Phân chia công việc4.1 Mạ Điện • Khái niệm Nguyễn Tiến Thành ko tham gia0đ • Các khâu chuẩn bị trước khi mạ Bùi Trung Thảo 7đ • Các thiết bị sử dụng trong xưởng mạ Trần Phúc Thiện 7đ •
Trang 1Nhóm 6 Phân chia công việc
4.1 Mạ Điện
• Khái niệm (Nguyễn Tiến Thành ko tham gia)0đ
• Các khâu chuẩn bị trước khi mạ (Bùi Trung Thảo) 7đ
• Các thiết bị sử dụng trong xưởng mạ ( Trần Phúc Thiện) 7đ
• Các phương pháp mạ ( Nguyễn Đức Thuận) 7đ
4.3 Các Phương Pháp Phủ Bảo Vệ Khác
• Phương pháp phủ nhúng kim loại nóng chảy (Trương Công Tiến)7đ
• Phương pháp phun phủ bề mặt ( Nguyễn Mạnh Toàn)7đ
4.2 Oxy Hóa ,Phốt Phát Hóa Kim Loại Và Hợp Kim
• Nhuộm đen thép và gang (Nguyễn Văn Thịnh) 6đ
• Phốt phát hóa thép và gang (Đàm Quang Tiến) 7đ
• Oxy hóa – Nhuộm nhôm vs hợp kim nhôm ( Nguyễn Văn Thuyên) 7đ
• Oxy hóa – Thụ động hóa đồng (Đỗ Mạnh Tiến)6đ
Chương 4: Bảo vệ và trang trí bề mặt
Trang 2Lịch Sử Phát triển ngành Mạ Điện
Ngành mạ điện được nhà hóa học ý Luigi V Brugnatelli khai sinh vào năm 1805
Ông đã sử dụng thành quả của người đồng nghiệp Alessandro Volta , pin Volta để tạo ra lớp phủ điện hóa
đầu tên. Phát minh của ông không có ứng dụng trong công nghiệp trong suốt 30 năm và chỉ được nghiên
cứu trong các phòng thí nghiệm Năm 1839, hai nhà hóa học Anh và Nga khác độc lập nghiên cứu quá trình mạ kim loại đồng cho những nút bản in Ngay sau đó, John Wright ,
Birmingham , Anh sử dụng Kali Xyanua cho dung dịch mạ vàng , bạc Vào thời kì này, đó là dung dịch duy nhất có khả năng cho lớp mạ kim loại quý rất đẹp Tiếp bước Wright,
George Elkington Henry Elkington đã nhận được và bằng sáng chế kĩ thuật mạ điện vào năm 1840 Hai năm sau đó, ngành công nghiệp mạ điện tại Birmingham đã có sản phẩm mạ điện trên khắp thế giới Cùng với sự phát triển của khoa học điện hóa , cơ chế điện kết tủa lên bề mặt kim loại ngày càng được nghiên cứu và sáng tỏ Kĩ thuật mạ điện phi trang trí cũng được phát triển Lớp mạ kền , đồng , kẽm , thiếc thương mại chất lượng tốt đã trở nên phổ biến từ những năm 1850 Kể từ khi máy phát điện được phát minh từ cuối thế kỷ XIX, ngành công nghiệp mạ điện đã bước sang một kỉ nguyên mới Mật độ dòng điện tăng lên, năng suất lao động tăng, quá trình mạ được tự động hóa từ một phần đến hoàn toàn Những dung dịch cùng với các phụ gia mới làm cho lớp mạ đạt chất lượng tốt hơn Các lớp mạ được nghiên cứu phát triển để thỏa mãn cả yêu cầu chống ăn mòn lẫn trang trí, làm đẹp Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai , người ta còn nghiên cứu thành công
kĩ thuật mạ crom cứng, mạ đa lớp, mạ đồng hợp kim mạ kền sunfamat Nhà vật lý Mỹ Richard Feynman đã nghiên cứu thành công
công nghệ mạ lên nền nhựa Hiện nay công nghệ này đã được ứng dụng rộng rãi Kĩ thuật mạ hiện là một trong ba quá trình trong c
chu trình LIGA - được sử dụng trong sản xuất robot điện tử siêu nhỏ ( MEMS ).
Trang 3Khái niệm cơ bản về mạ điện
Vật Mạ gắn với cực âm Catot Kim loại mạ gắn với cực dương anot của nguồn điện trong dung dịch điện môi Cực dương của của nguồn điện sẽ hút các e- trong quá trình OXH và giải phóng các ion kim loại dương dưới tác dụng lực tĩnh điện các ion dương sẽ di chuyển về cực
âm bám vào bề mặt vật được mạ
Độ dày lớp mạ phụ thuộc vào cường độ dòng điện của nguồn và thời gian mạ
Trang 44.1.2: Chuẩn bị bề mặt trước khi mạ điện.
(Bùi Trung Thảo)
• Bước 1 Tẩy dầu mỡ.
• Bước 2 Tẩy gỉ và tẩy nhẹ (màng oxi, các vật rắn bám trên bề mặt)
• Bước 3 Đánh bóng bề mặt.
4.1 Mạ Điện
Trang 5BƯỚC 1: Cần làm sạch bề mặt chi tiết khỏi dầu mỡ.
Bề mặt của kim loại sau khi nhiều giai đoạn chế tạo cơ khí, thường bị dính dầu mỡ, dù rất mỏng nhưng cũng đủ để làm cho bề mặt của
kim loại trở nên kháng nước, không thể xúc tiếp được với dung dịch tẩy, dung dịch mạ…
Tẩy trong dung môi hữu cơ như tricloetylen ( C2HCl3 ) , tetracloetylen ( C2Cl4 ) , cacbontetraclorua ( CCl4 )…
Dầu mỡ được chia 2 loại 1: dầu động thực vật 2: Dầu mỏ, paraphin…
Trang 6Bước 2 Tẩy gỉ và tẩy nhẹ (màng oxi, các vật rắn bám trên bề mặt)
Tẩy nhẹ có thể tiến hành trong dung dịch axit như
H2SO4 ( 10%)+ HCl(5%) nhiệt độ thường trong khoảng 0.5-1 phút Tẩy nhẹ xong cần rửa nhanh
Trang 7Bước 3 Gia công bề mặt chi tiết làm độ bóng tăng lên, khi đó độ bóng sau khi mạ cũng tăng lên.
Có 3 phương pháp để đánh bóng đó là bằng cơ học, hóa học và điện hóa.
- Đánh bóng hóa học có thể đánh bóng thép cacbon trong dung dịch gồm: H3PO4(1,7)(60% V) +H2SO4(1.84)(30% V) + HNO3(1.4)(10%V)+ CrO3 (( 5-10 g/l) t= 120-140 độ C thời gian <10’.
- Đánh bóng điện hóa trong dung dịch gồm : H3PO4 (66-70% m) +CrO3 (12-14%) + H2O 18-20% tỉ trọng dd 1.7-1.74 g/cm3 nhiệt độ 75-80 độ C mật độ Anot 20-30 A/dm2 thời gian từ 10-15’.
Click to edit Master text styles
Second level
Third level
Fourth level
Fifth level
Trang 84.1.3 Thiết Bị Phân Xưởng Mạ
(Trần Phúc Thiện)
4.1.3 Thiết Bị Phân Xưởng Mạ
(Trần Phúc Thiện)
Thiết bị chính trong phân xưởng mạ bao gồm
Thiết bị
đánh
bóng
tẩy gỉ
Trang 9Các thiết bị đánh bóng tẩy gỉ
- Máy đánh bóng, máy quay bóng, máy phun cát
Trang 10- Hệ thống bể tẩy gỉ
Mục đích: Xử lí bề mặt kim loại tốt nhất trước khi qua quá trình mạ, giúp lớp mạ liên kết tốt hơn với sản phẩm được đem
mạ
Trang 11Bể Mạ
Bể Mạ Tĩnh
Vật cần mạ được gắn với cực âm catôt, kim loại mạ gắn với cực dương anôt của nguồn điện trong dung dịch điện môi Cực dương của nguồn điện sẽ hút các electron e- trong quá trình ôxi hóa và giải phóng các ion kim loại dương, dưới tác dụng lực tĩnh điện các ion dương này sẽ di chuyển về cực âm, tại đây chúng nhận lại e- trong quá trình
ôxi hóa khử hình thành lớp kim loại bám trên bề mặt của vật được mạ Độ dày của lớp
mạ tỉ lệ thuận với cường độ dòng điện của nguồn và thời gian mạ.
Sử dụng cho
những chi
tiết lớn
Trang 12Bể mạ quay
Sử mạ những chi tiết nhỏ, lớp mạ không bị rỗ cần độ bóng cao
Ngoài 2 loại bể mạ Tĩnh và bể mạ quay còn có Bể mạ lắc , thiết bị mạ tự động
Trang 134.1.4 Các Phương pháp mạ điện (Nguyễn Đức Thuận)
4.1.4 Mạ kẽm
a.Khái niệm
• Mạ kẽm là thuật ngữ phổ biến thường được dùng trong các ngành công nghiệp Đó là quá trình phủ kẽm
để bảo vệ thép hoặc sắt trước quá trình ăn mòn oxi hóa của môi trường
b.Ứng dụng
Mạ kẽm được dùng bảo vệ chống ăn mòn các tấm tôn lợp nhà,ống thép,các chi tết trên đường dây tải điên bằng thép…
Trang 16=> được ứng dụng phổ biến trong công nghiệp mạ ô tô, mạ các chi tiết máy, dụng cụ y tế, phụ tùng xe máy, xe đạp, máy khâu, và hầu hết các kim loại thông dụng như sắt, đồng, inox,
nhôm,…
Trang 174.2 Oxy hóa và Phốt phát hóa kim loại và hợp kim
4.2.1 Nhuộm đen thép và gang (Nguyễn Văn Thịnh)
-Khái niệm:
Oxy hóa thép và gang còn gọi là nhuộm đen do tạo thành trên bề mặt chi tết màng oxit Fe3O4 có màu đen hoặc xanh đen
Trang 18-Mục đích: Chống lại sự ăn mòn của không khí cho chi tiết
+Oxy hóa thép và gang trong môi
trường hơi nước
+Oxy hóa thép và gang trong môi
trường muối
+Oxy hóa thép và gang trong môi
trường kiềm -Ứng dụng: Dùng cho các chi tiết máy, dụng cụ đo, vũ
khí ….
Trang 19Tên phương pháp Khái niệm Ưu điểm Nhược điểm
OXH thép và gang trong môi
trường hơi nước
Chi tiết được oxh trong thùng quay bằng hơi nước ở nhiệt độ nhỏ hơn 500ºC
đơn giản rẻ tiền và ít ô nhiễm có tính bảo vệ kém ko bóng đẹp
OXH trong môi trường hỗn hợp
muối NaNO2 + NaNO3
Tác nhân OXH chủ yếu là NaNO2 do Phản ứng phóng thích oxy khi nung
Các muối khác như NaOH, Na2CO3 được dùng để tạo ra môi trường muối nóng chảy có nhiệt độ xác định (4-500 độ C)
PP này cho màng oxit
Mà sắc rất đẹp từ đỏ đến Xanh đen phụ thuộc vào Nhiệt độ OXH
màng oxit kém bền, dễ chuyển màu và tính Bảo vệ ko cao
OXH thép và gang bằng dd Kiềm Sau khi oxy hóa nhuộm đen cần xử lý
trongdung dịch xà phòng 3- 5%, nhiệt độ 80 -90 %, trong 10 – 15 phút Sau khi xử lý cần rửa sạch rồi sấy khô hoặc thổi khô rồi nhứng vào dầu biến thế nóng ở nhiệt độ 105 – 110*C trong 5 – 10 phút
Màng oxit đen bóng đẹp , có tính bảo vệ cao
Thời gian gia công lâu + chi phí gia công lớn hơn các phương pháp khác
Trang 204.2.2 Phốt phát hóa
Thép & Gang ( Đàm Quang Tiến)
• Thành phần chủ yếu của màng phốt phát trên thép & gang gồm :
Me3(PO4)2
MHPO4
Đàm Quang Tiến- nhóm 6 20
Trang 21• Có tính cách điện cao nhưng không làm thay đổi cơ tính
từ tính của chất liệu (roto,stato động cơ, lá thép biến thế của lõi cuộn dây…)
• Độ dày từ 5 ÷20µm, kích thước của chi tiết không thay đổi sau khi phốt phát
Đàm Quang Tiến- nhóm 6 21
Trang 22Các thành phần dung dịch và chế
độ phốt phát hóa
Các dung dịch gia công ở nhiệt độ cao có độ bền chống chịu ăn mòn cao, thời gian pp hóa ngắn thường
dung chống gỉ cho các chi tiết thép và gang.
Các dung dịch gia công ở nhiệt độ trung bình có tính chống gỉ thấp hơnnhiệt độ cao nhưng dd lại ổn định,
thời gian pp hóa nhanh thường được dung cho bôi trơn sơn lót.
Các dd gia công ở nhiệt độ thấp thì ít hao hóa chất, không cần gia nhiệt, dd ổn định, nhưng tính chống gỉ
thấp độ bám kém nên chỉ dung cho sơn lót.
Đàm Quang Tiến- nhóm 6 22
Trang 234.2.3 Ôxy hóa nhuộm nhôm và hợp kim nhôm (Nguyễn Văn Thuyên)
*Khái niệm :
- Oxy hóa nhôm làm màng ô xít nhôm Al2O3 mỏng và xít chặt , có tính bảo vệ
cao , màng có lỗ xốp , dễ hấp thụ màu đen nên có thể nhuộm được màu sắc đẹp
- Oxy hóa nhuộm màu nhôm và hợp kim nhôm được thực hiện bằng 2 phương
pháp :
1 Phương pháp oxy hóa hóa học
2 Phương pháp điện hóa
Trang 241 Phương pháp oxy hóa hóa học :
Trang 25• 2 Phương pháp oxy hóa điện hóa :
• Oxy hóa nhôm và hợp kim nhôm điện hóa được tến hành trong các dung dịch khác nhau nhưng phổ biến nhất là trog dung dịch H2SO4 gia công ở những chế
độ nhiệt độ và mật độ dòng điện khác nhau sẽ cho những đặc tính khác nhau :
Trang 26• Oxy hóa trong dug dịch H2SO4
Trang 27• Oxy hóa sâu : oxy hóa sâu được độ dày màn oxit đạt tới 250 µm độ cứng tế vi có thể đạt 1500 hv ( Al tnh khiết) , và từ 400-600 hv ( trên hợp kim nhôm) Màng
có nhiều lỗ hấp thụ tốt , dễ nhuộm màu dễ bôi trơn Màng Al2O3 dày có tính cách điện cách nhiệt tốt nên được ứng dụng nhiều trong chế tạo máy ,động cơ đốt trong , công nghiệp quốc phòng
Trang 29• Bịt lỗ và nhuộm màu :
- Để trang trí cho sản phẩm có màu sắc đẹp, sau khi oxy hóa nhôm , tiến hành nhuộm màu trong các thuốc nhuộm hữu cơ và vô cơ khác nhau Thông dụng nhất là thuốc nhuộm hữu cơ có tính axit , thuốc nhuộm hoạt tính Thuốc nhuộm hóa nguyên có nhiều màu sắc đẹp
- Sau khi nhuộm cần tiến hành bịp lỗ để cố định thuốc nhuộm trong màng và nâng cao tính bảo
vệ màng oxit
- Bịp lỗ bằng nước nóng 95 độ C trong 35 phút
- Bịp lỗ bằng hơi nước 105 độ C trong 60 phút
Trang 314.2.4 Oxy hóa và hợp kim đồng
(Đỗ Mạnh Tiến)
• Bạn thử tưởng tượng quả táo chúng ta cắt ra hoặc cắn dở để lâu ngày trong không khí hoặc bỏ vào trong tủ lạnh; sau khi lấy ra ta sẽ thấy nó chuyển màu tức thì, bị vàng úa và hơi khô Đó chính là kết quả của sự oxy hóa
Trang 32• S oxy hoa không ch di n ra v i nh ng v t th thông thự ỉ ễ ớ ữ ậ ể ường mà còn di n ra bên trong c th chúng ta B n quan sát th y trên ễ ơ ể ạ ấ
m t nh ng ngặ ữ ườ ới l n tu i, th m chí là nh ng ngổ ậ ữ ười còn tr có xu t hi n nh ng n p nh n, da b s m màu và x u xí C th m ẻ ấ ệ ữ ế ă ị ạ ấ ơ ể ố
y u, n ch a nhi u b nh t t ó chính là do tác ế ẩ ứ ề ệ ậ Đ động c a quá trình oxy hóa Hay nói cách khác là da b lão hóa.ủ ị
Trang 33• Vậy “ oxy hóa là gì?”
• Chúng ta đã được học môn hóa học, chắc không ai là chưa nghe câu “khử cho – (O) nhận” Cụ thể câu nói trên là quá trình khử là quá trình làm giảm số oxy hóa của chất đó xuống Còn sự oxy hóa sẽ là quá trình làm tăng số oxy của chất lên.
• oxy hóa là phản ứng hóa học xảy ra khi oxy tác dụng với một chất nào đó (đơn chất hay hợp chất), dẫn đến biến đổi về hình dạng, màu sắc Ở đâu có oxy ở đó
có thể xảy ra oxy hóa.
Trang 34• Tác hại của sự oxy hóa như thế nào?
• Như đã nói ở trên, sự oxy hóa sẽ làm bề mặt các kim loại bị hoen rỉ, làm hư hỏng nhiều vật dụng và thực phẩm.
• Điểm hạn chế đáng nói ở đây là sự tác động của quá trình oxy hóa đối với cơ thể con người Điều này ảnh hưởng trực tếp đến chất lượng cuộc sống của chúng ta.
• Do tác nhân từ môi trường như bức xạ, ô nhiễm, khói bụi, stress, những thức ăn, đồ uống chúng ta đưa vào cơ thể hàng ngày đều dẫn đến cơ thể bị oxy hóa theo thời gian Dẫn đến cơ thể bị lão hóa, già nua, bệnh tật nảy sinh.
Trang 35• Oxy hóa đồng
• Màng oxit có thể là CuO, Cu₂O có tính bảo vệ và chống ăn mòn Nếu màng là CuO thì màng có thể có mầu đen hoặc xanh đen nếu là Cu₂O thì màng có thể nhuộm vàng , vàng chanh , đốm , nâu Sau khi oxy hóa, cần quét lên màng dầu hoặc sơn không màu để nâng cao tính bảo vệ của màng Oxy hóa đồng có thể tến hành trong các dung dịch và chế độ sau :
• Oxy hóa , hóa học trong dung dịch
Trang 37• Thời gian 3 : 8 giây
• Sau khi thụ động không mà thổi khô bằng khí nóng ở 70 : 80 C
Trang 384.3.1 PHƯƠNG PHÁP PHỦ NHÚNG KIM LOẠI NÓNG CHẢY
( Trương Công Tiến)
-Phủ nhúng kim loại nóng chảy
lên bề mặt chi tiết thép và
gang được thực hiện bằng
cách nhúng chi tiết sau
khi đã tẩy gỉ, dầu mỡ vào
mặt kim loại hoặ hợp kim
loại cần phủ ở trạng thái
nóng chảy sau khi lấy chi
tiết ra khỏi bể, trên bề mặt chi tiết
xuất hiện màng kim loại hoặc hợp kim mà ta cần phủ.
Trang 39• - Các kim loại và hợp kim phủ nhúng chống ăn mòn, thông thương là kẽm, thiếc, hợp kim kẽm – nhóm (AL-Zn) Các kim loại và hợp kim này có nhiệt độ nóng chảy thấp, nhôm và kẽm có điện thế tiêu chuẩn nhỏ hơn thép nên lớp phủ catôt có tính bảo vệ cao
• - Các vật phẩm phủ nhúng kẽm, hợp kim Zn-AL như tôn lợp nhà, tôn lạnh, ống nước dẫn, phương pháp phủ nhúng trong nhiều trường hợp có tính kinh tế cao hơn
mạ điện.
• Do quá trình mạ nhứng ở nhiệt độ tương đối cao nên tổ chức của lớp bề mặt bao gồm màng kim loại hoặc hợp kim trên bề mặt và tiếp theo là lớp hợp kim của sắt với kẽm hoặc nhôm.
• Thiết bị chính của công nghệ phủ nhúng là bề mặt kim loại lỏng bể kim loại lỏng
có 3 lớp chính.
Trang 40Lớp sát bể là chì hoặc kim loại Pb –Sn, có tác dụng nung nóng nhanh chi tiết trước khi phủ.
• Lớp giữa là kim loại hoặc kim loại cần phủ
• Lớp trên cùng là trợ dung có tác dungj làm loăng xỉ kim loại bảo vệ kim loại ít bị cháy hao và tạo ra môi trường hoạt hóa bề mặt chi tiết trước khi nhúng Cl Hỗn hợp trợ dung được phun thành tia mảnh vào bể để nước bốc hơi còn lại lớp trợ dung, sau đó từ từ them Cl cho tới khi được lớp trợ dung có chiều dày 150
-180mm.
Trang 41• Chi tiết sau khi tẩy dầu mỡ
tẩy gỉ được đưa vào bể nhúng
đầu tiên cho chi tiết nhúng
sơ bộ ở lớp sắt đáy, sau đó đi
lên lớp kim loại phủ nhúng
nhiệt độ bề mặt nhúng tùy
thuộc vào nhiệt độ nóng chảy
của kim loại cần phủ.
Trang 431: Phương pháp phun phủ kim loại
a Nguyên lý hoạt động : là phương pháp dùng hồ quang điện tạo thành do 2 dây dẫn bằng kim loại cần phủ khi tiếp xúc với
nhau ,làm nóng chảy dây dẫn , khí nén được thổi qua vùng kim loại nóng chảy , phun đắp lên bề mặt chi tiết cần phủ.Tổ chức của lớp phủ bao gồm các hạt kim loại hoặc hợp kim và các vật lẫn oxit tạo thành giữa khí nén và kim loại nóng chảy ( ảnh minh họa hình 1.1.1).
Nhược điểm : mối liên kết giữa lớp phủ và nền còn thấp, tổn thất vật liệu phun nhiều , ảnh hưởng đến sức bền của chi tiết , bề mặt phun luôn yêu cầu phải làm sạch và tạo độ nhấp nhô, đòi hỏi trình độ tay nghề công nhân cao ,điều kiện làm việc nặng nhọc
1.1.1: ảnh minh họa phương pháp phun phủ kim loại
Trang 44• 2: Phương pháp phun phủ bằng plasma
a Nguyên lý hoạt động : là nhờ năng lượng cao của ngườn nhiệt hồ quang Plasma gián tiếp của đầu phun mà vật liệu được nung
chảy và phun vào chi tiết Trên bề mặt chúng liên kết lại thành lớp phủ xống bằng quá trình chảy kết và bám dính lên bề mặt bằng lực cơ học Bề mặt vật phủ có nhiệt độ thấp nên không xảy ra quá trình khuếch tán
b Vật liệu dùng trong phun phủ plasma
-Bột gốm kim loại - Vật liệu siêu cứng( Kim Cương)
- Bột hợp kim cứng -Bột Ni 164-2 Zro
2.1.1: ảnh minh họa phương pháp phun phủ Plasma