TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂMKHOA THỦY SẢN BÁO CÁO TỐT NGHIỆP TÊN ĐỀ TÀI: Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển nuôi cá lồng bè tại thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa T
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHOA THỦY SẢN
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển nuôi cá lồng bè tại thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh
Thừa Thiên Huế
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Văn Minh Lớp : Cao Đẳng Nuôi Trồng Thủy Sản 48A Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Tôn Thất Chất
Bộ môn : Nuôi Trồng Thủy Sản
NĂM 2016
Trang 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHOA THỦY SẢN
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển nuôi cá lồng bè tại thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh
Thừa Thiên Huế
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Văn Minh
Lớp : Cao Đẳng Nuôi Trồng Thủy Sản 48A
Thời gian thực hiện : 07/2016 – 12/2016
Địa điểm thực hiện : thị trấn Thuận An, tỉnh Thừa Thiên Huế
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Tôn Thất Chất
Bộ môn : Nuôi Trồng Thủy Sản
NĂM 2016
Trang 3
Ban chủ nhiệm khoa Thủy sản, Trường Đại học Nông Lâm Huế, quý thầy cô
và các anh/ chị khóa trước đã giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức kinh nghiệm quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực tập và nghiên cứu.
Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy PGS.TS Tôn Thất Chất, người đã định hướng và tận tình chỉ dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài này Tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến thầy
Xin cảm ơn các bác, các anh/ chị ở UBND thị trấn Thuận An, phòng NN&PTNT huyện Phú Vang và các hộ tham gia nuôi cá lồng bè tại các thôn, tổ đã sắp xếp thời gian, nhiệt tình cung cấp thông tin trong bài báo cáo này.
Với lòng biết ơn chân thành nhất, một lần nữa xin gửi lời cám ơn đến thầy
cô, gia đình và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt bài báo cáo tốt nghiệp và chương trình học.
Xin chân thành cám ơn!
Huế, tháng 12 năm 2016
Sinh Viên
Nguyễn Văn Minh
Trang 4
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Số lồng bè và sản lượng nuôi cá lồng biển ở Việt Nam năm 1995 2
Bảng 2.2: Số lồng nuôi thực tế tại các địa phương 2
Bảng 2.3: Phân bố các đối tượng nuôi phổ biến trên địa bàn tỉnh 2
Bảng 2.4: Năng suất trung bình một số đối tượng nuôi 2
Bảng 4.1: Tình hình dân số và lao động của thị trấn qua 2 năm ( 2013 – 2014 ) 2
Bảng 4.2: Tình hình sữ dụng đất của thị trấn qua 2 năm ( 2013 – 2014 ) 2
Bảng 4.3: Diển biến phát triển nuôi cá lồng bè ở thị trấn giai đoạn 2010 - 2015 2
Bảng 4.4: Số lao động tham gia NTTS 2
Bảng 4.5: Trình độ lao động trong nuôi cá lồng 2
Bảng 4.6: Trình độ học vấn của lao động tham gia nuôi cá lồng 3
Bảng 4.7: Nguồn gốc con giống 3
Bảng 4.8: Tên bệnh và thời gian xuất hiện bệnh 3
Bảng 4.9: Hình thức thu hoạch cá 3
Bảng 4.10: Dự định của ngư dân 3
Bảng 4.11: Một số thông số kỹ thuật nuôi 3
Bảng 4.12: Hoạch toán kinh tế của thị trấn Thuận An ( năm 2016 ) 3
Biểu đồ 4.1: Các loài cá được nuôi ở thị trấn Thuận An 3
Biểu đồ 4.2: Phân cở cá lồng thương phẩm 3
Biểu đồ 4.3: Mật độ và kích cỡ thả giống 3
Biểu đồ 4.4: Biện pháp quản lí dịch bệnh 3
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Nhóm đối tượng cá biển và sản lượng nuôi năm 2010 trên thế giới 1
Hình 3.1: Bản đồ vị trí địa lí các thôn thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang 2
Hình 4.1: Bản đồ vị trí địa lí thị trấn Thuân An, huyện Phú Vang 2
Hình 4.2: Cấu trúc lồng nuôi cá thương phẩm 2
Trang 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 UBND Ủy Ban Nhân Dân
9 TTH Thừa Thiên Huế
10 FAO Tổ chức lương thực - Nông nghiệp của Liên hợp Quốc
25 KHHGĐ Kế Hoạch Hóa Gia Đình
26 BQNK Bình Quân Nhân Khẩu
27 TTg Thủ Tướng
28 ĐNA Đông Nam Á
Trang 6
MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẮN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 1
1.2.1 Mục tiêu chung 1
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 1
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1
2.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển nuôi cá lồng biển trên thế giới 1
2.1.1 Vai trò của nuôi cá biển trên thế giới 1
2.1.2 Nuôi cá biển ở một số nước trên thế giới……… 1
2.1.3 Tình hình khai thác cá biển trên thế giới……… 1
2.1.4 Một số công nghệ lồng nuôi cá biển trên thế giới………1
2.1.5 Một số loài cá biển được nuôi trên thế giới 1
2.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển nuôi cá biển Việt Nam 1
2.3 Tình hình nghiên cứu và phát triển nuôi cá biển tỉnh Thừa Thiên Huế 1
2.3.1 Tiền năng vùng nuôi 1
2.3.2 Tiềm năng đối tượng nuôi 1
2.3.3 Về quy cở, chất liệu lồng nuôi 1
2.3.4 Vấn đề sản xuất con giống 1
2.3.5 Năng suất và sản lượng 1
PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1
3.1 Nội dung nghiên cứu 1
3.2 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 1
3.3 Phương pháp nghiên cứu 1
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 1
3.3.2 Phương pháp chọn mẫu điều tra 1
3.3.3 Phương pháp tích và xử lý số liệu 1
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 1
4.1 Đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế 1
4.1.1 Vị trí địa lý của thị trấn Thuận An 1
4.1.2 Điều kiện khí hậu và đất đai 1
4.2 Đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội thị trấn Thuân An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế 1
4.2.1 Tình hình dân số và lao động 1
4.2.2 Tình hình sử dụng đất 1
4.2.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật 1
4.3 Hiện trạng nghề nuôi cá lồng bè tại thị trấn Thuận An 2
Trang 7
4.3.1 Diễn biến phát triển nuôi cá lồng bè giai đoạn 2010-2015 2
4.3.2 Hiện trạng các đối tượng nuôi cá lồng biển tại thị trấn Thuận An 2
4.3.3 Hiện trạng về nguồn nhân lực nuôi cá lồng bè 2
4.3.4 Hiện trạng hệ thống lồng bè nuôi cá biển 2
4.3.5 Hiện trạng về kỹ thuật sử dụng giống, thức ăn và quả lý khi nuôi 2
4.3.6 Tình hình dịch bệnh 2
4.3.7 Thu hoạch 2
4.3.8 Thị trường tiêu thụ sản phẩm cá nuôi thương phẩm 2
4.3.9 Đánh giá sơ bộ về hiệu quả kinh tế……… ………2
4.4 Đánh giá tổ chức quản lý và thể chế chính sách phát triển nghề nuôi cá lồng bè tại thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang 3
4.4.1 Hiện trạng về tổ chức quản lý 3
4.4.2 Chính sách phát triển nuôi cá lồng biển 3
4.5 Đánh giá những tác động của nghề nuôi cá lồng bè tại thị trấn Thuận An 3
4.5.1 Tác động tích cực 3
4.5.2 Tác động tiêu cực 3
4.6 Đánh giá những mặt thuận lợi và khó khăn đối với việc phát triển nuôi cá lồng tại thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang 3
4.6.1 Những mặt thuận lợi 3
4.6.2 Những mặt khó khăn 3
4.7 Các giải pháp phát triển nuôi cá lồng bè bè tại thị trấn Thuận An 3
4.7.1 Giải pháp chính sách phát triển nuôi cá lồng bè 3
4.7.2 Giải pháp về cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ phát triển nuôi cá lồng bè 4
4.7.3 Giải pháp kỹ thuật trong nuôi cá biển theo hướng bền vững 4
4.7.4 Giải phápphát triển nguồn nhân lực phục vụ cho nuôi biển 4
4.7.5 Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong nuôi cá lồng biển 4
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 4
5.1 Kết luận 4
5.2 Kiến nghị 4
TÀI LIỆU THAM KHẢO 4
PHỤ LỤC.
Trang 8PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Với chiều dài bờ biển 3.260 km, 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế, hơn 4.000
hòn đảo lớn nhỏ, nhiều eo vịnh đã tạo nên thuận lợi lớn cho Việt Nam phát triển nghềnuôi biển Diện tích mặt nước có thể đưa vào quy hoạch phát triển nuôi biển lên tới460.000 ha ( Bộ Thủy sản 1994) Các vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi phát triểnnuôi cá biển là: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận,Vũng Tàu, Mặt khác với lợi thế nước ta gần các thị trường tiêu thụ cá tươi sống lớn nhưTrung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan , nhu cầu của thị trường tiêu thụ các sản phẩm hảisản nói chung, cá biển nói riêng ngày càng tăng
Thừa Thiên Huế, một tỉnh duyên hải miền Trung, có hệ thống hệ thồng đầm pháTam Giang, Cầu Hai rộng lớn chạy dọc suốt 5 huyện ven biển Thừa Thiên Huế từPhong Điền đến Phú Lộc, là một vùng đầm phá nước lợ với hệ sinh thái sông biển phongphú và đặc sắc là điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho nhiều loại thủy sinh phát triển, mộtlợi thế cho nhiều ngành nghề nông lâm, ngư nghiệp, mà đặc biệt là nghề nuôi cá biển
Thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm dọc theo pháTam Giang Nơi đây NTTS mà đặc biệt là nuôi cá lồng bè đã trở thành nghành kinh tếchủ lực của địa phương, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân đồngthời cải tạo bộ mặt KT-XH trên địa bàn
Vì vậy, để phát huy được tiềm năng và lợi thế phát triển nuôi cá lồng bè; giảiquyết những tồn tại và khó khăn trên và đảm bảo việc phát triển nghề nuôi cá lồng bè ởđây mang lại hiệu quả kinh tế cao, ổn định và bền vững, thì việc đánh giá hiện trạngnghề nuôi cá lồng bè ở tại địa phương để xác định những thuận lợi và khó khăn trongnghề cá lồng bè ở thị trấn Thuận An; từ đó có các giải pháp phát triển nuôi cá lồng bètại địa phương theo hướng hiệu quả và bền vững trong tương lai là rất cần thiết
Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, được sự đồng ý của Trường Đại Học Nông
Lâm Huế, Khoa Thủy Sản và giáo viên hướng dẫn tôi xin chọn đề tài: “ Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển nuôi cá lồng bè tại thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.”
Trang 9
1.2 Mục tiêu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung:
Sử dụng hiệu quả tiềm năng và lợi thế nghề nuôi cá lồng bè tại thị trấn Thuận
An theo hướng hiệu quả và bền vững Tạo việc làm ổn định và nâng cao thu nhập chongười lao động, góp phần tích cực vào đảm bảo an ninh thực phẩm, đẩy mạnh pháttriển kinh tế biển của địa phương
Trang 10PHẦN II TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU
2.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển nuôi cá lồng biển trên thế giới.
2.1.1 Vai trò của nuôi cá biển trên thế giới.
Nuôi cá biển là một ngành mới, nhưng đã có tốc độ phát triển nhanh chóng, tạo
ra hàng tỷ USD, góp phần giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động và góp phầnđảm bảo chất lượng thực phẩm cho nhân loại Theo thống kê của FAO, sản lượng cábiển nuôi năm 2002 của khu vực Châu Á Thái Bình dương khoảng 1 triệu tấn, giá trịđạt 3,2 tỷ USD, tăng 240% so với năm 1990 và chiếm 95% sản lượng nuôi cá biển trênthế giới [23]
Từ những năm cuối thế kỷ trước, nhiều nước có biển đã khẳng định rõ vai tròquan trọng của biển nói chung và nuôi cá biển nói riêng Cá biển là loại thực phẩm cógiá trị dinh dưỡng cao, nhu cầu sử dụng cá biển ngày càng tăng, trong khi đó sảnlượng khai thác từ tự nhiên có hạn, do đó việc phát triển nuôi cá biển là biện phát tấtyếu đáp ứng nhu cầu của xã hội Xác định được ý nghĩa chiến lược lâu dài của nuôi cábiển, nhiều nước như Trung Quốc, Nauy, Nhật Bản coi nuôi cá biển là một trongnhững ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước
2.1.2 Nuôi cá biển ở một số nước trên thế giới.
Tại Trung Quốc bắt đầu nuôi thử nghiệm một vài lồng các loài cá song và cáhồng tại vùng biển Quảng Đông vào năm 1979 Sau đó nuôi cá biển tăng lên khoảng960.000 lồng phân bố chủ yếu ở Sơn Đông, Trung Quốc Sản lượng cá biển ở TrungQuốc tăng lên nhanh chóng: năm 1990 sản lượng là 101.000 tấn đến năm 2005 sảnlượng là 660.000 tấn Hệ thống lồng nuôi thông dụng (chiếm 98%) là lồng gỗ nổi lênmặt nước có kích thước 3x3x3m Sau đó những năm gần đây có các loại lồng bằngphao kích thước 6x6x6m và kiểu lồng hình trụ có chu vi 60-100m, sâu 8-12m, kiểulồng đại dương chịu sóng dùng cho nuôi đại dương và nuôi vùng biển hở [23]
Nauy là cường quốc về nuôi cá biển trong hai thập kỷ qua, là nước xuất khẩu cábiển nuôi số 1 thế giới Từ đầu thập kỷ 80, Nauy đã xác định nuôi cá biển là mũi nhọnkinh tế của đất nước, trong đó cá hồi là đối tượng nuôi chủ đạo Sau hơn 20 năm nghiêncứu và phát triển, Nauy đã đạt đến đỉnh cao của nuôi cá biển, sản lượng và giá trị liêntục tăng Năm 1985 sản lượng nuôi đạt 40.000 tấn, giá trị đạt 53 triệu USD; đến năm
2000 sản lượng nuôi đạt 420.000 tấn đạt giá trị 1.350 triệu USD [23] Sản phẩm cá hồicủa Nauy rất đa dạng với 7 chủng loại từ 1kg/con đến trên 7kg/ con, chu kỳ nuôi rất
Trang 11
khác nhau từ 2-6 tháng Hệ số chuyển đổi thức ăn tinh giảm xuống còn 1,15 Cá hồiđược nuôi trong hình tròn là chủ yếu, ngoài ra còn nuôi trong hình chữ nhật Điều đángchú ý là mặc dù nuôi cá ở quy mô công nghiệp tập trung ở mật độ cao nhưng về cơ bảnkhông gây ô nhiễm môi trường biển và thành công của công nghệ Vacxin 20 năm nuôiliên tục cá hồi Nauy vẫn chưa bị dịch bệnh gây tổn hại lớn Thị trường tiêu thu cá hồiNauy rất rộng lớn: EU, Nhật Bản, Mỹ, Đông Âu, Trung Quốc, Đài Loan và một sốnước Đông Nam Á Việc cá hồi Đại Tây Dương của Nauy chiếm lĩnh thị trường NhậtBản và mới đây là thì trường Trung Quốc được coi là thành tích lớn trong lĩnh vựcthương mại cá biển Công nghệ lồng nuôi cá Nauy rất phát triển, các loại lồng nổi đượctrang thiết bị bằng hệ thống phao chịu lực và kiểu lồng đại dương chịu sóng mạnh vàdung tích lớn.
Nhật Bản là nước thứ 3 thế giới về mặt sản lượng cá biển nuôi, nhưng đứng đầutrong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, năng suất, hiệu quả và giá trị sản xuất Nhật Bản lànước đưa ra mô hình về nuôi cá biển trong lồng ngay từ rất sớm (đầu thập kỷ 70), nuôi
cá ngừ vây vàng, cá ngừ vây xanh theo chu kỳ kín và lồng nuôi được đặt ngay tại dònghải lưu ấm của Thái Bình Dương Sản lượng năm 2000 của Nhật Bản đạt 245.566 tấn,đến năm 2003 đạt 264.858 tấn Nhìn chung sản lượng nuôi cá lồng không tăng nhiềunhưng nuôi nhiều loại quý hiếm như cá cam, cá chình Nhật Bản Tuy nhiên do nhu cầutrong nước cao nên hàng năm Nhật Bản nhập rất nhiều các sản phẩm từ cá biển [23]
Đài Loan có nghề phát triển nuôi cá biển từ rất sớm và có nhiều đóng góp quantrong cho sự tiến bộ của nghề nuôi cá biển thế giới Hiện nay tại Đài Loan đang nuôikhoảng 20 loài cá biển và hầu hết được sinh sản nhân tạo thanh công Đài Loan cótrình độ cao về khoa học công nghệ nuôi cá biển đặc biệt là công nghệ sinh sản nhântạo Từ đầu những năm 90, Đài Loan còn xuất khẩu cá giống đi hầu hết các nước Châu
Á Vào năm 2001 nuôi hải sản bằng lồng bè ở Đài Loan xếp vào thứ 17 trên thế giới,giá trị sản phẩm đạt 19,3 triêu USD
Ở khu vực Châu Âu, năm 1970, nước Pháp đã thành công trong việc nghiên cứusản xuất cá tráp Châu Âu, cuối năm 1980 Italia thành công trong việc cho sinh sảnnhân tạo cá mú Địa Trung Hải [23]
Ở khu vực Địa Trung Hải, Hy Lạp là nước đứng đầu về công nghệ nuôi cá biểnphát triển nhờ tiếp cận kỹ thuật sản xuất giống của Pháp, Italia, Anh, Nauy, Nhật Bản.Chỉ sau một thời gian ngắn, họ đã thành công trong khâu cho sinh sản nhân tạo, sảnxuất được cá giống chất lượng cao, công nghệ nuôi được phát triển nhanh chóng Sản
Trang 12
lượng cá biển nuôi năm 2000 của Hy Lạp đạt 79.000 tấn, giá trị 491 triệu USD Nghềnuôi cá biển của Hy Lạp phát triển ổn định và vững chắc do luôn cải tiến về công nghệnuôi, quản lý và tăng cường tiếp thị thị trường.
Các nước Đông Nam Á nghề nuôi cá biển chưa phát triển như các khu vựckhác Thập niên 90 của thế kỷ trước, Thái Lan đi đầu trong lĩnh vực nuôi cá biển nhờthành công sản xuất nhân tạo và sau đó phát triển nuôi cá vược Những năm cuối thậpniên 90, sản lượng cá vược của Thái Lan đã đạt tới hàng trăm ngàn tấn Thị trường tiêuthụ cá vược của Thái Lan là Hồng Kông và một số nước Châu Âu Từ sau năm 2000, do
cá tráp ở Châu Âu phát triển mạnh, sự thành công của Trung Quốc và các nước kháctrong sản xuất giống và nuôi cá vược, giá cá vược giảm nhanh làm cho nghề nuôi cávược của Thái Lan bị đình trệ Philippin là nước đứng đầu thế giới về nuôi cá măngbiển và đang tiếp tục phát triển Sản lượng cá măng biển năm 2005 của Philippin đạt 37.000 tấn, tuy nhiên sản phẩm xuất khẩu còn hạn chế
2.1.3 Tình hình khai thác cá biển trên thế giới.
Sản lượng khai thác biển toàn cầu đạt 82,6 triệu tấn năm 2011 và 79,7 triệutấn năm 2012 (nếu không tính cá cơm thì con số tương ứng là 74,3 triệu tấn và 75triệu tấn) Trong hai năm 2011-2012, trên thế giới có 18 nước đạt sản lượng trungbình từ 1 triệu tấn trở lên, trong đó có 11 nước đến từ châu Á [20]
Trong 10 năm qua, sản lượng khai thác biển của hầu hết các nước châu Á tăngđáng kể, ngoại trừ sản lượng khai thác của Nhật Bản (-22%) và Thái Lan (-39%).Nguyên nhân của sự giảm sút này là: Từ năm 1980, số lượng tàu khai thác của Nhậtliên tục giảm cùng với thảm họa động đất và sóng thần năm 2011 đã làm cho sảnlượng khai thác giảm 1/3 Tại Thái Lan, nguồn lợi thủy sản giảm mạnh do khai thácquá mức, môi trường biển ở Vịnh Thái Lan bị ô nhiễm, cộng thêm việc các tàu TháiLan ngừng hoạt động ở vùng biển của Indonesia (từ năm 2008) là những nguyênnhân khiến sản lượng khai thác của Thái giảm Ngược lại, các nước như Myanmar,Việt Nam, Indonesia và Trung Quốc có sản lượng tăng trưởng liên tục (Myanmartăng 121%, Việt Nam tăng 47%) [20]
2.1.4 Một số công nghệ lồng nuôi biển trên thế giới.
Công nghệ lồng bè nuôi cá biển trên thế giới trong thời gian qua đã có nhữngbước phát triển nhanh, công nghệ nuôi cá lồng từ kiểu lồng gỗ nuôi đơn giản, đến kiểulồng nổi được trang bị hệ thống phao chịu lực và kiểu lồng đại dượng chịu sóng Các
mô hình lồng nuôi chịu sóng cũng rất đa dạng, có cấu trúc, hình dạng, hệ thống phaoneo chịu lực, thể tích lồng nuôi cũng khác nhau tùy thuộc vào quy mô nuôi, vùng nuôi
Trang 13
và loài nuôi Ưu điểm của hệ thống lồng chịu sóng là có khả năng nuôi ở vùng biển hở,ngoài khơi, chịu được sóng mạnh, có dung tích nuôi lớn, phù hợp với quy mô côngnghiệp và nuôi với sản lượng lớn.
Một số kiểu lồng nuôi vùng biển hở trên thế giới như: kiểu lồng chịu sóng củaNhật Bản, kiểu lồng đại dương của Thụy Điển, kiểu lồng đại dương của Nga, kiểu lồngđại dương của úc, kiểu lồng đại dương của Tây Ban Nha, kiểu lồng đại dương củaNauy, kiểu lồng đại dương của Mỹ, kiểu lồng đại dương của Trung Quốc
2.1.5 Một số loài cá biển được nuôi trên thế giới.
Hình 2.1 Nhóm đối tượng cá biển và sản lượng nuôi năm 2010 trên thế giới.
(x 1.000 tấn)
(Nguồn: Báo cáo sản lượng nuôi cá biển trên thế giới, FAO, 2012 )
Trên thế giới, có khoảng 12 nhóm cá biển đang được nuôi thương phẩm ở các quy
mô khác nhau trong môi trường nước mặn Thống kê năm 2010 cho thấy, sau nhóm cáchưa xác định (hoặc chưa xếp nhóm) thì sản lượng nuôi đối với nhóm cá cam, cá chim
và cá thu chiếm sản lượng lớn (gần 200 ngàn tấn), tiếp theo là nhóm cá đù, cá tráp, cásong, cá giò, dao động từ khoảng 50 đến 170 ngàn tấn (hình 1.1) [2]
2.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển nuôi cá biển ở Việt Nam.
Nghề nuôi cá biển ở Việt Nam có từ khá lâu, từ năm 1990 đến nay nghề này có
xu thế tăng nhanh ở các tỉnh ven biển từ Móng Cái đến Hà Tiên Khu vực Hải Phòng,Quảng Ninh là nơi có số lượng lồng bè cá nhiều nhất Tính đến giữa năm 1995 lượng
cá bè ở khu vực này có khoãng 300-400 ô lồng Khu vực biển miền Trung từ Đà Nẵngđến Bình Thuận có khoãng 200 lồng và khu vực Đông Tây Nam Bộ trên 100 lồng [3]
Bảng 2.1 Số lồng bè và sản lượng nuôi cá lồng biển ở Việt Nam năm 1995.
(cái)
Sản lượng (tấn)
Trang 14
(Nguồn: Báo cáo của Chi cục Nuôi trồng Thủy sản)[3]
Theo đánh giá của FAO, nghề nuôi cá biển ở Việt Nam vẫn còn non trẻ so với cácnước trong khu vực ĐNA Tuy nhiên chúng ta có đầy đủ tiềm năng để phát triển nghềnày với vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho NTTS đặc biệt là khu vực vịnh HạLong, vùng biển từ Nha Trang đến Phan Thiết và vùng biển phía Tấy Nam Bộ là nhữngvùng biển có tiểm năng rất lớn cho việc nuôi cá biển Vì vậy nếu được đầu tư đúng mức,ngư dân và các cơ sở sản xuất tiếp nhận đươc kỹ thuật nuôi tiên tiến và khi đã chủ độngsản xuất nhân tạo giống cá biển thì nghề nuôi cá biển của Việt Nam sẽ có bước nhảy vọt,tạo việc làm và tăng thu nhập cho đông đảo ngư dân ven biển, đem lại nguồn hàng xuấtkhẩu lớn cho đất nước [3]
2.3 Tình hình nghiên cứu và phát triển nuôi cá biển ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
2.3.1 Tiền năng vùng nuôi.
Số lượng lồng nuôi đang gia tăng một cách đáng kể, một số vùng nuôi trọng
điểm như Vinh Hiền, thị Trấn Lăng Cô, thị Trấn Thuận An, xã Hải Dương người nuôiđầu tư số lượng lồng khá nhiều, trung bình mỗi hộ có trên 10 lồng, có hộ đầu đến 30 –
40 lồng nuôi, ngoài ra các hộ đều có trung bình 1 - 2 lồng kích cở mắc lưới nhỏ phục vụương giống Quá trình rà soát thực trạng các hộ nuôi cá lồng của Chi cục Nuôi trồngThủy sản năm 2014 cho thấy số lồng thực tế rất cao so với số liệu báo cáo, cụ thể nhưsau:
Bảng 2.2 Số lồng nuôi thực tế tại các địa phương.
Số lồng
rà soát 2014 (cái)
So với cùng kỳ báo cáo (cái)
Tỷ lệ (%)
Trang 15
(Nguồn: Báo cáo của Chi cục Nuôi trồng Thủy sản năm 2014 )
Do các đối tượng cá nước lợ có giá trị kinh tế cao và dễ tiêu thụ, với thực tếkhông ngừng gia tăng về số lượng lồng nuôi, dự kiến trong thời gian đến, nếu không cóquy hoạch và quy định để quản lý tình trạng phát triển tự phát, các xã vùng đầm phá cóđiều kiện thuận lợi về độ mặn, độ sâu và lưu tốc dòng chảy sẽ tiếp tục phát triển tự phátảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, hoạt động nuôi trồng thủy sản trong vùng [17]
2.3.2 Tiềm năng đối tượng nuôi.
Bảng 2.3 Phân bố các đối tượng nuôi phổ biến trên địa bàn tỉnh.
biến
Đối tượng chiếm 30 %
căn, dìa, nâu,
Trang 165 Xã Vinh Thanh Chẽm, Hồng, Hanh Cá Dìa
6 Xã Vinh Phú Chẽm, Hồng, Hanh Cá Dìa
8 Xã Phú Xuân Chẽm, Hồng, Hanh Cá Dìa
(Nguồn: Báo cáo của Chi cục Nuôi trồng Thủy sản năm 2014 )
Đối tượng nuôi cá lồng nước lợ khá phong phú, ngoài các đối tượng nuôi cónguồn giống chủ động từ sinh sản nhân tạo như cá Hồng Mỹ, cá Chẽm, cá Đối mục, cáChim trắng vây vàng, Người dân đã khai thác các đối tượng cá tự nhiên trong vùngđưa vào nuôi rất phổ biến và có hiệu quả kinh tế như cá Hồng, cá Vẩu, cá Mú, cá Hanh,
cá Nâu, cá Dìa, cá Ong Căn, cá Ong Bầu, cá Ốc, cá Lạc, vv
Tùy theo đặc tính của từng vùng, đặc biệt yếu tố độ mặn và độ sâu, nguồn giống
tự nhiên phong phú, nguồn thức ăn dồi dào, người nuôi có thể cơ cấu lựa chọn đối tượngnuôi phù hợp Các vùng nuôi trong đầm phá độ mặn giao động từ 10 - 30‰ trongkhoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 9, thích hợp với nhiều đối tượng nuôi [18]
Một số vùng nuôi trọng điểm như Hải Dương, Thị Trấn Thuận An, Vinh Hiền,Lộc Bình hiện nay đối tượng cá Chẽm, Hồng Mỹ, cá Vẩu, cá Mú tùy thuộc vào độ mặn,nguồn thức ăn tươi, thị trường, người nuôi quyết định chọn nuôi tập trung một trong cácđối tượng nhiều hơn Cụ thể như:
Xã Hải Dương: nuôi cá Chẽm, Hồng Mỹ; Thị Trấn Thuận An: nuôi cá Mú, cáHồng Mỹ, cá Chẽm; xã Vinh Hiền: nuôi cá Vẩu, cá Mú; xã Lộc Bình nuôi cá Hồng Mỹ,
cá Mú, cá Vẩu; Thị Trấn Lăng Cô nuôi cá Hồng đỏ, cá Mú, cá Vẩu [18]
2.3.3 Về quy cở, chất liệu lồng nuôi.
Kích cở trung bình của các lồng nuôi chủ yếu là 2m x 2m x 1m (chiếm 90%)
Trang 17
hoặc 3m x 2 m x 1m, còn lại một số hộ nuôi đầu tư lồng có kích thước nhỏ hơn (2m x1m x 1m hoặc 1m x 1m x 1m) để ương cá giống hoặc nuôi các đối tượng như cá Nâu,
cá Dìa, cá Căn [18]
Kết cấu lồng nuôi chủ yếu bằng lưới có kích cở mắc lưới 2a = 2 - 3cm, không cókhung lồng; lồng lưới được cột chặt bốn góc vào hệ thống cọc tre hoặc dàn tre Một sốlượng lồng rất nhỏ (2 % tổng số lồng) có hệ thống khung lồng bằng sắt kích cở (1,5m x
1 m x 1m hoặc 1m x 1m x 1m) Các vùng nuôi trọng điểm như Vinh Hiền, Lộc Bình,Thị Trấn Thuận An, Hải Dương có hệ thống dàn tre lắp đặt trên mặt nước để đi lạichăm sóc, bảo quản Riêng tại Thị Trấn Lăng Cô một số hộ nuôi quy mô lớn, có thiết kế
hệ thống phao nổi bằng nhựa lắp ghép thành bè, có khu nhà ở sinh hoạt và chế biến
thức ăn cho cá [18]
Quy cở và chất liệu, thiết kế lồng nuôi khá đơn giản, có thể chịu được sóng gió tốt
và dể di chuyển, san cá và thu hoạch toàn lồng Tuy nhiên, do không có hệ thống khunglồng, vì vậy quá trình di chuyển cá bị ép, dễ xảy ra xây xát và cá hoảng sợ dẫn đến bỏ ăn
2.3.4 Vấn đề sản xuất con giống.
Tổng số giống sản xuất các đối tượng nuôi nước mặn 7 trại giống, chủ yếu sảnxuất và phối giống các đối tượng tôm sú, cua, tôm chân trắng phục vụ nuôi ao hồ chuyêntôm và xen ghép vùng cao triều, hạ triều và vùng nuôi chắn sáo, hiện chưa có công trình,
dự án nào sản xuất giống cá biển trên địa bàn tỉnh Nguồn giống người dân đang nuôichủ yếu:
Nhập từ các tỉnh bạn và một số nước xung quanh khu vực: Nguồn giống sinh ảnnhân tạo một số đối tượng như cá Chẽm, Hồng mỹ, cá Giò, cá Vẩu được mua từ các tỉnh
bạ như Quảng Ninh, Sài Gòn, Hải Phòng và các nước như Trung Quốc, Đài Loan, TháiLan
Các đối tượng cá bản địa thu vớt tại địa phương và các tỉnh lân cận: đây là nguồngiống khá phong phú, quá trình khai thác đánh bắt tự nhiên người dân đã đưa vào nuôithương phẩm một số loài có giá trị kinh tế như cá Hồng đỏ, cá Hanh, cá Ong căn, cáNâu, cá Lạc, cá Dìa, vv Các đối tượng nuôi khá tích ứng tốt với điều kiện nuôi tronglồng và ít bị bệnh, hiệu quả đáng kể do người dân ít đầu tư chi phí con giống và thức ăn,tuy nhiên số lượng giống tùy thuộc vào tự nhiên, vì vậy lượng giống cung cấp không ổnđịnh
Qua theo dõi kết quả nuôi của các hộ, chất lượng cá giống hiện nay một số đốitượng còn chưa đảm bảo, đặc biệt là cá chẽm tốc độ phát triển chậm, dịch bệnh xảy ra
Trang 18
nhiều Tuy nhiên, vấn đề quản lý giống cá của các nơi nhập về vẫn chưa được quản lýchạt chẽ, người dân mua giống mang tính chất còn may rủi nên một số hộ nuôi đã bị thua
lỗ, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lớn
Hiện nay trại giống của Khoa Thủy sản - Trường Đại học Nông lâm Huế đã thửnghiệm sinh sản nhân tạo giống cá Dìa, trong thời gian đến sẽ nghiên cứu cho sinh sảnnhân tạo cá Ong Bầu, cá Vẩu, tuy nhiên chỉ đang còn trong giai đoạn nghiên cứu và sinhsản với số lượng ít, chưa đáp ứng được nhu cầu con giống cho người nuôi trong tỉnh.[18]
2.3.5 Năng suất và sản lượng.
Sản lượng cá lồng nước lợ tăng mạnh trong những năm gần đây, năm 2014 tổngsản lượng nuôi cá lồng nước lợ vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai - Lăng Cô là 685,2tấn, năng suất trung bình 0,3 - 0,5 tấn/ lồng chủ yếu cá Chẽm, cá Hồng mỹ, cá Vẩu, cá
Mú, cở cá thu hoạch trung bình 1 - 2 kg/ con tùy thuộc vào nhu cầu thị trường, thời giannuôi 8 tháng đến hơn một năm Sản lượng cá lồng ước tính 9 tháng đầu năm 2015 đạt
827 tấn, đạt 120% so với năm 2014 Sản lượng và năng suất nuôi cá lồng tăng đáng kểhàng năm Hiện nay, một số hộ nuôi thu hoạch năng suất đạt trung bình 0,5 tấn/ lồngnuôi cá chẽm hoặc hồng mỹ [18]
Bảng 2.4 Năng suất trung bình một số đối tượng nuôi.
(kg/ lồng)
Kích cở (kg/ con)
Thời gian nuôi (tháng)
Trang 19
3.1 Nội dung nghiên cứu.
(1) Đánh giá các yếu tố về điều kiện tự nhiên, môi trường vùng nuôi và tiềmnăng phát triển nuôi cá lồng bè tại thị trấn Thuận An
(2) Đánh giá hiện trạng nghề nuôi cá lồng bè tại thị trấn Thuận An, huyện PhúVang những năm qua
(3) Đánh giá tổ chức quản lý và thể chế chính sách phát triển nghề nuôi cá lồng
bè tại thị trấn Thuận An
(4) Đề xuất một số giải pháp phát triển nuôi cá lồng bè bè tại thị trấn Thuận Antheo hướng hiệu quả và bền vững
3.2 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Các hộ nuôi cá lồng bè trên vùng biển thị trấn Thuận An
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 07/2016 đến tháng 12/2016
- Địa điểm nghiên cứu: Cộng đồng ngư dân 5 thôn gồm: Hải Thành, Minh Hải,
An Hải, Hải Bình và Hải Tiến - thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa ThiênHuế
Hình 3.1 Bản đồ vị trí địa lý các thôn điều tra ở thị trấn Thuận An.
( Nguồn: Internet)
3.3 Phương pháp nghiên cứu.
Trang 20
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu.
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập và đánh giá các tài liệu khoa
học, số liệu điều tra cơ bản, báo cáo tổng kết hàng năm của ngành thủy sản, báo cáokết quả thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học liên quan đến nội dung và phạm vinghiên cứu của đề tài đã thực hiện và công bố như:
- Các tài liệu, báo cáo kết quả nghiên cứu về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, khíhậu thời tiết, môi trường đất, môi trường nước, kinh tế xã hội ở thị trấn của các banngành
- Báo cáo kết quả hàng năm về phát triển nuôi cá lồng bè của phòng NN &PTNT, của UBND thị trấn Thuận An
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Trong quá trình điều tra thu thập số liệu
sơ cấp sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân (PRA): phân tích các vấn đề
về các mặt: điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển nuôi cálồng bè tại địa phương Bộ câu hỏi được lập và chuẩn hoá với các thông tin cần thuthập liên quan đến mục đích đề tài như:
+ Thông tin chung về hộ nuôi cá lồng bè: Tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm sản
xuất, lao động tham gia nuôi cá lồng…
+ Thông tin chung về hoạt động nuôi cá lồng bè: Thông tin về đối tượng, thiết kế
và xây dựng lồng nuôi cá biển
+ Một số thông tin về sử dụng con giống, thức ăn và hóa chất khi nuôi: Thông tin
về thức ăn và con gống (kích cỡ, mật độ giống thả, nguồn giống và chất lượng congiống…)
+ Thông tin về quản lý chăm sóc: Quản lý chất lượng nước (kiểm tra về chế độ
thuỷ lý, thuỷ hoá và thuỷ sinh) Bệnh và quản lý bệnh
+ Những thuận lợi, khó khăn thường gặp phải và cách giải quyết: Vấn đề quy
hoạch, vốn, giống, kỹ thuật, thức ăn, thị trường, chính sách, môi trường
- Phương pháp tổ chức thực hiện điều tra:
+ Điều tra thí điểm: Dùng bộ câu hỏi để điều tra thí điểm ngẫu nhiên một số hộ
nuôi cá lồng trong danh sách được cung cấp lấy mẫu đối chiếu với mục tiêu và nội dungnghiên cứu Trên cơ sở đó điều chỉnh bảng hỏi điều tra tiến hành điều tra chính thức + Điều tra chính thức: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp từng hộ bằng bảng hỏi điềutra hoàn chỉnh
3.3.2 Phương pháp chọn mẫu điều tra.
- Chọn số hộ điều tra tương ứng với tổng số hộ nuôi cá lồng tại địa phương điều tra:
Trang 21
+ Thôn Hải Tiến: chọn 7.4 % hộ nuôi cá lồng, số phiếu là 8 phiếu.
+ Thôn Hải Bình: chọn 17.6 % hộ nuôi cá lồng, số phiếu là 6 phiếu
+ Thôn An Hải: Chọn 28 % hộ nuôi cá lồng, số phiếu là 7 phiếu
+ Thôn Minh Hải: Chọn 60% hộ nuôi cá lồng, số phiếu là 3 phiếu
+ Thôn Hải Thành: Chọn 27.2% hộ nuôi cá lồng, số phiếu là 6 phiếu
Tổng số phiếu điều tra là 30 phiếu phân bố ở 5 thôn trên địa bàn thị trấn Thuân An
- Nguyên tắc chọn hộ điều tra:
+ Người có hộ khẩu tại địa phương
+ Nghề nghiệp chính là nuôi cá lồng
+ Có tham gia nuôi cá lồng thường xuyên
+ Nhiệt tình, sẵn sàng chia sẽ kinh nghiệm
3.3.3 Phương pháp tích và xử lý số liệu.
- Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel
- Phân tích thống kê mô tả: các chỉ số trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất, sai số trung bình, độ lệch chuẩn, phần trăm tỷ lệ và các kiểm định mẫu
Trang 22
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
4.1.1 Vị trí địa lý của thị trấn Thuận An.
Hình 4.1 Bản đồ vị trí địa lý thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang.
(Nguồn: Niên giám thị trấn Thuân
An)
Thuận An là thị trấn ven biển thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế,được thành lập vào năm 1999 trên cơ sở sát nhập 2 xã là Thuận An và Phú Tân cũ Thịtrấn nằm cách thành phố Huế 12 km về phía Đông Nam, dọc theo quốc lộ 49A [16]
Vị trí địa lý của thị trấn: Phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp xã Phú Thanh
và xã Phú Dương, phía Nam giáp xã Phú Thuận và xã Phú An, phía Bắc giáp huyệnHương Trà và xã Phú Thanh [16]
Trang 23
Thị trấn gốm có 12 thôn bao gồm Hải Thành, Minh Hải, An Hải, Hải Bình, HảiTiến, Tân Cảng, Tân Lập, Tân Mỹ, Tân Bình, Tân An, Tân Dương và Diên Trường.[14]
4.1.2 Điều kiện khí hậu và đất đai.
4.1.2.1 Địa hình đất đai.
Thuận An là một thị trấn đồng bằng ven biển và đầm phá nằm dọc theo quốc lộ49A với cảng biển Thuận An là vị trí chiến lược và có tiềm năng về kinh tế của tỉnhThừa Thiên Huế Với 902 ha mặt nước đầm phá và đường bờ biển dài, thị trấn có lợithế để phát triển đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản [14]
Thị trấn là vùng đồng bằng thấp trũng, nơi cao nhất từ 1 – 2 m, với độ dốctrung bình nhỏ hơn 5 m Đất đai chủ yếu là đất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.[14]
4.1.2.2 Thời tiết khí hậu.
Thuận An cũng như các xã khác của huyện Phú Vang đều chịu sự chi phối củavùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa ven biển, có 2 mùa mưa nắng rõ rệt
Mùa mưa kéo dài từ tháng 8 năm trước đến tháng 1 năm sau với lượng mưa3.000 mm/ năm Lượng mưa cả năm tập trung từ tháng 9 đến tháng 12 gây úng lụt toàn
bờ, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng và khai thác thủy sản cũng nhưđời sống của người dân
Mùa nắng gió Tây Nam khô nóng oi bức kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8 Lượngbốc hơi cao nhất từ tháng 2 đến tháng 4, lúc nước thủy triều xuống thấp, làm cho độmặn trong các ao hồ nuôi thủy sản tăng lên, gây trở ngại cho ngành NTTS [14]
Thuận An có 2 chế độ thủy triều: bán nhật triều đều và bán nhật triều khôngđều Biên độ thủy triều từ 0,5 – 2 m Độ cao triều trong các vùng đầm phá, vũng vịnhthường nhỏ hơn các vùng biển Nhìn chung chế độ thủy triều ở đây thuận lợi cho nghềNTTS
Lượng bốc hơi bình quân 977 mm, nhiều nhất từ tháng 6 đến tháng 8, thấp nhất
là 36,6 mm vào tháng 2 Độ ẩm trung bình 88%, cao nhất từ tháng 11 đến tháng 1 nămsau với trên 90%, thấp nhất tháng 7, 8 nhỏ hơn 70% [9]
Chế độ gió: Gió mùa Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 8 khô nóng, gió mùa Đông Bắc từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau khiến cho khí hậu lạnh ẩm, gây mưa,
dễ lũ lụt
Trang 24
Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 10 Tốc độ gió lớn có thể đạt từ 15– 20 m/s trong gió mùa Đông Bắc và từ 30 – 40 m/s trong lốc bão [9]
4.2 Đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
LĐ tham gia vào nuôi tôm [13]
Bảng 4.1 Tình hình dân số và lao động của thị trấn qua 2 năm (2008 – 2009).
Chỉ tiêu ĐVT
Số lượng %
Số
1 Tổng số NK Khẩu 20.445 100 20.567 100 122 0,6
2 Tổng số hộ Hộ 3.916 100 4.473 100 577 14,22Trong đó số hộ nuôi tôm Hộ 344 8,78 448 10,02 104 30,23
- LĐ NN LĐ 7.621 82,09 7.733 91,94 112 1,47Trong đó số LĐ nuôi tôm LĐ 688 9,03 896 11,59 208 30,23
- LĐ phi NN LĐ 1.663 17,91 1.704 18,06 41 2,47
4 BQ LĐ/hộ LĐ/ hộ 2,37 - 2,12 - - 0,25 - 10,55
5 BQ NK/hộ Khẩu/ hộ 5,22 - 4,60 - - 0,62 - 11,88
(Nguồn: Báo cáo thống kê hàng năm của UBND thị trấn)
Do thị trấn nằm ven đầm phá nên phần lớn ruộng lúa ở đây đều bị ngập mặndẫn đến năng suất thấp Trái lại nhờ thuận lợi về mặt địa thế, ngành ngư nghiệp pháttriển mạnh và trở thành ngành kinh tế chủ lực đầy tiềm năng của thị trấn Từ nhữngnăm 1990, UBND thị trấn đã xác định: Khai thác và NTTS cùng với dịch vụ du lịch làcác ngành kinh tế chủ lực của thị trấn, trong đó NTTS được xem là ngành kinh tế mũinhọn Từ đó chính quyền nơi đây đã phối hợp với các cơ quan chuyên ngành mở nhiềulớp tập huấn, xây dựng nhiều mô hình nuôi trồng và đưa ra các thí dụ điển hình NTTSgiỏi nhằm kêu gọi, thu hút người dân tham gia vào lĩnh vực này [16]
Trang 25
Số lượng lao động BQ hộ năm 2013 và 2014 không chênh lệch nhiều, trên dưới
2 LĐ/hộ Trong khi đó BQNK hộ năm 2013 là 5,22 còn năm 2014 là 4,60 Năm vừaqua, các cơ quan chức năng trên địa bàn đã thực hiện tốt công tác DS & KHHGĐ, duytrì tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở mức dưới 1% Số lượng nhân khẩu bình quân hộ giảm
sẽ giảm gánh nặng về kinh tế lên đơn vị hộ cũng như gánh nặng về kinh tế xã hội vàmôi trường đối với toàn thể xã hội [9]
4.2.2 Tình hình sử dụng đất của thị trấn.
Đặc điểm đất đai có ảnh hưởng lớn đến việc xác định quy mô, cơ cấu và phân
bố các hoạt động kinh tế Nghiên cứu sự biến động của tình hình sử dụng đất đai giúp
ta biết được tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương Sự thay đổi trong cơcấu sử dụng đất đai của thị trấn Thuận An được thể hiện trong bảng dưới đây:
Bảng 4.2: Tình hình sử dụng đất của thị trấn qua 2 năm (2013 – 2014).
(Nguồn: Báo cáo thống kê hàng năm của UBND Thị trấn, 2014)
Từ năm 2010, UBND thị trấn đã thực hiện quy hoạch sử dụng đất hợp lý theochủ trương chính sách của Đảng Do đó diện tích sử dụng đất về cơ bản không có biếnđộng giữa 2 năm 2013 và 2014 Thị trấn có 1.703 ha diện tích đất tự nhiên, trong đó có429,35 ha đất NN, chiếm 25,21% và đất phi NN là 1.125,21 ha, chiếm 66,07% [14]
Trồng lúa nước vẫn là một trong những ngành nghề sản xuất nông nghiệptruyền thống của địa phương Chính quyền nơi đây vẫn chú ý hỗ trợ người dân pháthuy nghề trông lúa vốn có của mình nhằm đảm bảo cung cấp lương thực cho bản thân
họ và người dân trong vùng Vụ đông xuân năm 2013 - 2014, cán bộ địa phương đã chỉđạo triển khai sản xuất 44,32 ha, tăng 1,78 ha so với năm 2013, năng suất ước đạt55,06 tạ/ha Điều này rất khả quan bởi các phòng ban chức năng đã chú trọng không đểcác hộ dân chuyển hết diện tích sản xuất nông nghiệp của mình sang NTTS, một trongnhững nghề nóng ở nơi đây, nhằm làm giàu một cách nhanh chóng, tránh gây ra hiệntượng phát triển không theo quy hoạch, ảnh hưởng đến môi trường vùng đầm phá [14]
Diện tích NTTS năm 2013 của thị trấn là 312 ha, đến năm 2014, nhờ sự quy
Trang 26
hoạch của chính quyền địa phương, sắp xếp và thu gọn diện tích nò sáo nhằm lưuthông dòng chảy nên diện tích giảm còn 300 ha Với diện tích nuôi chuyên tôm năm
2014 là 38 ha, chiếm 13,03% tổng diện tích NTTS của toàn thị trấn, giảm 5 ha so với
43 ha nuôi tôm năm 2013 Năm 2014, tình hình nuôi tôm có nhiều diễn biến phức tạp:dịch bệnh xảy ra hàng loạt, một số hồ nuôi đã qua nhiều năm sử dụng không chú ý cảitạo khiến cho môi trường ao nuôi ô nhiễm, nền đáy bị thoái hóa Lại thêm việc ngưngsản xuất một trong ba trại tôm giống của thị trấn khiến lượng tôm cung cấp không đápứng đủ nhu cầu, người dân phải nhập tôm từ các vùng lân cận không qua kiểm dịchkhiến cho sản lượng tôm thu được không cao dẫn đến thua lỗ, một số hộ không đủ khảnăng duy trì diện tích nuôi như cũ [14]
Diện tích đất lâm nghiệp ở địa phương vẫn được chú trọng gìn giữ bởi hầu hếtđất ở đây đều là đất cát, dễ bị sạt lở khi thủy triều lên xuống Năm 2014, UBND thịtrấn đã chỉ đạo tổ chức lễ phát động trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ”, đã trồng được5.000 cây tràm hoa vàng và 0,5 ha rừng phi lao phòng hộ ven biển, góp phần chốngxâm thực biển và bảo vệ môi trường sinh thái Điều này sẽ khiến người dân nơi đâyyên tâm chăm lo sản xuất [14]
Toàn thị trấn hiện nay vẫn còn 73,84 ha đất chưa sử dụng, chủ yếu là đất cát.Chính quyền địa phương nên sử dụng diện tích đất này để xây dựng cở hạ tầng phục
vụ cho phát triển dịch vụ du lịch nơi đây [13]
4.2.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật của thị trấn.
Về hệ thống giao thông:
Thuận An là thị trấn của huyện Phú Vang, cách thành phố Huế 12 km, nằm dọctheo quốc lộ 49A Nơi đây còn có bãi biển Thuận An phục vụ du khách đến tham quan
và du lịch Cảng Thuận An là nơi trung chuyển, trao đổi hàng hóa khắp mọi miền
Hệ thống giao thông trên địa bàn đã được quan tâm đầu tư xây dựng Ngoài ra tại đâycòn có hàng trăm km đường bê tông được tạo ra trên cơ sở “Nhà nước và nhân dâncùng làm” [16]
Năm 2014, tranh thủ nguồn hỗ trợ của huyện 200 triệu đồng cùng với ngân sáchhiện có, thị trấn đã đầu tư nâng cấp mở rộng thêm 3 m tuyến đường bê tông số 1, số 3,đúc thêm 600 tấm đan lát đường đi bộ, phối hợp với các cơ quan ban ngành của huyện
tổ chức tốt “Festival Thuận An biển gọi” thu hút hàng nghìn lượt du khách, thông qua
đó quảng bá về thị trấn nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn [9]
Hiện UBND thị trấn đang tiếp tục đầu tư xây dựng mở rộng mặt bằngchợ Thuận An tạo điều kiện thuận lợi cho bà con buôn bán, bố trí sắp xếp lại
Trang 27
chợ Phú Tân để giao mặt bằng mới Tiếp tục chấn chỉnh hoạt động của Ban quản lýchợ nhằm thúc đẩy hoạt động giao thương mua bán trên địa bàn.
Hệ thống điện lưới quốc gia đã về đến thị trấn Hiện nay 100% các hộ sinh sốngtrên địa bàn đều có điện sinh hoạt và phục vụ sản xuất Tuy nhiên do thị trấn cách xatrung tâm thành phố nên hệ thống trụ điện, đường dây điện chưa được quan tâm nhiều.[13]
Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch hợp vệ sinh đến nay đã đạt 99% Năm 2010, chínhquyền thị trấn phấn đấu nâng tỷ lệ này lên 100% để toàn bộ người dân trên địa bàn đềuđược sử dụng nước sạch nhằm đảm bảo sức khỏe [13]
Về hệ thống thủy lợi:
Thủy lợi là một trong những vấn đề quan trọng trong SXNN và NTTS.Hiểu được điều đó, chính quyền địa phương đã có sự quan tâm chú ý đến vấn đề này:Toàn bộ hệ thống kênh mương thủy lợi trên địa bàn đã được xây dựng kiên cố nhằmduy trì khả năng cung cấp nước kịp thời cho người dân [14]
Về văn hóa xã hội:
Năm 2013 - 2014, thị trấn có 4.233 học sinh, trong đó trung học cơ sở có 1.458học sinh, tiểu học có 73 lớp với 2.130 học sinh, mẫu giáo mầm non có 24 lớp với 645cháu Kết quả xét tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 93,6%, tiểu học đạt 100% Duy trì phổcập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở [13]
Toàn thị trấn đã có 100% làng, thôn đăng ký văn hóa, 7/7 làng đạt chuẩn vănhóa, 3.258 hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa với tỷ lệ 92,92% [13]
4.3 Tình hình nghề nuôi cá lồng bè tại thị trấn Thuân An.
4.3.1 Diễn biến phát triển nuôi cá lồng bè giai doạn 2010-2015.
Giai đoạn qua thời thiết khí hậu khá thuận lợi tạo điều kiện cho cây trồng vật nuôi sinh trưởng và phát triển, cây lúa được mùa cả 2 vụ năng xuất bình quân đạt 64 tạ/ha (2015); sản lượng thóc có hạt đạt 364.7 tấn (2015) tuy nhiên đối với lĩnh NTTS
do khí hậu biến đổi khá phức tạp, đặc biệt một số thời điểm nắng nóng, một số vùng
do môi trường nước vùng đầm phá bị ngọt hóa kéo dài, làm ảnh hưởng không nhỏ đếnhiệu quả NTTS làm tôm cá chết hàng loạt Những năm qua thực hiện theo chủ trương của tỉnh và huyện nên đa số người dân đã chuyển đổi sang nuôi xen ghép nhiều đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao, dịch bệnh ít xảy ra [15]
Về nuôi cá lồng: được sự hổ trợ quan tâm tạo điều kiện của Chi cục nuôi, Chi cục thú y tỉnh tập huấn kỹ thuật cho ngư dân nuôi trồng có hiệu quả, nên nhiều ngư
Trang 28
dân đã đầu tư phát triển tập trung ở các vung như: Hải Tiến, Hải Bình, An Hải, Minh Hải, Hải Thành đã thả nuôi được 600 lồng với tổng số hộ nuôi 194 hộ ( trong đó: Hải Thành 22 hộ, Minh Hải 5 hộ, An Hải 25 hộ, Hải Bình 34 hộ, Hải Tiến 108 hộ ) Giống thả chủ yếu là các loại có giá trị kinh tế cao như: Cá Mú, Cá Hồng, Cá Dìa, Cá Nâu, Cá Chẽm, Cá Hanh tổng sản lượng trong khai thác sông đầm 595 tấn đạt 101%
(Nguồn: Báo cáo phòng NN&PTNT huyện Phú Vang năm 2015)
4.3.2 Tình hình các đối tượng nuôi cá lồng biển tại thị trấn Thuận An.
Các đối tượng biển nuôi chính và có giá trị kinh tế nuôi tại thị trấn Thuận An,
gồm: Cá Chẽm (Lates calcarifer Bloch 1790), Cá Hồng (Lutjanus campechanus Cuvier 1828), Cá Mú (Epinephelinae spp), Cá Vẫu (Caranx ignobilis Forsskal 1775), Cá Hanh (Tinca tinca Linnaeus 1758), Cá Nâu (Scatophangus argus Linnaeus 1766), Cá Dìa (Siganus Forsskal 1775), Cá Giò (Rachycentron canadum.
Linnaeus 1766)
Qua kết quả điều tra 30 hộ nuôi cá lồng tại thị trấn Thuân An cho thấy: các loài
cá Chẽm nuôi chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 22.7%, cá Hồng nuôi chiếm 16.4%, cá Múnuôi chiếm 17.3%, , cá Vẩu chiếm 14.6%,…
Biểu đồ 4.1 Các loài cá được nuôi ở thị trấn Thuận An.
Trang 29
( Nguồn: Kết quả điều tra.)
4.3.3 Tình hình nguồn nhân lực kỹ thuật nuôi cá lồng bè.
Tổng số lao động tham gia nuôi cá lồng biển trên thị trấn hiện nay có trên
450 lao động, trong đó đa số lao động này không có chứng chỉ chuyên môn và còn thiếu kỹ thuật trong quản lý [15]
Số nhân khẩu tham gia NTTS
Bảng 4.4 Số lao động tham gia NTTS
Tổng số nhân khẩu
Số nhân khẩu tham gia NTTS
Số nhân khẩu không tham gia NTTS
( Kết quả điều tra)
Qua điều tra cho thấy số nhân khẩu trong mỗi gia đình tham gia vào hoạt động nuôi cá lồng là khá cao, bình quân có khoảng gần 69.3% số nhân khẩu trong mỗi gia đình tham gia vào quá trình nuôi Điều này chứng tỏ nuôi cá lồng là một ngành nghề quan trọng đem lại nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình
Theo kết quả điều tra 30 hộ nuôi cá lồng bè tại thị trấn cho thấy, 100% số laođộng không có bằng cấp, hầu hết các hộ cũng ít được tập huấn về về kỹ thuật nuôi cálồng biển, trung bình: số hộ được tập huấn về kỹ thuật chiếm 0%, số hộ không đượctập huấn chiếm 100%; hộ gia đình có kinh nghiệm nuôi cá lồng từ 10 năm trở lên
Trang 30
chiếm 16.7%, số hộ có kinh nghiệm nuôi cá lồng dưới 5 năm chiếm 23.3%, số hộ cókinh nghiệm nuôi cá lồng từ 5 – 10 năm chiếm cao nhất, bình bình chiếm 60%.Trìng độ về kỹ thuật và kinh nghiệm của các hộ nuôi của các hộ nuôi cá lồng
cụ thể như sau:
Bảng 4.5: Trình độ lao động trong nuôi cá lồng.
chuyên nghành NTTS (%)
Tập huấn về kỹ thuật nuôi (%)
Kinh nghiệm nuôi (%)
Có Không Có Không >10
năm
5-10năm
<5năm
(Nguồn: Kết quả điều tra)
Lao động trong nuôi cá lồng có trình độ học vấn thấp: qua điều tra 30 hộ nuôi
cá lồng cho thấy, số lao động các hộ được hỏi có có trình độ văn hoá cấp 1 trungbình chiếm 70%, lao động có trình độ cấp 2 chiếm 23.3%, có trình độ cấp 3 chiếm6.7%, nên việc nhận thức áp dụng khoa học kỹ thuật của người dân còn thấp, chưatuân thủ chặt chẽ các quy trình kỹ thuật nuôi nên trong quá trình sản xuất còn gặpnhiều khó khăn, lúng túng khi có sự cố về môi trường và dịch bệnh xảy ra
Bảng 4.6 Trình độ học vấn của lao động tham gia nuôi cá lồng.
(Nguồn: Kết quả điều tra)
Qua kết quả điều tra cho thấy lao động tham gia nuôi cá lồng có trình độ học vấnthấp và không có bằng cấp về chuyên ngành nuôi thủy sản và phần lớn các lao độngnuôi cá lồng hiện nay chưa được tập huấn về nuôi trồng hải sản, đồng thời trình độnhận thức của người dân còn thấp nên việc áp dụng các kiến thức đã học được củangười dân vào thực tế và khả năng ứng dựng tiến bộ khoa học công nghệ vào nuôi cálồng bè còn hạn chế; việc áp dụng kỹ thuật nuôi lồng hiện nay của người dân chủ yếudựa vào kinh nghiệm thực tế
Trang 31
4.3.4 Tình hình về hệ thống lồng bè nuôi cá biển.
Qua kết quả điều tra, khảo sát các hộ nuôi cá lồng cho thấy, người dân đang sử
dụng hệ thống lồng nổi: Lồng nuôi cá thương phẩm có kích cỡ: từ 1.5x1.8x1m đến
2x2x1m Kiểu lồng có kích cở 1.8x1.8x1 chiếm 23.3% số hộ được điều tra, kiểulồng có kích cỡ: 2x2x1m chiếm 66.7% số hộ được điều tra
Biểu đồ 4.2 Phân cở lồng cá thương phẩm.
(Nguồn: Kết quả điều tra)
Khung lồng được làm bằng sắt hàn chặn vào nhau theo hình hộp, bao bọc xungquanh bởi lưới cướt mệng lồng được buộc chặt vào khung gỗ và tre được giữ nổitrên mặt nước nhờ hệ thống các trụ bê tông, gỗ cắm xuống nền đáy, có các thanh gỗtre để cho người đi lại đáy lồng đặt cách đáy là 1m khi mức thủy triều thấp nhất.Cấu trúc của lồng : Vật liệu làm khung lồng là sắt cỡ 34 mỗi cây dài từ 1.5 đến2m tùy vào điều kiện nuôi Bào bọc xung quang là lưới cướt với kích thước mắt lưới(2a) 1.5cm
Hình 4.2: Cấu trúc lồng bè nuôi cá thương phẩm.