Tài liệu tham khảo về pháp luật Đức với Việt Nam, rất bổ ích cho các bạn làm Luận văn tốt nghiệp, Luận văn thạc sĩ, Tiến sĩ chuyên ngành luật học, mở rộng kiến thức và làm phong phú thêm danh mục tài liệu tham khảo.
Trang 1
PGS.TS NguyÔn ThÞ ¸nh V©n *
huật ngữ “giải thích”, trong cụm từ
“giải thích pháp luật thành văn” có thể
hiểu theo nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa
rộng, “giải thích” có nghĩa là hoạt động sáng
tạo của thẩm phán(1)
trong việc phát triển, giới hạn hoặc sửa đổi quy phạm pháp luật chứa
đựng trong pháp luật thành văn Theo nghĩa
hẹp, “giải thích” có nghĩa là sự giảng giải của
thẩm phán về nghĩa của thuật ngữ và cách
diễn đạt trong pháp luật thành văn.(2)
Có ý kiến cho rằng, giải thích pháp luật thành văn
không chỉ là hoạt động khoa học, là xuất phát
điểm, là cơ sở cho việc áp dụng pháp luật
thành văn mà còn là một nghệ thuật.(3)
Thuật ngữ “pháp luật thành văn” cũng
được hiểu không giống nhau giữa nước có
hệ thống pháp luật thuộc truyền thống Civil
Law (nước Civil Law) với nước có hệ thống
pháp luật thuộc truyền thống Common Law
(nước Common Law) Thuật ngữ “pháp luật
thành văn” ở các nước Civil Law hàm chỉ
văn bản pháp luật do nghị viện ban hành (bộ
luật, luật) và cả những văn bản dưới luật;
trong khi đó, ở các nước Common Law,
“pháp luật thành văn” được hiểu hẹp hơn,
đó là chỉ bao gồm các đạo luật do nghị viện
ban hành.(4)
Đức là nước có hệ thống pháp luật thuộc
truyền thống Civil Law, cụm từ “giải thích
pháp luật thành văn” ở nước này có thể được
hiểu là sự giảng giải của thẩm phán về nghĩa của thuật ngữ, cụm từ hình thành nên quy phạm pháp luật, chứa đựng trong văn bản pháp luật do nghị viện và các cơ quan quản
lí nhà nước ban hành
Trong khâu thực thi pháp luật, việc giải thích pháp luật thành văn luôn cần thiết vì đôi khi câu từ của pháp luật thành văn đơn giản và dễ hiểu nhưng trong hầu hết các trường hợp, nhiều từ, cụm từ và thậm chí cả quy phạm pháp luật khá tối nghĩa, mơ hồ hoặc chung chung nên thẩm phán cần phải
làm rõ nghĩa trước khi áp dụng Ví dụ, nhiều
ý kiến cho rằng các quy định về nhân quyền trong Hiến pháp và nguyên tắc thiện chí trong Bộ luật dân sự Đức được quy định quá chung chung,(5) đòi hỏi thẩm phán phải giải thích hay nói chính xác hơn trong trường hợp này phải cụ thể hoá quy phạm pháp luật
đó trước khi áp dụng Trong những tình huống đã nêu, để xác định nghĩa của quy phạm pháp luật thành văn hoặc câu, từ trong quy phạm đó, thẩm phán phải sử dụng nhiều công cụ giải thích pháp luật thành văn khác nhau Bài viết này bàn về kinh nghiệm giải thích pháp luật thành văn của Đức với hi vọng rút ra một vài bài học có khả năng vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam,
T
* Giảng viên chính Trung tâm luật so sánh
Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giải
thích pháp luật thành văn ở Việt Nam
1 Cơ quan có thẩm quyền giải thích
và các quy tắc(6)
giải thích pháp luật thành
văn ở Đức
1.1 Cơ quan có thẩm quyền giải thích
pháp luật thành văn ở Đức
Tương tự như nhiều nước trên thế giới,
thẩm quyền giải thích pháp luật thành văn ở
Đức được trao cho toà án, mặc dù không có
văn bản pháp luật nào của Đức quy định rõ
toà án có thẩm quyền này Tuy nhiên, nền
tảng pháp lí cho thẩm quyền giải thích pháp
luật thành văn của toà án cũng như những
chỉ dẫn quan trọng trong giải thích pháp luật
thành văn đã được Toà án hiến pháp Liên
bang Đức xác nhận khi tuyên bố: “Trong
giải thích và áp dụng pháp luật, đặc biệt đối
với những điều khoản chung, toà án phải
xem xét đến những chuẩn mực của giá trị
Mặc dù ở Đức, Toà án hiến pháp Liên bang không phải là cấp xét
xử cuối cùng trong hệ thống toà án giống
như Toà án tối cao của Mỹ nhưng Hiến pháp
Cộng hoà Liên bang Đức đã tạo cơ sở pháp
lí để Toà án hiến pháp Liên bang có thể xem
xét tính hợp hiến đối với hành vi của các cơ
quan lập pháp, hành pháp và tư pháp ở cả
cấp liên bang và cấp bang.(8)
Vì vậy, Toà án hiến pháp Liên bang có thể kiểm tra tính hợp
hiến của tất cả bản án đã tuyên của các toà
án trong hệ thống toà án Đức và vô hình
trung, theo hiến pháp Liên bang, Toà án này
đã trở thành cấp xét xử cuối cùng và là toà
án cao nhất, quyền lực nhất trong hệ thống
toà án Đức
Tuy nhiên trên thực tế, Toà án hiến pháp Liên bang cũng chỉ giới hạn thẩm quyền của mình trong việc phán xét những phán quyết đang có tranh cãi của toà án cấp dưới, xem liệu phán quyết đó có được tuyên trên cơ sở nhận thức sai lệch của toà án cấp dưới về nghĩa của các quyền cơ bản của con người được bảo vệ trong hiến pháp hay không hoặc liệu cách giải thích luật của toà án cấp dưới
có vi phạm quyền con người cơ bản hiến định hay không
Như vậy, các toà án của Đức đều có quyền giải thích pháp luật thành văn trong quá trình xét xử nhưng giá trị hiệu lực của những giải thích đó, trong một số trường hợp còn phụ thuộc vào sự công nhận của Toà án hiến pháp Liên bang Đó là khi phán quyết của toà án nào đó bị kháng cáo, kháng nghị do thẩm phán của toà án này nhận thức sai lệch về quy phạm pháp luật được áp dụng để giải quyết vụ việc, từ đó làm cho phán quyết đã tuyên trái với hiến pháp Trong tình huống đó, Toà án hiến pháp Liên bang sẽ là cơ quan cuối cùng có quyền rà soát lại tính hợp hiến đối với cách giải thích pháp luật thành văn của toà án này bằng cách đưa ra phán xét cuối cùng về tính hợp hiến của bản án đã tuyên
Tương tự như vấn đề cơ sở pháp lí cho thẩm quyền giải thích pháp luật thành văn của toà án, cho tới nay, ở Đức hầu như không có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể về cách thức giải thích pháp luật thành văn cũng như cách lấp lỗ hổng của pháp luật thành văn Quy định về giải thích pháp luật thành văn dường như chỉ có thể tìm thấy trong các văn bản pháp luật cổ ban hành từ
Trang 3cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX,(9)
trừ một vài quy định cấm giải thích bằng quy tắc lập
luận tương tự (analogy) trong hiến pháp(10)
và bộ luật hình sự.(11)
Trên thực tế, việc giải thích pháp luật
thành văn ở Đức chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi
hiến pháp Mặc dù, hiến pháp không đặt ra
quy tắc giải thích pháp luật thành văn nhưng
hiến pháp lại chứa đựng những nguyên tắc
ràng buộc thẩm phán trong hoạt động này
Bởi lẽ, khi mọi văn bản pháp luật đều phải
phù hợp với hiến pháp(12)
thì việc giải thích
và áp dụng pháp luật cũng không được vi
hiến Nói cách khác, cơ quan tư pháp trong
quá trình áp dụng pháp luật để xét xử cũng
phải đảm bảo giải thích pháp luật thành văn
sao cho hợp hiến
1.2 Các quy tắc giải thích pháp luật
thành văn ở Đức
Xuất phát từ quan điểm khác nhau về vị
trí của pháp luật thành văn nên các nước
Civil Law và Common Law thường sử dụng
những quy tắc khác nhau trong quá trình
giải thích pháp luật thành văn Những quan
điểm này chủ yếu được định hình bởi lịch
sử đặc thù của mỗi truyền thống pháp luật
Chính điều này đã quyết định các quy tắc
được sử dụng để giải thích pháp luật thành
văn trong mỗi hệ thống pháp luật Mặc dù
tên gọi của quy tắc có thể khác nhau nhưng
các nước Civil Law thường sử dụng các quy
tắc như: quy tắc giải thích theo nghĩa đen,
giải thích logic hay còn gọi là giải thích hệ
thống, giải thích dựa vào lịch sử lập pháp
hay quy tắc giải thích phát sinh (genetic
interpretation) quy tắc mục đích luận (teleological
interpretation), quy tắc giải thích bằng lập
luận tương tự (analogy) và quy tắc giải thích theo lí lẽ của quy phạm pháp luật (ratio legis) Các nước Common Law bên cạnh sử dụng quy tắc giải thích theo nghĩa đen còn
sử dụng những quy tắc khác như quy tắc vàng (golden rule) và quy tắc sự phiền luỵ (mischief rule)
Đức là nhà nước liên bang, có hệ thống pháp luật thuộc truyền thống Civil Law, coi trọng pháp điển hoá, vì vậy cách tiếp cận để giải thích pháp luật thành văn đi theo xu hướng thứ nhất Quan niệm về quy tắc giải thích pháp luật thành văn ở Đức dường như chưa có sự thống nhất Có học giả chỉ ra sáu(13) hoặc bảy(14) quy tắc nhưng cũng có học giả đưa ra chín quy tắc(15)
để giải thích pháp luật thành văn Thực ra, sự khác nhau giữa các cách phân chia quy tắc không lớn,
mà dường như chỉ là sự gộp vào hoặc chia nhỏ hơn các quy tắc được sử dụng trong giải thích pháp luật thành văn nên đôi khi có sự chồng chéo giữa các quy tắc Phần dưới đây chỉ bàn về một số quy tắc tiêu biểu được áp dụng tại Đức như: 1) giải thích theo nghĩa đen; 2) giải thích dựa vào lịch sử lập pháp; 3) giải thích hệ thống; giải thích dựa vào mục đích ban hành quy phạm pháp luật Những quy tắc còn lại sẽ được liên hệ, đối chiếu và bình luận khi cần thiết
1.2.1 Quy tắc giải thích theo nghĩa đen Giải thích theo nghĩa đen là cách giải thích không trái với câu từ được sử dụng trong quy phạm pháp luật cũng như cấu trúc ngữ pháp của câu văn cần giải thích Quy tắc này chỉ có thể áp dụng khi thuật ngữ được sử dụng trong điều khoản pháp luật đang được giải thích có định nghĩa pháp lí chính thống
Trang 4đồng thời cách giải thích không dẫn đến
những mâu thuẫn, nghịch lí Quy tắc này
cũng đặt ra một vài giới hạn trong việc áp
dụng các quy tắc khác để giải thích pháp luật
thành văn vì đòi hỏi toà án phải bám sát vào
câu, từ của điều khoản pháp luật
Áp dụng quy tắc này, người Đức không
được phép giải thích pháp luật thành văn trái
với nghĩa đen của từ ngữ được sử dụng trong
quy phạm pháp luật nhưng lại được phép
giải thích rộng và đó được coi là việc làm
hữu ích Kiểu giải thích này thường được sử
dụng để làm rõ nghĩa của các thuật ngữ xuất
hiện trong luật vì vậy thường được tìm thấy
ở phần đầu của văn bản luật, trong điều
khoản "giải thích từ ngữ" Mục đích của việc
đưa ra định nghĩa cho thuật ngữ pháp lí
chuyên môn mà luật sử dụng là nhằm ngăn
chặn bất kì sự nghi ngờ nào về dự định hay
tinh thần của quy phạm pháp luật Kiểu giải
thích này thường được các nhà làm luật sử
dụng để xây dựng quy phạm pháp luật về
giải thích từ, ngữ nằm ngay ở chương hay
phần đầu của văn bản pháp luật
Trường hợp không có sự hỗ trợ của cơ
quan lập pháp trong việc giải thích thuật ngữ
pháp lí được sử dụng trong văn bản pháp
luật đang được áp dụng để xét xử, toà án cần
phải xem xét đến nghĩa đen của thuật ngữ
đó, đồng thời đặt nó trong ngữ cảnh của toàn
bộ đạo luật Khi đó, việc giải thích sẽ được
tiến hành trên cơ sở sử dụng phối hợp cả quy
tắc giải thích theo nghĩa đen và quy tắc giải
thích hệ thống Tuy nhiên, có một vài vấn đề
cần được xác định rõ để đảm bảo sự nhất
quán trong giải thích pháp luật thành văn
Một là nghĩa đen của thuật ngữ cần giải thích
là “nghĩa đen pháp lí” hay “nghĩa đen thông dụng”? Câu trả lời là nghĩa đen pháp lí sẽ
được ưu tiên áp dụng Hai là nên dựa vào
nghĩa đen của thuật ngữ tại thời điểm văn bản pháp luật được ban hành hay ở thời điểm giải thích pháp luật vì nghĩa của thuật ngữ rất có thể sẽ thay đổi theo thời gian? Đáp án cho câu hỏi này hết sức quan trọng vì đôi khi
nó ảnh hưởng tới những phán quyết có liên quan đến sinh mạng của con người Đây không phải là vấn đề mang tính giả thuyết
mà đã diễn ra trên thực tế khi toà án tư pháp Liên bang Đức phải phán xét liệu việc sử dụng axit Hydrochoric để tấn công có đồng nghĩa với việc sử dụng vũ khí để tấn công không.(16) Bởi lẽ, thuật ngữ “vũ khí” trong
Bộ luật hình sự của Đức ở thời điểm mới ban hành, chỉ có nghĩa là những phương tiện kĩ thuật dùng để tấn công, tuy nhiên, ngày nay một số loại hoá chất cũng có thể
sử dụng để tấn công Như vậy, nếu giải thích theo nghĩa đen của thuật ngữ tại thời điểm ban hành văn bản pháp luật sẽ không bao quát hết các loại vũ khí có thể sử dụng
để tấn công trong xã hội hiện đại Vì lẽ đó, người Đức đã lựa chọn nghĩa đen tại thời điểm giải thích để giải thích pháp luật thành văn khi áp dụng quy tắc này
1.2.2 Quy tắc lịch sử lập pháp Quy tắc lịch sử lập pháp đòi hỏi người giải thích pháp luật thành văn phải tìm kiếm những dấu hiệu hàm chứa nghĩa của quy định pháp luật từ cội nguồn của quy định đó, tức dựa vào lịch sử soạn thảo ra văn bản pháp luật Nói cách khác, cách giải thích này đòi hỏi nghiên cứu: 1) Dự định lập pháp được ghi chép trong các bản dự thảo luật có
Trang 5liên quan và biên bản thảo luận của nghị
viện về dự luật đó; 2) Những phát triển, phát
sinh hay sửa đổi kế tiếp (genetic development)
của luật Với cách hiểu này, quy tắc giải
thích lịch sử lập pháp gần giống quy tắc giải
thích phát sinh vì giải thích phát sinh cũng
đòi hỏi người giải thích phải tìm hiểu nghĩa
của thuật ngữ pháp lí như được dự định
trong quá khứ bởi nhà lập pháp và tìm hiểu
mục đích mà nhà làm luật theo đuổi khi ban
hành đạo luật
Cũng có quan điểm cho rằng quy tắc lịch
sử lập pháp là quy tắc đòi hỏi người giải
thích phải tìm hiểu về lịch sử của khái niệm,
học thuyết và thiết chế có liên quan, khác
với dự định lập pháp, trong quá trình giải
thích.(17) Quan điểm này khác với quan điểm
thứ nhất ở chỗ có sự phân biệt giữa quy tắc
giải thích lịch sử lập pháp với quy tắc giải
thích phát sinh và không coi quy tắc giải
thích phát sinh là bộ phận của quy tắc giải
thích lịch sử lập pháp
Đây là quy tắc giải thích pháp luật thành
văn được áp dụng khá phổ biến tại các nước
Civil Law nhưng ở Anh quy tắc này đã từng
bị phủ nhận trong nhiều thế kỉ Theo quan
điểm của người Anh, khi giải thích pháp luật
thành văn, người thẩm phán phải bám sát
vào câu chữ của quy định pháp luật và đặt
quy định đó trong mối quan hệ với các quy
định khác của văn bản luật, ngay cả khi thẩm
phán có tham khảo dự định của cơ quan lập
pháp Nói cách khác, luật thành văn nên
được giải thích bằng cách tham khảo chính
đạo luật đó chứ không nên tham khảo ý kiến
phát biểu của đại điện các bộ hữu quan trong
quá trình thông qua dự luật tại nghị viện vì
làm như vậy, không khác nào dùng quan điểm của cơ quan hành pháp để soi sáng ngữ nghĩa cho sản phẩm của cơ quan lập pháp
Tuy nhiên, theo Peter De Cruz, "cũng giống như trong nhiều lĩnh vực khác của pháp luật Anh, lí luận và thực tiễn thường không song hành, các phán quyết của toà từ cổ chí kim
đã cho thấy lịch sử lập pháp thường được đề cập tới, đặc biệt khi việc giải thích theo nghĩa đen làm cho quy định của pháp luật thành văn trở nên vô lí".(18)
Vận dụng quy tắc này trong giải thích pháp luật thành văn, ở Đức, mặc dù dự định lập pháp có thực và dự định gốc vẫn
là dự định chủ quan cần thiết được tôn trọng trong quá trình giải thích luật nhưng nội dung khách quan được diễn đạt trong quy phạm pháp luật được hiểu trong hoàn cảnh đương thời còn quan trọng hơn nhiều Đặc biệt, đối với quy phạm pháp luật được ban hành từ nhiều năm trước, dự định lập pháp khi đó có thể bị bỏ qua để ưu tiên cho nghĩa khách quan đương thời của thuật ngữ hay quy phạm cần giải thích Cách giải thích quy phạm pháp luật kiểu này thường được sử dụng song song với các quy tắc giải thích pháp luật thành văn khác như quy tắc tìm kiếm lí lẽ của quy phạm pháp luật (ratio legis)
Tìm kiếm lí lẽ của quy phạm pháp luật cũng là phương tiện hay quy tắc quan trọng được sử dụng trong giải thích pháp luật thành văn Trong nhiều trường hợp, một quy phạm pháp luật được thiết kế để giải quyết nhiều khúc mắc trong thực tiễn hoặc thể hiện
rõ dự định lập pháp gốc Nếu không có những dấu hiệu đó, thẩm phán phải tìm ra
Trang 6xung đột xã hội có liên quan, so sánh xung
đột đó với quy phạm pháp luật đang được
xem xét và quyết định liệu quy phạm đó có
thể áp dụng hay không Vì mục đích này,
thẩm phán cần phải tiến hành nghiên cứu,
phân tích, so sánh giữa quy định trừu tượng
và tình huống cụ thể để xác định tính phù
hợp của quy phạm pháp luật với vấn đề đang
được giải quyết tại toà
1.2.3 Quy tắc giải thích hệ thống
Giải thích hệ thống đòi hỏi thẩm phán
phải đặt quy phạm pháp luật cần giải thích
trong mối quan hệ với các quy phạm pháp
luật khác trong cùng văn bản pháp luật và
thậm chí trong cả hệ thống pháp luật Yêu
cầu này được đặt ra nhằm đảm bảo tính nhất
quán và chặt chẽ của toàn bộ hệ thống pháp
luật Nếu quy định pháp luật đã rõ ràng và
chỉ có một nghĩa nhưng việc áp dụng nó sẽ
dẫn đến kết quả vô lí hoặc mâu thuẫn hay
nếu áp dụng quy tắc giải thích theo nghĩa
đen cho thấy quy phạm pháp luật cần giải
thích có nhiều cách hiểu, khi đó toà án sẽ
không chấp nhận con đường giải thích theo
nghĩa đen thuần tuý
Quy tắc này có phần tương tự với quy
tắc “giải thích logic”, mặc dù trên thực tế,
quy tắc giải thích logic rộng hơn, cho phép
cả việc giải thích bằng lập luận tương tự
Giải thích bằng lập luận tương tự được sử
dụng khi điều khoản pháp luật được giải
thích theo nghĩa đen không thể cung cấp
được giải pháp để giải quyết vụ việc cụ thể
Vì lẽ đó, có học giả tách quy tắc giải thích
logic thành 2 quy tắc nhỏ là: Quy tắc giải
thích hệ thống và quy tắc giải thích bằng lập
luận tương tự
Triết lí cho việc áp dụng quy tắc giải
thích hệ thống là ở chỗ bất kì quy phạm pháp luật nào cũng là một phần của ngữ cảnh lập pháp rộng hơn nên quy phạm đó cần phải được giải thích sao cho không có mâu thuẫn về mặt logic với các quy định khác trong toàn hệ thống pháp luật Không mâu thuẫn được đề cập tới ở đây được hiểu
là sự hài hoà hoá theo cả chiều ngang và chiều dọc Hài hoà hoá theo chiều ngang là việc giải thích một quy phạm pháp luật phải thống nhất với các quy phạm pháp luật khác trong cùng văn bản pháp luật Ttrong khi
đó, hài hoà hoá theo chiều dọc là đảm bảo việc giải thích quy phạm pháp luật phải phù hợp với văn bản pháp luật có hiệu lực cao hơn (hiến pháp)
Để đảm bảo sự hài hoà hoá theo chiều ngang, cần lưu ý là những quy phạm pháp luật cùng thuộc một mục hoặc chương trong đạo luật thường được thiết kế để giải quyết vấn đề pháp lí đặc biệt nào đó Với cách hiểu
đó, khi giải thích một quy phạm pháp luật, cần xem xét tới vấn đề pháp lí đặc biệt mà
mục hoặc chương đó giải quyết Thêm vào
đó, việc giải thích một quy phạm pháp luật không được phép làm cho bất kì một quy phạm nào khác trong cùng đạo luật trở nên thừa Vì vậy, trong quá trình giải thích nghĩa của cụm từ nhất định nằm ở những phần khác nhau của đạo luật, cần lưu ý tới nghĩa của cụm từ đó trong những quy định khác của toàn bộ đạo luật Cuối cùng, có ý kiến còn cho rằng, hài hoá hoá theo chiều ngang bao hàm cả việc giải thích trên cơ sở so sánh với luật nước ngoài trong những trường hợp
Trang 7cần thiết, nhằm giải quyết vướng mắc nào đó
trong quá trình giải thích Kiểu giải thích này
được tiến hành dựa trên việc nghiên cứu so
sánh các quy phạm pháp luật và chế định
giữa các hệ thống pháp luật có thể so sánh
Việc làm này không chỉ diễn ra ở Đức mà
còn xuất hiện ở một số nước khác, đặc biệt ở
Anh, nơi các thẩm phán trong quá trình xét
xử buộc phải quan tâm tới phán quyết của
thẩm phán ở các nước thuộc Khối thịnh
vượng chung và Mỹ.(19)
Tuy nhiên, cũng có học giả tách “giải thích so sánh” thành quy
tắc độc lập, cần được áp dụng trong giải thích
pháp luật thành văn ở Đức.(20)
Để đảm bảo sự hài hoà hoá theo chiều
dọc, khi giải thích quy phạm pháp luật thành
văn nào đó cần phải xem xét đến tính phù
hợp của nó với quy định có liên quan trong
hiến pháp Với tư cách là luật cơ bản, luật
gốc, quy phạm pháp luật của hiến pháp có
giá trị pháp lí cao nhất và có ảnh hưởng to
lớn đến việc giải thích và áp dụng các quy
phạm pháp luật khác Trên thực tế, khi giải
thích pháp luật thành văn, người Đức luôn
coi hiến pháp như là ranh giới và chỉ dẫn
quan trọng bậc nhất, đặc biệt đối với việc
giải thích những vấn đề “nhạy cảm” như các
quy định của luật tư có liên quan tới quyền
con người hiến định
Do tầm quan trọng đặc biệt của hiến
pháp, nên không chỉ quy tắc giải thích hệ
thống mà tất cả các quy tắc giải thích pháp
luật thành văn khác đều phải được áp dụng
phù hợp với hiến pháp, đặc biệt là quy tắc
giải thích theo lí lẽ của quy phạm pháp luật
Vì lẽ đó, có học giả đã tách quy tắc giải
thích phù hợp với hiến pháp thành một quy
tắc độc lập Thực tế cho thấy, quy tắc “giải thích phù hợp với hiến pháp” đôi khi quá được coi trọng ở Đức, bằng chứng là có trường hợp người thẩm phán vì quá chú ý tới khía cạnh hợp hiến nên đã không quan tâm đúng mức tới tính nhất quán của quy phạm được giải thích với các quy phạm khác của cùng đạo luật.(21)
1.2.4 Quy tắc giải thích theo mục đích ban hành quy phạm pháp luật
Đây là phương pháp giải thích pháp luật thành văn dựa vào mục đích của quy định pháp luật cần giải thích Có hai cách giải thích pháp luật thành văn theo quy tắc này là dựa vào mục đích chủ quan và dựa vào mục đích khách quan của quy phạm pháp luật cần giải thích
Yêu cầu của cách giải thích theo mục đích chủ quan là phải tìm hiểu dự định thực
tế của nhà làm luật, tức dự định lập pháp Với cách hiểu đó, quy tắc giải thích pháp luật này chỉ là biến dạng của quy tắc lịch sử hay quy tắc giải thích phát sinh
Yêu cầu của cách giải thích theo mục đích khách quan là phải tìm hiểu và phỏng đoán mục tiêu hợp lí hay chức năng xã hội của quy phạm pháp luật Nghĩa khách quan của quy phạm pháp luật thường có “trọng lượng” hơn dự định thực tế của các nhà làm luật, đặc biệt khi điều khoản pháp luật đó đã được ban hành từ lâu Đây là phương pháp giải thích đối lập với phương pháp lịch sử lập pháp và được coi là cách giải thích rộng hay giải thích luỹ tiến Phương pháp này cố gắng giải thích lời lẽ của quy phạm pháp luật trong hoàn cảnh đương thời bằng cách đặt giả thuyết về sự cần thiết phải mở rộng việc
Trang 8áp dụng điều khoản pháp luật ra bên ngoài
phạm vi của dự định lập pháp trước đây,
làm cho quy định đó thích ứng với sự thay
đổi nhanh chóng của điều kiện kinh tế-xã
hội Việc làm này được chấp nhận và không
bị coi là vi phạm pháp luật nếu nó được
thực hiện với mục đích tìm ra lí lẽ ẩn dấu
đằng sau quy phạm đó hay ý nghĩa thực,
khách quan của quy phạm pháp luật.(22)
Trong thực tiễn, quy tắc này thường được
áp dụng ở Đức để giải thích pháp luật thành
văn(23)
mặc dù có nhiều ý kiến phê phán
cách giải thích này Bởi lẽ, theo phương
pháp này thẩm phán có quá nhiều tự do để
đưa ra những lí lẽ được cho là hàm chứa
trong quy phạm pháp luật, thậm chí có
trường hợp đi ngược lại câu, từ của quy
phạm pháp luật đó Nói cách khác, quy tắc
này đã cho phép người thẩm phán vượt quá
cái gọi là “giải thích pháp luật” vì thực tế
họ đã chỉnh sửa câu chữ của quy phạm pháp
luật trong phạm vi cho phép nhằm đưa ra
kết quả được xã hội sẵn sàng chấp nhận trên
thực tế Cũng chính vì vậy, khi sử dụng
cách giải thích này, người thẩm phán phải
hết sức thận trọng và phải hiểu rằng cách
giải thích sẽ chỉ được coi là chính đáng
trong trường hợp thực sự cần thiết
Khi nói rằng giải thích theo mục đích
khách quan là cách giải thích mở rộng hay
giải thích luỹ tiến cũng cần phân biệt với
cách giải thích tương tự (analogy), cũng là
tương tự cách giải thích mở rộng “Giải thích
tương tự” là thuật ngữ hàm chỉ phương pháp
giải thích pháp luật thành văn bằng cách áp
dụng quy phạm pháp luật theo cách thức
thích hợp, mặc dù điều kiện giả định của tình
huống cần giải quyết không thoả mãn tinh thần của quy phạm pháp luật theo nghĩa đen Nói cách khác, giải thích tương tự là việc suy luận từ những vụ việc tương tự đã được giải quyết bằng quy phạm pháp luật nào đó Quy tắc giải thích này do toà án Đức đặt ra xuất phát từ nhu cầu thực tiễn vì nó đã cho phép sử dụng một quy phạm nhất định trong những tình huống tương tự mà khi làm luật các nhà soạn thảo đã không dự liệu được.(24) Tuy nhiên, quy tắc giải thích này chỉ được
phép sử dụng nếu: Một là có lỗ hổng trong quy định của pháp luật; hai là các nhà làm luật không cố ý tạo ra lỗ hổng đó; ba là giữa
tình huống cần giải quyết và quy phạm định
áp dụng tương tự có thể so sánh được
2 Một vài bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ kinh nghiệm giải thích pháp luật thành văn ở Đức, có thể rút ra một vài bài học cho công tác giải thích pháp luật thành văn ở Việt Nam như sau:
Thứ nhất, về cơ quan có thẩm quyền giải
thích pháp luật thành văn Hiện nay, thẩm quyền giải thích pháp luật thành văn ở Việt Nam được trao cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH)(25)
mặc dù trên thực tế, UBTVQH ít khi sử dụng quyền năng này Ở Việt Nam, quan điểm cho rằng chỉ chủ thể ban hành văn bản pháp luật mới có quyền giải thích pháp luật vẫn còn khá phổ biến, trong khi đó, ở hầu hết các nước trên thế giới (bất kể nước Civil Law hay Common Law), quyền hạn này thuộc về toà án Nói như vậy không có nghĩa là cơ quan lập pháp và hành pháp ở những quốc gia này không có thẩm quyền giải thích pháp luật thành văn
Trang 9Cơ quan lập pháp cũng có quyền giải
thích pháp luật thành văn Mặc dù trên thực
tế, ngoài việc đặt ra điều khoản hay mục để
định nghĩa các thuật ngữ pháp lí được sử
dụng trong luật, hiếm khi quyền năng này
được sử dụng sau khi luật đã được thông
qua Tuy nhiên, trong quá trình thực thi pháp
luật, nếu cách giải thích pháp luật thành văn
của toà án không đúng với dự định lập pháp
của nghị viện, nghị viện không có quyền huỷ
bản án đã tuyên của toà mà chỉ có thể ban
hành luật mới để sửa đổi luật hiện hữu, nhằm
giảm thiểu tới mức có thể cách diễn đạt mơ
hồ trong luật, đảm bảo trong tương lai, quy
định đó sẽ được áp dụng phù hợp với dự
định của nhà làm luật
Cơ quan quản lí nhà nước cũng có quyền
giải thích pháp luật thành văn trong quá trình
ra các quyết định hành chính nhằm thực hiện
chức năng công quản Mặc dù, cách giải
thích của họ được đưa ra dựa trên kiến thức
và kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực
quản lí nhà nước mà họ đảm nhiệm nhưng
không có giá trị ràng buộc toà án trong quá
trình xét xử Khi toà án rà soát lại cách giải
thích pháp luật thành văn của cơ quan quản
lí nhà nước trong các quyết định hành chính,
toà thường xem liệu nghị viện có quy định
trực tiếp về vấn đề đã được giải quyết hay
không Nếu dự định của nghị viện đã rõ
ràng, cơ quan hành chính phải bám sát vào
dự định của nghị viện, bất kể sự tối nghĩa
trong cách diễn đạt dự định đó thành câu, từ
cụ thể, trừ khi luật có tuổi đời quá dài và tình
hình kinh tế-xã hội đương thời đã hoàn toàn
thay đổi Trường hợp nghị viện không quy
định trực tiếp về vấn đề đã được giải quyết,
toà án sẽ xem xét liệu có thể chấp nhận được cách giải thích của cơ quan hành chính hay không Như vậy, toà án vẫn có thể huỷ quyết định hành chính nào đó nếu quyết định đó được tuyên trên cơ sở bỏ sót tình tiết vụ việc hoặc do cơ quan hành chính hiểu sai quy định pháp luật hoặc vì cả hai lí do trên Sở dĩ toà án có thẩm quyền đó vì đây là cơ quan có trách nhiệm giải thích cuối cùng đối với pháp luật thành văn
Có thể thấy, ở nhiều quốc gia, cả ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp đều có quyền giải thích pháp luật thành văn nhưng toà án vẫn là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong hoạt động này Ngay cả cơ quan lập pháp - chủ thể trực tiếp ban hành luật, cũng không có quyền huỷ bản án của toà khi thấy cách giải thích của toà trái với dự định lập pháp của mình Cơ quan lập pháp chỉ có quyền khắc phục cách diễn đạt tối nghĩa của mình trong luật bằng cách thông qua luật khác sửa đổi luật hiện hữu
Lí do để nhiều nước trên thế giới trao cho toà án thẩm quyền giải thích pháp luật thành văn vì toà án là cơ quan trực tiếp áp dụng pháp luật trong hoạt động chức năng của mình Hoạt động xét xử diễn ra hàng ngày, đòi hỏi thẩm phán phải hiểu và áp dụng đúng đắn các quy phạm pháp luật có liên quan tới vụ việc đang được toà giải quyết Vì vậy, nếu trao nhiệm vụ giải thích pháp luật thành văn cho cơ quan khác, rất có thể sẽ dẫn đến những khó khăn, tốn kém để thực hiện công việc này, hơn nữa cơ quan đó rất có thể không đủ nguồn nhân lực chuyên sâu trong từng lĩnh vực pháp luật chuyên
Trang 10ngành cần giải thích để đảm đương nhiệm vụ
của mình một cách hiệu quả
Ở Việt Nam, mặc dù về phương diện lí
thuyết, cơ quan quản lí nhà nước ở cấp bộ và
ngang bộ không có chức năng giải thích
pháp luật thành văn nhưng trên thực tế, các
cơ quan này lại thường xuyên phải thực hiện
công việc đó Bởi khi có bất cứ vướng mắc
nào trong quá trình thực thi pháp luật, chủ
thể áp dụng pháp luật đều có thể gửi công
văn tới bộ hữu quan, yêu cầu giải đáp thắc
mắc (điển hình trong lĩnh vực thuế, ngân
hàng, chứng khoán…) Thực tế này cho
thấy, không phải toà án mà bộ và các cơ
quan ngang bộ đã và đang trở thành “địa
chỉ” tin cậy mà các chủ thể áp dụng pháp
luật hướng tới khi có vướng mắc trong thực
tiễn thi hành pháp luật Với đặc thù này của
Việt Nam, trên cơ sở có tính đến thực trạng
năng lực của đội ngũ thẩm phán trong giai
đoạn hiện nay,(26) việc trao thẩm quyền giải
thích pháp luật thành văn cho các bộ hữu
quan hay cho toà án là vấn đề các nhà làm
luật của Việt Nam nên cân nhắc kĩ lưỡng
trong thời gian tới thay vì giao quyền năng
này cho UBTVQH
Riêng thẩm quyền giải thích hiến pháp
cần được coi là thẩm quyền riêng có của cơ
quan cao nhất trong hệ thống cơ quan xét
xử Do ở Việt Nam chưa có cơ quan bảo
hiến độc lập như ở nhiều nước trên thế giới
nên trước mắt việc giải thích hiến pháp nên
trao cho Toà án nhân dân tối cao thực hiện
Điều này hoàn toàn khả thi vì thực chất Toà
án nhân dân tối cao là cấp xét xử cuối cùng
trong hệ thống toà án nên giao cho Toà án
nhân dân tối cao xem xét tính hợp hiến trong cách giải thích pháp luật thành văn của các bộ hữu quan thông qua công văn giải đáp thắc mắc hay cách giải thích của các toà án cấp dưới thông qua các bản án đã tuyên là phù hợp.(27)
Thứ hai, cùng với việc xác định lại vai trò
của các cơ quan nhà nước trong công tác giải thích pháp luật thành văn, cũng cần tạo cơ sở pháp lí rõ ràng cho hoạt động này, giúp cơ quan chức năng có đường hướng nhất quán trong quá trình giải thích pháp luật thành văn
Để đạt được mục tiêu đó, cần luật hoá các quy tắc giải thích pháp luật thành văn
Việc lựa chọn quy tắc giải thích pháp luật thành văn nào để áp dụng tại Việt Nam cũng cần được nghiên cứu kĩ trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm không chỉ của Đức mà còn của nhiều quốc gia khác, bất kể hệ thống pháp luật của quốc gia đó thuộc truyền thống Civil Law hay Common Law Tuy nhiên, bài học hữu ích có thể rút ra từ kinh nghiệm của người Đức là dù áp dụng quy tắc giải thích nào, thẩm phán cũng phải đảm bảo quy phạm pháp luật được giải thích phù hợp với hiến pháp nhưng vẫn phải chú ý yêu cầu đảm bảo tính nhất quán của quy phạm đó trong toàn bộ hệ thống pháp luật theo cả chiều dọc và chiều ngang Mặt khác, trong quá trình giải thích, khi cần, cơ quan giải thích pháp luật phải biết sử dụng kết hợp các quy tắc giải thích trong từng tình huống cụ thể Có như vậy, sản phẩm của hoạt động giải thích pháp luật mới thực sự đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của công tác xét xử và được xã hội chấp nhận Đồng thời, không nên đặt ra