Newzealand
Châu mỹ có: Hoa kỳ, Hundurat, Panama, Cu Ba, Tirinidat, Pooctôricô
và Braxin
1.1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, cây vải được trồng cách đây khoảng 200 năm và phân bố
từ 18o -19o vĩ Bắc trở ra, nhưng chủ yếu vẫn là đồng bằng sông Hồng, trung
du miền núi phía Bắc và một phần khu Bốn cũ
Theo các tài liệu đã công bố, Việt Nam được coi là một trong những nước có nguồn gốc phát sinh của cây vải Cây vải đã được phát hiện mọc ở chân núi Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Đây là những cây vải dại, quả có hình dạng, mầu sắc và gai giống hệt vải trồng, chỉ khác quả nhỏ khoảng 6-8 gam, cùi mỏng, ăn chua…Ở các vùng này, người ta còn tìm được những cây vải dại quả nhỏ, gai dài, hạt to, ăn chua… có đặc điểm tương tự như một số loài vải hiện nay (Vũ Công Hậu, 1999) [6]
Vùng Thanh Hà (Hải Dương) hiện còn cây vải nhà cụ Hoàng Văn Cơm gần 200 năm tuổi được coi là cây vải tổ Hàng năm, vào vụ vải chín người dân thôn Thúy Lâm, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương vẫn tổ chức ngày hội làng để tưởng nhớ người có công đã mang cây vải - cây xóa đói giảm nghèo và làm giàu về vùng quê này, góp phần đem lại ấm no cho người dân
Cách đây gần 2 thế kỉ, cụ Hoàng Văn Cơm trong một lần phục vụ ăn ở một của hàng ăn ở Quảng Ninh khi cuối bữa tiệc, có món tráng miệng là một thứ quả có vỏ mầu hồng tươi, hình cầu, ăn có vị ngọt, thơm đã mang hạt về
Trang 5gieo trồng tại đất Thanh Hà, Hải Dương nay Trong 5 hạt gieo, mọc được 3 cây, đây chính là cây giống đầu tiên sau lan rộng đi các vùng thành thứ cây đặc sản, có giá trị kinh tế cao ngày nay Tên vải thiều có nguồn gốc từ tên địa danh đã lấy quả về là Vùng Thiều Châu của Trung Quốc, ngày nay gọi tắt là vải Thiều
Từ vùng Thanh Hà - Hải Dương, cây vải đã được đưa đi trồng ở hầu hết các tỉnh miền Bắc, miền Trung và cả một số tỉnh Tây Nguyên Ở thời điểm hiện tại, đã hình thành một số vùng trồng vải mang tính chất sản xuất hàng hóa lớn như Thanh Hà, Chí Linh, Tứ Kỳ (Hải Dương); Đông Triều, Hoành Bồ (Quảng Ninh); Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế (Bắc Giang); Đồng Hỷ, Đại Từ (Thái Nguyên)… Ở những nơi này cây vải thực sự đóng vai trò tiên phong trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo cho người dân trồng vải (Sở NN và PTNT Quảng Ninh, 2000) [2]
1.1.2 Phân loại
Theo Hoàng Thị Sản (2003) [9], vải (Litchi chinensis Sonn) thuộc họ
Bồ hòn (Sapindaceae), bộ Bồ hòn (Sapindanes), phân lớp Hoa hồng (Roisdae) Bộ bồ hòn có trên 150 chi, với khoảng 2.000 loài được phân bố ở
vùng Nhiệt đới và Á nhiệt đới, chủ yếu tập trung ở vùng Châu Á và một số loài thuộc Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Úc
Vải có 3 loài phụ:
Litchi chinensis: loài này tập trung các giống vải thương mại ngày nay
có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc Hiện tại, Trung Quốc có khoảng trên
100 giống trong đó có 15 giống thương mại quan trọng, Ấn Độ có khoảng 50 giống, Thái Lan trên 20 giống, Australia có trên 40 giống…
Litchi philippinensis: được trồng nhiều ở Philipines và Papua New
Guinea trên những vùng núi cao, cây sinh trưởng tốt, tán lá rậm rạp màu xanh sẫm, quả nhỏ hình ô van, vỏ quả dày, gai quả nhọn, hạt to dài, cùi chỉ là một lớp mỏng bao quanh hạt, ăn có vị chua và chát
Trang 6Litchi javenensis: loài phụ này có nguồn gốc từ Malay Peninsula,
Indonesia, Trung Quốc, West Java và Đông Nam Á, có đặc điểm quả nhỏ, hạt
to, gai dài và ăn có vị chua
Ở nước ta, công tác nhập nội giống cũng đã được tiến hành từ những năm đầu thập kỉ 80 của thế kỉ 20 (trong phạm vi nghiên cứu và trao đổi không chính thức, một số giống vải tốt của Trung Quốc đã được đưa sang khảo nghiệm tại Phú Thọ từ những năm 60) Vào những năm 1989-1992, tập đoàn
7 giống vải có nguồn gốc từ Trung Quốc, Australia được nhập nội và trồng tại Nông trường quốc doanh Lục Ngạn
Tập đoàn 5 giống vải: Mỏ Gà, Phi Tử Tiếu, Tam Nguyệt Hồng, Hắc Diệp và Bạch Đường Anh đã được nhập nội và đánh giá tại Viện nghiên cứu Rau Quả từ những năm 1997 Kết quả cho thấy: Giống Mỏ gà có khả năng sinh trưởng tốt ra quả đều qua các năm, khối lượng trung bình quả: 25-30g, tỉ
Theo Trần Thế Tục (1998) [10], [11], các giống vải của nước ta có thể phân chia theo thời vụ thu hoạch, đặc điểm sinh trưởng hoặc phẩm chất quả
Ở miền bắc Việt Nam các nhóm giống và giống được phân chia như sau:
- Theo thời vụ có: nhóm vải chín sớm, nhóm vải chín chính vụ và nhóm vải chín muộn
- Theo đặc điểm sinh trưởng và phẩm chất có: giống vải chín sớm, giống vải chính vụ, giống vải chín muộn
Ở thời điểm hiện tại, tỉ trọng về diện tích các giống vải còn chưa hợp lí, tập trung chủ yếu là giống chính vụ (trên 95% diện tích) Các giống chín sớm
Trang 7và chín muộn có mặt với diện tích còn rất hạn chế, gây khó khăn trong bố trí lao động cho thu hoạch, bảo quản, chế biến, tiêu thụ và làm giảm hiệu quả kinh tế cho người trồng
Hướng nghiên cứu chọn tạo giống vải trong nước hiện tại và tương lai
là tiếp tục đánh giá, chọn lọc và cải tiến tập đoàn giống hiện có: chọn tạo giống theo hướng lai hữu tính, gây đột biến (bao gồm cả xử lí đột biến bằng tác nhân vật lí và hóa học) để có được bộ giống phong phú có năng suất cao, phẩm chất tốt bao gồm các giống chín sớm, chính vụ, chín muộn để kéo dài thời gian cho thu hoạch, bên cạnh đó là nhập nội các giống vải ưu tú (vải hạt lép, không hạt) từ các nước có điều kiện sinh thái tương đồng để khảo nghiệm, đánh giá, chọn lọc và đưa vào sản xuất thay thế các giống cũ
Như vậy, tập đoàn giống vải của các nước trên thế giới rất phong phú nhưng chủ yếu là các giống chín chính vụ và chín muộn (thời gian chín tập trung từ đầu tháng 6 đến giữa tháng 7) Các giống chín sớm có mặt với diện tích còn rất hạn chế Do vậy, nếu bổ sung được một số lượng thích hợp các giống vải chín sớm thông qua việc đánh giá tuyển chọn giống bản địa ưu tú và chọn tạo giống mới sẽ góp phần dải vụ thu hoạch nâng cao hiệu quả trồng trọt, đáp ứng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước
1.2 Những nghiên cứu về tình hình sản xuất và tiêu thụ vải
1.2.1 Tình hình sản xuất
1.2.1.1 Những nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới, hiện có gần 30 nước trồng vải, trong đó các nước châu Á có diện tích trồng và sản lượng vải cao nhất Theo Trần Thế Tục (1997) [10], diện tích trồng vải của thế giới năm 1990 là 183.700 ha, sản lượng 251.000 tấn
Năm 2000, diện tích trồng vải đạt xấp xỉ 780.000 ha, tổng sản lượng đạt tới 1,95 triệu tấn, trong đó các nước Đông Nam Á chiếm khoảng 600.000 ha
Trang 8và sản lượng đạt xấp xỉ 1,75 triệu tấn (chiếm 77% diện tích và 90% sản lượng vải của thế giới) (Viện nghiên cứu Rau quả, 2007) [13]
Đến năm 2006, diện tích trồng vải trên thế giới còn 720.000 ha, nhưng sản lượng tăng lên 2,13 triệu tấn Trong đó, 98% sản lượng tập trung ở khu vực châu Á: Trung Quốc chiếm 70%, Thái Lan 3,9%, châu Á: Trung Quốc chiếm 70%, Thái Lan 3,9%, Ấn Độ 20%, Việt Nam 2,3% Các nước còn lại sản lượng vải chiếm không đến 2%
Do sản lượng vải của thế giới không nhiều, vì vậy thống kê hàng năm của FAO không đưa vào và xếp vào các hạng mục các cây ăn quả khác Năng suất vải của thế giới khá thấp trung bình chỉ đạt khoảng 3,0 tấn/ha Nguyên nhân chủ yếu là diện tích vải cho thu hoạch với tỉ lệ thấp và năng suất thấp Những nước có năng suất vải khá cao là Ấn Độ, Đài Loan, Nelpan, Madagasca (Dịch Cán Quân và cộng sự, 2008) [8]
Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về diện tích và sản lượng vải
Ở miền nam Trung Quốc, trồng vải đã trở thành ngành sản xuất chủ lực
từ những năm 1980
Theo Menzel (2002), Xuming và Lian, diện tích vải của Trung Quốc đạt 530.000 ha với sản lượng là 950.000 tấn, năm 2001 là 584.000 ha với sản lượng đạt 958.700 tấn quả tươi Trong đó tỉnh Quảng Đông là tỉnh đứng đầu
cả về diện tích và sản lượng vải: 303.080 ha va 793.200 tấn (trích dẫn theo Dịch Cán Quân, Vương Cử Bình, 2008) [8]
Theo số liệu của FAO (1989), báo cáo của Xuming (2003), diện tích và sản lượng vải của một số nước được thể hiện ở bảng 1.2
Trang 9Bảng 2.1 Diện tích, sản lượng vải của một số nước trên thế giới
Tên nước Năm Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
Theo Gosh (2000), Ấn Độ là nước đứng thứ 2 trên thế giới về diện tích
và sản lượng vải Sản lượng vải của Ấn Độ năm 1990 mới chỉ đạt con số 91.860 tấn thì đến năm 2000 đã lên đến 562.002, với sản lượng đạt 428.900 tấn Vùng sản xuất vải chủ yếu của Ấn Độ là Bihar (310.000 tấn), West Bengal (36.000 tấn), Tripura (27.000 tấn) và Uttar Pardesh (14.000 tấn) Ngoài ra vải còn được sản xuất ở một số nơi khác như Asam (17.000 tấn), Punjab (13.000 tấn), Orissa, Himachal Pradesh và Nilgiri Các giống trồng ở nước này là Shahi, China, Calcuttia, Bendana, Late bendana, Rose Scented, bombai, Muzaffarpur và Longia (trích dẫn theo Dịch Cán Quân, Vương Cử Bình, 2008) [8]
Diện tích vải ở Thái Lan năm 2002 đạt 22.200 ha, với sản lượng 85.083 tấn Vùng sản xuất vải chủ yếu của Thái Lan là vùng khí hậu Á nhiệt đới như Chiang Mai, Chiang Rai, Pgayao, Nan, Lamphun, Phrae và Fang với các giống chính: Tai so (Hong Huay), Chacapat, Wai chi (Kim Cheng), Haak Ip (Ohia) và Kom (Minas và cộng sự, 2002) (trích dẫn theo Dịch Cán Quân, Vương Cử Bình, 2008) [8]
Trang 10Ở Bănglades, vải được trồng tập trung ở các huyện Dinajpur, Rangpur
và Rangshahi với tổng diện tích trồng trọt năm 2002 đạt 11.961 ha Trong đó, diện tích cho thu hoạch 11.580 ha với sản lượng 108.668 tấn Năm 2001, diện tích trồng của Đài Loan đã tăng lên 12.000 ha
Ở Australia, cây vải được trồng tại bang Queensland cách đây khoảng
135 năm Sản xuất vải thương mại chỉ phát triển vào những năm thập kỉ 70 của thế kỉ trước Theo Menzel và cộng sự (1986), Menzel (2002), diện tích vải của Australia năm 1986 chỉ đạt khoảng 350 ha, sản lượng ước khoảng 60 tấn Năm 2000 có khoảng 350 hộ trồng vải với tổng sản lượng khoảng 3.000 tấn Đến năm 2002, chỉ còn khoảng 250 hộ nhưng sản lượng đạt đến 6.000 tấn Vì nằm ở nam bán cầu nên thời gian thu hoạch của Australia kéo dài từ tháng 10 năm trước đến hết tháng 4 năm sau (trích dẫn theo Dịch Cán Quân, Vương Cử Bình, 2008) [8]
Ở Nelpan, vải được trồng cách đây 104 năm và là cây ăn quả Á nhiệt đới quan trọng xếp sau xoài, dứa và ổi Diện tích vải của Nelpan năm 2002 đạt 2.830 ha với sản lượng là 13.875 tấn
Châu Phi có 4 nước trồng vải theo hướng hàng hóa là: Nam Phi, Madagatca, Reuiniong, Moritiuyt Trong đó Madagatca nằm ở phía tây Ấn
Độ Dương sản lượng hàng năm đạt 3,5 vạn tấn là nước có sản lượng vải lớn nhất ở Châu Phi (Trần Thế Tục, 2004) [11]
1.2.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, trong các cây ăn quả hiện nay, vải là cây có qui mô sản xuất lớn tập trung và mang tính hàng hóa cao Sản lượng quả tươi và các sản phẩm chế biến từ vải không những đáp ứng đủ nhu cầu trong nước và còn xuất khẩu dưới dạng sản phẩm: vải đông lạnh, vải nước đường vải sấy khô, purê vải… Chính vì vậy, những năm gần đây diện tích trồng vải tăng lên nhanh chóng (Trần Thế Tục, 2004) [11]
Trang 11Năm 2000, diện tích vải của cả nước đạt trên 20.000 ha, trong đó có 13.500 ha đang cho thu hoạch với năng suất bình quân 2 tấn/ha, sản lượng khoảng 25.000-27.000 tấn quả tươi Đến năm 2007 diện tích trồng vải cả nước đã đạt 88.900 ha với sản lượng 428.900 tấn
Bảng 2.2 Diện tích và sản lượng vải một số tỉnh năm 2007
Tỉnh/ thành phố Diện tích
(nghìn ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
1.2.2.1 Những nghiên cứu ngoài nước
Tổng sản lượng vải xuất nhập khẩu trên thị trường thế giới khoảng 100.000 tấn/năm Thị trường tiêu thụ vải lớn nhất trên thế giới có thể nói đến
là thị trường Hồng Kông và Singapore Trong tháng 6 và tháng 7, thị trường này tiếp nhận khoảng 12.000 tấn vải từ Trung Quốc, Đài Loan và Thái Lan Đức và Pháp nhập 10.000-12.000 tấn vải từ Madagatsa và Nam Phi trong tháng 10 đến đầu tháng 3 năm sau Một lượng nhỏ được nhập từ Israel trong tháng 7 đến tháng 8 vải từ Thái Loan, Đài Loan, Trung Quốc được bán sang Châu Âu, đến năm 1990 một lượng nhỏ được xuất sang Ấn Độ Vải hộp chất lượng tốt được xuất sang Malaysia, Singapore, Mỹ, Australia, Nhật và Hồng Kông
Theo Anupunt, 2003, Thái Lan xuất khẩu 12.475 tấn vải tươi và vải sấy khô trị giá 15,4 triệu đôla Mỹ sang Singapore, Hông Kông, Malaysia
và Mỹ (trích dẫn theo Dịch Cán Quân, Vương Cử Bình, 2008) [8]
Trang 12Theo Menzel (2002), Xuming và Lian (2003), gần một nửa sản lượng vải của Trung Quốc tiêu thụ tại thị trường nội địa Hàng năm Trung Quốc chỉ xuất khẩu một lượng khoảng 10.000-20.000 tấn (chiếm khoảng trên 2% sản lượng vải) (trích dẫn theo Dịch Cán Quân, Vương Cử Bình, 2008) [8]
Thị trường xuất khẩu của Trung Quốc chủ yếu là Hông Kông, Singapore và một số nước Đông Nam Á Giá vải của Trung Quốc dao động từ 0,5-2,5 USD/kg tùy vào chất lượng quả và thời vụ thu hoạch, cao nhất là giống No Mai Chee và Kwai May hạt nhỏ với giá 10 USD/kg, giá trung bình tại Singapore và Anh là 6,0 USD/kg; tại Nam Mỹ là 15,0USD/kg
Đài Loan hàng năm xuất khẩu khoảng 5.700 tấn vải cho các nước trong đó: Philippin 2.000 tấn, Nhật 1.000 tấn, Singapore 500 tấn, Mỹ 1.200 tấn, Canada 1.000 tấn
Australia là nước sản xuất vải với số lượng ít nhưng lại tập trung chủ yếu cho xuất khẩu Khoảng 30% sản lượng vải của Australia xuất khẩu sang Hông Kông, Singapore, châu Âu và các nước Ả Rập Tuy nhiên, Australia lại phải nhập vải của Trung Quốc vào những tháng trái vụ
Thị trường nội địa là thị trường tiêu thụ vải tươi chủ yếu của hầu hết các quốc gia sản xuất trên thế giới Các nước hàng năm chỉ xuất khẩu một lượng vải nhỏ trên thị trường thế giới
1.2.2.2 Những nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, khoảng 75% sản lượng vải của cả nước tiêu thụ ngay trong thị trường nội địa, phần còn lại được sơ chế, xuất khẩu tươi và chế biến Các sản phẩm sơ chế và chế biến gồm vải sấy khô, vải đông lạnh, vải nước đường và purê vải
Thị trường xuất khẩu vải tươi còn rất hạn chế do nhiều nguyên nhân như: khả năng bảo quản của quả vải ngắn, kích cỡ và độ đồng đều của quả thấp, khả năng đáp ứng nhanh chóng một khối lượng quả cùng chủng loại cho một thị trường thấp, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và điều kiện vệ sinh cơ sở hạ tầng sau thu hoạch còn hạn chế
Trang 13Bảng 2.3 Sản lượng các sản phẩm chế biến vải năm 2007
(tấn)
Thị trường tiêu thụ vải tươi chủ yếu ở Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh Vải sấy khô chủ yếu được bán sang Trung Quốc và một phần sang Lào, Campuchia Sản phẩm vải một phần được tiêu thụ qua các tổ chức thương mại, một phần qua tổ chức tư thương do thu mua, tiêu thụ
Thị trường xuất khẩu vải của nước ta chủ yếu là Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Sĩ, Mỹ, một số quốc gia khác trong khu vực và thị trường Châu Âu
Bảng 2.4 Lượng xuất khẩu các mặt hàng từ quả vải 6 tháng đầu năm 2007
khẩu
Sản lượng (tấn)
Giá trị (USD)
Nhật Bản
36,47 17,35
34000 14700
51750 22810
Nguồn: Tổng Công Ty rau quả và nông sản, 2007
Trang 14Đối với vải thiều Thanh Hà thị trường tiêu thụ chủ yếu là thị trường trong nước còn một phần nhỏ được xuất khẩu ra nước ngoài như: Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêsia… dưới hình thức vải sấy khô
Trang 15CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Giống vải thiều Thanh Hà
- Một số giống vải ở huyện Thanh Hà
- Một số cây ăn quả chính ở huyện Thanh Hà
- Một số điều kiện tự nhiên và xã hội ở huyện Thanh Hà
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Các xã ở huyện Thanh Hà
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
- Từ năm 2009-2010
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra hiện trạng sản xuất về diện tích, sản lượng và cơ cấu giống vải
- Nghiên cứu tình hình tiêu thụ, chế biến bảo quản vải thiều Thanh Hà
- Giải pháp phát triển vải thiều trong thời gian gần đây
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập tài liệu nghiên cứu
• Số liệu thứ cấp: Là số liệu đã được công bố qua sách báo, tạp chí, niên giám thống kê, internet, báo cáo tổng kết của huyện Thanh Hà về các vấn đề như:
+ Diện tích, năng suất, sản lượng vải một số năm
+ Tình hình bảo quản, chế biến sản phẩm
+ Tình hình tiêu thụ sản phẩm, thị trường, giá bán vải quả
• Số liệu sơ cấp: Để thu thập số liệu mới điều tra hộ nông dân thông qua điều tra trực tiếp bao gồm một loạt cách tiếp cận và phương pháp khuyến khích, lôi cuốn nông dân cùng tham gia chia sẻ, thảo luận và phân tích kiến thức của họ về đời sống và điều kiện nông thôn để họ lập kế hoạch và thực hiện
Trang 16- Điều tra hộ nông dân
Điều tra phỏng vấn nông hộ, các chuyên gia, cán bộ quản lý qua hệ
thống mẫu phiếu điều tra có sẵn
+ Chỉ tiêu điều tra hộ: Để phản ánh đầy đủ những thông tin phát triển kinh tế hộ, chúng tôi sử dụng hệ thống chỉ tiêu thông tin về chủ hộ: thông tin
về chi phí sản xuất, kết quả sản xuất, thu nhập và sử dụng thu nhập cho các mục đích; thông tin về vốn, tài sản; thông tin về mức độ đảm nhận diện tích đất đai, tiếp thu khoa học kỹ thuật, tiếp cận thị trường
2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Toàn bộ số liệu được xử lý trên máy tính theo các chỉ tiêu điều tra trên phần mềm bảng tính Excel
Trang 17CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Nguồn gốc cây vải thiều Thanh Hà
Vải thiều Thanh Hà có nguồn gốc từ Trung Quốc do ông Hoàng Văn Cơm thôn Thúy Lâm xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương Người
ta kể rằng cụ Cơm nguyên là phục vụ tại một cửa hàng ăn ở tỉnh Quảng Ninh Một hôm có một du khách người Trung Quốc sau khi ăn xong đã dùng tráng miệng bằng một loại quả và sau khi rời khỏi quán ông đã để lại quán một vài quả Cụ Cơm ăn thử thấy ngon quá liền mang và gieo ở vườn nhà và mọc lên được ba cây
Trong ba cây đó chỉ sống được một cây và cây đó hiện nay vẫn sống gần 200 năm Vì vậy xã Thanh Sơn được coi là xã hạt nhân của vùng sản xuất vải thiều Do chất lượng quả vải được nhiều người ưa chuộng nên dần dần được nhân rộng ra các xã lân cận như xã Thanh Xá, Thanh Khê
Trong giai đoạn hợp tác xã từ năm 1960-1970 hình thành các vườn cây đặc sản và sản xuất theo kế hoạch của Nhà Nước, cây vải thiều được trồng trong vườn của các xã Thanh Sơn, Thanh Thủy, Phượng Hoàng, Thanh Khê, Thanh Xuân, Hợp Đức,Thanh Cường, Thanh Hồng, Thanh Bính, Trường Thành
Từ năm 1993 có chính sách địa phương chuyển đổi đất lúa sang trồng cây vải thiều được trồng và phát triển trên khắp các xã trong huyện Căn cứ vào nguồn gốc lịch sử cây vải là những đặc tính đặc biệt của cây vải thiều Thanh Hà, năm 1992 Trung ương hội làm vườn Việt Nam đã công nhận cây vải do ông Hoàng Văn Cơm thôn Thúy Lâm xã Thanh Sơn huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương trồng là cây vải tổ của Việt Nam
Ngày nay, vải thiều được nhân giống sang một số nơi khác trên cả nước như Lục ngạn - Bắc Giang, Chí Linh - Hải Dương và một số xã ở Hải Dương cùng nhiều địa phương khác
Trang 18Giống vải được ưa chuộng nhất ở Việt Nam là vải thiều được trồng tại khu vực huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương Quả thu hoạch từ các cây vải trồng trong khu vực này thông thường có vị thơm và ngọt hơn vải được trồng ở các khu vực khác (mặc dù cũng lấy từ giống tại Thanh Hà)
Hiện nay, ở Việt Nam có hai huyện trồng nhiều vải nhất là huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương (nguồn gốc trồng cây vải thiều đầu tiên ở Việt Nam) và huyện Lục ngạn - Bắc Giang Tuy sản lượng ở Lục Ngạn - Bắc Giang nhiều hơn, nhưng vải ở Thanh Hà quả vẫn to, ngọt, và giá bán tại gốc cao hơn
Ở Châu Á thì Ấn Độ, Trung Quốc cũng có loại vải thiều này nhưng họ cũng chưa xuất khẩu được là bao Nhưng về cạnh tranh chắc chắn ta thua họ ở khâu đóng gói bảo quản sản phẩm
3.2 Điều kiện tự nhiên và xã hội vùng đất trồng vải Thanh Hà
3.2.1 Điều kiện tự nhiên
3.2.1.1 Vị trí địa lí
Thanh Hà nằm ở phía đông nam tỉnh Hải Dương, phía bắc giáp huyện Nam Sách, phía đông giáp huyện Kim Thành, phía nam giáp thành phố Hải Phòng, phía tây giáp thành phố Hải Dương Huyện có 24 xã và 1 thị trấn Huyện được chia làm 4 khu là: Hà Nam, Hà Bắc, Hà Đông và Hà Tây
- Hà Nam bao gồm 6 xã: Thanh Xuân, Thanh Thủy, Thanh Sơn, Thanh
Xá, Thanh Khê và thị trấn Thanh Hà
- Hà Bắc gồm 7 xã: Thanh An, Thanh Lang, Việt Hồng, Hồng Lạc, Tân Việt, Cẩm Chế, Liên Mạc
- Hà Đông gồm 6 xã: Trường Thành, Vĩnh Lập, Thanh Bính, Thanh Hồng, Thanh Cường, Hợp Đức
- Hà Tây gồm 6 xã: Tiền Tiến, Thanh Hải, Phượng Hoàng, An Lương, Quyết Thắng