Sau khi tìm được tiết khí và tam nguyên, ta tiến hành tìm số cục, số cục có vai trò hết sức quan trọng trong Kỳ Môn Độn Giáp, tìm sai cục số thì toàn bộ thiên địa nhân bàn đều sai lệch,
Trang 11.TÌM TIẾT KHÍ:
Dùng lịch vạn niên hoặc trình online tra cứu ngày giờ chuyển tiết trong năm, nhớ rằng thời gian chuyển tiết khí ở mỗi năm là khác nhau.Một năm được cổ nhân chia làm 24 tiết khí (xem hình 2), mỗi tiết dài khoảng 15 ngày, một tháng giữ 2 tiết, 12 tháng đủ 24 tiết khí
Từ tiết Đông chí đến Mang chủng là dương độn; từ tiết Hạ chí đến Đại tuyết là âm độn
Khi tra tiết khí cần lưu ý cả giờ giao tiết trong ngày, ví dụ 21h15 trong ngày là thời điểm chuyển tiết Hàn lộ, như vậy từ 21h15 trở về trước vẫn thuộc tiết Thu phân, từ 21h15 trở về sau mới thuộc tiết Hàn lộ
Tra cứu để biết giờ-ngày khởi cục dự đoán nằm chính xác trong tiết nào của 24 tiết khí trong năm 2.TÌM TAM NGUYÊN ĐỂ BIẾTSỐ CỤC:
Sau khi tìm được giờ-ngày xem thuộc tiết khí nào rồi, ta tiếp tục tìm tam nguyên.Tam nguyên là 3 giai đoạn biến chuyển của Lục Thập Hoa Giáp, gồm thượng nguyên, trung nguyên và hạ nguyên
Cụ thể cách tìm tam nguyên như sau:
Tìm tam nguyên ta căn cứ vào can chi ngày khởi cục dự đoán (tra lịch vạn niên), tiếp đến dùng bảng Lục Thập Hoa Giáp tra lui về kể từ can chi hoa giáp ngày khởi cục cho đến hoa giáp có can là
GIÁP hoặc KỶ thì dừng lại (Hình 1)
Hình 1
Trang 22
Ví dụ 1:Ngày khởi cục là Canh Dần, ta đếm lui lại Kỵ Sửu, đây là hoa giáp có can KỶ nên dừng
lại
Ví dụ 2:Ngày khởi cục là Nhâm Tuất, ta đếm lui lại Tân Dậu, Canh Thân, Kỵ Mùi thì dừng lại
Ví dụ 3:Ngày Bính Thìn khởi cục, ta đếm lui lại Ất Mão, Giáp Dần thì dừng lại
->Ta gọi những hoa giáp có hàng can là GIÁP hoặc KỶ là Phù đầu
A.Phù đầu của ngày khởi cục có chi là Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì ngày đó thuộc THƯỢNG
Các ngày còn lại cũng tìm tương tự như trên
Sau khi tìm được tiết khí và tam nguyên, ta tiến hành tìm số cục, số cục có vai trò hết sức quan
trọng trong Kỳ Môn Độn Giáp, tìm sai cục số thì toàn bộ thiên địa nhân bàn đều sai lệch, thông tin phản ánh đều không đúng
Cụ thể tra bảng lập thành dưới đây để tìm số cục (Hình 2)
Hình 2
Trang 3Ví dụ 5:Giả sử ngày khởi cục thuộc tiết Đông chí, hoa giáp ngày là Kỵ Dậu ta dễ dàng tìm được phù đầu ngày Kỵ Dậu là Giáp Thìn, vì phù đầu có chi là Thìn nên ngày Kỵ Dậu thuộc Hạ nguyên tiết
Đông chí, xem Hình 2 ta biết được hạ nguyên Đông chí có số cục là 4, vậy ngày này là hạ nguyên
LẠC THƯ (SỐ CỦA NGŨ HÀNH HẬU THIÊN)
Đội 9 (trên 9), dẫm 1 (dưới 1), trái 3, phải 7, 2 và 4 làm vai (2 vai phải, 4 vai
trái), 6 và 8 làm chân (6 chân phải, 8 chân trái)
Ta có thể diễn tả dưới dạng ma phương như sau:
4 9 2
3 5 7
8 1 6
Lạc Thư chỉ về sự sinh hóa của các Số Ngũ Hành (thuộc về vạn vật, con
người) Trên Lạc Thư có 9 con số, không có số 10 và chỉ về việc người (Nhân
Sự), thuộc về Đất, nói về Hậu Thiên nên Lạc Thư có hình vuông Tổng số của
các con số trên Lạc Thư (Hậu Thiên) là 45, trong khi trong Hà Đồ (Tiên Thiên)
là 55 Tuy không có số 10, nhưng trong Lạc Thư số 5 ở giữa vẩn chu toàn công
việc làm cho các số 1 và 6, 2 và 7, 3 và 8, 4 và 9 vẫn đứng cạnh nhau như trong
Hà Đồ Số 5 là số chuyển tiếp, được đất vào giữa để các số Dương 1, 3, 5, 7,
9 dù cộng hay trừ với số 5 thì cũng thành số Âm thể hiện Dương sinh Âm, và các số Âm 2, 4, 6, 8, 10 dù cộng hay trừ với số 5 thì cũng thành số Dương thể
hiện Âm sinh Dương Tổng số Dương ở ngoài (tức là không tính số Dương 5 ở
giữa) bằng tổng số Âm và bằng 20 (1 + 3 + 7 + 9 = 2 + 4 + 6 + 8), nghĩa là Âm
Dương quân bình Các con số trong Lạc Thư hình thành một Ma Phương Trận,
Trang 44
trong đó khi cộng dọc, cộng ngang, hay cộng chéo ta luôn luôn được 15 Trong
Hà Đồ thì ở giữa có số Sinh (5) và số Thành (10) của hành Thổ, đó là thuộc Tiên Thiên, tự nhiên, chưa hoạt động Ở Lạc Thư ở giữa không có số Thành (số 10) của Thổ, và số đó đi hoạt động ở bên ngoài, đó là thuộc Hậu Thiên (coi dưới),
vạn vật hoạt động Trên Địa Bàn thuộc Hậu Thiên thì Thổ ở bốn phương Thìn
Tuất Sữu Mùi (Tứ Mộ, Tứ Khố) để phụ giúp các hành kia
Trong Lạc Thư thì Âm Dương đã phân tán ra đủ 4 Phương và 4 Hướng: các
số Dương (số Lẻ) thì đóng ở bốn phương chính (Chính Phương), số Âm (số
Chẳn) thì đóng ở bốn hướng phụ (Bàng Phương), làm cho các số Âm Dương đi xen kẽ với nhau để tác động cho nhau mà sinh hóa Các số thứ tự đều từ dưới đi
lên (1 lên 2, 3 lên 4, 5 ở giữa, 6 lên 7, 8 lên 9), có nghĩa Thái Cực Tịnh ở dưới nay đã chuyển động và phân Âm Dương Âm trong Ngũ Hành chuyển động mạnh khắp 4 phương, 4 hướng để tạo vật Trái lại, Hà Ðồ chỉ có bốn phương chính và Trung Cung, mọi nơi đều có một số Âm và một số Dương bao bọc lấy nhau Các số thứ tự thì đối xứng nhau theo hai trục Bắc Nam và Ðông Tây: 1
qua 2, 3 qua 4, 5 ở giữa, 6 qua 7, 8 qua 9 Trong Hà Ðồ thì Âm Dương Ngũ Hành khi đó chưa sinh hóa, còn giữ cơ sở và hợp nhất trong Thái Cực
Trong Lạc Thư thì tổng số tung hoành đều là 15, số 15 đã đi hoạt động ở ngoài, chỉ còn số 5 ở giữa và do số 5 ấy mà có các số 6, 7, 8, 9 là số Thành nên thuộc về Hậu Thiên Số của Hà Ðồ ở giữa thì tổng số là 15 (10 + 5), bằng tổng
số các số Sinh (1, 2, 3, 4, 5) nên thuộc Tiên Thiên
Số của Lạc Thư cũng có số 10 (1 + 9, 2 + 8, 3 + 7), thêm số 5 ở giữa thành 15
Ở Hà Ðồ, số của Trời Ðất có 10 (bởi vì 1 + 2 + 3 + 4 = 10), thêm số Sinh kế tiếp
Vạch của Tiên Thiên Bát Quái thì Cơ Ngẫu đối nhau Ở Lạc Thư thì số Sinh
và số Thành cũng đối nhau Tiên Thiên Bát Quái thì lấy thuần Âm, thuần Dương
là hai quẻ Dương cùng ở một chỗ
Như vậy là cũng làm biểu lí cho nhau
Nếu bỏ số 5 ở giữa thì 8 số còn lại của Lạc Thư chiếm 8 hướng trong không gian như 8 quẻ Tiên Thiên Tổng hai số đối xứng của Lạc Thư thì bằng nhau và bằng 10 (1 + 9 = 2 + 8 = 3 + 7 = 4 + 6) giống như tổng hai quẻ đối xứng trong
Trang 5Tiên Thiên thì bằng nhau và bằng 9 (1 + 8 = 2 + 7 = 3 + 6 = 4 + 5) hoặc bằng 7 nếu sử dụng hệ nhị phân (7 + 0 = 6 + 1 = 5 + 2 = 4 + 3) (Chú ý Lạc Thư thuộc
hệ thập phân, còn Bát Quái thì coi như thuộc hệ nhị phân là hợp lí nhất) Trong Lạc Thư thì số Sinh 1, 3, 4 được xếp thuận, số Thành 6, 7, 9 được xếp nghịch, số 2 và 8 đối chọi nhau Ở Hậu Thiên Bát Quái thì Khôn Mẹ cùng Trưởng Nữ, Thiếu Nữ (Li Ðoài) được xếp thuận, còn Càn Cha và Trưởng Nam, Thiếu Nam (Khảm Cấn) được xếp nghịch Phần Trưởng Nam, Trưởng Nữ (Chấn Tốn) thì đối chọi nhau Như vậy cũng làm biểu lí cho nhau Như vậy Tiên Thiên
và Hậu Thiên cũng làm biểu lí, thể dụng cho nhau mà làm cho vũ trụ vạn vật
sinh động không ngưng
ÂM DƯƠNG VẬN HÀNH TRONG LẠC THƯ:
Số Dương thì đi từ dưới lên trên, từ trái qua phải: 1 ở Bắc, lên 3 Ðông, vào giữa 5, qua 7 Tây, lên 9 Nam Dương cực ở số 9 (nên hào Dương được gọi là
Hào Cửu, và số 9 được gọi là Lão Dương)
Số Âm thì đi từ trên xuống dưới, từ trái qua phải: 2 ở Tây Nam, qua 4 Ðông Nam, xuống 8 Ðông Bắc, qua 6 Tây Bắc Âm cực ở số 6 (nên hào Âm được gọi
là Hào Lục, và số 6 gọi là Lão Âm như trên đã viết)
Ở Hà Ðồ thì tất cả các số Sinh Thành đều thuận hành, sự chuyển động của
Âm Dương Ngũ Hành mới về cái nguyên lí tự nhiên của Thái Cực Ở Lạc Thư
thì số Dương Sinh (1, 3) thì thuận hành mà số Dương Thành (7, 9) thì nghịch hành, còn số Âm Sinh (2, 4) lại nghịch hành, còn số Âm Thành (6, 8) lại thuận
hành Sự chuyển động của Âm Dương Ngũ Hành ở Lạc Thư nói về cái nguyên lí của Thái Cực đã phân tán và chuyện động rộng rãi để tạo nên các vật
NGŨ HÀNH SINH HÓA TRONG LẠC THƯ:
Hai hành Hoả và Kim thay đổi vị trí với nhau
Số 1 - 6 thuộc Thuỵ ở hướng Bắc Số3 - 8 thuộc Mộc ở Ðông Số5 thuộc Thổ ở giữa
Số2 - 7 thuộc Hoả ở Nam cuả Hà Ðồ chuyển qua Tây Số4 - 9 thuộc Kim ở Tây cuả Hà Ðồ được chuyển qua Nam
Sự kiện nay làm cho Phương Vị sinh khắc của Ngũ Hành nơi Lạc Thư trái
ngược với Ngũ Hành nơi Hà Ðồ: hai hành đối nghịch nhau thì lại tương sinh
(Mộc sinh Hỏa, Kim sinh Thủy), còn hai hành đi theo vòng tròn mà lại đi
nghịch (nghịch hành) thì lại tương khắc Sự thay đổi này thể hiện sự thay đổi
từ tĩnh qua động, từ Sinh qua Hoá, từ Thể qua Dụng, từ Lí qua Biểu, từ Thái Cực qua Vũ Trụ Ở Hà Ðồ, hai nhóm số 2 - 7 thuộc Hoả ở Nam và 4 - 9 thuộc Kim ở Tây cùng giao nhau ở giữa là Thổ mà tương sinh (Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim) Ở Lạc Thư thì hai nhóm số ấy đối chọi cho nhau thành ra Hoả khắc Kim theo chiều nghịch ở vòng ngoài Ðó là Ngũ Hành đã ra ngoài mà hoạt động nên
có khắc chế Nếu ta lấy 2 - 7 của Hà Đồ cộng lại thì là số 9 của Lạc Thư thuộc Kim vẩn còn ẩn ở đó, và lấy số 9 của Lạc Thư chia ra thì 2 - 7 của Hà Đồ thuộc
Hoả cũng còn bóng dáng ở đó
Trang 66
VẤN ĐỀ ÂM DƯƠNG CÂN BẰNG TRONG LẠC THƯ
Ở Lạc Thư thì Âm 20 (= 2 + 4 + 6 + 8), Dương 25 (= 1 + 3 + 5 + 7 + 9) nên
Âm Dương không cân bằng về tổng thể Phải chăng điều này thể hiện vạn vật
do tạo hóa sinh ra thì Dương thường lớn hơn Âm? (Dương thường hữu dư) (Chú ý nếu không tính số 5 ở tâm thì Âm Dương có sự cân bằng) Âm Dương không cân bằng về tổng thể nhưng có sự cân bằng về hướng (Bắc 8 + 1
+ 6, Đông 4 + 3 + 8, Nam 4 + 9 + 2, Tây 2 + 7 + 6)
Hà Ðồ tượng trưng cho Nôi Giới (Thiên), Lạc Thư tương trưng cho Ngoại Giới (Ðịạ), Hà Ðồ thuộc về lí Thái Cực, vô hình Lạc Thư thuộc về Khí Vũ Trụ,
hữu hình Hà Ðồ là Thể, Lạc Thư là Dụng Hà Ðồ thuộc về Nội Hướng Tiên
Thiên, Lạc Thư thuộc về Ngoại Hướng Hậu Thiên Hà Ðồ là Ðạo Nội Thánh, nội trị Lạc Thư là Dạo Ngoại Vương, ngoại trị (DỊCH HỌC KHÁI QUÁT)
Cửu cung địa bàn tương ứng với Hậu thiên BÁT QUÁI đồ:
Địa bàn 9 cung và số cục phân bố trên đó luôn luôn cố định, đây là tầng ĐỊA BÀN trong mô hình THIÊN-ĐỊA-NHÂN bàn
Trang 7->Ta có mô hình địa bàn hoàn chỉnh như hình 4
GIẢI THÍCH THUỘC TÍNH CỦA ĐỊA BÀN:
A Cung số 1:quẻ Khảm, phương Bắc, sao Bồng, Hưu môn
B Cung số 2:quẻ Khôn, phương Tây Nam, sao Nhuế, Tử môn
C Cung số 3:quẻ Chấn, phương Đông, sao Xung, Thương môn
D Cung số 4:quẻ Tốn, phương Đông Nam, sao Phụ, Đỗ môn
E Cung số 5:mượn quẻ Khôn, trung cung, sao Nhuế(Cầm), Tử môn
F.Cung số 6:quẻ Càn, phương Tây Bắc, sao Tâm, Khai môn
G.Cung số 7:quẻ Đoài, phương Tây, sao Trụ, Kinh môn
H.Cung số 8:quẻ Cấn, phương Đông Bắc, sao Nhậm, Sinh môn
I.Cung số 9:quẻ Ly, phương Nam, sao Anh, Cảnh môn
b-An vòng thiên can địa bàn(phân biệt với vòng thiên can thiên bàn) vào địa bàn cửu cung, vòng
thiên can ở đây chỉ có 9 can, vì Giáp đã ẩn đi.Vòng thiên can địa bàn dùng trong Độn Giáp có thứ tự như sau:Mậu-Kỳ-Canh-Tân-Nhâm-Quý-Đinh-Bính-Ất B1:An can Mậu vào cung địa bàn có cục số, ví dụ cục số là 5 ta an can Mậu vào trung cung, cục
số là 2 ta an vào cung Khôn, cục số là 7 ta an can Mậu vào cung Đoài.Như ví dụ 5 ở trên ta an can Mậu vào cung địa bàn có số 4, tức là cung Tốn, do vậy ta được như hình 5
B2:Sau khi an can Mậu vào đúng cung cục số, ta phi trên đường
lường thiên xích tìm các can còn lại, lưu ý DƯƠNG ĐỘN phi
thuận, ÂM ĐỘN phi nghịch; cụ thể xem hình 6
Hình 5
4M ẬU 9 2
Trang 88
Hình 6
Lưu ý:+Phi thuận nghĩa là phi trên Hình 4 đưởng LTX thuận: 1-2-3-4-5-6-7-8-9
->Ở ví dụ 5 là dương độn nên phi thuận
+Phi nghịch nghĩa là phi trên đường lường thiên xích nghịch:9-8-7-6-5-4-3-2-1
Sau khi an vòng thiên can địa bàn, ta có được can gắn với độ số của nó, ví dụ (Hình 6) can Kỵ có độ
số là 5, can Đinh có độ số là 1,
4.TÌM TRỰC PHÙ, TRỰC SỬ: (Trực phù là cửu tinh, Trực sử là bát môn)
Tìm trực phù, trực sử dùng can chi của giờ khởi cục dự đoán.Trước tiên xem giờ có can chi là gì, sau
đó dùng bảng Lục Thập Hoa Giáp (Hình 1) tra lui về kể từ hoa giáp của giờ cho tới hoa giáp có can
là GIÁP thì dừng lại ->Hoa giáp có can Giáp gọi là tuần đầu
Ví dụ 7:Giờ khởi cục là Ất Sửu, tra lui về tới hoa giáp Giáp Tý thì dừng lại, hoa giáp GIÁP TÝ này gọi là tuần đầu của giờ Ất Sửu
Tiếp theo, căn cứ vào tuần đầu ta tìm ra can GIÁP ẩn ở can nào, xem dưới đây:
Tuần đầu:GIÁP TÝ -GIÁP ẩn ở MẬU
Tuần đầu:GIÁP DẦN -GIÁP ẩn ở QUÝ
Tuần đầu:GIÁP THÌN -GIÁP ẩn ở NHÂM
Tuần đầu:GIÁP NGỌ -GIÁP ẩn ở TÂN
Tuần đầu:GIÁP THÂN -GIÁP ẩn ở CANH
Tuần đầu:GIÁP TUẤT -GIÁP ẩn ở KỴ
4TỐN PHỤ
ĐỖ
9LY ANH CẢNH
2KHÔN NHUẾ
TỬ 3CHẤN
XUNG THƯƠNG
5 TRUNG CẦM
TỬ
7ĐOÀI TRỤ KINH 8CẤN
NHẬM SINH
1KHẢM BỒNG HƯU
6CÀN TÂM KHAI
4M ẬU 9QUÝ 2BÍNH
3ẤT 5KỴ 7TÂN
8NHÂM 1ĐINH 6CANH
Trang 9Xem can có can GIÁP ần vào có độ số là gì, độ số đó là Trực phù
Ở ví dụ 7, giờ Ất Sửu có tuần đầu là Giáp Tý, can Giáp ẩn ở Mậu, giả sử Mậu có độ số là 3 thì Trực phù là Xung tinh; có độ số là 9 thì Trực
môn.Căn cứ vào mục GIẢI THÍCH
THUỘC TÍNH CỦA ĐỊA BÀN mà tìm,
các trường hợp khác tương tự
Ví dụ 8 :Giả sử có địa bàn như sau :
Hình 7
-Giờ khởi cục dự đoán là Đinh Sửu,
giờ Đinh Sửu có tuần đầu là Giáp
Tuất, Giáp ẩn ở KỴ, mà KỴ mang
độ số 5 nên Nhuế(Cầm) là Trực phù, từ đó suy ra Trực sử là Tử môn
5.LẬP THIÊN BÀN:(cửu tinh & thiên can thiên bàn)
Đầu tiên đặt trực phù lên CAN GIỜ để tạo thiên bàn, ở ví dụ 8 ta có như Hình 7:
Nhận xét: Ở cung Đoài có sao Phụ tinh, mà sao phụ có độ số là 4, can Mậu cũng có độ số 4 nên Mậu
đi với Phụ, ta viết can Mậu trên sao Phụ để biểu thị điều đó; các cung khác vẫn tương tự như vậy (xem hình IX)
ĐINH
BỒNG
MẬU
NHÂM
NHẬM
QU[
ẤT XUNG
MẬU PHỤ
CANH
4M ẬU 9QUÝ 2BÍNH
3ẤT 5KỴ 7TÂN
8NHÂM 1ĐINH 6CANH
Xoay vòng tròn để tìm ra các tinh phân
bố trên thiên bàn, đây gọi là tầng THIÊN
BÀN
Nhuế(Cầm) là trực phù từ cung Khôn xoay sang cung Khảm có can giờ ĐINH.
Trang 10độ số là bao nhiêu thì trực sử rơi vào cung đó
Trang 11Vòng ám thiên can là vòng thiên can phụ, tác dụng của nó chủ về ám động.An như sau:Đặt can giờ vào cung trực sử sau đó phi trên địa bàn 9 cung, dương độn phi thuận, âm độn phi nghịch
Ở ví dụ 8, can giờ ĐINH vào cung trực sử là cung Cấn, ta được như hình 10
Hình 10
Hình 8
Hình 8 Trong dự đoán có thể bỏ qua không an vòng này
Lưu ý:Khi cung trực sử đồng cung trực phù, ta không can giờ vào cung trực sử mà an can giờ vào trung cung
Ứng dụng của vòng này cũng giống hoàn toàn môtíp phục thần trong sáu hào vậy
ĐINH BỒNG -HỢP
MẬU
NHÂM NHẬM –HỔ
CANH
4CANH 9BÍNH 2M ẬU
3KỴ 5TÂN 7QUÝ
8ĐINH 1ẤT 6NHÂM
Trang 12âm, Thiên hậu
Đầu tiên để an vòng quý nhân phải tìm sao quý nhân đóng ở đâu
QU[
ẤT XUNG -VŨ SINH
MẬU PHỤ -ĐỊA THƯƠNG
Can ngày NGÀY ĐÊM
TRỰC SỬ VÀO CUNG NÀY!
Tử môn ở cung Khôn xoay đến cung Cấn, dễ dàng tìm ra các môn khác, tạo nên tầng NHÂN
BÀN.
Trang 13NGÀY:giờ khởi cục là MÃO, THÌN, TỲ, NGỌ, MÙI, THÂN
ĐÊM:giờ khởi cục là DẬU, TUẤT, HỢI, TÝ, SỬU, DẦN
+Quý nhân ở cung:Hợi, Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn thì an thuận
+Quý nhân ở cung Tỳ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất thì an nghịch
Ý nghĩa và nội dung 12 thiên tướng xin xem các tài liệu Lục nhâm
Tóm gọn như sau:
- Thiên Ất trong cửa, Qu{ nhân xe ngựa Người đi về mau Trưởng giả mừng vui
- Phi xà trong cửa Nửa đường quay lại Quái lạ hoảng kinh, Gió mưa rập rình Nghe kêu chim khách Có người đuổi nhanh
- Chu Tước vào cửa Xa nghe tiếng trống Vật sống trên đường Lưu loát văn chương
- Lục hợp vào cửa Người ấm áo đẹp Đường gặp ngựa xe Thấy trẻ cười khoe
- Câu Trận vào cửa Việc làm ngắc ngứ (chậm trễ, đứt đoạn) Đường gặp đánh nhau Mưu chẳng đến đâu
- Thanh Long vào cửa Đường gặp Quan Sứ Có triệu vui mừng Áo gấm tưng bừng
- Thiên Không vào cửa Dương thêm Âm bước Vật hỏng trên đường Cười nói huyênh hoang
- Bạch Hổ vào cửa Cửa quan lo sợ Thấy chết, nghe bi Binh cách đường di
- Thái thường vào cửa Phường tuồng con hát Rượu thịt thấy đống Tranh đẹp thần thông
- Huyền vũ vào cửa Không là sư sãi, trộm cắp, rơi lăn Cũng kẻ xin ăn
- Thái Âm vào cửa Âm tư, hòa hợp Cầu ít được nhiều Âm nhạc cùng theo