1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Báo cáo thị trường gạo NĂM 2020

29 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 5,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đầu vụ mất mùa do thời tiết, cuối vụ lại bị hạn hán khiến sản lượng giảm 2%, song giá gạo xuất khẩu tăng hơn 13% là mức tăng tốt nhất trong lịch sử xuất khẩu gạo của Việt Nam.. Tình hình

Trang 2

HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH

1 Lợi nhuận doanh nghiệp gạo tăng cao

2 Tin tức doanh nghiệp mới nhất

phần 5:

CHÍNH SÁCH

1 Chính sách các nước trên thế giới

2 Chính sách của Việt Nam

3 Công nghệ, giống lúa mới

PHỤ LỤC

MỤC LỤC

đội ngũ thực hiện:

Nội dung:Lê Thị Hoài Xuân

Thiết kế:Alex Chu

04 03

05 06 08

09 10 12 14

19 19

22 24 26

15 18

21

27

Trang 3

tóm tắt năm 2020

Trong năm 2020, dịch COVID-19 đã tác

động tiêu cực đến thương mại hàng

hóa toàn cầu khi các chuỗi cung ứng bị

gián đoạn, các biện pháp cách ly gây

thiếu hụt lao động Tình trạng giao hàng

chậm đã từng bị ảnh hưởng rất nghiêm

trọng tại hai nước xuất khẩu gạo lớn

nhất thế giới là Ấn Độ và Thái Lan

Lần đầu tiên sau ba thập kỷ, Trung

Quốc, nước tiêu thụ gạo lớn nhất thế

giới, đã phải mua gạo Ấn Độ trong

tháng 12 Bangladesh, nhà sản xuất

gạo lớn thứ ba thế giới, cũng phải nhập

khẩu gạo do giá nội địa tăng lên mức kỷ

lục bởi nguồn cung khan hiếm

Số liệu từ các tổ chức thế giới đều cho

thấy sản lượng sản xuất và tiêu thụ gạo

thế giới năm 2020 đều ghi nhận tăng

trưởng Theo FAO, sản lượng sản xuất

gạo thế giới năm 2020 đạt 508,4 triệu

tấn, sản lượng tiêu thụ gạo năm 2020

đạt 510,3 triệu tấn, đều tăng 1,52% so

với năm trước

Tại thị trường Việt Nam, 2020 là một

năm thuận lợi với ngành gạo mặc dù

vẫn chịu ảnh hưởng tiêu cực từ đại dịch

COVID-19 Đầu vụ mất mùa do thời tiết,

cuối vụ lại bị hạn hán khiến sản lượng

giảm 2%, song giá gạo xuất khẩu tăng

hơn 13% là mức tăng tốt nhất trong lịch

sử xuất khẩu gạo của Việt Nam

Tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu gạo

cả năm 2020 đạt 6,15 triệu tấn và 3,07 tỉ

USD, giảm 3,5% về khối lượng nhưng

tăng 9,3% về giá trị so với năm 2019

Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tại thị trường nội địa, dự kiến tháng 1/2021 giá gạo tiếp tục giữ vững ở mức cao do nhu cầu mua đều và đặc biệt là nhu cầu từ kho gạo chợ làm hàng Tết Sau kỳ nghỉ lễ dài, các hợp đồng giao dịch xuất khẩu còn chưa ký kết nhiều

Những diễn biến tích cực về giá gạo, các chính sách ưu đãi mới từ các hiệp định thương mại mới như EVFTA đã tạo cơ hội bứt phá cho các doanh nghiệp gạo Nhiều công ty ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng,

có doanh nghiệp báo lãi gấp hơn 3 lần cùng kỳ năm trước

Trang 4

Phần 1

thị trường gạo thế giới

Trang 5

do giá nội địa tăng lên mức kỷ lục bởi nguồn cung khan hiếm

Điều này cho thấy thị trường gạo trên thế giới vẫn tiếp tục tăng về cả cung và cầu Theo FAO, năm 2020, sản lượng sản xuất gạo thế giới đạt 508,4 triệu tấn, tăng 1,52% so với 2019

Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), sản lượng sản xuất gạo toàn cầu năm 2020 ước khoảng 501,1 triệu tấn, tăng 1,21%

so với năm ngoái Trong khi đó, Hội đồng Ngũ cốc Quốc tế (IGC) ước tính sản xuất gạo toàn cầu năm 2020 đạt 503,4 triệu tấn, tăng 1,31% so với năm 2019.Theo tính toán của FAO, sản lượng tiêu thụ gạo năm 2020 đạt 510,3 triệu tấn, tăng 1,52% so với cùng kỳ 2019 Còn theo IGC ước tính sản lượng tiêu thụ gạo ở mức 500,7 triệu tấn, tăng 0,83%

Đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng

nghiêm trọng đến thương mại hàng hóa

toàn cầu, gây thiếu lao động và thiếu

phương tiện vận tại ở những nước sản

xuất Tình trạng giao hàng chậm đã

diễn ra rất nghiêm trọng tại hai nước

xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới là Ấn

Độ và Thái Lan Tại Ấn Độ, thời gian

chờ tàu chở gạo là 4 tuần do tắc nghẽn

ở cảng vì vậy không kịp đáp ứng nhu

cầu lớn của khách hàng

Lần đầu tiên sau ba thập kỷ, nước tiêu

thụ gạo lớn nhất thế giới (Trung Quốc)

đã phải mua gạo Ấn Độ trong tháng 12

vừa qua Bangladesh, nhà sản xuất gạo

lớn thứ ba thế giới, cũng phải nhập

khẩu gạo có thể tăng lên 2 triệu tấn

trong năm kết thúc vào tháng 6/2021,

cao nhất trong vòng 3 năm trở lại đây,

Theo ước tính của Hội đồng Ngũ cốc Thế giới (IGC)

508,4 triệu tấn 501,1 triệu tấn 503,4 triệu tấn

1,31% so với năm 2019 1,21% so với năm 2019

1,52% so với năm 2019

SẢN LƯỢNG SẢN XUẤT GẠO THẾ GIỚI NĂM 2020

Theo ước tính của

Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO)

Theo ước tính của Hội đồng Ngũ cốc Thế giới (IGC)

510,3 triệu tấn 500,7 triệu tấn

0,83% so với năm 2019 1,52% so với năm 2019

SẢN LƯỢNG TIÊU THỤ GẠO THẾ GIỚI NĂM 2020

Trang 6

2 Tình hình xuất nhập khẩu

Thái Lan: Vào cuối tháng

12, Chủ tịch danh dự Hiệp hội các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan (TREA) Chookiat

Ophaswongse cho biết quốc gia Đông

Nam Á này ước tính xuất khẩu được

5,7 triệu tấn gạo trong năm 2020 với giá

trị 115 tỉ baht (khoảng 3,8 tỉ USD), giảm

12% so với năm ngoái

Xuất khẩu gạo của Thái Lan đã gặp

nhiều trở ngại trong năm nay, trong đó

có việc giá cao hơn so với các đối thủ

cạnh tranh TREA cho rằng tình hình

càng trở nên trầm trọng hơn khi đồng

baht nội địa tăng giá Ngoài ra, một lý

do khác khiến xuất khẩu thấp là thiếu

container để vận chuyển gạo

Theo Chủ tịch TREA Charoen

Laothamatas, đây sẽ là lần đầu tiên

xuất khẩu gạo của Thái Lan thấp hơn

của Việt Nam, nước dự kiến sẽ xuất

khẩu tổng cộng 6 triệu tấn gạo trong

năm nay Thái Lan là nước xuất khẩu

gạo hàng đầu thế giới trong nhiều năm,

nhưng gần đây đã tụt xuống sau Ấn Độ

và Việt Nam

Thái Lan sản xuất hơn 20 triệu tấn gạo

mỗi năm, trong đó khoảng 10 triệu tấn

để tiêu dùng trong nước và phần còn lại

để xuất khẩu Năm 2019, Thái Lan xuất

khẩu 7,58 triệu tấn gạo, thu về 131 tỉ

baht, giảm 32% về lượng và 25% về giá

trị so với năm trước đó

Đầu tháng này, ông Chookiat

Ophaswongse từng dự báo rằng Thái

Lan chỉ xuất khẩu được khoảng 5,8

triệu tấn gạo trong năm 2020 nhưng

con số đó sẽ tăng lên 7 triệu tấn vào

Campuchia: Theo thông

báo của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Campuchia, trong năm 2020

Campuchia đã xuất khẩu được 690.829 tấn gạo với trị giá 538,8 triệu USD, tăng 11,4% so với năm 2019

Trong năm qua, gạo của Campuchia đã được xuất khẩu đến 60 quốc gia trên khắp thế giới, trong đó Trung Quốc là nước nhập khẩu lớn nhất với 289.439 tấn, chiếm khoảng 41,9% tổng lượng gạo xuất khẩu của Campuchia Ngoài

ra, một số bạn hàng mua gạo chủ yếu của Campuchia gồm EU nhập khẩu 203.791 tấn chiếm 29,5%, ASEAN 86.899 tấn chiếm 12,58%

Ấn Độ: Theo ông Nitin

Gupta, Phó Chủ tịch phụ trách lúa gạo của Ấn Độ, cho biết nước này có thể giành thêm thị phần năm 2020 với dự báo kim ngạch xuất khẩu tăng gần 42%, ước đạt 14 triệu tấn (năm 2019 là 9,9 triệu tấn).Xuất khẩu gạo của Ấn Độ có thể đạt mốc kỷ lục trong năm nay do giảm cung của các nước xuất khẩu gạo đối thủ tại châu Á cũng như việc đồng rupi giảm giá, giúp tăng khả năng cạnh tranh của gạo nước này Đồng thời nhu cầu về gạo non basmati tăng mạnh từ các nước châu Phi do giá bán hấp dẫn, trong khi cầu về gạo basmati tương đối

ổn định

Chẳng hạn xuất khẩu gạo non basmati sang Senegal và Benin tăng gấp đôi Vẫn theo ông Nitin Gupta, giá bán gạo

Ấn Độ thấp hơn nhiều so với giá gạo Việt Nam và đặc biệt là so với gạo Thái Lan

a Xuất khẩu

Trang 7

Ông Veng Sakhon cho biết bên cạnh gạo, Campuchia còn xuất khẩu được một lượng lớn thóc, đem lại nguồn thu quan trọng cho ngân sách quốc gia

Tổng sản lượng thóc năm 2020 của Campuchia đạt 10,93 triệu tấn, thặng

dư 5,9 triệu tấn, xuất khẩu được 2,89 triệu tấn với tổng giá trị 723,48 triệu USD

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Ngư nghiệp Campuchia, tổng diện tích đất trồng lúa của nước này hiện có khoảng 3,4 triệu ha, năng suất trung bình đạt 3,34 tấn/ha

Campuchia: Theo thông

báo của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản

Campuchia, trong năm 2020

Campuchia đã xuất khẩu được 690.829

tấn gạo với trị giá 538,8 triệu USD, tăng

11,4% so với năm 2019

Trong năm qua, gạo của Campuchia đã

được xuất khẩu đến 60 quốc gia trên

khắp thế giới, trong đó Trung Quốc là

nước nhập khẩu lớn nhất với 289.439

tấn, chiếm khoảng 41,9% tổng lượng

gạo xuất khẩu của Campuchia Ngoài

ra, một số bạn hàng mua gạo chủ yếu

của Campuchia gồm EU nhập khẩu

203.791 tấn chiếm 29,5%, ASEAN

86.899 tấn chiếm 12,58%

Thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới này thường dành tới 90% lượng gạo nhập khẩu để mua của Việt Nam

Bộ trưởng Nông nghiệp William Dar cho biết, mặc dù mất mùa do các trận bão lớn hồi cuối năm 2020, nhưng sản lượng thóc nước này năm 2020 ước tính đạt kỷ lục 19,44 triệu tấn Năm

2021, nước này đặt mục tiêu sản xuất 20,48 triệu tấn thóc

Nhập khẩu gạo vào Philippines năm

2020 đạt 2,3 triệu tấn, so với mức kỷ lục cao 2,9 triệu tấn của năm 2019, khi nước này dỡ bỏ những hạn chế nhập khẩu gạo kéo dài suốt 2 thập kỷ, khiến

tư nhân tăng cường nhập vào

Philippines: Theo thông tin

từ Philippines mới đây cho biết, quốc gia này sẽ cần nhập khẩu ít nhất 1,69 triệu tấn gạo trong 2021 để đáp ứng đủ nhu cầu trong nước

Philippines đang đối mặt với nguy cơ khan hiếm gạo do nguồn cung gạo trong nước 2020 bị thắt chặt, giữa bối cảnh thị trường gạo thế giới đang lao đao vì tình trạng vận chuyển gạo bị chậm trễ và xu hướng tích trữ lương thực trên toàn cầu

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Philippines, Ariel Cayanan, cho biết, con

số 1,69 triệu tấn trên là mức tối thiểu sẽ phải nhập khẩu trong năm nay để đảm bảo cho quốc gia này có đủ gạo cho người dân và có gạo dự trữ tương đương 90 ngày, đủ cho đến vụ thu hoạch lúa ở nước này, vào tháng 7 tới

Bangladesh: Đầu tuần cuối

tháng 12, Reuters dẫn lời một quan chức cấp cao của

Bộ Lương thực Bangladesh cho biết:

“Bộ Lương thực đã quyết định nhập khẩu 1 triệu tấn gạo trong tài khóa hiện tại, đồng thời lĩnh vực tư nhân có thể cũng sẽ có cơ hội được nhập khẩu 1 triệu tấn nữa” Cũng theo quan chức này, doanh nghiệp nào muốn nhập khẩu gạo sẽ cần phải xin giấy phép của

Bộ Lương thực trước ngày 10/1/2021.Bangladesh là nước sản xuất gạo lớn thứ 3 thế giới Việc nước này tăng nhập khẩu gạo sẽ có lợi cho Ấn Độ - nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, có vị trí địa lý ngay sát cạnh nhau và có giá gạo

rẻ hơn nhiều so với các xuất xứ khác, nhờ nguồn gạo dự trữ khổng lồ tích tụ

từ mấy năm qua

Từ vị trí đảm bảo được tự cung tự cấp gạo, Bangladesh năm nay đảo ngược

b Nhập khẩu

Trang 8

3 Diễn biến giá

Bangladesh: Đầu tuần cuối

tháng 12, Reuters dẫn lời một quan chức cấp cao của

Bộ Lương thực Bangladesh cho biết:

“Bộ Lương thực đã quyết định nhập

khẩu 1 triệu tấn gạo trong tài khóa hiện

tại, đồng thời lĩnh vực tư nhân có thể

cũng sẽ có cơ hội được nhập khẩu 1

triệu tấn nữa” Cũng theo quan chức

này, doanh nghiệp nào muốn nhập

khẩu gạo sẽ cần phải xin giấy phép của

Bộ Lương thực trước ngày 10/1/2021

Bangladesh là nước sản xuất gạo lớn

thứ 3 thế giới Việc nước này tăng nhập

khẩu gạo sẽ có lợi cho Ấn Độ - nước

xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, có vị trí

địa lý ngay sát cạnh nhau và có giá gạo

rẻ hơn nhiều so với các xuất xứ khác,

nhờ nguồn gạo dự trữ khổng lồ tích tụ

từ mấy năm qua

Từ vị trí đảm bảo được tự cung tự cấp

gạo, Bangladesh năm nay đảo ngược

Trên thị trường thế giới, trong tháng 12/2020, giá gạo 5% tấm của Việt Nam

có xu hướng giảm đột ngột vào đầu tháng và tăng mạnh trở lại từ giữa tháng Vào đầu tháng 12/2020, giá gạo giảm đột ngột từ 498 USD/tấn xuống

480 USD/tấn, do các thương nhân xả hàng làm rỗng kho để chờ thu mua vụ Đông xuân sắp tới Tuy nhiên, giá đã tăng mạnh trở lại sau đó, nguyên nhân chính là do sự thiếu hụt container chuyên chở vào cuối năm nên chi phí vận chuyển tăng mạnh

Giá gạo Thái Lan và Ấn Độ cũng tăng lên trong tháng Cụ thể, Thái Lan tăng

từ 498 USD/tấn từ đầu tháng lên 510 USD/tấn; Ấn Độ tăng từ 378 USD/tấn lên 383 USD/tấn Nguyên nhân chính cũng bắt nguồn từ hiện tượng phí vận chuyển tăng cao vào cuối năm như trên

thành nước nhập khẩu lớn loại lương thực này sau khi những trận lũ lớn năm qua tàn phá nghiêm trọng các mùa lúa, làm cho các kho dự trữ gạo đều cạn kiệt

Trong tài khóa vừa qua 2020, Bangladesh chỉ nhập khẩu trên 4.000 tấn gạo

Thông tin từ Bộ trưởng Bộ Lương thực Sadhan Chandra Majumdar cho biết trong bối cảnh thị trường khan hiếm gạo và giá tăng cao, Bangladesh có kế hoạch giảm thuế nhập khẩu gạo từ 62,5% xuống còn 25%, đồng thời cho phép tư nhân nhập khẩu gạo ở mức độ nhất định để làm tăng lượng dự trữ

Hiện lượng gạo dự trữ trong kho của Chính phủ Bangladesh chỉ còn 530.000 tấn, thấp hơn 500.000 tấn so với

ngưỡng quy định dự trữ tối thiểu của nước này Trong khi đó, sản lượng gạo

vụ Aman – phụ thuộc vào nước mưa – năm nay dự báo giảm tới 15% so với cùng vụ năm ngoái

Trang 9

Phần 2

thị trường gạo việt nam

Trang 10

1 Sản xuất

tăng diện tích đất sản xuất trở lại tại một

số tiểu vùng năm trước thực hiện xả lũ định kỳ và mở rộng diện tích ngoài vùng

đê bao như An Giang tăng 14,3 nghìn ha; Kiên Giang tăng 11,4 nghìn ha; Sóc Trăng tăng 13 nghìn ha Những nguyên nhân này đã dẫn đến diện tích gieo trồng toàn vụ lúa thu đông năm 2020 không có nhiều biến động so với vụ thu đông năm trước

Thu hoạch: Tính đến hết tháng

12/2020, năng suất lúa ước tính đạt 58,7 tạ/ha, tăng 0,5 tạ/ha; sản lượng lúa ước tính đạt 42,69 triệu tấn, giảm 806,6 nghìn tấn

Kết quả sản xuất vụ đông xuân của cả nước năm nay đạt khá với năng suất 65,7 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha so với vụ đông xuân năm 2019; sản lượng đạt 19,9 triệu tấn, giảm 593,5 nghìn tấn

Vụ lúa hè thu năm 2020 đạt kết quả cao

về năng suất so với vụ hè thu năm trước nhưng do ảnh hưởng của hạn hán, nhiễm mặn và chuyển đổi mục đích sử dụng trên đất lúa nên diện tích gieo trồng giảm làm sản lượng toàn vụ

Từ đầu năm đến nay, trước diễn biến

phức tạp của thời tiết và tình hình sản

xuất kinh doanh bị đình trệ do dịch

bệnh COVID-19 bùng phát trên toàn

cầu đã khiến cho ngành nông nghiệp

nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng

phải đối mặt với không ít khó khăn và

thách thức Tuy nhiên, nhờ chủ động

các phương án ứng phó phù hợp, cùng

những nỗ lực trong tái cơ cấu nông

nghiệp nên sản xuất lúa gạo của Việt

Nam năm 2020 đã đạt được kết quả

tích cực, đánh dấu một năm với nhiều

thắng lợi

Diện tích gieo trồng, thu hoạch

Gieo trồng: Theo số liệu của Tổng Cục

Thống kê, diện tích gieo trồng lúa thu

đông năm 2020 ước tính đạt 724 nghìn

ha, giảm 0,2 nghìn ha so với vụ thu đông

năm trước Diện tích gieo cấy lúa mùa

cả nước đạt 1.584,6 nghìn ha, giảm 27

nghìn ha so với vụ mùa năm 2019

Diện tích gieo trồng lúa thu đông giảm

ở một số địa phương do chuyển đổi đất

trồng lúa sang trồng cây ăn quả và ảnh

hưởng dây chuyền từ vụ hè thu sản

xuất muộn Một số tỉnh có diện tích gieo

trồng lúa thu đông giảm so với năm

trước do chuyển sang trồng cây ăn quả

như Tiền Giang giảm 24,3 nghìn ha;

Bến Tre giảm 14,5 nghìn ha; Trà Vinh

giảm 10,1 nghìn ha

Bên cạnh đó, do vụ hè thu xuống giống

muộn, một số địa phương có diện tích

đất đủ thời vụ sản xuất đã tạm cho đất

nghỉ, tuy nhiên một số địa phương khác

Trang 11

Tình hình sâu, dịch bệnh, thời tiết

giảm Diện tích gieo trồng lúa hè thu cả

nước năm nay đạt 1.945,1 nghìn ha,

giảm 64,5 nghìn ha so với vụ hè thu

năm 2019; năng suất đạt 55,2 tạ/ha,

tăng 0,7 tạ/ha; sản lượng đạt 10,74

triệu tấn, giảm 205,4 nghìn tấn Trong

đó, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có

mức sản lượng đạt 8,46 triệu tấn, giảm

219,1 nghìn tấn so với năm 2019

Theo báo cáo của Cục Bảo vệ thực vật

(BVTV), Bộ Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn (NNPTNT) vào cuối tháng 12:

Rầy hại lúa: Diện tích nhiễm 3.751 ha

(giảm 398 ha so với kỳ trước, giảm

3.675 ha so với 2019), diện tích phòng

trừ trong kỳ 1.118 ha và phân bố chủ

yếu tại các tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng,

Long An, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình

Phước, Đồng Nai, Bình Thuận

Sâu cuốn lá nhỏ: Diện tích nhiễm

4.790 ha (tăng 1.387 ha so với kỳ

trước, giảm 2.991 ha so với 2019), diện

tích phòng trừ trong kỳ 2.281 ha và

phân bố chủ yếu tại các tỉnh Sóc Trăng,

Long An, Bạc Liêu, Đồng Tháp, Kiên

Giang, Vĩnh Long, Bình Thuận, Gia Lai

Sâu đục thân 2 chấm: Diện tích nhiễm

1.224 ha (giảm 665 ha so với kỳ trước, giảm 1.319 ha so với 2019), diện tích phòng trừ trong kỳ 797 ha và phân bố chủ yếu tại các tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Thuận, Bình Phước, Ninh Thuận

Bệnh đạo ôn:

Bệnh đạo ôn lá: Diện tích nhiễm 7.180

ha (tăng 282 ha so với kỳ trước, giảm

789 ha so với 2019), nhiễm nặng 07 ha, diện tích phòng trừ trong kỳ 14.742 ha

và phân bố chủ yếu tại các tỉnh Long

An, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, Đồng Tháp, Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa

Bệnh đạo ôn cổ bông: Diện tích

nhiễm 7.936 ha (tăng 5.102 ha so với

kỳ trước, tăng 2.160 ha so với 2019), diện tích phòng trừ trong kỳ 8.341 ha và phân bố chủ yếu tại các tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Long An, Vĩnh Long, Hậu Giang, Kiên Giang, Bình Thuận, Lâm Đồng,

Bệnh đen lép hạt: Diện tích nhiễm

9.947 ha (tăng 6.729 ha so với kỳ trước, tăng 9.116 ha so với 2020), diện tích phòng trừ trong kỳ 8.868 ha và phân bố chủ yếu tại các tỉnh Đồng Tháp, Sóc Trăng Bạc Liêu, Vĩnh Long, Hậu Giang, Bình Thuận, Phú Yên, Lâm Đồng, Ninh Thuận

Bệnh bạc lá: Diện tích nhiễm 6.752

ha (tăng 1.117 ha so với kỳ trước, giảm 7.132 ha so với 2019), diện tích phòng trừ trong kỳ 1.531 ha và phân

bố chủ yếu ở các tỉnh phía Nam như Bạc Liêu, Tiền Giang, Sóc Trăng, Long

An, Bến Tre

Trang 12

Chuột: Diện tích nhiễm 5.030 ha (giảm

400 ha so với kỳ trước, tăng 884 ha so

với CKNT), diện tích phòng trừ trong kỳ

4.374 ha và hân bố chủ yếu ở các tỉnh

Bạc Liêu, Long An, Sóc Trăng, Hậu

Giang, Bến Tre, An Giang, Bình Thuận,

Phú Yên, Khánh Hòa, Đắk Lắk,

Ốc bươu vàng: Diện tích nhiễm 4.363

ha (giảm 1.978 ha so với kỳ trước, giảm

4.013 ha so với 2019), diện tích phòng

Theo thống kê số liệu của Cục Chế biến

và Phát triển thị trường nông sản (Bộ

NN&PTNT), khối lượng gạo xuất khẩu

Sâu năn (muỗi hành): Diện tích nhiễm

07 ha (giảm 04 ha so với kỳ trước, giảm

980 ha so với 2019) Gây hại tại tỉnh Sóc Trăng

khối lượng và giá trị xuất khẩu gạo cả năm 2020 đạt 6,15 triệu tấn và 3,07 tỉ USD, giảm 3,5% về khối lượng nhưng tăng 9,3% về giá trị so với năm 2019

Tính trong 11 tháng đầu năm 2020,

KHỐI LƯỢNG VÀ GIÁ TRỊ GẠO XUẤT KHẨU TRONG THÁNG 12/2020

Khối lượng xuất khẩu

Kim ngạch xuất khẩu

240 triệu USD

KHỐI LƯỢNG VÀ GIÁ TRỊ GẠO XUẤT KHẨU TRONG NĂM 2020

Khối lượng xuất khẩu

Trang 13

thị trường gạo việt nam năm 2020

Trong 11 tháng đầu năm 2020, các thị

trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng

mạnh là: Indonesia (gấp 2,8 lần, đạt

88,3 nghìn tấn và 47,8 triệu USD) và

Trung Quốc (tăng 91,6%, đạt 752,3

nghìn tấn và 431,7 triệu USD) Ngược

lại, thị trường có giá trị xuất khẩu gạo

giảm mạnh nhất trong 11 tháng đầu

năm 2020 là Iraq (giảm 65,6%, đạt 90

nghìn tấn và 47,6 triệu USD)

Về chủng loại xuất khẩu, trong 11 tháng

năm 2020, giá trị xuất khẩu gạo trắng

chiếm 32,5% tổng kim ngạch; gạo

jasmine và gạo thơm chiếm 32,9%; gạo

nếp chiếm 29,6%; gạo japonica và gạo

Trung Quốc Indonesia Philippines

Bờ Biển Ngà Ghana Philippines

Papua New Guinea Đảo quốc Solomon Trung Quốc

Trang 14

Nhìn chung, trong năm 2020, giá gạo

xuất khẩu Việt Nam tăng do chủng loại

gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng

mạnh tại các mặt hàng gạo thơm, cao

cấp hơn Từ giữa tháng 7 đến nay, giá

gạo xuất khẩu của Việt Nam liên tục

tăng và đến nay đã vượt qua giá gạo

cùng chủng loại của nhiều nước, vượt

Thái Lan, Ấn Độ để vươn lên dẫn đầu

thế giới

Tại thị trường trong nước, giá lúa, gạo

tại các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long

diễn biến tăng trong tháng cuối cùng

của năm 2020

Cụ thể, tại An Giang, lúa IR50404 tăng

300 đồng/kg lên mức 6.500 đồng/kg;

lúa OM 2514 tăng 300 đồng/kg lên

6.500 đồng/kg; lúa gạo thường ở mức

Tại Vĩnh Long, lúa IR50404 tươi tăng

800 đồng/kg lên 6.800 đồng/kg; lúa khô tăng 200 đồng/kg lên 7.000 đồng/kg; lúa hạt dài tươi tăng 700 đồng/kg lên 7.000 đồng/kg, lúa khô tăng 300 đồng/kg lên mức 7.600 đồng/kg

Nhìn lại cả năm 2020, giá lúa, gạo tại thị trường Đồng bằng Sông Cửu Long biến động theo chiều hướng tăng, với giá lúa thường tăng khoảng 1.500 – 2.000 đồng/kg; lúa chất lượng cao tăng khoảng 1.000 – 1.200 đồng/kg, tùy từng thời điểm và mùa vụ Giá lúa sụt giảm thấp nhất vào khoảng tháng 2 do nguồn cung thu hoạch vụ Đông Xuân dồi dào

và nhu cầu tiêu thụ yếu

3 Diễn biến giá

Lúa IR50404: 6.500 đồng/kg

Lúa OM 2514: 6.500 đồng/kg

Lúa gạo thường: 10.500 đồng/kg

Gạo thơm jasmine: 14.500 đồng/kg

An Giang

Lúa IR50404: 7.200 – 7.300 đ/kg

Lúa OM6976: 7.300 – 7.700 đ/kg

Kiên Giang

Lúa tươi IR50404: 6.800 đồng/kg

Lúa khô IR50404: 7.000 đồng/kg

Lúa hạt dài tươi: 7.000 đồng/kg

Lúa hạt dài khô: 7.600 đồng/kg

Vĩnh Long

Ngày đăng: 11/09/2021, 12:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN