hai câu thơ chỉ là những lời kể chuyện tự nhiên, thông thường, nhưng nghệ thuật đối cân chỉnh đã làm nên nét nghĩa trào phúng trong hai câu thơ này cho thấy cái hẩm hiu, ngang trái tr[r]
Trang 1Ngày soạn: 04/03/2014
Ngày dạy: 08/03/2014
Lớp dạy: 10 Chuyên Văn
Sinh viên: Nguyễn Ngọc Anh
Bài đọc thêm: MÙNG HAI TẾT VIẾNG CÔ KÍ
Trần Tế Xương
-A Mục tiêu cần đạt
Sau khi học xong bài này, học sinh sẽ:
1 Về kiến thức:
- Thấy được một khía cạnh của xã hội Việt Nam buổi “giao thời” với hai thế lực đang ngự trị trong xã hội: thế lực của bọn thực dân và thế lực “đồng tiền”, nó làm băng hoại những giá trị đạo đức của con người
- Thấy được giá trị tố cáo mạnh mẽ trong các sáng tác mang chất trào phúng của Tú Xương
- Thấy được phong cách trào phúng trong thơ Tú Xương
2 Về kỹ năng:
- Kỹ năng đọc hiểu một tác phẩm thơ trữ tình
- Kỹ năng làm việc cá nhân, sáng tạo
3 Về thái độ:
- Biết lên án, tố cáo những yếu tố làm mất đi giá trị đạo đức cao cả của con người, biết trân trọng những vẻ đẹp nhân văn truyền thống vốn có của dân tộc
- Đồng cảm, trân trọng tài năng của nhà thơ TTX
B Chuẩn bị của giáo viên, học sinh.
1 Chuẩn bị của giáo viên:
- SGK, SGV
- Soạn giáo án, sưu tầm tư liệu tham khảo
- Tranh ảnh tư liệu, bảng phụ
2 Chuẩn bị của học sinh:
- Soạn bài theo định hướng sách giáo khoa
- Có định hướng so sánh mở rộng với một số sáng tác khác cùng chủ đề
3 Phương pháp, phương tiện dạy học:
Trang 2- Phương pháp dạy học tích hợp: tích hợp tri thức đọc – hiểu văn bản; tri thức
về thể loại; bối cảnh văn hóa, xã hội; tâm sự của tác giả; gắn việc dạy đọc – hiểu văn bản với việc bồi dưỡng tình cảm gia đình
- Phương pháp dạy học tích cực: đọc sáng tạo, nêu và giải quyết vấn đề,…
- Phương tiện: SGK, SGV, giáo án, bảng phụ, tranh ảnh tư liệu,…
C Tiến trình lên lớp:
Hoạt động 1: Ổn định lớp, kiểm tra bài cũ Thời gian: 5 phút
Hoạt động 2: Dẫn vào bài mới: hình thức thuyết trình.
Tú Xương là người được Nguyễn Tuân gọi là “Ông hoàng thơ Nôm”, được mệnh danh là “Thần thơ thánh chữ” trong nền văn học dân tộc Ông sinh vào buổi giao thời, sống trọn cuộc đời trong lòng đô thị đất Thành Nam, tận mắt chứng kiến những lố lăng kệch cỡm của lớp người thực dân tư sản Vốn có tài năng, thông minh, sắc sảo nhưng lận đận chốn quan trường, tám lần đi thi nhưng chỉ một lần đỗ
tú tài nên ông không có cơ duyên được ra phò Vua giúp nước Chính bởi vậy mà ông đã dùng ngọn bút để chống lại những xấu xa bỉ ổi trong xã hội và những kẻ nấp dưới bóng giặc bằng những tiếng cười dài, những nỗi tủi hờn, uất hận khi ý thức được sự bất lực của bản thân
Với khoảng hơn 100 bài với nhiều thể loại, nổi bật với giọng thơ trào phúng mà ông được mệnh danh là bậc thầy, là “đỉnh cao của văn học trào phúng Việt Nam”, chúng ta không thể không kể đến “Mồng hai tết viếng cô Kí” – một bài thơ tiêu biểu cho phong cách sáng tác đặc trưng này của ông
Hoạt động 3: Hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản
Hoạt động của GV và HS Yêu cầu cần đạt
- GV: dựa vào những kiến
thức đã tìm hiểu ở nhà,
cho biết hoàn cảnh ra đời
của bài thơ?
- HS: dựa vào phần đã
chuẩn bị tại nhà trả lời
câu hỏi
I Giới thiệu chung
1 Hoàn cảnh ra đời
- Bài thơ là một đặc sản của thời cuộc Thời cuộc buổi Tây sang, đánh cướp được nước ta rồi, tạo ra một thứ người Việt tôi tớ Lớp người này sống ở các thành thị, làm nên nét đặc trưng của phố phường thời ấy
- Cô Kí ở đây là vợ hai của một ông Kí mở hiệu xe tay, được chồng sai đi giao dịch với tên cẩm Tây để kiếm lợi Chỉ vì ham chút “địa vị” rẻ tiền là được làm… vợ lẽ ông Tây mà ông Kí hi sinh nhân phẩm của một cô gái tơ – vợ mình, để
Trang 3- Cho biết, nhan đề bài thơ
có gì đặc biệt? Sự đặc
biệt đó tạo nên ý nghĩa gì
cho nhan đề cũng như
làm nổi bật lên ý nghĩa
chính nào của cả bài thơ?
cho cô Kí cam lòng sống với một kẻ tốt mã giẻ cùi Và cũng với kiểu tính toán vô sỉ của chồng,
cô Kí đã cam tâm làm một việc bẩn thỉu là đem
“cái hồng nhan” của mình ra làm “mồi nhử” tên cẩm Tây chỉ cốt được y che chở để kiếm chút lợi cho gia đình
- Bài thơ Mồng hai tết viếng Cô Kí ra đời vào một hoàn cảnh khá đặc biệt, như tựa đề ta có thể nhận thấy đó là ngày mồng hai tết, Cô Kí (vợ của thầy Kí có cửa hàng xe tay) chết, và Tú Xương đến viếng, sẵn “đề tặng” một bài thơ
2 Nhan đề bài thơ
- Đối lập tương phản thể hiện nghịch cảnh cuộc sống:
Mồng hai Tết: ngày Tết vốn là ngày vui vẻ, tưng bừng, ngày gia đình quây quần, sum họp; ngày mùng hai lại là ngày đầu năm, dân gian từng nói “mùng một sớm mai mùng hai đầu tháng”, là ngày vui vẻ nhất, tốt đẹp nhất của năm mới
Viếng cô Kí: “viếng” là hành động của ngày có đám hiếu, mang nỗi buồn đau, mất mát; cô Kí lại là người vợ trong gia đình, viếng cô
Kí hay chính là ngày người thân phải lìa xa nhau, tiễn đưa người còn đầu xanh tuổi trẻ
Mâu thuẫn: ngày hỉ lại phải làm việc hiếu, cho thấy cái nghịch cảnh, trái ngang ngay từ nhan
đề bài thơ
- Nhà thơ đã nắm bắt được mâu thuẫn và khai thác triệt để mâu thuẫn ấy để làm nổi bật tiếng cười trào phúng sâu cay, gửi gắm vào đó thái độ châm biếm, tố cáo mạnh mẽ
II Đọc – hiểu văn bản
1 Hai câu đề: thông báo sự kiện cô
Trang 4- GV: Nghệ thuật gì được sử
dụng trong câu thơ thứ nhất?
Từ nghệ thuật, em hãy chỉ ra
thái độ của nhà thơ trong câu
thơ và điều tác giả muốn gửi
gắm trong hai câu này?
Kí chết
Cô Kí sao mà đã chết ngay?
Ô hay, trời chẳng nể ông Tây!
- Câu đầu: là câu hỏi mang sắc thái của kiểu nói móc, nói kháy
“Sao mà”: cách hỏi biểu thị sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng, bản thân không thể tự
lí giải được Mang hàm ý trách móc
“Đã chết ngay”:
“đã”: biểu thị thì quá khứ, sự việc đã xảy ra; tuy nhiên, trong bối cảnh này, nó mang nghĩa trách móc, trách móc để cho sự việc xảy ra vội vàng, trước cả dự kiến (so sánh với cách nói quen thuộc: “đã vội”, “chưa chi đã làm”,
…)
“ngay”: sự việc vừa mới xảy
ra, vừa mới chấm dứt
“Đã…ngay”: thái độ trách móc khi
“chết” quá sớm so với “dự kiến” của mọi người, hàm ý thể hiện sự việc diễn ra quá chóng vánh, bất ngờ
“chết”: nói thẳng, không hề có nói giảm nói tránh => không có hàm nghĩa tôn trọng, thậm chí có hàm ý coi thường, khinh rẻ
Câu thơ đầu là câu hỏi biểu thị sự ngạc nhiên, mang hàm ý trách móc, khinh thường Nói đến chuyện cô Kí chết nhưng dường như không xoáy vào phía người chết thiệt mạng mà xoáy vào phía người sống, trách cô Kí chết không đúng lúc để người sống phải thiệt lây
- Câu thứ 2: câu cảm thán mang sắc thái mỉa mai, châm biếm
“Ô hay”: thán từ mang tính khẩu ngữ thể hiện thái độ ngạc nhiên, nó như một cái giật mình sửng sốt => Nó làm tăng cấp sự ngạc nhiên
Trang 5- Việc sử dụng từ ngữ
trong câu thơ thứ hai có
gì đặc biệt? Chúng mang
lại hiệu quả gì?
đã thể hiện trong câu thơ thứ nhất
“Trời chẳng nể ông Tây”:
“Trời”: theo quan niệm dân gian, sống chết là do “trời” định, trời là một thế lực siêu nhiên, nó biểu trưng cho cái quy luật tự nhiên của cuộc đời, không chịu sự chi phối của con người
“Chẳng nể ông Tây”: trời không nể thế lực của ông Tây lại để cho cô Kí chết => Mâu thuẫn: trời là cái nằm ngoài sự chi phối của con người, vậy mà nhà thơ trách trời không “nể” thế lực của tên ông Tây; cách nói kháy, mỉa mai cái thế lực vô dụng của hắn
Ông Tây đã thay chỗ cho thầy Kí: cô Kí chết là do trời nhưng là trời không nể thầy Kí chứ sao lại chẳng nể ông Tây? => Ông Tây thay vào chỗ thầy Kí cho thấy mối quan hệ tay ba đê tiện của họ Cô Kí chết, ông Tây thiệt người, thầy Kí mất nguồn thu nhập
Ngòi bút trào phúng của Tú Xương
đã lật tẩy, phanh phui cái bỉ ổi của trò đời
- Câu thơ sử dụng nghệ
thuật gì? Ý nghĩa?
- Câu thơ đã nhắc đến
những việc lớn nào trong
cuộc đời cô Kí? Cách sử
dụng từ ngữ trong hai câu
thơ có gì đặc biệt? Hiệu
quả nghệ thuật mà chúng
2 Hai câu thực: Lời tổng kết khái quát về cuộc đời cô Kí
Gái tơ đi lấy làm hai họ, Năm mới vừa sang được một ngày.
Nghệ thuật đối: thoạt đọc ta cảm nhận như hai câu thơ chỉ là những lời kể chuyện tự nhiên, thông thường, nhưng nghệ thuật đối cân chỉnh đã làm nên nét nghĩa trào phúng trong hai câu thơ này cho thấy cái hẩm hiu, ngang trái trong cuộc đời éo le của cô Kí
Việc hỉ
- “Gái tơ”: được hiểu theo hai nghĩa
Những cô gái trẻ trung , xuân thì
Trang 6mang lại là gì? Mỉa mai những cô gái không đoan
chính “Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao” (Truyện Kiều – Nguyễn Du)
TX cố ý sử dụng từ nhiều nghĩa nhằm thể hiện rằng, cô Kí đã đánh đổi cả tuổi thanh xuân của mình, hạ thấp vẻ đẹp của người con gái đang độ xuân thì chỉ vì đã làm những điều không đoan chính
- “Lấy làm hai họ”: cũng có hai cách hiểu
Vợ hai => Đi làm lẽ mọn cho ông Tây
Làm vợ hai người: thầy Kí và ông Tây
Tuy không nói ra nhưng ta hiểu ngay được rằng cô Kí đã vì tiền mà chấp nhận đánh đổi
cả cái đương thì, xuân sắc bằng phận làm lẽ, làm
me Tây Câu thơ mang hàm ý trách móc người con gái bán rẻ tuổi xuân chỉ vì đồng tiền
Việc hiếu
- “Năm mới”: nhà thơ đã dùng một từ chỉ thời gian mang tính khái quát, không cụ thể như nhan đề => Năm mới: mang đến cho con người cảm nhận về những điều tươi mới, những hi vọng mới bắt đầu được nhen nhóm,…
- “Vừa sang được một ngày”: chỉ ngày mùng
2 – ngày chết của cô Kí – là ngày “vừa sang” năm mới, “vừa sang” thể hiện nhịp thời gian trôi rất nhanh, sự việc vừa xảy ra cảm giác như còn chưa kịp chấm dứt, dư âm còn nguyên; “được một ngày”: thời gian “một ngày” vô cùng ngắn ngủi
Thời gian biểu đạt trong câu thơ như
bị thu ngắn lại, vội vàng, gấp gáp; năm mới vừa được mở ra, mọi thứ mới đang bắt đầu vậy mà cuộc đời cô Kí lại phải chấm dứt vào lúc này Chết trẻ bao giờ cũng đáng thương, nhưng chết
Trang 7trong hoàn cảnh này lại càng đáng thương hơn.
- Câu thơ nhắc đến những
đối tượng nào? Thái độ
của họ đối với cái chết
của cô Kí được thể hiện
trong những chi tiết, hình
ảnh và từ ngữ nào?
3 Hai câu luận: Thái độ của mọi người trước cái chết của cô Kí
Hàng phố khóc bằng câu đối đỏ, Ông chồng thương tiếc cái xe tay!
- Thái độ của người đời:
Hàng phố: hoán dụ (lấy vật chứa chỉ vật bị chứa” => nói đến những người hàng xóm ở cùng phường, cùng phố, những người mà dân gian ta vẫn hay gọi là “hàng xóm tối lửa tắt đèn
có nhau”
“Khóc bằng câu đối đỏ”: đối lập tương phản: “khóc” là hành động thể hiện thái độ xót xa, thương cảm, đau buồn; “câu đối đỏ” là hình ảnh đặc trưng, mang linh hồn của ngày tết,
nó thể hiện niềm vui, niềm hân hoan, thể hiện khát khao, hi vọng mới; câu đối đen mới là câu đối khóc, câu đối dành cho đám hỉ
Người đời không hề đau buồn trước cái chết hẩm hiu của cô, thậm chí còn thấy được ở
đó là thái độ coi thường, cho dù họ là những người “hàng xóm” tối lửa tắt đèn có nhau Nhà thơ đã nhìn ra cái bối cảnh xã hội mà nhân vật sống: là bối cảnh xã hội tư bản buổi đầu thật trớ trêu, con người sống với nhau hoàn toàn bằng sự ghẻ lạnh
- Thái độ của người chồng:
“Cái xe tay”: sản nghiệp của thầy Kí,
và đồng thời nó cũng chính là phương tiện để thầy Kis đưa cô Kí đi “làm việc” – giao thiệp với ông Tây Cô Kí chết rồi, cái xe tay trở nên rảnh rỗi, sự nghiệp thầy Kí bị đe dọa
“Thương cái xe tay”: Lo làm ăn thất bại , không hề thương tiếc vợ Liên hệ: “Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma” Tình chồng vợ chỉ là
Trang 8- Liên hệ bài thơ “Thói
đời” của Nguyễn Bỉnh
Khiêm:
“Còn bạc còn tiền còn đệ tử
Hết cơm hết gạo hết ông tôi”
phương tiện làm ăn, kiếm tiền
Bộ mặt vô liêm sỉ, băng hoại đạo đức, dùng
vợ làm phương tiện để kiếm tiền Thứ tình cảm rất đỗi thiêng liêng cũng bị đồng tiền chi phối, phá vỡ giá trị thiêng liêng ấy
Tiểu kết : hai câu thơ diễn tả thái độ
của mọi người trước cái chết của cô Kí; ở đó, tác giả không chỉ trào lộng mà còn mỉa mai, kết án, bày tỏ sự đau xót trước tình người và đạo lí đều bị đồng tiền giày xéo
- Nhà thơ thể hiện thái độ
gì trước thực trạng xã hội
đương thời?
- Bài học nhân sinh mà nhà
thơ gửi gắm trong hai câu
thơ này là gì?
- Liên hệ: những cảnh lố
lăng của thành thị như thế
này còn được nhắc đến ở
nhiều bài thơ khác :
Khăn là bác nọ lo tày rế,
Váy lĩnh cô kia quét sạch hè
Công đức tu hành sư có lọng,
Xu hào xủng xoảng mán ngồi
xe.
(Năm mới)
4 Hai câu kết: Bộc lộ thái độ của nhà thơ
Gớm ghê cho những cô con gái,
Mà vẫn đua nhau lấy các thầy.
- “Gớm ghê”: từ ngữ thể hiện thái độ ngại ngùng, ghê sợ và có phần khinh bỉ
- “Những cô con gái”: bao gồm
Cô Kí: sẵn sàng hi sinh tuổi trẻ và nhân phẩm vì đồng tiền => gớm ghê cả việc vụ lợi lẫn nhau của thầy Kí và ông Tây
Những cô gái đương thời: hám tiền
và trở thành nô lệ của đồng tiền, bị đồng tiền chi phối
- “Mà vẫn”: thái độ bất chấp, như những con thiêu thân, thấy đồng loại chết trong lửa mà vẫn lao vào
- “Đua nhau”: Hiện tượng xã hội có tính chất phổ biến nó trở thành một nếp sống, một nếp nghĩ
- “Lấy các thầy”: “thầy” ở đây có thể hiểu
Trang 9Hay cảnh nực cười khác:
Chí cha chí chát khua giày dép,
Ðen thủi đen thui cũng lụa là
theo cả hai cách là các thầy như thầy Kí – những
kẻ công chức ăn lương Pháp, làm tay sai cho Pháp; cách khác: “thầy” là thầy Tây – những tên cẩm Tây vừa có thế lực vừa trực tiếp sở hữu đồng tiền
Nhà thơ thể hiện thái độ mỉa mai, cay đắng Từ một hiện tượng cụ thể (cô Kí), nhà thơ nâng tầm khái quát về xã hội mà đồng tiền có thê lực vạn năng, làm biến đổi cả phẩm chất con người Ông không chỉ phản ánh hiện thực mà còn răn đời, đưa ra cho mọi người bài học nhân sinh: đừng vì đồng tiền mà hi sinh tất cả
Em hãy tổng kết ngắn gọn về
giá trị nội dung và nghệ thuật
của bài thơ
III Tổng kết
1 Nội dung
Bài thơ là tiếng cười mỉa mai, chế giễu, đồng thời cũng mang sức tố cáo mạnh mẽ sức phá hoại ghê gớm của đồng tiền với những giá trị truyền thống của dân tộc; ẩn đằng sau thái độ trào phúng
ấy là cả một tấm lòng ưu thời mẫn thế rất đáng trân trọng
2 Nghệ thuật
Nghệ thuật đối, bút pháp trào phúng sắc sảo, tiếng cười mỉa mai có sức tố cáo dữ dội, quyết liệt
IV Củng cố, dặn dò
1 Củng cố
Bài thơ là một mảnh ghép thể hiện bức tranh tài năng toàn diện của nhà thơ trên phương diện trào phúng Bài thơ có sức tố cáo mạnh mẽ, đồng thời cũng thể hiện tấm lòng cao cả rất đáng trọng của nhà thơ Từ đó thấy được tâm và tài của tác giả
2 Dặn dò
Chuẩn bị bài “Bài ca ngất ngưởng” – Nguyễn Công Trứ.
Trang 10V Rút kinh nghiệm giờ dạy