1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHUYÊN đề làm văn MIÊU tả

60 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Làm Văn Miêu Tả
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Chuyên Đề
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 175,87 KB
File đính kèm CHUYÊN ĐỀ LÀM VĂN MIÊU TẢ - NĂM.rar (172 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên đề dành cho học sinh giỏi về thể loại văn miêu tả. Thể loại tập làm văn trong nhà trường dành cho học sinh lớp 6,7,8. Tài liệu này giúp học sinh, phụ huynh và cả giáo viên có thêm cái nhìn tổng thể và chuyên sâu về Văn miêu tả. Giúp các em học tốt hơn thể loại văn này

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ MÔN NGỮ VĂN Chuyên đề số: 62 – Lớp: 6 Tên chuyên đề: LÀM VĂN MIÊU TẢ

A CÁC KIẾN THỨC CƠ BẢN

1 Thế nào là văn miêu tả?

Miêu tả là một phương thức biểu đạt khá thông dụng, được sử dụng nhiều trong giao tiếpbằng ngôn ngữ của con người, kể cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Có rất nhiều cách địnhnghĩa và cách hiểu khác nhau về miêu tả và văn miêu tả Theo Từ điển tiếng Việt – NXB KHXH,

Hà Nội (1997) thì “miêu tả” có nghĩa là: “Thể hiện sự vật bằng lời hay nét vẽ” Theo Đào Duy Anh trong Hán-Việt từ điển, “miêu tả” là “lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra”

Theo tác giả Hoàng Phê (chủ biên) trong Từ điển tiếng Việt - NXB Đà Nẵng (1999) định

nghĩa: “Miêu tả là dùng ngôn ngữ hoặc một số phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật hoặc thế giới nội tâm của con người” [20, 181].

“Văn miêu tả là một trong những kiểu văn bản rất quen thuộc và phổ biến trong cuộc sống cũng như trong sáng tạo văn chương Đây là loại văn bản có tác dụng rất lớn trong việc tái hiện đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét, đánh giá của con người Với đặc trưng của mình, những trang miêu tả làm cho tâm hồn con người và trí tuệ người đọc thêm phong phú, giúp cho ta có thể cảm nhận văn học và cuộc sống một cách tinh tế hơn, sâu sắc hơn” (Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh Diệu - Văn miêu tả trong nhà trường

phổ thông - Nhà xuất bản giáo dục, năm 2003)

Nhà văn Phạm Hổ cho rằng: “Miêu tả giỏi là khi đọc những gì chúng ta viết, người đọc như nhìn thấy cái gì đó hiện ra trước mắt mình: một con người, một con vật, một tiếng nói, một dòng sông… Người đọc còn có thể nghe cả tiếng nói, tiếng kêu, tiếng nước chảy Thậm chí còn ngửi thấy được mùi mồ hôi, mùi sữa, mùi hương hoa, hay mùi rêu, mùi ẩm mốc… Nhưng đó mới chỉ là miêu tả bên ngoài Còn có sự miêu tả bên trong nữa, nghĩa là miêu tả tâm trạng vui buồn, yêu ghét của con người, con vật và cỏ cây” [25, 4]

Sách giáo khoa Ngữ văn 6 (tập hai, trang 16) thì định nghĩa:“Văn miêu tả là loại văn nhằm giúp người đọc, người nghe hình dung những đặc điểm, tính chất nổi bật của sự vật, sự việc, con người, phong cảnh,…làm cho những cái đó như hiện lên trước mắt người đọc, người nghe Trong văn miêu tả, năng lực quan sát của người viết, người nói thường được bộc lộ rõ nhất.”

Mỗi tác giả có cách nhìn nhận riêng về miêu tả và văn miêu tả Theo cách hiểu đơn giảnvăn miêu tả là một loại văn dùng để diễn tả sự vật, hiện tượng, con người một cách sinh động, cụthể như nó vốn có Qua văn miêu tả người đọc không chỉ cảm nhận được vẻ bề ngoài : màu sắc,hình dáng, kích thước, trạng thái, mà còn hiểu rõ hơn bản chất bên trong của đối tượng Vănmiêu tả không phải sự sao chép một cách khách quan mà đó là kết quả của quá trình lao độngcông phu: quan sát, ghi chép, nhận xét, đánh giá, tưởng tượng hết sức phong phú của người viết

Trang 2

2 Đặc điểm của văn miêu tả

a Văn miêu tả là một sáng tác nghệ thuật.

Mỗi bài tập làm văn là sản phẩm của từng cá nhân, nó mang dấu ấn chủ quan các emtrước đối tượng miêu tả Người đọc cảm nhận được tâm hồn, suy nghĩ và tình cảm của các emqua từng trang miêu tả được diễn đạt bởi những suy nghĩ, cách thức diễn đạt hoặc khả năng sángtạo… khác nhau Vì vậy, có thể nói, văn miêu tả là thể loại văn sáng tác hay một sáng tác nghệthuật

Ở đó, bằng chất liệu ngôn từ, ánh nhìn tinh tế và cảm nhận sâu sắc các em đã vẽ lên thếgiới của thiên nhiên vạn vật sinh động với cả đường nét, hình khối của nó Đó là thế giới huyềnmộng, êm dịu, hiền hòa, ngập tràn hương sắc Ở đó, vạn vật và con người đều có mối giao cảmthân thiết Để thể hiện được những điều đó cần một tâm hồn đa cảm, trong trẻo, và cả quá trình

tư duy từ suy nghĩ đi đến trình bày bài viết

b Văn miêu tả hướng dẫn cho học sinh nhận thức về cuộc sống và thể hiện nhận thức ấy bằng ngôn từ.

Làm văn miêu tả là nhận thức thế giới, khám phá, phát hiện từ đối tượng miêu tả nhữngnét đẹp, đáng yêu, những cách nhìn mới lạ, độc đáo Vì vậy, văn miêu tả sẽ góp phần bồi dưỡngcho các em tâm hồn, cảm xúc, giúp các em biết cảm thụ và rung động trước cái đẹp Thông quahọc và làm văn miêu tả các em biết: yêu quý thiên nhiên, vạn vật, con người… và cảm nhận cáiđẹp của thế giới vạn vật ấy

c Văn miêu tả mang tính thông báo, thẩm mỹ, chứa đựng tình cảm của người viết.

Người viết bao giờ cũng đánh giá đối tượng miêu tả theo một quan điểm thẩm mỹ, gửivào bài viết ít nhiều tình cảm riêng của mình Do vậy, từng chi tiết của bài miêu tả đều mang ấntượng cảm xúc chủ quan Đặc điểm này làm cho miêu tả trong văn học khác hẳn miêu tả trongmôn Khoa học thường thức hoặc Tìm hiểu tự nhiên và xã hội Văn miêu tả muốn hay, người viếtcần có tài quan sát và thể hện bằng các từ ngữ, hình ảnh, bằng lối so sánh, ví von độc đáo,…vàcòn phải có tình Cái tình ấy có thể là tấm lòng say đắm, là thái độ và tình cảm trân trọng, mếnyêu đối với cái đẹp, cái thiện, cái trong sáng, cao thượng,…nhưng cũng có thể là sự căm ghét,khinh bỉ đối với cái ác, cái xấu, cái lố lăng, kệch cỡm ở đời

d Văn miêu tả có tính sinh động và tạo hình.

Đặc điểm quan trọng này chưa được làm rõ trong các tài liệu về văn miêu tả dùng trongnhà trường hiện nay nhưng đây lại là phẩm chất rất cần thiết cho một bài văn miêu tả Nhà văn

M.Gorki có lần phân tích: “Dùng từ để tô điểm cho người và vật là một việc Tả họ một cách sinh động, cụ thể đến nỗi người ta muốn lấy tay sờ, như người ta muốn sờ mó các nhân vật trong

Trang 3

“Chiến tranh và hòa bình” của Lep- ton- xtoi, đó là một việc khác” Một bài văn miêu tả được

coi là sinh động và tạo hình khi các sự vật, phong cách, con người…được miêu tả hiện lên quatừng câu, từng dòng trong cuộc sống thực, tưởng như nắm được, có thể nhìn, ngắm hoặc sờ móđược như cách nói của Gorki

Làm nên sự sinh động, tạo hình của văn miêu tả là những chi tiết sống, gây ấn tượng…Tước bỏ chúng đi, bài văn miêu tả sẽ trở nên mờ nhạt, vô vị thậm chí bài văn sẽ trơ ra như một

bộ xương khô Đọc nó tưởng như bắt gặp nụ cười nhợt nhạt của một người không còn sinh khí

Vì vậy có thể thấy bài làm văn miêu tả sẽ thực sự thành công khi có được yếu tố này

e Ngôn ngữ văn miêu tả là ngôn ngữ giàu cảm xúc và hình ảnh.

Miêu tả trong văn chương không như miêu tả trong khoa học, hội họa Nó có ưu thế riêng

so với miêu tả bằng đường nét, màu sắc của hội họa Ngôn ngữ miêu tả có khả năng diễn tả cảmxúc của người viết Đối tượng miêu tả hiện ra sinh động và giàu sức tạo hình

Ngôn ngữ miêu tả giàu các tính từ, động từ, thường hay sử dụng phép nhân hóa, so sánh,

ẩn dụ Do sự phối hợp của các tính từ (màu sắc, phẩm chất…), của các động từ với các biện pháp

tu từ, ngôn ngữ miêu tả luôn tỏa sáng lung linh trong lòng người đọc, gợi lên trong lòng họnhững hình ảnh, cảm xúc, tình cảm ấn tượng về sự vật được miêu tả

3 Yêu cầu của văn miêu tả

Bài văn miêu tả phải đảm bảo tính chính xác, chân thực trong việc tái hiện lại hình ảnhcủa đối tượng miêu tả Việc tái hiện đó đòi hỏi phải sinh động, cụ thể và có sự sáng tạo

Để làm tốt điều đó người miêu tả cần phải chọn lọc được những từ ngữ có sức gợi tả, gợicảm để khêu gợi được hình ảnh của đối tượng miêu tả Những từ ngữ ấy phải có sức biểu cảmcao độ, thể hiện được những tình cảm, thái độ và những cảm xúc chân thực của người viết; đồngthời nắm vững và sử dụng linh hoạt, chính xác các biện pháp nghệ thuật tu từ, biết phát hiện cáimới lạ, độc đáo, cái đẹp của đối tượng; có sự chọn lọc, gọt giũa, trau chuốt ngôn từ và cách diễnđạt một cách tỉ mỉ, kĩ càng thông qua các thao tác nhận xét, liên tưởng, tưởng tượng, ví von, sosánh, sinh động…

4 Rèn kĩ năng quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả

4.1 Rèn luyện kĩ năng quan sát cho học sinh

Để rèn tốt kĩ năng này các em học sinh cần chú ý quan sát và miêu tả theo các trình tựhợp lý như sau:

a Tả theo trình tự không gian

Trang 4

Quan sát toàn bộ trước rồi đến quan sát từng bộ phận, tả từ xa đến gần, từ ngoài vàotrong, từ trái qua phải,… (hoặc ngược lại).

Ví dụ: Trong văn bản “Sông nước Cà Mau”- Ngữ văn 6 tập II, nhà văn Đoàn Giỏi đã

miêu tả cảnh dòng sông và rừng đước Năm Căn theo trình tự từ xa đến gần, từ ngoài vào trong,

từ khái quát đến cụ thể:

“Thuyền chúng tôi chèo thoát qua kênh Bọ Mắt, đổ ra con sông Cửa Lớn, xuôi về Năm

Căn Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơihàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng.Thuyền xuôigiữa dòng con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như haidãy trường thành vô tận Cây đước mọc dài theo bãi, theo từng lứa trái rụng, ngọn bằng tăm tắp,lớp này chồng lên lớp kia ôm lấy dòng sông, đắp từng bậc màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màuxanh chai lọ…lòa nhòa ẩn hiện trong sương mù và khói sóng ban mai”

b Tả theo trình tự thời gian

Các em có thể lựa chọn trình tự: bốn mùa xuân - hạ - thu - đông (tả cây cối, cảnh vật);trong một ngày thì có sáng - trưa - chiều - tối (tả cảnh vật, thời tiết); trong quá trình thì có bắtđầu - diễn biến - kết thúc (tả cảnh sinh hoạt), khi nhỏ - khi lớn - về già (tả con người)…

Ví dụ: “Biển đẹp” của Vũ Tú Nam cho ta thấy các trình tự miêu tả thời gian rất rõ:

“Buổi sớm nắng sáng Những cánh buồm nâu trên biển được nắng chiếu vào hồng rực lên như đàn bướm múa lượn giữa trời xanh Lại đến một buổi chiều gió mùa đông bắc vừa dừng.

Biển lặng, đỏ, đầy như mâm bánh đúc, loáng thoáng những con thuyền như những hạt lạc ai đem

rắc lên trên Rồi một ngày mưa rào Mưa dăng dăng bốn phía Có quãng nắng xuyên xuống biển óng ánh đủ màu: xanh lá mạ, tím phớt, hồng xanh biếc…Có quãng thâm sì, nặng trịch Những

cánh buồm ra khỏi cơn mưa, ướt đẫm, thẫm lại, khỏe nhẹ bồi hồi, như ngực áo bác nông dân càyxong ruộng về bị ướt”

(Biển đẹp – Vũ Tú Nam)

c Tả theo trình tự tâm lí

Khi miêu tả đồ vật, loài vật, tả người nên vận dụng trình tự này nhưng chỉ nên tả nhữngđiểm đặc trưng nhất, không cần phải tả đầy đủ chi tiết của đối tượng

Ví dụ : Nhà văn Đoàn Giỏi miêu tả chợ Năm Căn theo mạch cảm xúc riêng của mình,

qua đó thể hiện niềm tự hào của tác giả về vùng đất trù phú, giàu có nơi tận cùng phía Nam Tổ quốc:

“Nhưng Năm Căn còn có cái bề thế của một trấn “anh chị rừng xanh” đứng kiêu hãnh phôphang sự trù phú của nó trên vùng đất cuối cùng của Tổ quốc Những bến vận hà nhộn nhịp dọcdài theo sông; những lò than hầm gỗ đước sản xuất loại than củi nổi tiếng nhất của miền Nam;những ngôi nhà bè ban đêm ánh đèn măng-sông chiếu rực trên mặt nước như những khu phố nổi,

và nơi đây người ta có thể cập thuyền lại, bước sang gọi một món xào, món nấu Trung Quốchoặc một đĩa thịt rừng nướng ướp kiểu địa phương kèm theo vài cút rượu, ngoài ra còn có thểmua từ cây kim cuộn chỉ, những vật dụng cần thiết, một bộ quần áo may sẵn hay một món nữ

Trang 5

trang đắt giá chẳng hạn, mà không cần phải bước ra khỏi thuyền Những người con gái Hoa Kiềubán hàng xởi lởi, những người Chà Châu Giang bán vải, những bà cụ già người Miên bán rượu,với đủ các giọng nói líu lô, đủ kiểu ăn vận sặc sỡ, đã điểm tô cho Năm Căn một màu sắc độcđáo, hơn tất cả các xóm chợ vùng rừng Cà Mau.”

Lưu ý: Ngoài các trình tự miêu tả trên, các em cần rèn luyện cho mình kĩ năng sử dụng

các giác quan (thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác,…) để quan sát, cảm nhận sự vật, hiện tượngmiêu tả

4.2 Rèn kĩ năng tưởng tượng

Tưởng tượng có vai trò rất lớn trong văn miêu tả Nó không chỉ là yếu tố tạo nên sựphong phú cho các hình ảnh trong bức tranh miêu tả mà con giúp cho người làm văn miêu tả tìmđược những từ ngữ và các biện pháp nghệ thuật phù hợp để bài văn hay hơn, sinh động hơn

* Ví dụ: Trong văn bản “Cỏ non” của Hồ Phương, Văn học 6 tập 1:

“Con Nâu đứng lại Cả đàn dừng theo Tiếng gặm cỏ bắt đầu trào lên như một nong tằm

ăn rỗi khổng lồ Con Ba Bớp vẫn phàm ăn tục uống nhất, cứ thúc mãi mõm xuống, ủi cả đất lên

mà gặm Bọt mép nó trào ra, nom đến là ngon lành Con Hoa ở gần đó cũng hùng hục ăn khôngkém, mặc dù ả có bộ mã tiểu thư rất yểu điệu “cái rá cắn làm đôi” Gã công tử bột vẫn sán ở bêncạnh ả, mồm vừa gau gáu gặm cỏ, mắt vừa liếc sang lem lém Mẹ con chị Vàng ăn ở riêng mộtchỗ cùng con Cún Cu Tũn dở hơi chốc chốc lại chạy tới ăn tranh cỏ của mẹ Chị Vàng lại dịu

dàng nhường cho nó và đi kiếm một búi khác.”

=> Tác giả đã kết hợp một cách tài tình giữa hình ảnh tả thực với hình ảnh sáng tạo nhờ trí tưởng tượng.Chính vì trí tưởng tượng phong phú đã giúp nhà văn khi nghe tiếng đàn bò gặm cỏ

đã liên tưởng đến “một nong tằm ăn rỗi khổng lồ” Và cũng nhờ trí tưởng tượng phong phú mà tác giả đã phát hiện ra tính cách của con bò qua cách gặm cỏ của chúng: Con ba bớp thì “ngổ ngáo”, “phàm ăn tục uống”; con Hoa vốn “tiểu thư yểu điệu”, cu Tũn như một chú bé dở hơi, tinh nghịch, nũng nịu; chị Vàng đúng là người mẹ dịu hiền, nhường nhịn…Nghệ thuật so sánh kết hợp với nhân hóa đã làm cho hình ảnh đàn bò gặm cỏ hiện lên thật sống động.

4.3 Rèn kĩ năng so sánh

So sánh là hệ quả của quá trình liên tưởng và tưởng tượng Khi quan sát một đối tượngnào đó, hình ảnh của đối tượng ấy (từ màu sắc tới hình dáng, từ kích thước tới trạng thái) thườnggợi cho người quan sát nghĩ đến hình ảnh tương đồng nào đó Chính sự so sánh liên tưởng nàygiúp cho trang văn miêu tả của các em hay hơn, đẹp hơn, hấp dẫn hơn

Vì vậy, các em có thể có một số cách so sánh như sau:

a Xét về đối tượng so sánh:

+ Có thể so sánh người với người: “Với gương mặt phúc hậu và mái tóc bạc trắng, trông

bà hệt như bà tiên trong truyện cổ tích”; “Nhìn nó chăm chỉ làm việc giúp bà, ai cũng tấm tắc:Hệt như cô Tấm trong chuyện cổ tích xưa”…

+ Có thể so sánh người với các con vật (hình dáng, tính cách): “Lão ta quá ranh mãnh,xảo quyệt, y như một con cáo già”; “Trông anh ta như một con gấu”; “Cậu ấy nhanh như mộtcon sóc”…

Trang 6

+ Có thể so sánh người với cây cối: “Chấm cứ như một cây xương rồng” (cái sân gạch –Đào Vũ); “Cô bé cứ như một cây lúa non, lặng lẽ lớn lên từ bùn đất”…

+ Có thể so sánh người với các hiện tượng thiên nhiên: “Giọng lão ta lúc nào cũng gầmvang như sấm”; “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào”…

+ Có thể so sánh vật với vật, cảnh với cảnh: “Cây gạo như treo rung rinh hàng ngàn nồicơm gạo mới” (Vũ Tú Nam); “Vầng trăng non giữa bầu trời đầy sao hệt như một cái liềm ai bỏquên giữa cánh đồng lúa chín” (Theo Vích – to Huy gô); “Măng chồi lên nhọn hoắt như một mũigai khổng lồ xuyên qua đất lũy mà trỗi dậy” (Ngô Văn Phú)…

+ Có thể so sánh vật với con người: “Cây bàng già sừng sững, uy nghi như một ngườilính gác canh giữ cho khu vườn được bình yên”; “cây bưởi như một người mẹ đang cần mẫncõng trên mình lũ con đầu tròn trọc lốc”; “Chim gáy già, đầu hói như những ông thầy tu mặc áoxám” (Đoàn Giỏi)

b Nếu xét về cách thức so sánh thì có những hiện tượng so sánh sau:

+ So sánh theo hướng thu nhỏ lại: “Trái đất như một giọt nước màu xanh lơ lửng giữakhông trung” ; “Xa xa, những cánh buồm nâu như những cánh bướm rập rờn trên mặt biển”…

+ So sánh theo hướng phóng đại lên: “Rệp bò lổm ngổm như xe cóc – muỗi lượn nghênhngang tựa máy bay” (Hồ chí Minh); “Chiếc lá tre thả xuống dòng nước, chòng chành, xoay xoay,rồi trôi đi như một con thuyền, chở theo ước mơ của chúng tôi”…

+ So sánh theo hướng cụ thể hóa: “Từ sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi”(truyền thuyết Thánh Gióng); “Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kì hết Tròn trĩnh phúc hậunhư lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn” (Nguyễn Tuân)

+ So sánh theo hướng trừu tượng hóa: “Nước biển chiều nay xanh như một trang sử củaloài người, lúc con người phải viết vào than tre” (Nguyễn Tuân)…

Lưu ý: Khi sử dụng kĩ năng so sánh, các em cần lưu ý là phải biết sáng tạo, biết tìm điểm

mới, điểm riêng Không nên lặp đi lặp lại những hình ảnh so sánh đã quá cũ, quá sáo mòn theokiểu: “Miệng cười tươi như hoa”, “Những hạt sương long lanh như những hạt ngọc đính trêncành hoa hồng”; “Cánh đồng lúa chín trông như tấm thảm vàng trải rộng đến chân trời”…

4.4 Rèn kĩ năng nhận xét trong văn miêu tả

Viết văn miêu tả, bao giờ người viết cũng để lại dấu ấn chủ quan của mình Dấu ấn chủquan ấy chính là sự cảm nhận riêng của mỗi người, là cách biểu lộ thái độ, tình cảm riêng của

mỗi người đối với đối tượng được miêu tả Một nhà văn Pháp viết: “Một trăm cây bạch dương giống nhau cả trăm, một trăm ánh lửa giống nhau cả trăm Mới nhìn tưởng thế, nhưng nhìn kĩ thì thân cây bạch dương nào cũng khác nhau, ngọn lửa nào cũng khác nhau Trong đời ta gặp bao nhiêu người, phải thấy ra mỗi người mỗi khác nhau, không ai giống ai.” (Dẫn theo Tô Hoài – Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả).

Không phải chỉ các nhà văn, mà ngay cả học sinh khi làm văn miêu tả cũng nên ý thức rõđiều này Đâu phải chỉ có ngọn lửa này khác ngọn lửa kia, thân cây bạch dương này khác thâncây bạch dương kia mà ngay cùng một sự vật, hiện tượng ấy cũng từng phút, từng giờ thay đổiliên tục Cũng một con đường từ nhà đến trường, nhưng sáng hôm nay ta thấy nó như thế này,sáng mai đã có thể đổi khác Cũng một cây bàng, chiều hôm trước còn trơ trụi lá cành, mà chỉ

Trang 7

sau mấy hôm đã đâm chồi nảy lộc, tràn đầy sức sống Cũng một bãi biển, nhưng khi ta buồn ta

sẽ cảm nhậc nó khác khi ta đang vui… Có thể nói rằng, đối tượng miêu tả sẽ xuất hiện và đi vàobài văn tùy thuộc vào điểm nhìn, thái độ, tâm trạng tình huống giao tiếp của người viết Đâychính là cơ sở tạo nên dấu ấn chủ quan của người viết Nó đòi hỏi người viết trong bài viết củamình có những lời nhận xét, những suy nghĩ, những cảm nhận riêng về đối tượng Vấn đề là phảidùng cách nhận xét như thế nào để tạo sự hấp dẫn cho bài văn miêu tả

* Ví dụ: Trong văn bản “Cô Tô” –SGK Ngữ văn 6, nhà văn Nguyễn Tuân khi miêu tả vẻ

đẹp trong sáng, tràn đầy sức sống toàn cảnh Cô Tô một ngày sau bão, đã thể hiện được cảm nhận riêng của mình về một vùng đất ông từng qua:

“Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô là một ngày trong trẻo, sáng sủa Từ khi có vịnh Bắc Bộ

và từ khi quần đảo Cô Tô mang lấy dấu hiệu sự sống con người thì, sau mỗi lần dông bão, baogiờ bầu trời Cô Tô cũng trong sáng như vậy Cây trên núi đảo lại thêm xanh mượt, nước biển lạilam biếc đặm đà hơn hết cả mọi khi, và cát lại vàng giòn hơn nữa Và nếu cá có vắng tăm biệttích trong ngày động bão thì nay lưới càng thêm nặng mẻ cá giã đôi Chúng tôi leo lên nóc đồn

Cô Tô hỏi thăm sức khỏe anh em bộ binh và hải quân cùng đóng sát nhau trong cái đồn khố xanh

cũ ấy

Trèo lên nóc đồn, nhìn ra bao la Thái Bình Dương bốn phương tám hướng, quay gót 180

độ mà ngắm cả toàn cảnh Cô Tô Nhìn rõ cả Tô Bắc, Tô Trung, Tô Nam, mà càng thấy yêu mến

hòn đảo như bất cứ người chài nào đã từng đẻ ra và lớn lên theo mùa sóng ở đây”.

5 Rèn luyện cách diễn đạt trong văn miêu tả

5.1 Rèn cách dùng từ ngữ, hình ảnh

Việc lựa chọn từ ngữ trong văn miêu tả là yêu cầu quan trọng, đòi hỏi phải được đặt ramột cách nghiêm túc Muốn làm tốt yêu cầu này thì người viết văn miêu tả trước hết phải có mộtvốn từ phong phú Vấn đề tích lũy vốn từ cần được tiến hành thường xuyên và dưới nhiều hìnhthức: thông qua các giờ học Văn - Tiếng việt trong nhà trường; thông qua giao tiếp hàng ngày,qua quá trình tích lũy vốn sống thực tế, thông qua đọc sách, đọc tài liệu tham khảo liên quan tớivăn miêu tả… Tất nhiên có vốn từ phong phú chưa hẳn là đã thành công mà điều quan trọng làngười viết phải có sự lựa chọn tinh tường, sao cho giữa một hệ thống các từ đồng nghĩa, gầnnghĩa, có thể lấy ra một vài từ phù hợp, chính xác nhất

Ví dụ:

– Tả cảnh sóng biển có nhiều từ ngữ gợi hình, gợi thanh: cuồn cuộn, nhấp nhô, lăn lăn,

rì rầm, rì rào, lô nhô, ì oạp …Nhưng không phải tả sóng lúc nào cũng dùng được các từ ấy Ta

phải xác định các từ ngữ phù hợp trong từng hoàn cảnh Ví dụ như sóng biển lúc trời động thì

phải dùng từ cuồn cuộn; tả tiếng sóng biển vỗ vào bờ đá thì phải dùng từ ì oạp; tả tiếng sóng biển vọng lại trong đêm mà nghe xa thì phải dùng từ rì rầm…

Trang 8

– Tả cây cối cũng có nhiều từ ngữ chỉ màu xanh khác nhau: xanh um, xanh rì, xanh non, xanh mơn mởn; xanh tươi, xanh tốt, xanh rờn… nhưng khi đi vào thực tế, mỗi loại cây đều có

một màu xanh riêng, không thể lẫn lộn: cây rau cải trong vườn hay cây lúa đang thì con gái thì

phải là xanh mơn mởn, xanh rờn; cây cối trong rừng rậm rạp thì phải là xanh rì, xanh tốt, xanh um…

– Ngay cả âm thanh tiếng mưa rào cũng có sự phân biệt rất rõ: mưa lúc đầu thì lẹt đẹt, mưa trên mái tôn thì rào rào, mưa đập vào phên lứa thì đồm độp; mưa đập vào tàu lá chuối thì lùng bùng; mưa từ mái tranh giọt đổ xuống sân thì ồ ồ…

– Còn từ ngữ tả dáng đi của con người cũng vô cùng phong phú, đa dạng: em bé tập đi thì lẫm chẫm, cậu bé tinh nghịch thì có dáng đi nhún nhảy, vừa đi vừa nhảy chân sáo; cụ già thì lom khom; người đang đau chân thì đi khập khà khập khiễng; cô gái trẻ thì yểu điệu thướt tha; người vất vả thì dáng đi hấp tấp, lật đật, sấp ngửa, chân nam đá chân xiêu…

– Bên cạnh việc lựa chọn từ ngữ, vấn đề tạo hình ảnh trong văn miêu tả cũng không kém

phần quan trọng: Có thể thấy câu văn miêu tả giàu hình ảnh bao nhiêu thì sức gợi cảm của nó sẽ

lớn bấy nhiêu Việc tạo hình ảnh cho câu văn miêu tả có thể thực hiện bằng nhiều cách: hoặc

bằng từ ngữ tượng hình, tượng thanh (gấu bố, gấu mẹ, gấu con cùng béo núc ních, bước đi lặc

lè, lặc lè); hoặc bằng nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, nhân hóa (“Lá mía sắc như lưỡi gươm, xanh đậm”, “lũ trẻ đứa nào đứa nấy da cứ đen bóng như bôi nhọ mỡ ”, “ Dòng sông thay chiếc áo màu xanh hằng ngày bằng dải lụa đào”)…

5.2 Rèn cách đặt câu, dựng đoạn trong văn miêu tả

a Cách đặt câu trong văn miêu tả

Có thể là câu dài với đầy đủ các thành phần chính phụ, có nhiều tầng ý nối tiếp nhau.Cũng có thể là những câu ngắn (câu đặc biệt hoặc câu tỉnh lược) Vấn đề đặt ra ở đây là phải biếtchọn kiểu câu phù hợp với hoàn cảnh, với tình huống, nội dung miêu tả, và cả với cảm xúc củangười miêu tả

Sau đây các em có thể tham khảo một số trường hợp lựa chọn kiểu câu thường gặp:

– Kiểu câu dài, nhiều tầng ý, nhiều vế nối nhau thường phù hợp với việc miêu tả khungcảnh thiên nhiên êm đềm, yên ả, hoặc những hoạt động diễn ra nhẹ nhàng, liên tiếp nối nhau;hoặc khi cảm xúc của con người đang dâng tràn, tuôn chảy…

– Kiểu câu ngắn (câu đặc biệt, câu tỉnh lược) với các dấu câu (dấu chấm than, dấu chấmhỏi, dấu chấm lửng…) thường dùng để diễn tả những cảm xúc mạnh, những hoạt động nặng,diễn ra nhanh gọn liên tục; những tình huống bất ngờ…

Trang 9

– Kiểu câu có sử dụng phép tu từ đảo ngữ: thường dùng trong những trường hợp cầnnhấn mạnh một đặc điểm, một trạng thái nào đó của đối tượng được miêu tả.

Trong bài viết học sinh cần lựa chọn các kiểu câu phù hợp với đối tượng và đề bài

- Tả hoa phượng: Trên cành cây, lác đác xuất hiện những bông hoa phượng đầu mùa.

(Câu đảo ngữ)

Tuy nhiên học sinh cũng cần lưu ý làm văn miêu tả là phải biết dùng đan xen các kiểucâu khác nhau Có câu dài xen câu ngắn Có câu bình thường xen câu đặc biệt Như vậy mới tạođược sự phong phú, đa dạng cho cách diễn đạt

b Rèn cách dựng đoạn trong văn miêu tả

Ngoài việc đặt câu, cách dựng và liên kết giữa các đoạn trong một bài văn miêu tả cũng rấtcần được quan tâm Thông thường, khi làm văn, học sinh chia bài thành ba phần: mở bài, thân bài,kết bài Để viết đoạn tốt trước tiên các em cần xác định những ý cần triển khai trong bài văn miêu

tả để chia thân bài thành các đoạn văn tương ứng Có nhiều cách để chia đoạn mà các em có thể sửdụng trong làm văn miêu tả

Sau đây là một số cách giúp học sinh tách đoạn trong phần thân bài:

+ Chia đoạn theo trình tự thời gian: Trong một năm thì theo bốn mùa xuân – hạ – thu –

đông (tả cây cối, cảnh vật); trong một ngày thì có sáng – trưa –chiều – tối (tả cảnh vật, thời tiết);trong quá trình thì có bắt đầu- diễn biến- kết thúc (tả cảnh sinh hoạt), khi nhỏ – khi lớn – về già(tả con người), …

Trang 10

+ Chia đoạn theo trình tự không gian: từ xa nhìn lại, từ ngoài nhìn vào, từ trong nhìn ra,

từ trên nhìn xuống, từ dưới nhìn lên, nhìn bên trái, nhìn bên phải, nhìn phía trước, nhìn phía sau,nhìn toàn cảnh, nhìn chi tiết…

+ Chia đoạn theo đặc điểm tính cách của đối tượng được miêu tả: tả người nói chung có

thể chia thành hai ý (hình dáng, tính tình)…

+ Chia đoạn theo số lượng đối tượng được miêu tả: có thể sử dụng cách chia đoạn này

cho kiểu bài tả cảnh thiên nhiên, tả cảnh sinh hoạt, tả thế giới loài vật, đồ vật…Ví như tả cảnhthiên nhiên thì có: bầu trời – mặt đất; cảnh trong vườn – ngoài đồng; cảnh biển cả – cảnh núirừng… Hoặc tả không khí giờ học thì có: công việc của thầy cô giáo, công việc của học sinh…

Tả đàn gia súc, gia cầm của gia đình thì có: bầy gà, đàn vịt, lũ trâu bò, mấy con lợn…

Sau khi chia đoạn chúng ta cần chú ý cách triển khai ý trong từng đoạn Để mở rộng ý,phát triển hình ảnh miêu tả một cách phong phú và hợp lí có thể mở rộng ý theo một số hướngsau:

+ Mở rộng ý bằng cách liên tưởng, so sánh đối tượng đang miêu tả với đối tượng khác.Hoặc đặt đối tượng đang miêu tả trong các mối quan hệ với những đối tượng xung quanh

+ Mở rộng ý bằng cách đi vào miêu tả thật tỉ mỉ, thật chi tiết từng đường nét, hình dáng,đặc điểm của đối tượng

+ Mở rộng ý bằng cách đan xen vào những câu văn tả là những câu văn nêu cảm xúc, suynghĩ, nhận xét

+ Mở rộng ý bằng cách kết hợp miêu tả đặc điểm với những lời giới thiệu về giá trị, vềcộng dụng của đối tượng được miêu tả…

Ví dụ: Khi làm bài văn tả cây cối trong vườn vào một thời điểm cụ thể, ta có thể chia thân bài thành một số đoạn ứng với một số đối tượng miêu tả như sau :

Đoạn một: Tả một loại cây có đặc điểm tiêu biểu và gây ấn tượng nhất trong vườn (Lớn

nhất, đặt ở vị trí quan trọng nhất) Khi tả phải giới thiệu được vị trí miêu tả, hình dáng, đặc điểmcủa thân, lá, rễ, hoa, quả,…,tầm quan trọng của nó đối với các cây khác trong vườn, hoặc đối vớicon người Có trường hợp nêu lên lai lịch của nó (Ai trồng? Trồng lúc nào? Người trồng và thờiđiểm trồng có ý nghĩa như thế nào đối với chủ nhân của khu vườn?)

Đoạn hai: Tả loài cây hoa cho hương: Liệt kê một số loài hoa (hoa nhài, hoa hồng,…).

Đồng thời miêu tả cụ thể vị trí, hình dáng đặc điểm, cấu tạo của cây (thân, lá, hoa, hương vị…)

Trang 11

Đoạn ba: Tả loài cây cho quả: Liệt kê một số loại cây tiêu biểu (cam, bưởi, na, ổi…) Sau

đó tập trung miêu tả vị trí, quy trình ra hoa kết trái, cấu tạo, công dụng… của từng loài cây

Lưu ý: Trong quá trình tả, có thể đặt các đối tượng được tả trên trong mối quan hệ với

nắng, với gió, với chim chóc, ong bướm, với con người…để toàn cảnh khu vườn hiện lên sốngđộng và đẹp hơn

5.3 Rèn cách mở bài và kết bài cho một bài văn miêu tả

Mô hình bố cục của một bài văn miêu tả thông thường gồm ba phần rõ rệt:

– Mở bài: giới thiệu đối tượng cần miêu tả (Đối tượng là gì? Có quan hệ như thế nào đốivới người miêu tả? Hoàn cảnh tiếp xúc gặp gỡ với đối tượng ấy có gì đặc biệt?)

– Thân bài: Lần lượt dựng lại hình ảnh hoặc khung cảnh được miêu tả với những nét đặcđiểm chung – riêng

– Kết luận: Nêu cảm nghĩ về đối tượng miêu tả

5.3.1 Cách mở bài

a Cách mở bài trực tiếp (thường áp dụng cho những học sinh đại trà).

Với cách mở bài trực tiếp thì văn miêu tả chỉ mở bài bằng việc giới thiệu đối tượng vàkết bài bằng cách nêu cảm nghĩ của người viết

Ví dụ 1: Khi tả một cây ăn quả, thường các em hay đi theo cách mở và kết như sau:

Mở bài: Trong vườn bà em trồng rất nhiều thứ quả như cam, ổi, xoài… Nhưng em thích

nhất là cây bưởi đào

Kết bài: Em rất yêu quý khu vườn (yêu cây bưởi đào) Hoặc em muốn được chăm sóc

cho khu vườn ngày càng tươi tốt (Chăm sóc cây bưởi đào để nó tiếp tục đơm hoa kết trái ởnhững mùa sau)

Ví dụ 2: Đối với đề văn “Tả một người bạn thân”, cách mở bài và kết luận cũng lắp theo

khuôn hệt như ví dụ 1 :

Mở bài: Em có nhiều người bạn, bạn nào em cũng quý mến Nhưng có lẽ thân thiết và

gần gũi nhất vẫn là bạn X

Trang 12

Kết bài: Em và X rất thân thiết, gắn bó với nhau Chúng em tự hứa với lòng mình rằng,

dù cho hoàn cảnh và điều kiện cuộc sống có thay đổi như thế nào thì tình bạn ấy vẫn không baogiờ phai nhạt

b Cách mở bài gián tiếp (đây là cách mở bài phổ biến cho các đối tượng học sinh khá,

giỏi)

Nếu cứ theo kiểu lắp khuôn như kiểu mở bài trực tiếp thì ta sẽ có một loạt mở bài và kếtbài gần như giống nhau mặc dù đối tượng cần miêu tả có thể không giống nhau Vì thế để bài vănmiêu tả sáng tạo hơn, học sinh nên chọn một số cách mở bài và kết bài khác: Mở bài gián tiếp

– Có thể mở bài bằng một lời thông báo ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề (Ngày chưa tắt hẳn, trăng đã lên rồi – Thạch Lam).

– Cũng có thể mở bài bằng lời giới thiệu tình huống để đối tượng miêu tả xuất hiện Cách

mở này thường dài dòng (Ví như tả một người công nhân làm đường: Cái Thư, bạn tôi lạ lắm kìa! Hễ cứ ngồi với nhau chẳng lần nào là nó không mở đầu bằng câu: “Mẹ tớ, ấy biết không, là công nhân sửa đường đấy Năm nào mẹ tớ cũng được bầu là lao động tiên tiến Tổ mẹ tớ vá đường giỏi nhất công ty Nếu ấy được xem mẹ tớ làm việc, ấy phải thích mê đi Này nhé!…”.

Một buổi sáng, chúng tôi được đi ô tô đến chỗ mẹ Thư làm việc (Nguyễn Thị Xuyến)

5.3.2 Cách kết bài

a Có thể kết thúc bằng một câu miêu tả:(thường dành cho học sinh đại trà)

Ví dụ: Đêm đã khuya, vầng trăng càng sáng, vằng vặc trên vòm trời cao mênh mông như đang thao thức cùng trời đêm.

Hay: Cánh đồng lúa rập rờn, rập rờn trong gió Hương thơm dìu dịu tỏa ra lan xa, lan

xa …

b Có thể kết thúc bằng một lời mở hoặc để lửng ý cho người đọc tự cảm nhận.(thường

dành cho học sinh khá, giỏi.)

Ví dụ: Khi tả cảnh hoàng hôn trên sông Hương, tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường đã kết thúc bài theo kiểu này: “Huế thức dậy trong nhịp chuyển động mới đi vào cuộc sống ban đầu của nó.”

c Cũng có thể kết thúc bằng một vài lời tâm tình trực tiếp với đối tượng được miêu tả.

Ví dụ: Kết bài cho bài văn miêu tả mùa xuân: “Cảm ơn mùa xuân, cảm ơn những điều kì diệu mà trời đất đã ban tặng cho thiên nhiên và con người”.

Trang 13

Ví dụ: Kết bài cho bài văn tả hình ảnh người mẹ: “Con yêu mẹ rất nhiều! Mẹ ơi!”

6 Phương làm một số kiểu bài miêu tả thường gặp

Ở bậc Tiểu học các em đã được làm quen với các kiểu bài miêu tả: đồ vật, loài vật, câycối, con người, cảnh vật, cảnh sinh hoạt…ở mức độ đơn giản Lên lớp 6 các em tiếp cận với kiểubài văn miêu tả: tả cảnh, tả người, miêu tả sáng tạo…ở mức độ chuyên sâu hơn và đòi hỏi sự tinh

tế và khả năng hành văn tốt hơn

Trong chuyên đề này chúng ta tập trung tìm hiểu về các kiểu bài văn miêu tả ở lớp 6

6.1 Kiểu bài tả cảnh.

a Tả cảnh là gợi tả những bức tranh về thiên nhiên hay cảnh sinh hoạt gợi ra trước mắt

người đọc về đặc điểm từng nét riêng của cảnh

Đề văn tả cảnh bao gồm tả phong cảnh thiên nhiên (núi rừng, sông biển, ruộng đồng,…),

tả cỏ cây, hoa lá, sự vật, tả cảnh sinh hoạt (đường phố, trường học, chợ Tết )

b Yêu cầu tả cảnh

- Xác định đối tượng miêu tả: Cảnh nào? Ở đâu? Vào thời điểm nào?

- Quan sát lựa chọn được những hình ảnh tiêu biểu

- Trình bày những điều quan sát được theo một thứ tự

*Lưu ý: Đối với bài văn tả phong cảnh thiên nhiên cần nêu rõ vị trí của cảnh vật nhữngnét đặc sắc của cảnh vật nhìn từ nhiều góc độ khác nhau (địa lí, lịch sử, văn hoá,…), vai trò, tácdụng của cảnh vật đối với cuộc sống của con người

c Bố cục bài văn tả cảnh

- Mở bài: Giới thiệu cảnh được tả

- Thân bài: Tập trung tả cảnh vật chi tiết theo một thứ tự nhất định, có thể ở một sốtrường hợp sau:

+ Từ khái quát đến cụ thể (hoặc ngược lại)

+ Không gian từ trong ra ngoài (hoặc ngược lại)

+ Không gian từ trên xuống dưới (hoặc ngược lại)

Trang 14

- Kết bài: phát biểu cảm tưởng về cảnh vật đó.

d Ví dụ

*Ví dụ 1: Đọc đoạn văn : “Bánh cốm, bánh xu xê”.

“(…) Bánh cốm Hàng Than… Một thứ bánh ngon mà cũng không đắt, một thứ bánh gợicho ta những kỉ niệm rất nhiều màu Bánh cốm chính là thứ bánh cưới, trao đi đổi lại trongnhững ngày mùa thu, để chứng nhận cho cái sung sướng của cặp vợ chồng mới, và cái vui mừngcủa họ hàng Vuông vắn như quyển sách vàng, bọc lá chuối xanh buộc lạt đỏ; cái dây lạt đỏ nhưsợi dây tơ hồng buộc chặt lấy những cái ái ân… Nhân đậu xanh giã nhuyễn, vương mấy sợi dừa,

và đường thì ngọt đậm…

… Bánh cốm thường đi đôi với bánh xu xê Cái tên kì khôi này ở đâu mà ra? Thứ bộtvàng và trong như hổ phách ấy, dẻo và quánh dưới hàm răng, là một thứ bánh rất ngon Dù sao,cũng là một thứ bột thẳng thắn, vì nó dễ cho ta đoán thấy trước - để mà thèm thuồng - những cáingon ngọt hơn ẩn náu bên trong Qua các màu vàng óng ánh ấy, màu trắng của sợi dừa và màuxanh nhạt của đậu thêm một sắc nóng ấm và thân mật Tôi bao giờ cũng ưa thức ăn nào có mộthình sắc đẹp đẽ: cái đẹp lúc trông ngắm giúp nhiều cho cái thưởng thức lúc ăn lắm.”

(Thạch Lam — Hà Nội băm sáu phố phường)

=> Chú ý để thấy: Thạch Lam tả bánh mà đẹp như vẽ một bức tranh “có hình sắc đẹp đẽ” (hình dáng, đường nét, và nhất là màu sắc) Ông không chỉ tả bằng mắt mà còn gợi ra hương vị, cảm giác (ngọt đậm, dẻo và quánh, ấm nóng, thân mật…) làm cho người đọc thấy

“thèm thuồng”.

Đối với bài văn tả cảnh sinh hoạt cần làm rõ được khung cảnh chung nơi diễn ra những hoạt động (thời gian, không gian, địa điểm…), lựa chọn những hình ảnh tiêu biểu, đặc sắc cho những hoạt động của người, vật (hình dáng, tư thế, những sự thay đổi, chuyển động…sắp xếp theo trình tự thời gian (trước sau, bắt đầu, kết thúc) không gian (xa gần, trong ngoài…).

*Ví dụ 2: Đọc đoạn văn: “Cảnh làng quê một ngày đông”.

“Bố tôi bảo chưa có mùa đông nào lạnh ghê gớm như năm nay Quả thật, mấy ngày naykhông gian chỉ toàn màu xám xịt Gió cuộn thành từng luồng bàng bạc, cuốn theo bao nhiêu làđất, bụi và lá vụn đã queo quắt màu nâu xỉn Con đường làng phía xa lấp ló trong sương mù.Thỉnh thoảng lại nghe có tiếng cành cây gãy răng rắc

Một cơn gió lùa qua khe cửa mang thêm cái lạnh giá khiến tôi rùng mình dù đã mặc áo

ấm và đang ở trong nhà Thường những đêm mùa đông, tôi nghe thấy nhiều tiếng động Đó làtiếng giàn mướp xác xơ, cành quắt lại vỗ vào cọc, là tiếng chân người đi ngoài đường giẫm lên lá

Trang 15

khô giòn tan, là tiếng tranh trên mái nhà bị gió khua chạm vào nhau ràn rạt, là tiếng đứa trẻ hàngxóm khóc vì lạnh Tôi gọi đó là âm thanh mùa đông.”

(Theo Hướng dẫn tập làm văn lớp 6, Vũ Nho (chủ biên), trang 107)

=> Chú ý để thấy: những quan sát chính xác và tinh tế của người viết: cảnh vật làng quê, những tiếng động trong đêm đông gió lạnh… tất cả đã được chọn lọc và trình bày theo một trình tự hợp lí, kết hợp với những cảm xúc chân thành.

6.2 Kiểu bài tả người

a Tả người là gợi tả về các nét ngoại hình, tư thế, tính cách, hành động, lời nói… của

nhân vật được miêu tả

Tả người bao gồm tả ngoại hình, hoạt động, tính cách, tâm trạng nhằm giúp cho ngườiđọc hình dung được rõ ràng chân dung của đối tượng được tả (đối với học sinh cấp THCS đốitượng tả nên là những người gần gũi với cuộc sống của các em như ông bà, cha mẹ, những ngườithân trong gia đình, thầy cô giáo, bạn bè…), thấy được tình cảm của người viết với đối tượngđược tả

Tả ngoại hình: cần làm rõ được những chi tiết về hình dáng, mặt mũi, cách ăn mặc, đi

đứng, nói năng,… của đối tượng Qua đó cũng có thể ít nhiều thấy được tính cách của nhân vật

Tả người khi đang hoạt động: cần làm rõ được những chi tiết về tư thế, động tác phù hợp

với tính chất của công việc, chú ý các chi tiết thể hiện cử chỉ, trạng thái cảm xúc

b Bố cục

- Mở bài: Giới thiệu người được tả (chú ý đến mối quan hệ của người viết với nhân vậtđược tả, tên, giới tính và ấn tượng chung về người đó)

- Thân bài:

+ Miêu tả khái quát hình dáng, tuổi tác, nghề nghiệp

+ Tả chi tiết: ngoại hình, cử chỉ, hành động, lời nói… (chú ý tả người trong công việc cầnquan sát tinh tế vào các động tác của từng bộ: khuôn mặt thay đổi, trạng thái cảm xúc, ánhmắt…)

+ Thông qua tả để khơi gợi tính cách nhân vật: qua tả các chi tiết người đọc có thể cảmnhậnđược tính cách của đối tượng và thái độ của người miêu tả đối với đối tượng đó

- Kết bài: Nhận xét hoặc nêu cảm nghĩ của người viết về người được miêu tả

Trang 16

c Ví dụ

*Ví dụ 1: Đọc đoạn văn sau: “Bà tôi”.

“Bà tôi ngồi cạnh tôi, chải đầu Tóc bà đen và dày kì lạ, phủ kín cả hai vai, xoã xuốngngực, xuống đầu gối Một tay khẽ nâng mớ tóc lên và ướm trên tay, bà đưa một cách khó khănchiếc lược thưa bằng gỗ vào mớ tóc dày

Giọng bà trầm bổng, ngân nga như tiếng chuông Nó khắc sâu vào trí nhớ tôi dễ dàng, vànhư những đoá hoa, cũng dịu dàng, rực rỡ, đầy nhựa sống Khi bà mỉm cười, hai con ngươi đensẫm nở ra, long lanh, dịu hiền khó tả, đôi mắt ánh lên những tia sáng ấm áp, tươi vui Mặc dùtrên đôi má ngăm ngăm đã có nhiều nếp nhăn, khuôn mặt của bà tôi hình như vẫn tươi trẻ.”

(Mác-xim Go-rơ-ki – Bà tôi, SGK Tiếng Việt 5, tập một, trang 122, 123)

=> Chú ý để thấy: những chi tiết mà người viết lựa chọn để tả ngoại hình: mái tóc, giọng nói, đôi mắt, khuôn mặt được lựa chọn rất khéo gây ấn tượng đối với người đọc Những tình cảm của người viết đối với bà được thể hiện qua những nhận xét đi kèm sau mỗi chi tiết được tả, và được thể hiện bằng những hình ảnh so sánh giàu sức biểu cảm.

*Ví dụ 2: Đọc đoạn văn sau: “Người thợ rèn”.

“Ngồi xem anh Thận làm việc thật thích: có cái gì rất khỏe rất say trong công việc củaanh, sinh động và hấp dẫn lạ thường Này đây, anh bắt lấy thỏi thép hồng như bắt lấy một con cásống Dưới những nhát búa hăm hở của anh, con cá lửa ấy vùng vẫy, quằn quại, giãy lên đànhđạch Những chiếc vảy của nó bắn ra tung toé thành những tia lửa sáng rực Nó nghiến răng kenkét, nó cưỡng lại anh, nó không chịu khuất phục Anh quặp lấy nó trong đôi kìm sắt dài, lại dúiđầu nó vào giữa đống than hồng

- Thổi nào! - Anh bảo cậu thợ phụ

Cậu thanh niên rướn người lên Đôi ống bễ thở phì phò Những chiếc lưỡi lửa liếm lênrực rỡ

- Thôi! - Anh nói

Cậu thợ phụ trở tay lau mồ hôi đầm đìa trên khuôn mặt ửng hồng vì hơi nóng, trong khianh Thận lại lôi con cá lửa ra, quật nó lên hòn đe và vừa hằm hằm quai búa choang choang vừanói rõ to: “Này… Này… Này…”

Cuối cùng con cá lửa đành chịu thua Nó nằm ưỡn dài ngửa bụng ra trên đe mà chịunhững nhát búa như trời giáng Và tới lúc anh trở tay ném nó đánh xèo một tiếng vào cái chậunước đục ngầu làm cho chậu nước bùng sôi lên sùng sục thì nó đã biến thành một chiếc lưỡi rựa

Trang 17

vạm vỡ và duyên dáng Anh Thận chỉ liếc nhìn nó một cái, như một kẻ chiến thắng Và anh lạibắt đầu một cuộc chinh phục mới.”

(Nguyên Ngọc – Người thợ rèn, SGK Tiếng Việt 5, tập một, trang 123)

=>Chú ý để thấy: những chi tiết miêu tả hoạt động của người thợ rèn, nhất là những động tác nhanh nhẹn và thành thạo: bắt lấy thỏi thép…quặp lấy nó…quậtnó lên…quai búa choang choang; của người thợ phụ: rướn người lên kéo bễ Thỏi thép được so sánh như một con

cá sống, con cá lửa…, được nhân hoá: vùng vẫy, quằn quại, giãy lên, nghiến răng ken két, nằm ưỡn dài, ngửa bụng ra trên đe… đã góp phần rất quan trọng trong việc làm nổi bật hình ảnh của người thợ rèn đang say mê trong công việc.

Khó nhất khi tả người là tả tâm trạng Tâm trạng ít khi được nói lên một cách trực tiếp

mà thường được bộc lộ qua lời nói, qua hành động, qua những suy nghĩ của nhân vật Tâm trạng cũng có thể được bộc lộ qua khung cảnh thiên nhiên, qua giọng điệu của người viết.

*Ví dụ 3: Đọc đoạn văn: “Tôi đi học”

“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mâybàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường

Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cànhhoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày naytôi không nhớ hết Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đi đếntrường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh,

mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp Con đường này tôi đã quen đilại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên thấy lạ Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòngtôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học.”

(Thanh Tịnh -Tôi đi học, SGK Ngữ văn 8, tập một, trang 5)

=>Chú ý để thấy: tâm trạng của chú bé lần đầu tiên đến trường đi học đã được miêu tả qua khung cảnh thiên nhiên gợi lên rất nhiều bâng khuâng, xao xuyến: cuối thu lá rụng nhiều, những đám mây bàng bạc, buổi sớm mai đầy sương thu và gió lạnh… đó là không gian của những kỉ niệm Tâm trạng cũng được bộc lộ trực tiếp qua những cảm xúc; nao nức, mơn man, cảm giác trong sáng, tưng bừng rộn rã… cảnh vật và lòng người như có sự hoà điệu cùng nhau.

6.3 Kiểu bài miêu tả sáng tạo.

Trang 18

a Đối tượng miêu tả thường xuất hiện trong hình dungtưởng tượng có bắt nguồn từ

một cơ sởthực tế nào đó

Đối tượng: Người hay cảnh vật

b Yêu cầu khi miêu tả:

- Tả cảnh sáng tạo phải bám vào một số nét thực của đời sống Ví dụ khi tả một phiên chợtrong tưởng tượng của em cần dựa trên những đặc điểm thường xảy ra của cảnh đó làm cơ sởtưởng tượng như:không khí của cảnh, số lượng người với những lứa tuổi tầng lớp nào? chợ diễn

ra ở địa điểm nào?Thời tiết khí hậu ra sao?….Những cơ sở đó là thựctế để tưởng tượng theo ýđịnh của mình

- Tả người trong tưởng tưởng: nhân vật thường là những người có đặc điểm khác biệt vớingười thường như các nhân vật ông Tiên, ông Bụt trong cổ tích hay một người anh hùng trongtruyền thuyết….Cần dựa vào đặc điểm có tính bản chất để tưởng tượng những nét ngoại hình chophù hợp, tạo sự hấp dẫn

Có thể người trong tưởng tượng là chính bản thân em hay người thân, người quen của emtrong một thời điểm ở tương lai Với dạng đề này cần hình dung cảnh vật, hoạt động của đốitượng miêu tả cho phù hợp

*Lưu ý:

- Tự do miêu tả theo suy nghĩ của bản thân

- Tái hiện, bày tỏ nhận thức, tình cảm của mình với sự vật, con người đã quan sát đượctrong thực tại

- Dù miêu tả theo cách nào và đối tượng nào cũng cần có yếu tố sáng tạo, tưởng tượngnhưng chú ý vận dụng ví von so sánh để bài văn miêu tả có nét độc đáo mang tính cá nhân rõ.Đồng thời sự sáng tạo cần có ý nghĩa hướng đến khát vọng, ước mơ tốt đẹp

c Bố cục của bài miêu tả sáng tạo

- Mở bài: Giới thiệu đối tượng định tả và cảm xúc của em về đối tượng đó

- Thân bài:

+ Miêu tả khái quát

+ Miêu tả cụ thể, chi tiết đối tượng định tả (từng mặt, từng khía cạnh, từng góc nhìn…)

Trang 19

Tôi là Lê Thái Hà, nhà thiết kế cao cấp ngành thời trang đang làm việc tại Tokyo (NhậtBản) Xưa kia, tôi là học sinh lớp 6 của trường THCS Nguyễn An Ninh, TP Vũng Tàu Từ 23năm trước, khi còn là học sinh lớp 5 trường tiểu học Trưng Vương tôi đã rất tự hào với thành tíchcủa trường Được thành lập từ năm 1996 nhưng bấy giờ cơ sở vật chất vẫn còn đơn sơ, nhiều dãyphòng xuống cấp, chỉ có tình thương của thầy cô, bạn bè cùng môi trường giáo dục thân thiện làkhông thể chê được.

Chiều ngày 16/11/2036, khi được nhận thư mời qua fax, tôi thu xếp công việc trở về ViệtNam Từ Tokyo, sau 4 giờ bay thẳng trên máy bay phản lực siêu thanh của hãng hàng khôngquốc gia Nhật Bản, vượt qua gần 8000 km, tôi hạ cánh xuống sân bay quốc tế Vũng Tàu Tôinghỉ ngơi tại khách sạn 6 sao mang tên Cap Saint Jacque để về thăm trường cũ vào sáng hômsau Sau 23 năm xa cách, tình cảm năm xưa về ngôi trường, thầy cô, bạn bè dồn dập kéo về, hiệnhữu trong suy nghĩ của tôi như thời gian quay ngược

Vũng Tàu khác xưa nhiều lắm, hiện đại không kém gì Tokyo nhưng nhỏ hơn nhiều Xedừng, tôi sững sờ khi nhìn thấy cổng trường nay đồ sộ và hoành tráng ngoài sức tưởng tượng vớitấm biển đồng rất lớn ghi dòng chữ : “Trường tiểu học nội trú số 1 Trưng Vương”

Ngay cả những cổng của các học viện thời trang cao cấp Paris ở Pháp và Milan ở Ý - nơi tôi đãtừng học khó có thể đẹp như thế này Ngỡ ngàng và sung sướng, tôi hồi hộp bước qua cổngtrường, nhớ lại câu nói của thầy: “Đằng sau chiếc cổng này là một thế giới kỳ diệu của trẻ thơđang chờ đợi các con”

Trang 20

Tôi ngạc nhiên vì sân trường không còn là gạch vương giả đá màu xám đen mà được lát

đá hoa cương cao cấp màu sắc đỏ hồng tuyệt đẹp Những hàng cây phượng, lim cổ thụ, to lớn,xanh mượt đến nao lòng Tán lá của chúng xòe kín đan chéo vào nhau tạo nên những chiếc dùkhổng lồ che mát cả sân trường Tượng đài Hai Bà Trưng cưỡi voi ra trận, uy nghi nép bên câyvạn tuế - giờ đã cao lớn hơn xưa như dõi theo các thế hệ học trò Lá cờ Tổ quốc phần phật baytrong gió nhưng tươi hơn trong nắng mới

Ngắm nhìn sân trường, lòng tôi trào dâng những cảm xúc thật lạ lùng Sau 23 năm, cảnhvật có đổi khác rất nhiều nhưng không hề xưa cũ, vẫn tràn trề sức sống như chứa đựng mãi niềm

tự hào của ngôi trường nổi tiếng ngày nào…”

(Trích bài viết của Lê Thái Hà – học sinh trường THCS Nguyễn An Ninh – thành phố Vũng Tàu)

=>Chú ý để thấy: Bài viết có sự suy nghĩ độc lập, sáng tạo, logic va lại rất mở, nhờ óc tưởng tượng phong phú; dựa trên sự hiểu biết sâu sắc về nhiều lĩnh vực nghề nghiệp, khoa học

kỹ thuật, cuộc sống trong tương lai và cũng là mơ ước, khát khao của tuổi trẻ về một tương lai tươi sáng của đất nước ta, nhân dân ta Bài văn có định hướng cho xu hướng và xu thế của thế

hệ trẻ về hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế tri thức và những nghề nghiệp phục vụ trực tiếp cho lợi ích con người

B CÁC DẠNG BÀI CƠ BẢN DẠNG 1: BÀI TẬP BỔ TRỢ

Trang 21

- Khi đọc đề cần tìm được từ “khóa” trong câu hỏi, tự trả lời trước khi đọc đáp án, dùngphương pháp loại trừ với dạng câu hỏi có nhiều đáp án.

- Đối với những bài tập yêu cầu viết câu trả lời ngắn cần lựa chọn, sắp xếp câu từ cho phùhợp đảm bảo rõ ràng, đủ ý và không sai về ngữ pháp

a Phải biết lựa chọn trình tự miêu tả

b Xây dựng được cốt truyện

c Phải biết lựa chọn sự vật, hiện tượng để miêu tả

d Cần biết sử dụng từ ngữ có hình ảnh để miêu tả

e Phải miêu tả các sự vật hiện tượng riêng lẻ không liên quan đến nhau

g Nên miêu tả các sự vật, hiện tượng, con người trong mối liên quan gắn bó với nhau

Đáp án: Học sinh chọn các đáp án: a, c, d, g.

Bài 3: Cảnh trong đoạn văn sau được miêu tả theo trình tự nào?

Trang 22

“Càng về ngược, vườn tược càng um tùm Dọc sông những chòm cổ thụ dáng đứng trầm ngâm lặng nhìn xuống nước Núi cao như đột ngột hiện ra chắn ngang trước mặt Đã đến phường Rạnh Thuyền chuẩn bị vượt nhiều thác nước”.

(Vượt thác – Võ Quảng – SGK Ngữ văn 6, tập II)

A Theo hành trình của con thuyền

B Từ thấp đến cao

C Từ trên xuống dưới

D Từ xa đến gầnĐáp án: A

Bài 4: Dựa vào kết quả quan sát kết hợp với sự liên tưởng của mình em hãy nối các từ

ngữ chỉ sự vật ở cột A với các hình ảnh so sánh liên tưởng ở cột B

1 Trăng đầu tháng a như chiếc gương phản chiếu mây trời

2 Những giọt sương trên lá b mảnh như lá dứa

3 Mặt sông trong xanh c long lanh như những hạt ngọc

Đáp án: 1-b; 2-c; 3-a

Bài 5:

Hãy viết câu mở đầu cho đoạn văn sau:

“… Chúng em thường rủ nhau ra sông tắm mát Sông ôm chúng em vào lòng dịu dàng như người mẹ với đàn con Buổi tối em cùng các bạn bơi thuyền trên sông hóng mát Sông ì oạp

vỗ vào mạn thuyền như ru chúng em ngủ.”

Đáp án: Học sinh có thể viết nhiều câu mở đoạn khác nhau, ví dụ như: “Dòng sông quê

hương nơi đã gắn bó bao kỷ niệm tuổi thơ em.”

1.2 Nhận xét

- Với dạng bài tập này học sinh các em học sinh dễ bị nhầm lẫn đáp án vì trong mỗiphương án đưa ra lại có các phương án nhiễu

Trang 23

- Để làm tốt dạng bài này các em cần lưu ý:

2 Các bài tập cho học sinh khá giỏi

2.1 Một số bài tập

Bài 1:Đọc đoạn văn sau đây và trả lời câu hỏi:

“Đó là một buổi chiều mùa hạ có mây trắng xô đuổi nhau trên cao Nền trời xanh vời vợi Con chim sơn ca cất lên tiếng hót tự do tha thiết đến nỗi khiến người ta phải ao ước giá mà mình có một đôi cánh Trải khắp cánh đồng là nắng chiều vàng dịu và thơm hơi đất, là gió đưa thoang thoảng lúa ngậm đòng và hương sen Một chú nhái bén nấp đâu đó nhảy tõm xuống đồng làm mặt nước nổi lên những vòng sóng Làn nước trong veo chẳng khác nào một chiếc gương để khoảng trời tự ngắm vẻ đẹp và sự khoáng đạt của mình.”

(Trích “Bồng Chanh Ðỏ”- Chuyện Mùa Hạ - Ðỗ Chu, NXB Văn Học VN, 2010)

a Đoạn văn trên có phải văn tả cảnh không? Vì sao?

b Tác giả đã quan sát sự vật bằng những giác quan nào?

c Trong đoạn văn trên em thích hình ảnh nào nhất vì sao?

Trang 24

c Học sinh lựa chọn theo ý cá nhân, ví dụ hình ảnh: Làn nước trong veo chẳng khác nàomột chiếc gương để khoảng trời tự ngắm vẻ đẹp và sự khoáng đạt của mình Em thích hình ảnhtrên vì tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh, liên tưởng rất thú vị.

Nhận xét:

- Bài tập giúp học sinh nhận biết kiểu bài; nắm được cách quan sát khi miêu tả, biết lựachọn hình ảnh tiêu biểu trong đoạn văn tả cảnh

- Với bài tập dạng này học sinh khó đạt điểm tối đa, đặc biệt là học sinh trung bình vì các

em thường hay mắc lỗi diễn đạt và hành văn Vì vậy để làm tốt dạng bài này các em cần đọc kĩcác dữ liệu cho trong bài văn sau đó lựa chọn cách viết câu trả lời một cách ngắn gọn, đầy đủ.Với câu hỏi lựa chọn, giải thích (phần c), để đạt yêu cầu khi giải thích chỉ ra nội dung của chitiết, câu văn được lựa chọn và chú ý giải thích bằng các dấu hiệu nghệ thuật được sử dụng (sosánh, liên tưởng, nhân hóa, ẩn dụ… nếu có)

của con chó bị lôi sau sợi dây xích sắt, mặt buồn rầu, sợ sệt, ”

(Buổi chợ trung du - Ngô Tất Tố, Văn Nghệ số mùa xuân 1949)

Nhận xét:

- Bài tập giúp học sinh tìm hiểu tác dụng của cách dùng từ, đặt câu; rèn kĩ năng đưa ra

nhận xét cho đoạn văn miêu tả

Trang 25

- Để làm tốt dạng bài này các em cần tập trung tìm hiểu các từ láy, từ tượng thanh, tượnghình, các biện pháp tu từ Sau đó tìm ra nội dung miêu tả khái quát của toàn đoạn, nhận xét tácdụng của cách dùng từ trong việc tạo ra hiệu ứng miêu tả.

2.2 Nhận xét chung

- Bài tập bổ trợ cho đối tượng học sinh khá giỏi là dạng bài vận dụng ở mức độ vừa vàkhó Nó không chỉ rèn các kĩ năng nhận biết, thông hiểu mà còn giúp các em bước đầu biết tạolập những câu văn nhận xét, đánh giá về đối tượng miêu tả; Đồng thời rèn khả năng cảm thụ vănhọc cho học sinh

- Để làm tốt dạng bài này đòi hỏi giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh kĩ năng cảm thụvăn học, khả năng phát hiện chi tiết phục vụ cho nhận xét, đánh giá và diễn đạt trong các câu trảlời đơn giản liên quan đến đối tượng trong từng bài tập

DẠNG 2: DẠNG BÀI VIẾT ĐOẠN VĂN MIÊU TẢ

I Phương pháp chung

1.Rèn các kỹ năng cơ bản cho học sinh viết đoạn văn

a Tạo cho học sinh có thói quen quan sát:

Giáo viên yêu cầu học sinh có thói quen quan sát những sự vật hiện tượng xung quanh đểghi nhận lại và sử dụng khi thật cần thiết Vì qua thực tế đôi khi có những đối tượng miêu tả màcác em chưa từng thấy Ví dụ khi cho một bài tập tả về cảnh biển, có em nói rằng chưa bao giờnhìn thấy biển Quả đúng như vậy, vì các em được sinh ra và lớn lên ở nông thôn nên các emkhông nhìn thấy biển là đúng Bởi thế giáo viên cũng cần sưu tầm những phim ảnh để có thểtrình chiếu cho các em, cho các em quan sát về cảnh biển, … hoặc vào dịp nghỉ hè các em hayđược ba mẹ cho đi tham quan tắm biển, nhân đó, giáo viên có thể yêu cầu học sinh quan sát kỹ

để có ý tưởng cho tập làm văn tả cảnh biển

b Cung cấp vốn từ ngữ cho học sinh:

Để các em có thể làm được một bài văn tốt, các em phải có vốn từ ngữ phong phú Trongcác tiết dạy, giáo viên nên tập cho học sinh trả lời thành câu đủ ý và chú ý đến những câu hỏi tíchhợp có liên quan đến tiết tập làm văn Từ đó học sinh có thể rút ra những câu văn hay, từ ngữ đẹp

và ghi nhớ sau này vận dụng

Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh: Nhiều từ ngữ gợi tả, từ láy, từ tượng thanh,

tượng hình … Ví dụ: Mặt biển xanh và rộng thành mặt biển xanh ngắt và rộng mênh mông Nối các câu văn lại thành những từ ngữ liên kết như: và, thì, nếu, vậy là ….

Lưu ý học sinh trong đoạn văn tránh lặp lại từ nhiều lần mà phải thay những từ ngữ lặp

lại bằng từ có ý nghĩa tương tự Ví dụ: Bác Hồ thành Bác, Người… thay những từ ngữ thông thường thành những từ ngữ trau chuốt hơn; buổi sáng thành buổi sớm mai, buổi bình minh.

c Giúp học sinh nắm chắc bố cục của đoạn văn:

Tạo cho các em thói quen làm đoạn văn cũng phải có bố cục 3 phần:

Trang 26

+ Mở đoạn: thường bằng một câu có tác dụng giới thiệu chung

(Câu mở đoạn thường là câu chủ đề)

+ Thân đoạn: Gồm các câu văn triển khai nội dung

+ Kết đoạn: Nêu suy nghĩ, tình cảm của bản thân

2.Trang bị cho học sinh về vốn từ và kĩ năng viết đoạn văn

a Cung cấp vốn từ

Giáo viên cần trang bị cho học sinh một số từ thuộc chủ đề hoặc phù hợp với văn cảnh

Ví dụ:

- Tả nắng của mùa hè: nắng chói chang, nắng gắt gỏng, nắng như thiêu như đốt…

- Tả về tiếng hót của chim: hót líu lo, hót véo von, hót vang lừng …

- Tả về hình dáng người

+ Thân hình : mảnh khảnh, gầy gò, béo tròn, thon thả …

+ Nước da: đen sạm, trắng hồng, bánh mật, xanh xao, ngăm đen + Mái tóc: đen bóng, óng mượt, bồng bềnh, loăn xoăn…

+ Khuôn mặt: Trái xoan, đầy đặn, tròn trịa, xương xương, vuông vức

Giáo viên đưa một số câu văn hay đến với học sinh một cách tự nhiên không gò ép

Ví dụ :

- Khi dạy học sinh viết đoạn văn tả cảnh biển giáo viên gợi mở:

Câu “Những cánh buồm đủ màu sắc được nắng sớm chiếu vào sáng rực lên, trông xanhư những đàn bướm bay lượn giữa trời xanh cùng với cánh chim hải âu” Có thể trả lời cho câuhỏi nào? (Trên mặt biển có những gì?)

b Về kĩ năng

- Để có kĩ năng viết đoạn văn tốt giáo viên cần rèn cho học sinh kĩ năng viết gãy gọn, trọn

vẹn ý, không viết câu cụt

- Giáo viên nhắc nhở học sinh lưu ý giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Khi viết đoạn văndẫn lời nói của người khác em phải cho trong ngoặc kép

Ví dụ : - Muốn kể lại lời nói của Dì trong đoạn viết về người thân của em, cần phải viết

trong ngoặc kép như: Dì em bảo: “Cháu cứ lấy kẹo ra mà ăn”

Hoặc khi trích dẫn lời nói của chú vẹt khi viết về một loài chim mà em thích Mỗi khi cókhách đến chơi chú lại nhanh nhảu: “Có khách! Có khách!”

- Việc rèn cho học sinh viết đoạn cần tạo điều kiện phát huy tính tích cực, chủ động củahọc sinh Phải làm sao cho mỗi đoạn văn là một cơ hội sáng tạo cho học sinh thâm nhập, quansát, phân tích từ thực tế

3.Các bước tiến hành dạy học sinh viết đoạn văn

a Bước 1:

- Xác định yêu cầu bài

+ Học sinh nêu yêu cầu bài tập

+ Giáo viên phân tích yêu cầu

- Định hướng học sinh viết

+ Tả (kể) về ai (cái gì)?

Trang 27

+ Viết mấy câu?

+ Viết với tình cảm như thế nào?

+ Hướng dẫn học sinh sắp xếp ý

- Hướng dẫn học sinh phát triển thành đoạn văn Ở khâu này học sinh bộc lộ rất rõ nhượcđiểm về tư duy cách viết câu, sử dụng từ Giáo viên không nên làm thay cho học sinh mà nêntrang bị một số tình huống, một số cách dùng từ, một số cách liên kết phù hợp với nội dung đoạnviết để học sinh vận dụng viết bài

b Bước 2: Học sinh viết bài vào vở.(Trước khi viết vào vở cho học sinh nêu miệng bài văn).

c Bước 3: Nhận xét bài, chữa lỗi.

- Học sinh đổi chéo vở đọc bài, sửa câu từ, nhận xét bài lẫn cho nhau

- Giáo viên yêu cầu một số học sinh đọc bài viết của mình và đọc bài viết đã được bạn sửa(câu, từ) trước lớp Học sinh dưới lớp nhận xét sửa chữa bổ sung

- Giáo viên nhận xét và chữa một số lỗi cơ bản (từ, câu, ý)

- Giáo viên đọc đoạn văn mẫu mà giáo viên đã chuẩn bị để học sinh tham khảo

Ví dụ: Khi dạy học sinh viết một đoạn văn từ 5 đến 7 câu nói về mùa hè, giáo viên cần

hướng dẫn theo các bước như sau:

Bước 1: Xác định yêu cầu bài Định hướng học sinh viết.

- Học sinh đọc yêu cầu bài: “Hãy viết từ 5 đến 7 câu nói về mùa hè”

- Giáo viên phân tích yêu cầu

- Hướng dẫn học sinh định hướng viết

+ Viết đoạn gồm mấy câu? (Viết đoạn từ 5 đến 7 câu)

+ Viết về cái gì? (Viết về mùa hè)

- Hướng dẫn học sinh sắp xếp ý

- Hướng dẫn học sinh phát triển thành đoạn văn Từ câu này sang câu khác phải có sự liênkết tránh lặp lại từ ý này phát triển tiếp ý kia

Bước 2: Học sinh làm bài vào vở.

- Giáo viên hướng dẫn cách trình bày một văn bản Khi bắt đầu viết đoạn cách lề một ô, viếthết câu này tiếp sang câu khác, ý này tiếp sang ý kia, viết hết đoạn mới xuống dòng

- Khi học sinh làm bài giáo viên quan sát giúp đỡ những học sinh yếu

Bước 3: Nhận xét bài, chữa lỗi:

- Học sinh đổi chéo bài, đọc bài viết của bạn sau đó nhận xét về cách trình bày, sửa câu, từ sai

có trong đoạn viết

- Một số học sinh đọc bài viết của mình, đọc câu bạn đã sửa giúp Học sinh khác góp ý bổsung

- Giáo viên nhận xét bài, chữa một số lỗi cơ bản (từ, câu, ý)

- Giáo viên đọc đoạn văn mẫu cho học sinh tham khảo

II Các ví dụ

1.Một số bài tập dành cho học sinh đại trà.

Trang 28

Bài 1: Viết đoạn văn tả cảnh dòng sông quê em.

- Tả mặt sông, nước sông…Hình ảnh những đàn cá bơi lội trên sông…

- Những con sóng lăn tăn …

- Thấp thoáng vài con thuyền…

- Hoạt động của con người trên sông: đánh bắt cá, mái chèo bơi, tiếng nói chuyện…+ Câu kết đoạn: Suy nghĩ, tình cảm của em

b Nhận xét:

Đây là kiểu bài dựng đoạn miêu tả đơn giản, với đối tượng tả là “dòng sông” Để dựngđoạn văn các em cần biết cách sắp xếp các lời văn diễn đạt sao cho hợp lý, lôgic, chặt chẽ, mạch lạc

Những lỗi thường mắc: Học sinh thường rất lúng túng không biết tả cảnh cụ thể là tả cảnh

gì? Tả như thế nào? Theo trình tự từ đâu? Các em thường sa vào kể lể, liệt kê cảnh một cáchtràn lan, không trội lên được những đặc trưng của cảnh và không tạo được ấn tượng cho ngườiđọc về cảnh

Vậy phải làm như thế nào để khắc phục khó khăn này? Trước hết, các em cần hình dungmỗi một cảnh nhỏ sẽ viết thành một đoạn văn trọn vẹn Trong đoạn văn đó sẽ đi từ khái quát đến

cụ thể Bao giờ câu đầu đoạn cũng là câu miêu tả khái quát cảnh đó

Trong quá trình miêu tả cụ thể, học sinh cần lựa chọn trình tự miêu tả cho phù hợp với vịtrí quan sát kết hợp lời văn so sánh, lời văn nhận xét, đánh giá và sự liên tưởng tưởng tượngphong phú, ý câu trước với câu sau lôgic với nhau tạo liên kết về mặt nghĩa, những câu đoạncuối thường là những câu có ý nghĩa sâu sắc, làm đậm nét cho bức tranh thiên nhiên…

Bài 2: Hãy viết tiếp khoảng 2-3 câu để có đoạn văn tả cảm xúc của em với sự vật được

tả

“Ơi, con đường thân quen, nơi ôm ấp kỷ niệm tuổi thơ tôi! ”

Trang 29

a Hướng dẫn trả lời:

- Câu mở đoạn chính là câu chủ đề: “Ơi, con đường thân quen, nơi ôm ấp kỷ niệm tuổi thơ tôi!”

- Các câu phát triển đoạn:

+ Tả bao quát về con đường…

+ Đặc điểm nổi bật của con đừơng

+ Tả cụ thể: Những nét nổi bật về đoạn đường có nhiều kỉ niệm đối với em: hàng cây,cánh đồng, hình ảnh mọi người đi lại…

+ Câu kết đoạn: Tình cảm của em

b Nhận xét:

- Dạng bài yêu cầu tạo lập đoạn văn cho sẵn câu chủ đề giúp học sinh dễ dàng hơn trongviệc phát triển nội dung đoạn văn, nhưng lại dễ dẫn đến một hệ quả là các câu phát triển đoạn cónguy cơ thiếu đi tính logic hoặc không thể làm nổi bật chủ đề

- Để làm tốt dạng bài này trước hết các em cần chú ý phải đưa được câu văn cho sẵn vàobài viết của mình, vì đó chính là câu chủ đề của toàn đoạn văn Câu cho trước có thể đặt ở đầuđoạn (nếu là đoạn diễn dịch) hoặc có thể đặt ở cuối đoạn (nếu là đoạn quy nạp)

+ Các em cũng cần xác định được vấn đề chính thông qua từ “khóa”, sau đó dựa trên cơ

sở ấy phát triển thành đoạn văn có nội dung hoàn chỉnh

Bài 3: Viết đoạn văn tả người mẹ thân yêu của em.

a Hướng dẫn trả lời:

- Câu mở đoạn: Giới thiệu chung về mẹ (người mình định tả) Ví dụ: Mỗi khi nghe ai đó nói về tình mẫu tử em lại nhớ đến mẹ của em Hoặc: Trong gia đình, mẹ là người em yêu quý nhất…

- Các câu phát triển đoạn:

+ Tả dáng người, khuôn mặt, mái tóc…

+ Tả về những công việc hàng ngày của mẹ Ví dụ: Thường ngày mẹ dậy thật sớm để dọn dẹp và chuẩn bị bữa sáng cho cả nhà Mẹ nấu ăn rất ngon, em thích nhất món canh bí tôm của

Trang 30

+ Câu kết đoạn: Tình cảm của em dành cho mẹ.

b Nhận xét:

- Trong văn miêu tả, tả người sẽ có phần khó hơn so với tả cảnh Để làm tốt dạng bài nàysau khi xác định đối tượng cần tả các em cần chú ý xem đề yêu cầu tả ngoại hình hay tả hoạtđộng của nhân vật để xác định đúng trọng tâm của đề

- Nếu đề chỉ cho tả nhân vật nào đó thì nên lựa chọn tả cả ngoại hình và hoạt động củanhân vật để đoạn văn chất lượng và hấp dẫn hơn

- Khi tả người, cần làm nổi bật các đặc điểm về lứa tuổi, tác phong, tính tình, hình dángcho phù hợp với nghề nghiệp, hoàn cảnh riêng của mỗi người; cần kết hợp tả hoạt động, tính tình

và đôi nét về hình dáng Khi miêu tả chi tiết khuôn mặt hay toàn thân nên miêu tả theo thứ tự từtrên xuống dưới để đảm bảo tính cấu trúc hình thể

2 Một số bài tập cho đối tượng học sinh khá giỏi

Bài 1: Khu vườn vào một buổi sáng mùa thu.

a Hướng dẫn trả lời:

Học sinh viết đoạn văn tả cảnh khu vườn vào thời điểm buổi sáng mùa thu

Yêu cầu: + Biết cách viết văn tả cảnh.

+ Bố cục mạch lạc, dùng từ đặt câu chính xác, văn phong sáng rõ, giàu cảm xúc

+ Học sinh có thể cấu trúc bài làm theo nhiều cách, có thể tham khảo một sốgợi ý dưới đây:

- Cảnh giàn thiên lý trước sân nhà ngào ngạt dậy hương buổi sớm, hình ảnh cây cau cạnh

bể nước với những tàu lá già dang rộng, đọt lá non cao vút

- Hình ảnh vườn hoa đua sắc vàng thu cùng ong bướm…

- Vườn rau tươi tốt cũng mang đặc trưng mùa thu: cải sen làm dưa đang lên ngồng, trổhoa vàng rực, những ngọn mồng tơi đang quăng mình leo lên bờ dậu để ra quả vắt mình sangthu

- Tiếp đó là hình ảnh hàng cây ăn quả với những hương vị màu sắc của thu: Thơm lựng làchuối tiêu trứng cuốc đốm vàng, những trái na mở mắt nhìn nắng thu, cây hồng trái chín nhưnhững chấm son trên nền trời xanh

Ngày đăng: 09/09/2021, 11:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Hình thành kĩ năng viết đoạn văn miêu tả; kĩ năng làm bài văn miêu tả hoàn chỉnh. - CHUYÊN đề làm văn MIÊU tả
Hình th ành kĩ năng viết đoạn văn miêu tả; kĩ năng làm bài văn miêu tả hoàn chỉnh (Trang 50)
Bố cục bài viết chặt chẽ. Văn phong giàu hình ảnh, cảm xúc chân thành, trong sáng. Biết sử dụng đủ các chi tiết trong bài thơ, nhưng biết lựa chọn một vài chi tiết tiêu biểu để tả kỹ. - CHUYÊN đề làm văn MIÊU tả
c ục bài viết chặt chẽ. Văn phong giàu hình ảnh, cảm xúc chân thành, trong sáng. Biết sử dụng đủ các chi tiết trong bài thơ, nhưng biết lựa chọn một vài chi tiết tiêu biểu để tả kỹ (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w