Những quy định về biện pháp bảo đảm đầu tư theo pháp luật hiện hành được các nhà đầu tư đánh giá về cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như các cam kết quốc tế về đầu tư của Việt Na
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TIỂU LUẬN
MÔN: LUẬT ĐẦU TƯ
Đề bài 10: Phân tích đặc điểm các biện pháp bảo đảm đầu tư theo pháp luật hiện hành và cho ví dụ về việc thực hiện các biện pháp bảo
đảm đầu tư ở Việt Nam
HÀ NỘI – 2020
Trang 2MỤC LỤC
Trang bìa Số trang
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Những vấn đề chung về các biện pháp bảo đảm đầu tư 1
1 Khái niệm các biện pháp bảo đảm đầu tư 1
1.1 Khái niệm 1
1.2 Cơ sở pháp lý để áp dụng các biện pháp bảo đảm đầu tư ở Việt Nam 1
2 Sự cần thiết phải ban hành các biện pháp bảo đảm đầu tư 2
2.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp bảo đảm đầu tư và môi trường đầu tư 2
2.2 Vai trò của các biện pháp bảo đảm đầu tư 2
II Đặc điểm các biện pháp bảo đảm đầu tư theo pháp luật hiện hành 3
1 Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm đầu tư theo Luật Đầu tư 2020 3
1.1 Biện pháp bảo đảm về quyền sở hữu tài sản 3
1.2 Bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh 5
1.3 Bảo đảm quyền chuyển tài sản của nhà đầu tư nước ngoài ra nước ngoài 5
1.4 Bảo đảm đầu tư kinh doanh trong trường hợp thay đổi pháp luật 6
1.5 Bảo đảm giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh 6
2 Điểm mới của quy định về biện pháp bảo đảm đầu tư Luật Đầu tư 2020 so với Luật Đầu tư 2014 7
III Ví dụ về việc thực hiện các biện pháp bảo đảm đầu tư ở Việt Nam 7
KẾT LUẬN 10 DANH MỤC THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 31
MỞ ĐẦU
Một trong những nỗ lực của các quốc gia đang phát triển nhằm giải bài toán phức tạp về nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư trong cũng như ngoài nước chính là công việc thiết kế nên những quy định pháp luật có tính chất hấp dẫn đầu tư Trong đó phải
kể đến sự góp mặt của các quy định về bảo đảm đầu tư với vai trò như một sự thể hiện
rõ nét nhất thiện ý của nhà nước tiếp nhận đầu tư đối với các chủ đầu tư và dự án đầu tư của họ Những quy định về biện pháp bảo đảm đầu tư theo pháp luật hiện hành được các nhà đầu tư đánh giá về cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như các cam kết
quốc tế về đầu tư của Việt Nam Chính vì vậy, em xin lựa chọn đề bài tập số 10: “Phân
tích đặc điểm các biện pháp bảo đảm đầu tư theo pháp luật hiện hành và cho ví dụ
về việc thực hiện các biện pháp bảo đảm đầu tư ở Việt Nam” làm bài tập học kỳ để
nghiên cứu và tìm hiểu Theo như sự chỉ dẫn của bộ môn, trong quá trình nghiên cứu học tập dựa trên Luật Đầu tư năm 2020, vì vậy phần bài tập của em sẽ được phân tích, tìm hiểu dựa trên văn bản Luật Đầu tư năm 2020
NỘI DUNG
I Những vấn đề chung về các biện pháp bảo đảm đầu tư
1 Khái niệm các biện pháp bảo đảm đầu tư
1.1 Khái niệm
Từ điển giải thích Luật học định nghĩa: “Bảo đảm đầu tư là những cam kết của Nhà
nước nhằm tạo ra sự an toàn về mặt pháp lý đối với tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các
Theo tinh thần của pháp luật về đầu tư ở Việt Nam, các biện pháp bảo đảm đầu tư được
hiểu cụ thể là các cam kết của Nhà nước Việt Nam về việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp
các biện pháp được thể hiện trong các quy định của pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các nhà đầu tư trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư với mục đích kinh doanh Các quy định pháp luật về đầu tư đặc biệt là các quy định về bảo đảm đầu tư là sự thể hiện của quốc gia tiếp nhận đầu tư đối với các chủ đầu tư và dự án đầu tư của họ
1.2 Cơ sở pháp lý để áp dụng các biện pháp bảo đảm đầu tư ở Việt Nam
Với vai trò là một trong những biện pháp nhằm thể hiện sự cố gắng trong hành trình thu hút vốn đầu tư của nhà nước, các quy định cụ thể về các biện pháp bảo đảm đầu tư
từ lâu đã xuất hiện trong các văn bản pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Có thể tìm thấy những quy định về bảo đảm đầu tư trong các bản Hiến pháp qua các thời kỳ trước của đất nước Bản Hiến pháp hiện hành của Việt Nam cũng ghi nhận và cam kết bảo đảm một số quyền lợi chính đáng và hợp pháp của nhà đầu tư Bên
1 Trường Đại học Luật Hà Nội (2000), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 17;
2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật Đầu tư, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 71
Trang 42
cạnh đó, luật và các văn bản dưới luật cũng kế thừa và phát huy tinh thần của Hiến pháp
về bảo đảm đầu tư Luật Đầu tư năm 2020 là minh chứng rõ nét nhất cho việc kế thừa, tạo ra sự ổn định, đồng bộ, nhất quán trong các quy định về bảo đảm đầu tư ở Việt Nam Ngoài ra, trong các văn bản pháp luật khác của Việt Nam tồn tại một số văn bản không trực tiếp điều chỉnh quan hệ đầu tư nhưng lại chứa đựng các quy định mang tinh thần của các biện pháp bảo đảm đầu tư (chẳng hạn như Bộ luật Dân sự 2015) Hơn nữa, biện pháp bảo đảm đầu tư cũng là một trong những nội dung quan trọng của các thỏa thuận quốc tế song phương và đa phương liên quan đến đầu tư Chính vì vậy, các điều ước quốc tế là một trong những căn cứ không thể thiếu xác định cơ sở pháp lý để áp dụng các biện pháp bảo đảm đầu tư ở Việt Nam
2 Sự cần thiết phải ban hành các biện pháp bảo đảm đầu tư
2.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp bảo đảm đầu tư và môi trường đầu tư
Các biện pháp bảo đảm đầu tư và môi trường đầu tư có mối quan hệ chặt chẽ và biện
chứng với nhau Thứ nhất, các biện pháp bảo đảm đầu tư góp phần không nhỏ tạo ra
một môi trường đầu tư bình ổn Đối với hầu hết các quốc gia, khi xây dựng hệ thống các biện pháp bảo đảm đầu tư, các nhà làm luật đều tập trung vào tiêu chí: đơn giản, minh bạch trong các quy định và cách thức áp dụng chúng trong thực tế; tính công bằng trong tương quan so sánh giữa các nhà đầu tư với nhau; tính hiệu quả đối với việc giảm bớt chi phí và thời gian cho các nhà đầu tư Các biện pháp bảo đảm đầu tư được ban hành ở Việt Nam đã thể hiện được các sắc thái đa dạng trong các tiêu chí nói trên Vì vậy, có thể khẳng định rằng sự xuất hiện của các biện pháp bảo đảm đầu tư trong pháp luật đầu
tư là sự đóng góp quan trọng trong việc tạo nên môi trường đầu tư bình ổn Thứ hai,
việc cải tạo các biện pháp bảo đảm đầu tư đồng nghĩa với việc cải tạo môi trường đầu
tư Sự tồn tại của những quy định về bảo đảm đầu tư cũng đã chứng tỏ những nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong việc hoàn thiện hệ thống các biện pháp bảo đảm đầu tư đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc tạo lập niềm tin đối với môi trường đầu tư ở Việt Nam của các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước Môi trường đầu tư là sự tổng hợp của rất nhiều yếu tố: điều kiện tự nhiên, điều kiện nguồn nhân lực; điều kiện về mức độ phát triển kinh tế - xã hội; điều kiện liên quan đến sự thông thoáng, thuận lợi của pháp luật
2.2 Vai trò của các biện pháp bảo đảm đầu tư
Bảo đảm đầu tư là một nội dung quan trọng mang tính chất đãi ngộ tối hậu quốc được quy định trong Luật Đầu tư năm 2020, là mối quan tâm hàng đầu của nhà đầu tư Các biện pháp bảo đảm đầu tư đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thu hút đầu
tư của nước ta Thứ nhất, biện pháp bảo đảm đầu tư góp phần tăng thu hút vốn đầu
tư cả trong và ngoài nước Nhìn nhận các biện pháp bảo đảm đầu tư trong tương quan
so sánh với môi trường đầu tư, ta có thể nhận thấy rằng, hệ thống các biện pháp bảo đảm đầu tư tốt chính là một trong những yếu tố giúp nhà nước có một môi trường đầu tư tốt, bình ổn Một môi trường đầu tư được đánh giá tốt là khi nó có khả năng thu hút vốn đầu
Trang 53
tư mạnh mẽ và ngày càng tăng Vì thế vai trò của các biện pháp bảo đảm đầu tư sẽ được phát huy khi chúng góp phần làm tăng sức hút các nguồn vốn của môi trường đầu tư
Sự ổn định trong các quy định về biện pháp bảo đảm đầu tư sẽ giúp phần nào các nhà
đầu tư yên tâm tiến hành hoạt động đầu tư Thứ hai, các biện pháp bảo đảm đầu tư là
công cụ thể hiện sắc nét nhất thái độ của Nhà nước đối với các nhà đầu tư và dự án của họ Sự xuất hiện của các biện pháp bảo đảm đầu tư đã là một sự thể hiện chắc chắn
không thể phủ nhận được về thái độ của nhà nước tiếp nhận đầu tư đối với các nhà đầu
tư Khi các biện pháp bảo đảm đầu tư được ban hành đã thể hiện thái độ đầy thiện chí cũng như nỗ lực của nhà nước trong việc mời gọi các nhà đầu tư vào và tìm kiếm lợi
nhuận Những quy định này sẽ tạo được niềm tin cũng như cho các nhà đầu tư cảm giác
an toàn khi đầu tư vì có nhiều khía cạnh đầu tư sẽ được “đảm bảo một cách chắc chắn” thông qua các biện pháp bảo đảm đầu tư khiến cho hoạt động đầu tư trở nên thông
Thứ ba, các biện pháp bảo đảm đầu tư thể hiện được tính nhất quán giữa pháp luật đầu tư và pháp luật chuyên nghành khách Để các biện pháp bảo đảm đầu tư có thể
thực thi trên thực tế nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi cho các nhà đầu tư thì các quy phạm pháp luật của ngành luật có liên quan khác cũng phải nhất quán với các biện pháp bảo đảm đầu tư đó Những biện pháp bảo đảm đầu tư là sợi dây nối liền các quy phạm pháp luật với nhau trong một nỗ lực nhằm tạo điều kiện cho các biện pháp bảo đảm đầu tư được thực hiện trên thực tế Như vậy, có thể thấy các biện pháp bảo đảm đầu tư có tầm
quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động thu hút đầu tư Vì vậy, Việt Nam cũng
như mỗi quốc gia trên thế giới cần chú trọng đến việc ban hành cũng như hoàn thiện
II Đặc điểm các biện pháp bảo đảm đầu tư theo pháp luật hiện hành
1 Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm đầu tư theo Luật Đầu tư 2020
Các biện pháp bảo đảm đầu tư trong Luật Đầu tư 2020 về cơ bản kế thừa những giá trị tinh thần trong các quy định cũ nhưng vẫn có những đặc điểm cụ thể, phù hợp với sự thay đổi trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng như hiện nay
1.1 Biện pháp bảo đảm về quyền sở hữu tài sản
Đầu tư được hiểu là đưa khối tài sản nhất định để thực hiện công việc nhất định, vì vậy một trong những vấn đề mà nhà đầu tư quan tâm nhất khi tiến hành đầu tư chính là quyền sở hữu khối tài sản đã đưa vào đầu tư có luôn thuộc về mình hay không (trừ các trường hợp rủi ro trong kinh doanh chủ đầu tư phải dùng hết tài sản để trả nợ)? Nếu như câu hỏi này không được trả lời một các chính đáng, các nhà đầu tư sẽ không lựa chọn tiến hành đầu tư để có thể bảo toàn quyền sở hữu của mình đối với khối tài sản đó
1 Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, PGS.TS Dương Đăng Huệ hướng dẫn (2017), “Các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư
theo Luật Đầu tư năm 2014”, Luận văn thạc sỹ luật học: trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 20
2 Trần Anh Tuấn (2014), “Vai trò của Bộ Tư pháp trong việc giải quyết tranh chấp giữa Chính phủ Việt Nam và nhà đầu
tư nước ngoài”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp (02), tr 8-9;
Trang 64
Quyền sở hữu tài sản là chế định đã được quy định tại khoản 1 Điều 32 Hiến pháp năm
2013: “Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư
liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ
1 Điều 10 Luật Đầu tư 2020: “Tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa
hoặc bị tịch thu bằng biện pháp hành chính” Trong lý luận của pháp luật đầu tư quốc
tế, quốc hữu hóa tài sản là một trong những cách tước đoạt quyền sở hữu mà nhà nước
áp dụng nhằm chấm dứt quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong ngành công
nghiệp cụ thể Đối tượng quốc hữu hóa thường sẽ là tất cả các nhà đầu tư nước ngoài
hành việc quốc hữu hóa mà không bồi thường hoặc thực hiện không đáp ứng các điều kiện, hành động quốc hữu hóa lúc đó được hiểu là tịch thu hoặc sung công Quốc hữu hóa tạo ra nhiều lo lắng, bất an cho các nhà đầu tư đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài Vì vậy, quy định tại khoản 1 Điều 10 cho thấy khi tiến hành đầu tư tại Việt Nam, tài sản hợp pháp của nhà đầu tư sẽ không bị quốc hữu hóa (chuyển từ tài sản sở hữu tư nhân sang tài sản sở hữu Nhà nước) hay bị tịch thu bằng các biện pháp hành chính Quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư được pháp luật bảo vệ Đó là lời cam kết của Nhà nước Việt Nam với các nhà đầu tư nước ngoài Từ đó, tạo lập được lòng tin, sự yên tâm của các
nhà đầu tư khi đầu tư tại Việt Nam Thứ hai, tại khoản 2 Điều 10 Luật Đầu tư 2020:
“Trường hợp Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản vì lý do quốc phòng, an ninh
hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai thì nhà đầu tư được thanh toán, bồi thường theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản
và quy định khác của pháp luật có liên quan” Trưng mua tài sản là việc Nhà nước mua tài sản của tổ chức (không bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn
vị vũ trang nhân dân), cá nhân, hộ gia đình thông qua quyết định hành chính trong
dụng tài sản là việc Nhà nước sử dụng có thời hạn tài sản của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thông qua quyết định hành chính trong trường hợp thật cần
10 Luật Đầu tư 2020 hoàn toàn phù hợp với các cam kết của Việt Nam về khuyến khích
và bảo hộ đầu tư Đó là cam kết của chính phủ Việt Nam về việc thanh toán, bồi thường theo đúng quy định trong Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản 2008 Nhìn chung, có thể thấy, quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư được đảm bảo theo Luật Đầu tư 2020 Biện pháp bảo đảm đầu tư này được áp dụng đối với tất cả các nhà đầu tư có hoạt động đầu
1 Khoản 4 Điều 5 Luật Đầu tư 2020
2 Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2003), Giáo trình Kinh tế đầu tư, Nxb Thống Kê, Hà Nội, tr 84
3 Khoản 1 Điều 2 Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008
4 Khoản 2 Điều 2 Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008
Trang 75
tư theo pháp luật của Việt Nam, không phân biệt mức độ bảo hộ nhiều hay ít dựa trên bất kỳ một tiêu chí nào Biện pháp này bắt đầu có hiệu lực kể từ khi các nhà đầu tư bắt đầu triển khai dự án mà không cần thông qua bất cứ thủ tục hành chính nào
1.2 Bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh
Bên cạnh bảo đảm quyền sở hữu tài sản, Nhà nước còn bảo đảm hoạt động đầu tư
kinh doanh cho nhà đầu tư Thứ nhất, nhà nước bảo đảm quyền tự do kinh doanh: “Nhà
đầu tư có quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề mà Luật này không cấm Đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì nhà đầu tư phải
đầu tư không bắt buộc nhà đầu tư phải thực hiện những yêu cầu tại khoản 1 Điều 11 Luật Đầu tư 20202 Quy định trên giúp nhà đầu tự do lựa chọn sử dụng dịch vụ hàng hóa cung ứng từ nước ngoài, không bắt buộc nhà đầu tư ưu tiên mua hay sử dụng hàng hóa, dịch vụ từ các nhà sản xuất trong nước Việc xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ không bị
buộc phải đạt tỷ lệ nhất định Thứ hai, nhà nước bảo đảm đối xử bình đẳng giữa các
nhà đầu tư kinh doanh: “Nhà nước đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư; có chính sách
khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư kinh
Các nhà đầu tư trong và ngoài nước khi tiến hành đầu tư tại Việt Nam đều được đối xử một cách bình đẳng: cùng được hưởng và thực hiện các quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với Nhà nước trong cùng hoàn cảnh, điều kiện, không có sự phân biệt bởi bất cứ lý
do nào Về cơ bản, pháp luật Việt Nam đã hoàn thiện theo hướng nhất thể hóa, tạo ra khung pháp lý thống nhất cho cả đầu tưu trong nước và ngoài nước nhằm tạo ra một môi trường, sân chơi bình đẳng, tự do cho nhà đầu tư
1.3 Bảo đảm quyền chuyển tài sản của nhà đầu tư nước ngoài ra nước ngoài
Khi hoạt động đầu tư đem lại lợi nhuận, nhà đầu tư có nhu cầu chuyển tài sản của mình ra khỏi nước tiếp nhận vốn đầu tư Đây là một nhu cầu tất yếu nhằm đảm bảo cho việc chu chuyển vốn vì mục đích tái đầu tư hay mục đích khác của nhà đầu tư nước
ngoài Điều 12 Luật Đầu tư 2020 quy định: “Sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính
đối với Nhà nước Việt Nam theo quy định của pháp luật, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các tài sản sau đây: vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư; thu nhập từ hoạt động đầu tư kinh doanh; tiền và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư” Biện pháp bảo đảm đầu tư này đã góp phần không nhỏ trong việc làm minh
bạch hóa chính sách, hoàn thiện môi trường đầu tư Khi tài sản, lợi nhuận mà đầu tư được thu được từ hoạt động được đảm bảo quyền sở hữu, được tự do dịch chuyển về nước sở tại sẽ làm cho các nhà đầu tư yên tâm hơn trong việc đầu tư vào quốc gia đó
Từ đó, tạo điều kiện phát triển kinh tế cho nước tiếp nhận đầu tư Tuy nhiên, biện pháp
1 Khoản 1 Điều 5 Luật Đầu tư 2020
2 Xem phụ lục 01
3 Khoản 5 Điều 5 Luật Đầu tư 2020
Trang 86
bảo đảm này cần phải được quy định chặt chẽ nếu không thắt chặt thì biện pháp này rất
dễ bị lạm dụng để chuyển những khoản tiền không hợp pháp ra nước ngoài, vượt khỏi
sự quản lý của cơ quan nhà nước dưới hình thức lợi nhuận đầu tư
1.4 Bảo đảm đầu tư kinh doanh trong trường hợp thay đổi pháp luật
Chính sách pháp luật của một quốc gia không phải là hiện tượng bất biến Căn cứ vào sự chuyển biến của các quan hệ kinh tế xã hội, nhà nước sẽ sửa đổi hoặc thay thế các chính sách pháp luật cũ để phù hợp với yêu cầu mới của thực tiễn Thêm vào đó, quá trình thực hiện một dự án đầu tư kéo dài hàng chục năm (thời hạn hoạt động của dự
án đầu tư có thể lên tới 70 năm) nên việc nhà đầu tư đối diện với sự thay đổi pháp luật
là điều không tránh khỏi Sự thay đổi của pháp luật tác động lớn tới hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư, trong nhiều trường hợp làm mất đi sự ổn định, gây khó khăn cho hoạt động đầu tư kinh doanh Do vậy, Nhà nước cam kết bảo đảm đầu tư kinh doanh trong trường hợp thay đổi pháp luật, cụ thể tại Điều 13 Luật Đầu tư 20201 Bảo đảm đầu
tư kinh doanh trong trường hợp thay đổi pháp luật là biện pháp nhằm đảm bảo cho các chính sách ưu đãi cho nhà đầu tư ít bị biến động khi có sự thay đổi pháp luật Đây là một chế định thể hiện sự mềm mỏng và ưu đãi của Việt Nam đối với các nhà đầu tư Có thể thấy trong mọi trường hợp thay đổi chính sách pháp luật thì quyền lợi của các nhà đầu tư đều được đảm bảo Điều này thể hiện rõ thiện chí và mong muốn của Nhà nước Việt Nam đối với việc khuyến khích và thu hút vốn đầu tư
1.5 Bảo đảm giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh
Tại Điều 14 Luật Đầu tư 2020 quy định các phương thức giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư bao gồm: thương lượng, hòa giải, Trọng tài hoặc Tòa án2 Tùy phạm
vi và các chủ thể có liên quan mà áp dụng phương thức giải quyết phù hợp Thương lượng là phương thức được các bên lựa chọn trước tiên và trong thực tế, phần lớn các tranh chấp kinh doanh, thương mại đều được giải quyết theo phương thức này Nhà nước khuyến khích áp dụng phương thức tự thương lượng để giải quyết tranh chấp trên tinh thần hoàn toàn tôn trọng thỏa thuận các bên Hòa giải là việc các bên tiến hành thương lượng giải quyết với sự hỗ trợ của bên thứ ba là hòa giải viên Kết quả hòa giải phụ thuộc vào thiện chí của các bên tranh chấp và uy tín, kinh nghiệm, kỹ năng của trung gian hòa giải Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của Hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết mâu thuẫn tranh chấp Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài không công khai giúp doanh nghiệp giữ bí mật các thông tin tranh chấp có thể gây ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Luật Trọng tài thương mại 2010 thể hiện cam kết của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động đầu tư thương mại một cách nhanh chóng đáp ứng nhu cầu hội nhập hiện nay Tòa án là cơ quan giải quyết
1 Xem phụ lục 02
2 Xem phụ lục 03
Trang 97
tranh chấp của Nhà nước, phán quyết của Tòa án có tính cưỡng chế cao Nếu không chấp hành sẽ bị cưỡng chế, do đó khi đưa ra tòa, quyền lợi của người thắng kiện sẽ được bảo đảm một cách tối đa nhất Việt Nam ghi nhận biện pháp bảo đảm này như một nguyên tắc cơ bản và hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư ngay cả khi trong quá trình hoạt động kinh doanh gặp những sự cố khách quan hay chủ quan, đã lường trước hay không lường trước được
2 Điểm mới của quy định về biện pháp bảo đảm đầu tư Luật Đầu tư 2020 so với Luật Đầu tư 2014
Nếu trong Luật Đầu tư 2014 tại khoản 1 Điều 12 có quy định về biện pháp bảo đảm
bảo lãnh của Chính phủ đối với một số dự án quan trọng : “Thủ tướng Chính phủ quyết
định bảo lãnh nghĩa vụ thực hiện hợp đồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc doanh nghiệp nhà nước tham gia thực hiện dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và những dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng quan trọng khác” thì đến Luật Đầu tư năm 2020 vừa mới được ban
hành, chưa có hiệu lực đã hoàn toàn bỏ biện pháp bảo đảm đầu tư này Biện pháp bảo đảm này lần đầu tiên được ghi nhận tại Luật Đầu tư năm 2014 nhưng đến Luật Đầu tư
2020 thì đã bị bãi bỏ Các chương trình dự án được Chính phủ xem xét, cấp bảo lãnh thường là các chương trình dự án đầu tư có tầm quan trọng trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng đất nước Việc bãi bỏ biện pháp bảo đảm này là hoàn toàn hợp lý Nền kinh tế của Việt Nam hiện nay là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng thực chất thế giới vẫn chưa công nhận chúng ta có nền kinh tế thị trường Hơn nữa, bản thân nhiều nhà đầu tư nước ngoài vẫn còn rất e ngại, có tâm lý lo lắng khi phải làm việc tiếp xúc nhiều với cơ quan nhà nước Bởi khi phải tiếp xúc, làm việc với cơ quan nhà nước phải thông quan rất nhiều thủ tục hành chính gây mất nhiều thời gian mà chưa đạt được kết quả như mong đợi Vì thế mà đã vô tình gây ra trở ngại trong quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các dự án đầu tư có tầm quan trọng ảnh hưởng lớn tới sự phát triển kinh tế của đất nước Mặt khác, thực tế pháp luật Việt Nam còn có rất nhiều biện pháp bảo đảm khác hoàn toàn có thể đáp ứng được cân bằng giữa nhu cầu đầu tư của các nhà đầu tư cũng như lợi ích của đất nước Các dự án quan trọng, ngành nghề đầu tư có ảnh hưởng tới đất nước trước khi đầu tư cũng đã được quy định những điều kiện, trình tự, thủ tục chặt chẽ tại Điều 7 và Điều 9 Luật Đầu tư năm
2020 Bỏ vai trò bảo lãnh của Chính phủ, không còn cơ chế một thị trường sẽ tạo ra một môi trường đầu tư bình đẳng, không có sự phân biệt giữa đầu tư trong nước và ngoài nước; kích thích, đẩy mạnh nguồn vốn đầu tư vào môi trường trong nước hơn nữa
III Ví dụ về việc thực hiện các biện pháp bảo đảm đầu tư ở Việt Nam
Có thể thấy, các quy định về biện pháp bảo đảm đầu tư trong Luật Đầu tư 2020 về
cơ bản là được kế thừa trên tinh thần của Luật Đầu tư 2014 Do Luật Đầu tư 2020 tính đến thời điểm hiện tại chưa có hiệu lực pháp luật nên trong phần ví dụ dưới đây em xin
Trang 108
phép được sử dụng Luật Đầu tư 2014 kết hợp với Luật Đầu tư 2020 để phân tích Thứ
nhất, đối với biện pháp bảo đảm quyền sở hữu tài sản: chẳng hạn trên thực tế đối với
quyền sở hữu của doanh nghiệp, chủ đầu tư đối với đất đai hoàn toàn có thể bị thu hồi hoặc trưng dụng theo quy định tại các Điều 16, 62, 64 và 65, Luật Đất đai năm 2013 với các lý do vì mục đích quốc phòng, an ninh; vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội; vì lợi ích quốc gia, công cộng; Trong các trường hợp bị thu hồi hoặc bị trưng dụng, Nhà nước vẫn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp, chủ đầu tư Cụ thể hơn khi trưng dụng đất của nhà đầu tư sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện dự án đầu tư, gây thiệt hại trực tiếp về mặt bằng, tôn tạo của đất sẽ được thực hiện bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Trưng mua,
trưng dụng tài sản 2008: “Trường hợp tài sản trưng dụng là đất thì việc bồi thường
được thực hiện theo một trong các hình thức sau đây: Tổ chức, cá nhân được giao quản
lý, sử dụng tài sản trưng dụng khôi phục lại mặt bằng và hoàn trả cho người có tài sản trưng dụng; Người có tài sản trưng dụng được bồi thường các khoản chi phí bồi bổ, tôn tạo lại mặt bằng theo giá thị trường tại thời điểm hoàn trả tài sản để tự khôi phục lại” Tuy nhiên, thực tế việc thực hiện còn gặp rất nhiều khó khăn do vướng mắc các
quy định bồi thường, xác định giá trị thiệt hại tài sản Thứ hai, đối với biện pháp bảo
đảm hoạt động đầu tư kinh doanh Hiện nay, nhà nước tạo mọi điều kiện để cho các
nhà đầu tư tham gia hoạt động kinh doanh tại môi trường đầu tư Việt Nam trong môi trường bình đẳng nhất từ việc lựa chọn hình thức đầu tư, lựa chọn ngành nghề đầu tư kinh doanh Một ví dụ tiêu biểu hiện nay là các Ngân hàng thương mại được bảo đảm thực hiện các hoạt động đầu tư: hoạt động góp vốn, mua cổ phần; hoạt động đầu tư kinh doanh chứng khoán và các hoạt động khác như ủy thác đầu tư, kinh doanh vàng, kinh
doanh ngoại hối Chẳng hạn, đối với hoạt động góp vốn, mua cổ phần: thực tiễn cho
thấy hầu hết các Ngân hàng thương mại, đặc biệt trong nhóm có mức vốn lớn đều thành lập các công ti con, công ti liên kết trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nhiều nhất phải kể đến chứng khoán, quản lí quỹ, cho thuê tài chính, ngoài ra còn mở rộng sang hoạt động bảo hiểm, chuyển tiền Cá biệt, một số ngân hàng lớn như Vietcombank có tới 11 công
ti con, công ti liên doanh, liên kết; Viettinbank có tới 07 công ti con, 02 công ti liên doanh, liên kết; BIDV có 04 công ti con, 07 công ti liên doanh, liên kết Đối với hoạt động đầu tư chứng khoán: hoạt động này thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện
theo quy định của cả Luật Đầu tư 2014 và 2020; vì vậy khi tiến hành đầu tư, các Ngân
hàng thương mại cần phải tuân theo những quy định nhất định Pháp luật đặt ra những
quy định giới hạn trong hoạt động trực tiếp đầu tư chứng khoản của ngân hàng như:
vốn sử dụng vào hoạt động đầu tư này, tuy nhiên, xét các quy định hiện hành, quy định
1 Phạm Thị Giang Thu, Nguyễn Thị Thanh Tú, Nguyễn Thị Ngọc Lương (2019), “Hoàn thiện pháp luật về giới hạn đảm
bảo an toàn trong quản lí hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại”, Tạp chí Luật học (9), (77-90), tr 83