Giúp giáo viên hoàn thành bài luận NLXH về một vấn đề tư tưởng đạo lý với lập luận chặt chẽ, ví dụ rõ ràng. Đây là bài luận được đánh giá cao về điểm số.Giúp học sinh biết cách làm dạng bài NLXH về một vấn đề tư tưởng đạo lý
Trang 1PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
a Cơ sở lý luận
Văn học là một bộ môn khoa học xã hội mang tính tư duy trừu tượng Cảm nhận được cái hay cái đẹp của văn chương phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của mỗi học sinh Tuy nhiên người thầy vẫn là cầu nối để giúp các em tiếp cận, cảm thụ được tác phẩm văn học, đồng thời thể hiện được năng lực làm văn của mình
Nhà văn M.Goorki nói: “Văn học là nhân học” Đúng vậy, học văn là học làm
người Văn học có tác dụng giáo dục con người, đem lại nhận thức vô cùng phong phú cho con người Nó góp phần cải tạo tư tưởng, tình cảm và nâng đỡ tâm hồn con người trong sáng và phong phú hơn Văn học bồi dưỡng cho tâm hồn ta những tư tưởng, tình cảm, lối sống tốt đẹp: Biết cảm nhận cái đẹp, căm ghét cái xấu, biết hướng tới cái thiện, đấu tranh chống cái ác, nuôi dưỡng tâm hồn để sống tốt hơn Văn học còn đánh thức và khơi dậy trong ta những ước mơ, khát vọng vươn tới tương lai, sống lạc quan, yêu đời, yêu con người và cuộc sống
Chương trình Ngữ văn THCS gồm 2 dạng cơ bản: Nghị luận văn học và nghị luận xã hội Đây là trọng tâm của chương trình ở lớp 8 và lớp 9 Cả hai dạng bài này đều được Sở Giáo dục đưa vào đề thi tuyển sinh THPT và các kì thi chọn học sinh giỏi Nếu như bài văn nghị luận văn học yêu cầu người viết phải phát biểu ý kiến nhận xét về một hiện tượng văn học ( nhân vật, tác phẩm, chủ đề….) thì bài văn nghị luận xã hội lại bàn đến các vấn đề xảy ra trong đời sống xã hội Nội dung của nghị luận xã hội khá đa dạng và phong phú, bao gồm: Những sự việc hiện tượng mang tính thời sự cấp thiết, những hiện tượng mang tính tích cực, tiêu cực; lại có những vấn đề thuộc phạm trù đạo đức lối sống có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người
Trong hai kiểu bài nghị luận ở THCS thì văn nghị luận xã hội rất khó vì kiểu bài này đòi hỏi phải trình bày lập luận sao cho ý kiến của mình thuyết phục và phải có kiến thức về các vấn đề xã hội, phải quan sát đời sống, tìm những dẫn chứng thực
tế để minh họa Trong khi đó thì làm văn nghị luận văn học dễ dàng hơn vì học sinh có thể dựa vào bài giảng của giáo viên trên lớp để phát triển thành bài văn Nhiều học sinh có kiến thức, có năng lực cảm thụ văn chương, có sự hiểu biết xã hội nhưng khi làm văn, nhất là văn nghị luận xã hội, lại rất lúng túng Bài viết mắc nhiều sai sót, không phản ánh đúng năng lực thực sự của học sinh
b Cơ sở thực tiễn
Thực tế dạy học hiện nay cho thấy có một số ít phụ huynh và học sinh coi nhẹ môn Văn, có những em ít hứng thú, không thích học văn hoặc học một cách miễn cưỡng vì môn Văn liên quan tới thi tuyển sinh vào cấp 3 Điều đó dẫn tới những ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng môn học nhất là khả năng nhận thức và cảm thụ các vấn đề về văn học
Trang 2Lứa tuổi học sinh THCS là lứa tuổi đang trưởng thành cả về nhân cách lẫn thể chất Môi trường sống của các em còn bó hẹp trong phạm vi gia đình, nhà trường nên các em chưa có điều kiện để tìm hiểu sâu về các vấn đề xã hội Vì vậy các em còn lúng túng khi phải phát biểu ý kiến nhận định, nêu suy nghĩ về một vấn đề đặc biệt là
các vấn đề thuộc phạm vi đời sống xã hội Do vậy các em thường có tâm lí “ngại”
khi gặp các dạng đề nghị luận vã hội
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là học sinh còn yếu cả về
kỹ năng lẫn phương pháp làm bài Vì thế, dạy Văn nghị luận nói riêng, đặc biệt dạy làm bài văn nghị luận xã hội là phải rèn những kỹ năng làm bài, định hình được cho học sinh những thao tác tư duy cần thiết để giúp các em làm tốt bài văn
Chính vì những lẽ đó mà tôi đã dành khá nhiều thời gian, tâm sức nghiên cứu
phương pháp giảng dạy Tôi mạnh dạn chọn đề tài “Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí” tại trường THCS Tư Mại
2 Mục đích nghiên cứu đề tài.
Trong khuôn khổ đề tài:“Cách làm bài nghị luận xã hội về một vấn đề tư tưởng, đạo lí” tôi nhằm định hướng và đưa ra một quy trình cụ thể cho dạng đề này
để nâng cao chất lượng dạy và học văn, giúp học sinh có kỹ năng thành thạo khi giải quyết dạng bài NLXH, không còn lúng túng khi gặp các đề nghị luận về tư tưởng đạo lí
3 Đối tượng nghiên cứu.
- Các bước làm bài Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí
- Học sinh lớp 9 trường THCS Tư Mại
4 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Đề tài này tôi tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu, tìm hiểu một số vấn đề lí luận về Phương pháp dạy NLXH trong trường THCS
- Thực trạng tình hình giảng dạy Ngữ văn ở trường THCS Tư Mại, huyện Yên Dũng những năm học vừa qua
- Cách làm bài NLXH về một vấn đề tư tưởng đạo lí
Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp nhằm tạo ra sự chuyển biến tích cực trong giảng dạy của giáo viên cũng như việc học tập của học sinh ở trường THCS Tư Mại
5 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập số liệu
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp
Trang 3PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG
1 Một số vấn đề có liên quan
Người học văn hiện nay không chỉ đòi hỏi phải có thêm nhiều kiến thức hiểu biết xã hội, biết sử dụng vốn tri thức thuộc nhiều lĩnh vực qua các tác phẩm văn học
mà còn qua cả các kiểu bài tập làm văn Sách giáo khoa Trung học cơ sở (THCS) hiện nay có đưa vào chương trình Nghị luận xã hội (NLXH) đã thực sự làm sâu sắc hơn mối quan hệ giữa học văn với đời sống, đưa văn học đến gần với đời sống hơn nữa giúp người học văn có thể vận dụng tất cả những gì mình hiểu biết để giải quyết tốt những vấn đề xã hội Kiểu bài NLXH vì thế trở nên gần gũi và cần thiết với học sinh trung học cơ sở Học sinh làm tốt kiểu bài này đồng nghĩa với việc có nhận thức đúng đắn trước các vấn đề xã hội Tuy nhiên thời lượng học sinh được thực hành các dạng đề NLXH không nhiều, kĩ năng viết bài của các em còn nhiều hạn chế
2 Thực trạng.
- Dạy học văn chương nói chung vừa dạy môn khoa học vừa dạy môn nghệ thuật bởi văn học vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Đối với phân môn Tập làm văn nói riêng đặc biệt là phần NLXH người giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát hiện được: Cách nhận biết, cách làm bài để vận dụng vào từng đề cụ thể để giúp các em thấy được đặc trưng riêng của văn NLXH
- Quá trình dạy học phần NLXH ở trường tôi còn gặp nhiều khó khăn:
* Đối với học sinh:
- Do điều kiện kinh tế cũng như sự quan tâm của phụ huynh chưa cao, cùng với
ý thức tự học của các em còn thấp: lười học, không chịu suy nghĩ động não…Chính
vì thế trong quá trình học tập chưa đạt được hiệu quả cao
- Khi học các em còn nhầm lẫn giữa Nghị luận về một hiện tượng đời sống và Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí dẫn đến các em còn lung túng khi làm bài
* Đối với giáo viên:
- Khi dạy về NLXH còn gặp nhiều khó khăn, nhiều tiết dạy chưa đạt hiệu quả cao như: Dạy chưa hết bài, hướng dẫn học sinh một cách chung chung, chưa tỉ mỉ, cách nhận biết, cách vận dụng tu từ vào bài viết chưa cao, dẫn chứng trong bài dạy còn nghèo, chưa biết dùng đoạn văn mẫu để các em học tập, chưa phát huy hết khả năng của học sinh
Từ thực trạng đó, trong quá trình dạy các bài về NLXH Tôi nghĩ rằng đối với một giáo viên dạy Ngữ văn đặc biệt khi dạy phần này cần chú ý những yêu cầu sau:
- Phải khơi gợi hứng thú cảm nhận cho các em
- Phải hướng dẫn học sinh một cách cụ thể, tỉ mĩ về cách nhận biết các dạng đề, cách làm bài tốt để đạt hiệu quả cao
3 Đề xuất các giải pháp
3.1 Khái niệm:
Nghị luận xã hội là dạng văn nghị luận bàn về các vấn đề xảy ra trong đời sống
xã hội Nội dung của nghị luận xã hội khá phong phú, đa dạng: Những sự việc- hiện
Trang 4tượng mang tính thời sự, cấp thiết mà ta quen gọi là vấn đề "nóng"; những vẫn đề thuộc phạm trù đạo đức, lối sống, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống tinh thần, việc hình thành nhân cách con người
Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống, của con người
3.2 Các dạng bài nghị luận xã hội
Việc xác định kiểu dạng đề nghị luận là rất cần thiết, tránh cho học sinh đi lạc hướng và làm sai đề Muốn vậy, mỗi học sinh phải đọc kỹ đề bài, chú ý những từ ngữ
để nhận diện kiểu, dạng bài văn Thông thường, có hai dạng đề đó là: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí và nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống
a Dạng nghị luận về một tư tưởng, đạo lí bao gồm các đề tài:
- Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống, mục đích học tập )
- Về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng vị tha, lòng bao dung, lòng độ lượng; tính trung thực, tính cương quyết, tính hoà nhã, tính khiêm tốn, tính ích kỉ )
- Về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em )
- Về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…)
b Dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống bao gồm những hiện tượng tốt hoặc chưa tốt cần được nhìn nhận thêm như :
- Chấp hành luật giao thông
- Hiến máu nhân đạo
- Nạn bạo hành trong gia đình
- Phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi
- Cuộc vận động giúp đỡ đồng bào hoạn nạn
- Cuộc đấu tranh chống nạn phá rừng
- Những tấm gương người tốt việc tốt
- Nhiều bạn trẻ quên nói lời xin lỗi khi mắc lỗi
- Nhiều bạn trẻ quên nói lời cảm ơn khi được giúp đỡ
3.3 Các thao tác thường áp dụng khi viết bài:
Các dạng bài NLXH đều vận dụng chung các thao tác lập luận là giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận Ba thao tác cơ bản nhất là giải thích, chứng minh, bình luận
a Thứ nhất về thao tác giải thích:
- Mục đích: Nhằm để hiểu rõ vấn đề cần nghị luận
- Các bước:
Bước 1: Làm rõ vấn đề được dẫn trên đề bài Nếu vấn đề thể hiện dưới dạng là
một câu trích dẫn khá nổi tiếng nào đó hoặc một ý tưởng do người ra đề đề xuất, người viết cần lần lượt giải nghĩa, làm rõ nghĩa của vấn đề theo cách đi từ khái niệm đến các vế câu và cuối cùng là toàn bộ ý tưởng được trích dẫn Khi vấn đề được diễn đạt theo kiểu ẩn dụ bóng bẩy thì phải giải thích cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ
Trang 5ngữ Làm tốt bước giải nghĩa này, học sinh sẽ hiểu đúng vấn đề, xác định đúng vấn
đề (hoặc mức độ) cần giải thích để chọn lí lẽ cần thiết
Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu
hỏi Là gì?
+Bước 2: Tìm hiểu cơ sở của vấn đề: Trả lời tại sao có vấn đề đó (xuất phát từ
đâu có vấn đề đó) Cùng với phần giải nghĩa, phần này là phần thể hiện rất rõ đặc thù của thao tác giải thích Người viết cần suy nghĩ kĩ để có cách viết chặt chẽ về mặt lập luận, lô gíc về mặt lí lẽ, xác đáng về mặt dẫn chứng Trong quan niệm làm văn truyền
thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi Tại sao?
+ Bước 3: Nêu hướng vận dụng của vấn đề: Vấn đề được vận dụng vào thực tiễn
cuộc sống như thế nào Hiểu nôm na, phần này yêu cầu người viết thể hiện quan điểm của mình về việc tiếp thu, vận dụng vấn đề vào cuộc sống của mình như thế nào.Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu
hỏi Như thế nào?
Lưu ý khi thực hiện thao tác giải thích: Nên đặt trực tiếp từng câu hỏi (Là gì, tại sao, như thế nào vào đầu mỗi phần (mỗi bước) của bài văn Mục đích đặt câu hỏi: để tìm ý (phần trả lời chính là ý, là luận điểm được tìm ra) và cũng để tạo sự chú ý cần thiết đối với người đọc bài văn Cũng có thể không cần đặt trực tiếp ba câu hỏi (Là
gì, tại sao, như thế nào) vào bài làm nhưng điều quan trọng là khi viết, người làm bài cần phải có ý thức mình đang lần lượt trả lời từng ý, từng luận điểm được đặt ra từ ba câu hỏi đó Tuỳ theo thực tế của đề và thực tế bài làm, bước như thế nào có khi không nhất thiết phải tách hẳn riêng thành một phần bắt buộc
b Thứ hai, thao tác chứng minh
- Mục đích: Tạo sự tin tưởng
- Các bước:
Bước 1: Xác định chính xác điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh Bước 2: Dùng dẫn chứng trong thực tế cuộc sống để minh hoạ nhằm làm sáng tỏ
điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh
c Thứ ba, thao tác bình luận
- Mục đích: Tạo sự đồng tình
- Các bước:
- Nêu, giải thích rõ vấn đề cần bình luận
- Dùng lí lẽ và dẫn chứng (chủ yếu là lí lẽ) để khẳng định giá trị của vấn đề hoặc hiện tượng (giá trị đúng hoặc giá trị sai) Làm tốt phần này chính là đã bước đầu đánh giá được vấn đề cần bình luận
- Bàn rộng và nhìn vấn đề cần bình luận dưới nhiều góc độ (thậm chí từ góc độ ngược lại) để có cái nhìn đầy đủ hơn
- Khẳng định tác dụng, ý nghĩa của vấn đề trong cuộc sống hiện tại
3.4 Các bước làm bài Nghị luận xã hội về một vấn đề tư tưởng đạo lí.
a Phân tích đề
Trang 6Học sinh thường có một nhược điểm: Cầm đề là viết ngay – Đây là một trong những nguyên nhân làm bài viết không sát yêu cầu của đề hoặc có khi lạc hướng
Vì vậy, tôi thường hướng dẫn học sinh phải đọc kĩ đề bài, sau đó phân tích đề
để không mắc phải những lỗi như xa đề, lạc đề; chú ý những từ khóa của đề, rồi dựa vào từ điển Tiếng Việt, vốn kiến thức của mình để phân tích, giải thích ý của tư tưởng, vấn đề trong đề bài thật chính xác
Tiếp đến, các em hãy đánh giá xem quan điểm, tư tưởng đó đúng hay sai, có các mặt lợi và hại thế nào, từ đó mà nêu ý kiến của bản thân có đồng tình hay không
và rút ra bài học, cách giải quyết cho bản thân và xã hội? Để cho đánh giá đúng/sai đó thuyết phục, cần hướng dẫn các em cần lấy những dẫn chứng thực tế xác thực (có thể lấy trong lịch sử, văn học hay đời sống thực tế) Lưu ý: Văn nghị luận xã hội khác với nghị luận văn học ở chỗ nó là những kiến thức thật 100% và rất thực tế với cuộc sống hằng ngày Vì vậy, quan sát cuộc sống và đọc báo, theo dõi các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên là bí quyết giúp các em cập nhật những thông tin mới làm dẫn chứng sắc sảo cho bài viết của mình
Ví dụ với đề bài: Tinh thần tự học.
Thao tác phân tích đề sẽ giúp các em xác định được:
Về nội dung: sự chủ động, tích cực, độc lập tìm hiểu, lĩnh hội tri thức và hình thành kĩ năng cho mình của người học
Về phạm vi tư liệu: Có thể lấy dẫn chứng rộng rãi trong xã hội, lịch sử: ví như tấm gương tiêu biểu – Bác Hồ kính yêu, Trạng nguyên Nguyễn Hiền, những tấm gương trong lớp 9A như bạn Giáp Thị Khánh Huyền, trong trường…
Tóm lại, phân tích đề là bước đầu tiên nhưng rất quan trọng, có ý nghĩa quyết
định đối với bài văn vì ở bước này học sinh xác định được : nội dung (vấn đề) cơ bản, phạm vi tư liệu, định lượng được dung lượng của bài viết.
b Tìm luận điểm
Việc xác định luận điểm hầu như học sinh biết cách xác định Còn việc tìm và nêu luận cứ (lý lẽ và dẫn chứng) để làm sáng tỏ luận điểm có những đòi hỏi cao hơn
vì phải tự trả lời các câu hỏi đặt ra ở luận điểm Nghĩa là việc trả lời các câu hỏi mà luận điểm đưa ra chính là các luận cứ của luận điểm ấy Điều này lại tùy thuộc vào năng lực của từng cá nhân Tuy vậy phải thấy rằng học sinh biết cách xác định và xác định được những luận điểm của vấn đề, nêu được một số ý làm luận cứ, tuy chưa thật đầy đủ nhưng cũng có thể được coi là đạt mức trung bình so với yêu cầu đề ra của bài làm
Tôi hướng dẫn học sinh xây dựng luận điểm theo các cách sau:
+ Triệt để khai thác đề và đặt câu hỏi, suy nghĩ rồi hình thành luận điểm
Từ bước phân tích đề, xác định nội dung yêu cầu của đề bài, học sinh sẽ xác định được các luận điểm của bài viết Thông thường mỗi luận điểm thường được thể hiện bằng một đoạn văn vì vậy xác định luận điểm sẽ giúp cho học sinh định hình được hình thức trình bày, tránh việc xuống dòng tùy tiện, tách đoạn khi chưa hết ý…
Trang 7c Lập dàn bài
Dấu ấn của dàn ý thể hiện rõ trong bài làm Nói chung dàn ý thế nào thì bài làm
về cơ bản sẽ như vậy Có một dàn ý tốt đã là đảm bảo khá chắc chắn cho sự thành công của bài làm Vì vậy lập dàn ý là một khâu quan trọng không thể bỏ qua
Trong thực tế, dàn bài một bài tập làm văn có hai kiểu:
- Dàn bài chi tiết: Chính là dàn bài cụ thể, có các ý, các luận điểm, luận cứ, dẫn
chứng cụ thể Dạng dàn bài này phù hợp với học sinh đại trà, học sinh yếu kém vì đối tượng này năng lực tư duy kém, người giáo viên cần định hướng cụ thể cho học sinh
- Dàn bài đại cương: Là dạng dàn bài chỉ nêu các ý chính, khái quát.
Thực tế, học sinh còn hạn chế trong việc định hình được cấu trúc của bài nghị luận (Khi đã không xác định được cấu trúc thì học sinh sẽ khó khăn trong việc xác định luận điểm, luận cứ) Vì vậy, từ việc hướng dẫn học sinh nhận dạng đề bài, giáo viên rèn luyện cho các em kĩ năng lập dàn bài đại cương trước khi viết bài với cấu trúc như sau:
* Đối với kiểu bài nghị luận về tư tưởng đạo lí:
a Mở bài: (Dẫn dắt vấn đề và nêu vấn đề Viết ngắn gọn khoảng 3-5 câu)
b Thân bài:
+ Giải thích vấn đề: tư tưởng, phẩm chất ấy là gì ?
+ Phân tích vai trò, ý nghĩa của tư tưởng, phẩm chất, đạo lí ấy
- Đối với sự rèn luyện của mỗi cá nhân
- Đối với quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng
+ Nêu phản đề: phê phán những biểu hiện đối lập
+ Lật lại vấn đề: Có thể đề cao nhưng cũng cần nhận thấy những hạn chế tư tưởng đạo lí ấy
c Kết bài:
+ Khẳng định vấn đề
+ Rút ra bài học trong nhận thức và hành động
Một số dàn bài minh họa
Đề 1: Suy nghĩ về đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
a Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề: Đi từ truyền thống đạo lí dân tộc
- Trích dẫn câu tục ngữ
b Thân bài:
* Giải thích ý nghĩa câu tục ngữ:
+ Nghĩa đen:
- Nước là sự vật có trong tự nhiên có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống
- Nguồn là nơi nước bắt đầu chảy
- Uống nước là tận dụng môi trường tự nhiên để tông tại và phát triển
+ Nghĩa bóng:
Trang 8- Nước là thành quả vật chất và tinh thần mang tính lịch sử của cộng đồng dân
tộc
- Uống nước là hưởng thụ cái thành quả của dân tộc
Nguồn là những người đi trước đã có công sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc
- Nhớ nguồn: là lòng biết ơn cho ông bà, tổ tiên của dân tộc.
Câu tục ngữ có hàm ý nhắc nhở những người được hưởng thành quả phải biết
ơn người tạo dựng nên thành quả ấy
* Nhận định đánh giá:
+ Đối với những người được giáo dục chu đáo có biểu hiện sâu sắc và có lòng tự trọng thì luôn có ý thức trân trọng, giữ gìn phát huy những thành quả đã có của quê hương
+ Đối với những kẻ kém hiểu biết thì nảy sinh tư tưởng sùng ngoại, thái độ coi thường, chê bai thành quả dân tộc
+ Ngày nay khi được thừa hưởng những thành quả tốt đẹp của dân tộc mỗi chúng ta không chỉ khắc sâu thêm lòng biết ơn tổ tiên mà còn phải có trách nhiệm nỗ lực học tập và lao động tốt hơn để góp phần công sức nhỏ bé của mình vào kho tàng
di sản dân tộc
c Kết bài:
- Khẳng định vấn đề:
- Bài học trong nhận thức và hành động: mỗi chúng ta không chỉ có quyền được hưởng thụ mà còn phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự phát triển chung của dân tộc
Đề 2: Tinh thần tự học.
a Mở bài: Dẫn dắt, nêu vấn đề nghị luận.
b Thân bài:
* Giải thích:
- Học: Là quá trình tìm hiểu, thu nhận kiến thức và hình thành kĩ năng của bản thân
- Tự học: Là sự chủ động, tích cực, độc lập tìm hiểu, lĩnh hội tri thức và hình thành kĩ năng cho mình
- Tinh thần tự học: Ý thức tự lực, hăng say trong học tập, không dựa vào người khác, định hướng một cách học hiệu quả
* Bàn luận:
- Biểu hiện:
+ Quá trình tự học cũng có phạm vi khá rộng: khi nghe giảng, đọc sách hay làm bài tập cần tích cực suy nghĩ ghi chép , sáng tạo nhằm rút ra những điều cần thiết cho bản thân
Trang 9+ Tự học cũng có nhiều hình thức: có khi là do tự mày mò tìm hiểu hoặc sự chỉ bảo, hướng dẫn của thầy (cô) giáo Dù ở hình thức nào thì sự chủ động thiếp nhận tri thức của người học vẫn là quan trọng nhất
- Khẳng định: tinh thần tự học vô cùng cần thiết với mỗi người
- Vì sao cần có tinh thần tự học? Vai trò, ý nghĩa?
+ Không ai hoàn thiện Xã hội không ngừng phát triển, tri thức nhân loại là vô cùng rộng lớn, sự hiểu biết của con người có hạn Hơn nữa không phải lúc nào cũng có người ở bên giúp đỡ, làm hết mọi việc cho ta
+ Tự học giúp ta nhớ lâu và vận dụng những kiến thức đã học một cách hữu ích hơn trong cuộc sống
+ Tự học giúp con người trở nên năng động, sáng tạo, không ỷ lại, không phụ thuộc vào người khác Từ đó biết tự bổ sung những khiếm quyết của mình để hoàn thiện bản thân
+ Phần thưởng của người tự học: Niềm vui, hạnh phúc khi ta chiếm lĩnh tri thức Bao người tên tuổi còn vang danh muôn đời nhờ tự học
+ Trong đà phát triển của xã hội hiện nay, tinh thần học càng trở nên cần thiết: Đất nước, xã hội cần nhiều người tài giỏi
+ Dẫn chứng:
Hồ Chí Minh với đôi bàn tay trắng ra đi từ Bến Nhà Rồng, nhờ tự học , Người biết hơn mười ngoại ngữ và đã tìm được con đường giải phóng cho cả dân tộc
Giáo sư Tôn Thất Tùng, nhờ tự học, dày công nghiên cứu đã lập ra một sơ đồ gần như chính xác tuyệt đối về lá gan của con người
Lê Quý Đôn, Mạc Đĩnh Chi (sáng tạo cách học bắt đom đóm vào vỏ trứng mà
đỗ trạng), Nguyễn Hiền nhờ tự học đã trở thành bậc hiền tài, làm rạng danh cho gia đình, quê hương xứ sở
Shakespeare đến với nghệ thuật bắt đầu từ một chân giữ ngựa; Gorki- trường đại học lớn nhất là trường đời, cả một thời thơ ấu gian khổ, không được đi học, bằng tinh thần tự học đã trở thành đại văn hào Nga
Billgates trở thành chủ tịch tập đoàn máy tính, tỷ phú Mĩ, người giàu nhất hành tinh khi chưa hề học đại học
> Quả thực, tự học là chìa khóa của mọi sự thành công
- Mở rộng vấn đề:
+ Tinh thần tự học phải luôn xuất phát từ sự chủ động, ý thức tự giác của mỗi người Tự học là công việc gian khổ, đòi hỏi lòng quyết tâm và sự kiên trì Càng cố gắng tự học con người càng trau dồi được tri thức và nhân cách của mình Chính vì vậy, tự học là việc làm độc lập gian khổ mà không ai có thể học hộ, học giúp
+ Phê phán thái độ học tập lười biếng, học để đối phó thầy cô, cha mẹ
- Bài học cho bản thân:
+ Hiểu rõ, nhấn mạnh, đề cao ý nghĩa, giá trị của tinh thần tự học trong đời sống hiện nay Mỗi người cần xây dựng cho mình tinh thần tự học trên nền tàng của sự say
Trang 10mê, ham học, ham hiểu biết, giàu khát vọng và kiên trì trên con đường chinh phục tri thức
+ Tự bản thân phải có tính tự giác, chủ động, sáng tạo, độc lập trong học tập và rèn luyện, tu dưỡng bản thân: ở lớp, ở nhà
c Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề
- Kêu gọi mọi người hãy tích cực học tập
Đề 3: Anh (chị) hãy trả lời câu hỏi sau của nhà thơ Tố Hữu:
Ôi! Sống dẹp là thế nào, hỡi bạn?
(Một khúc ca xuân)
a.Mở bài:
- Giới thiệu, dẫn dắt để nêu vấn đề: (có thể chọn một trong các cách sau)
+ Trực tiếp: Nêu ngay câu thơ của Tố Hữu và nôi dung, mục đích của câu thơ +Gián tiếp: Lựa chọn lối sống là vấn đề vô cùng khó khăn, đặc biệt đối với bạn trẻ
+Phản đề: nêu thực trạng một bộ phận thanh, thiếu niên sống ích kỉ, trục lợi -Nêu vấn đề: vấn đề sống đẹp mà câu thơ của Tố Hữu đưa ra là vấn đề mỗi con người cần nhận thức và rèn luyện một cách đúng đắn, tích cực
b.Thân bài.
* Giải thích nội dung, ý nghĩa câu thơ của Tố Hữu:
- Câu thơ của Tố Hữu viết dưới dạng một câu hỏi, nêu lên vấn đề “sống đẹp” trong cuộc sống mỗi con người
- Sống đẹp là một đòi hỏi tất yếu của loài người từ khi xã hội xuất hiện nền văn minh, văn hóa
- Sống đẹp: là sống có ý nghĩa, sống có ích cho cộng đồng, quốc gia, dân tộc, sống khẳng định năng lực bản thân, giá trị của mỗi cá nhân; sống khiến người khác cảm phục, yêu mến, kính trọng, noi theo; sống với tâm hồn, tình cảm, nhân cách, suy nghĩ, khát vọng chính đáng, cao đẹp
- Câu thơ của Tố Hữu à lời chất vấn, thực chất là lời nhắc nhở, định hướng con người cần rèn luyện cách sống đẹp
* Biểu hiện của lối sống đẹp:
- Sống có lí tưởng, mục đích đúng đắn, cao đẹp.:
Sống tự lập, có ích cho xã hội
Sống biết dung hòa lợi ích bản thân và cộng đồng
- Sống có tâm hồn, tình cảm lành mạnh, nhân hậu:
Hiếu nghĩa với người thân
Quan tâm, yêu thương, chia sẻ với những người xung quanh
Dũng cảm, lạc quan, giàu ý chí, nghị lực
Không chạy theo lối sống lập dị, không phù hợp với truyền thống, thẩm mĩ, văn hóa dân tộc