1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VẤN đề NGHIÊN cứu, áp DỤNG QUY ĐỊNH QUỐC tế TRONG THỰC TIỄN bảo vệ và PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH ở nước TA

5 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 138,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lĩnh vực văn hóa nói chung, di sản văn hóa vật thể nói riêng, Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới sau đây gọi tắt là Công ước được Đại Hội đồng Các quốc gia t

Trang 1

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên

hợp quốc (UNESCO) được thành lập ngày

16/11/1945, với mục đích “Góp phần duy trì

hòa bình và an ninh quốc tế bằng cách thắt chặt sự

hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và

văn hóa để đảm bảo sự tôn trọng của tất cả các

nước về công lý, pháp luật, quyền con người và tự

do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt

chủng tộc, nam, nữ, ngôn ngữ, tôn giáo mà Hiến

chương Liên hợp quốc đã công nhận đối với tất cả

các dân tộc”1

Là một tổ chức lớn của Liên hợp quốc, UNESCO

có chức năng: thử nghiệm các ý tưởng về những

vấn đề quan trọng đang phát sinh trong lĩnh vực

của mình, từ đó định dạng những chiến lược và

chính sách; soạn thảo và xác lập các quy chuẩn đạo

đức, chuẩn mực và tri thức; tạo dựng năng lực cho

các quốc gia thành viên trong các lĩnh vực giáo dục,

khoa học, văn hóa và thông tin; và, xúc tác quan hệ

hợp tác quốc tế

Trong lĩnh vực văn hóa nói chung, di sản văn

hóa vật thể nói riêng, Công ước về bảo vệ di sản văn

hóa và thiên nhiên thế giới (sau đây gọi tắt là Công

ước) được Đại Hội đồng Các quốc gia thành viên

của UNESCO thông qua vào năm 1972, đã trở thành

một trong những dấu ấn nổi bật, có ảnh hưởng sâu

rộng nhất của UNESCO trong việc bảo tồn di sản

Đây là Công ước duy nhất kết hợp giữa việc bảo vệ

di sản văn hóa và di sản thiên nhiên

Theo quan điểm của UNESCO, di sản văn hóa và

thiên nhiên thuộc nhóm những di sản vô giá và

không thể thay thế được, không chỉ của một dân

tộc, mà còn là của nhân loại nói chung Bất kỳ di sản nào trong số đó nếu biến mất, do xuống cấp hoặc thất thoát, cũng sẽ làm nghèo đi kho tàng di sản của tất cả các dân tộc trên thế giới Trong số

đó, có những di sản, với những tính chất vô cùng đặc biệt của chúng, được coi là có “giá trị nổi bật toàn cầu”, xứng đáng được bảo vệ đặc biệt để chống lại những nguy cơ ngày càng lớn mà chúng đang phải đối mặt

Sau khi Công ước được thông qua, cộng đồng quốc tế đã luôn đề cao khái niệm “phát triển bền vững”, trong đó, việc bảo tồn các di sản văn hóa và thiên nhiên là một nội dung quan trọng Các hoạt động liên quan đến Công ước luôn được đánh giá cao, với tư cách là diễn đàn quốc tế rộng mở và bình đẳng, để các nhà văn hóa, nhà khoa học từ các quốc gia thành viên có thể tự do tranh luận, trao đổi học thuật và chia sẻ kinh nghiệm trong hoạt động nghiên cứu, kiểm kê, tư liệu hóa cũng như bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên của quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại Đặc biệt, Công ước được các nước thành viên tiếp cận như là một loại “khung pháp lý” để hình thành mạng lưới chung của một mô hình quản lý mang tính quốc tế ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc huy động nguồn lực của các chính phủ, các cộng đồng cư dân địa phương cho việc bảo tồn, giới thiệu và truyền lại cho đời sau những di sản văn hóa và thiên nhiên có giá trị nổi bật toàn cầu Việc quản lý, bảo vệ các di sản thế giới ngày càng được nâng cao và đạt được những thành công vượt bậc Tính đến tháng 6/2013, đã có 190 quốc gia trên thế giới phê chuẩn Công ước, đồng thời 981 di sản của 160 quốc gia đã được UNESCO

VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU, ÁP DỤNG QUY ĐỊNH QUỐC TẾ TRONG THỰC TIỄN BẢO VỆ

VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ

DI TÍCH Ở NƯỚC TA

THS NGUYN VIT CNG*

* Cục Di sản văn hoá

Trang 2

ghi vào Danh mục Di sản thế giới vì các giá trị nổi

bật toàn cầu mà các di sản đó đã đạt được Trong

số này, có 759 di sản văn hóa, 193 di sản thiên nhiên

và 29 di sản hỗn hợp giữa văn hóa và thiên nhiên

Mục tiêu chính của Công ước là: nâng cao nhận

thức của cộng đồng quốc tế về vai trò của di sản

văn hóa và thiên nhiên thế giới với tư cách là nguồn

“vốn văn hóa” quan trọng cho phát triển bền vững,

phương tiện giao lưu, đối thoại văn hóa và hội nhập

quốc tế; khẳng định trách nhiệm của quốc gia

thành viên trong việc thiết lập cơ chế chính sách,

khung pháp lý và mô hình quản lý di sản; đề cao và

tôn vinh cộng đồng cư dân địa phương với tư cách

chủ thể sáng tạo, chủ sở hữu, người hưởng thụ và

cũng là nguồn nhân lực quan trọng bảo vệ di sản;

khuyến khích hợp tác quốc tế, phối hợp liên quốc

gia, liên ngành trong bảo vệ và phát huy giá trị di

sản; tạo cơ chế giám sát chặt chẽ quá trình thực thi

Công ước tại các quốc gia thành viên

Để đạt được những mục tiêu đặt ra trong Công

ước, UNESCO đã thiết lập và thực thi một mô hình

quản lý các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới

được xem là “có tính hợp lý cao”, với đầy đủ các cơ

quan, bộ phận chức năng có vai trò, vị trí và nhiệm

vụ được xác định cụ thể (trong Quy chế hoạt động

của các cơ quan đó), nhằm triển khai các hoạt động

mang tính đồng bộ, có yêu cầu cao về mặt khoa

học, đồng thời tạo ra sự bình đẳng trong toàn bộ

các quyết định liên quan tới vấn đề bảo vệ, bảo tồn

và phát huy giá trị di sản ở các quốc gia thành viên

trên toàn thế giới Các cơ quan, bộ phận chức năng

của Công ước, bao gồm:

- Hội đồng Các quốc gia thành viên Công ước

di sản thế giới (The General Assembly of States

Parties to the World Heritage Convention, hiện nay

gồm đại diện của 190 quốc gia thành viên của

Công ước)

- Ủy ban Di sản thế giới (The World Heritage

Committee): gồm 21 thành viên do Hội đồng Các

quốc gia thành viên Công ước bầu ra

- Ban Thư ký của Ủy ban Di sản thế giới (Trung

tâm Di sản thế giới), (The Secretariat to the World

Heritage Committee (World Heritage Centre)): có

trách nhiệm hỗ trợ và cộng tác với các quốc gia

thành viên và các cơ quan tư vấn

- Các cơ quan tư vấn cho Ủy ban Di sản thế giới

gồm có: Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu Bảo tồn

và Trùng tu Di sản văn hóa (International Centre for

the Study of the Preservation and Restoration of

Cultural Property, viết tắt là ICCROM), Hội đồng Quốc tế về Di tích và Di chỉ (International Council

on Monuments and Sites, viết tắt là ICOMOS), Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên thế giới (International Union for Conservation of Nature and Natural Re-sources, viết tắt là IUCN)

Hằng năm, ICCROM, ICOMOS, IUCN và các tổ chức liên quan thường xuyên triển khai các chương trình, chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu về di tích lịch sử - văn hóa, di tích khảo cổ, kiến trúc, di sản thiên nhiên rừng, biển, du lịch bền vững, Từ đó, đúc rút thành các công ước, hiến chương, nguyên tắc, văn kiện quốc tế về bảo tồn di tích có giá trị áp dụng trên toàn thế giới, có thể kể tới, như:

- Hiến chương Athens về trùng tu di tích lịch

sử (1931)

- Hiến chương Venice về bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ (1964)

- Hiến chương Florence về hoa viên lịch sử (his-toric gardens, 1981)

- Hiến chương về bảo vệ thành phố và khu vực

đô thị lịch sử (Hiến chương Washington 1987)

- Hiến chương về bảo vệ và quản lý di sản khảo

cổ học (1990)

- Văn kiện Nara về tính xác thực (1994)

- Nguyên tắc lập hồ sơ di tích, cụm kiến trúc và

di chỉ (1996)

- Hiến chương Burra về bảo vệ các địa điểm di sản có giá trị văn hóa (1979, sửa đổi 1981, 1988, 1999)

- Hiến chương quốc tế của ICOMOS về du lịch văn hóa (1999)

- Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước (2001)

Ngoài ra, còn hàng chục các đề tài nghiên cứu chiến lược, ấn phẩm mang tính chuyên sâu của UNESCO và các tổ chức tư vấn quốc tế về lĩnh vực bảo vệ, phát huy các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, có thể kể tới một số tài liệu đáng quan tâm, như:

- “Chiến lược toàn cầu” và các nghiên cứu chuyên đề vì một danh sách di sản thế giới tiêu biểu (1994)

- Đánh giá những nguyên tắc và tiêu chí chung đối với các hồ sơ đề cử các khu di sản thiên nhiên thế giới (1996)

- Báo cáo Chiến lược toàn cầu về kết nối văn hóa

và thiên nhiên (2001)

- Quản lý Du lịch tại các khu di sản thế giới: Sổ

21

Trang 3

tay thực hành cho các nhà quản lý di sản thế giới

(2002)

- Hướng dẫn quy hoạch quản lý các khu bảo tồn

(2003)

- Kết nối giá trị toàn cầu và giá trị địa phương:

Quản lý một tương lai bền vững cho di sản thế giới

(2004)

- Giám sát di sản thế giới (2004)

- Quản lý nguy cơ thảm họa tại các di sản thế

giới (2010)

- Chuẩn bị hồ sơ đề cử di sản thế giới (2010, sửa

đổi 2011)

- Quản lý di sản thiên nhiên thế giới (2012)

Kể từ thời điểm Việt Nam chính thức tham gia

Công ước vào năm 1987 đến nay, kế thừa những

quy định pháp luật và kinh nghiệm trong thực tiễn

bảo vệ, phát huy giá trị di tích trước đó, cùng với

việc nghiên cứu, tham khảo các văn bản quốc tế về

lĩnh vực bảo tồn, phát huy di sản, Việt Nam đã ngày

càng quan tâm, hoàn thiện hệ thống pháp luật về

văn hóa nói chung, di sản văn hóa nói riêng

Đầu tiên phải kể đến Hiến pháp năm 1992,

trong đó xác định “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát

triển các di sản văn hoá dân tộc; chăm lo công tác

bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát

huy tác dụng của các di tích lịch sử, cách mạng, các

di sản văn hoá, các công trình nghệ thuật, các danh

lam, thắng cảnh”

Đặc biệt, những năm gần đây, quan hệ hợp tác

Việt Nam - UNESCO ngày càng được đẩy mạnh, đã

có tác động tích cực đến sự nghiệp phát triển văn

hóa ở nước ta Thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa

(1988 - 1997) do Liên Hợp Quốc và UNESCO phát

động đã góp phần mang lại cho chúng ta nhận

thức đúng đắn về vai trò của văn hóa trong phát

triển: “Văn hóa là nguồn nội sinh, vừa là động lực

vừa là mục tiêu và hệ điều tiết của phát triển kinh

tế- xã hội” Với Việt Nam, hoạt động này làm thay

đổi về lý luận và nhận thức, cũng như một số chủ

trương, chính sách về văn hóa Nội dung Nghị

quyết Trung ương 5, khóa VIII (năm 1998) về “Xây

dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản

sắc dân tộc” thể hiện tầm cao mới về lý luận của

Đảng đối với vai trò của văn hóa trong phát triển,

có sự đóng góp không nhỏ của “Thập kỷ quốc tế

Phát triển Văn hóa”2 Nghị quyết Trung ương 5,

Khóa VIII cũng xác định một trong những nhiệm vụ

cụ thể thời gian tới là “Bảo tồn và phát huy các di

sản văn hóa”

Tại một số văn kiện quan trọng khác, như Kết luận của Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) trong những năm sắp tới cũng nêu mục tiêu “Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội”

và “tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa, phát huy các giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc và tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, bắt kịp sự phát triển của thời đại”3

Đến năm 2001, Quốc hội đã ban hành Luật di

sản văn hóa, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (sau

đây gọi chung là Luật di sản văn hóa) Đây là cơ sở

pháp lý quan trọng để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, phù hợp với pháp luật quốc tế

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan thuộc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có chức năng quản lý nhà nước về văn hoá trong phạm vi cả nước Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, những năm qua, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ trì soạn thảo, trình Chính phủ ban hành hàng loạt các văn bản pháp

lý quan trọng, như:

- Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020

(ban hành kèm theo Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ): trong

đó, coi di sản văn hóa là nền tảng để hun đúc nên bản sắc văn hóa và hệ giá trị của văn hóa dân tộc, là một nguồn lực cho phát triển; bảo tồn và phát huy

di sản văn hóa là nhiệm vụ then chốt

- Nghị định số 86/2005/NĐ-CP ngày 08/7/2005

của Chính phủ về Quản lý và bảo vệ di sản văn hóa dưới nước.

- Nghị định số Nghị 98/2010/NĐ-CP ngày

21/9/2010 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa.

- Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 của Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa.

- Quyết định số 1211/2012/QĐ-TTg ngày 05/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

“Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn

2012 - 2015”.

Liên quan trực tiếp tới lĩnh vực bảo vệ, phát huy các di sản văn hóa và thiên nhiên, những năm qua,

Trang 4

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã ban hành

hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể là:

- Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày

24/7/2001 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin

(nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phê duyệt

Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di

tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đến

năm 2020

- Quyết định số 86/2008/QĐ-BVHTTDL ngày

30/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch ban hành Quy chế khai quật khảo cổ

- Chỉ thị số 79/CT-BVHTTDL ngày 22/5/2009 của

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc tổ

chức triển khai thực hiện Chiến lược phát triển văn

hóa đến năm 2020

- Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày

14/7/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quy

định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di

tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh

- Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL ngày

28/12/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quy

định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ,

phục hồi di tích

Những cố gắng vượt bậc kể trên cho thấy, về

cơ bản chúng ta đã khắc phục được tình trạng

Luật chờ Nghị định, Nghị định chờ Thông tư

hướng dẫn và quy chế hoạt động trong từng lĩnh

vực cụ thể Các văn bản quy phạm pháp luật về

lĩnh vực di sản văn hóa đã ngày càng hoàn thiện

và chặt chẽ hơn nhằm thiết lập khuôn khổ pháp

lý thích hợp cho các mặt hoạt động; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan Nhà nước từ Trung ương tới địa phương, quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức xã hội, đồng thời tạo động lực định hướng cho các hoạt động

Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên cũng ngày càng hoàn thiện Trước hết phải

kể đến các cơ quan quản lý nhà nước thuộc ngành dọc của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đó là: Cục

Di sản văn hóa, Cục Hợp tác quốc tế, Vụ Kế hoạch

và Tài chính, các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố trong cả nước (các Ban quản lý

di sản văn hóa) Tiếp đến là các cơ quan nghiên cứu khoa học như: Viện Bảo tồn Di tích, Viện Khảo cổ học Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử quốc gia Các cơ sở đào tạo như: Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật thành phố

Hồ Chí Minh Ngoài ra, còn có các tổ chức xã hội nghề nghiệp có khả năng huy động các nguồn lực

xã hội, tư vấn, hỗ trợ cho Nhà nước và cộng đồng trong việc bảo tồn di sản văn hóa và thiên nhiên, như: Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia (tổ chức tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về những vấn đề liên quan tới di sản văn hóa và thiên nhiên), Hội Di sản

23

Trang 5

văn hóa Việt Nam, Hội Khảo cổ học Việt Nam, với

hàng chục chi hội và hàng ngàn hội viên ở 63 tỉnh,

thành phố trong cả nước

Một trong những nội dung quan trọng trong

công tác quản lý, bảo vệ, bảo tồn di sản văn hóa và

thiên nhiên là việc nhận diện giá trị để xếp hạng các

di tích và đặt chúng dưới sự bảo hộ của pháp luật

Ở Việt Nam, có thể lấy mốc năm 1962 là thời điểm

bắt đầu quá trình xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa

và danh lam thắng cảnh, khi những di tích quốc gia

đầu tiên được công nhận Kể từ đó đến nay (tháng

6 năm 2013), trên cả nước đã có 07 di sản văn hóa

và thiên nhiên thế giới, 34 di tích cấp quốc gia đặc

biệt, 3.184 di tích cấp quốc gia, trên 7.000 di tích

cấp tỉnh Đồng thời, đã có trên 4 vạn di tích, danh

thắng đã được kiểm kê theo quy định của Luật di

sản văn hóa

Chương trình Mục tiêu quốc gia về văn hóa giai

đoạn 2012 - 2015 được Thủ tướng Chính phủ phê

duyệt tại Quyết định số 1211/QĐ-TTg ngày

05/9/2012 là sự tiếp nối một chương trình lớn của

quốc gia được khởi động từ năm 1997 liên tục đến

nay Một trong những mục tiêu cụ thể của Chương

trình có liên quan tới việc chống xuống cấp, tu bổ

và tôn tạo di tích là:

“- Hoàn thành việc lập các quy hoạch bảo tồn

và phát huy giá trị các khu di tích đặc biệt quan

trọng (theo danh mục được Thủ tướng Chính phủ

phê duyệt)

- Tiếp tục đầu tư triển khai các dự án tu bổ di tích

quốc gia đặc biệt và cấp quốc gia đang đầu tư dở

dang trong những năm qua Mỗi năm, đầu tư tu bổ

tổng thể cho 60 đến 90 di tích, hỗ trợ chống xuống

cấp cho 300 đến 400 di tích Hỗ trợ các bảo tàng

tỉnh, thành phố mua từ 10 đến 30 hiện vật mỗi năm

để xây dựng sưu tập phù hợp với loại hình và nhiệm

vụ của bảo tàng Tổ chức đào tạo và cấp chứng chỉ

cho đội ngũ cán bộ, công nhân chuyên ngành làm

công tác tôn tạo, tu bổ di tích Hỗ trợ địa phương

tổ chức tập huấn cán bộ quản lý và phát huy giá trị

di tích ở cơ sở, tổ chức tham quan, khảo sát, nghiên

cứu ở trong và ngoài nước cho các cán bộ làm công

tác quản lý của bảo tàng, Ban quản lý di tích…

Chương trình Mục tiêu quốc gia về văn hóa nêu

trên cho thấy, Chính phủ và nhân dân ta đã rất quan

tâm tới công tác bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị

các di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh

Việc Việt Nam nghiêm túc thực hiện cam kết quốc

gia trong hoạt động bảo tồn di sản văn hóa và thiên

nhiên góp phần nâng cao uy tín và độ tín nhiệm quốc tế đối với UNESCO, củng cố mối quan hệ giữa UNESCO với quốc gia thành viên, đồng thời còn xây dựng và quảng bá hình ảnh tốt đẹp của Việt Nam trong lòng bạn bè quốc tế

Thực tiễn bảo tồn các di sản văn hóa và thiên nhiên những năm qua ở Việt Nam cũng cho thấy, chúng ta đã và đang đạt được nhiều kết quả quan trọng, tuy nhiên, cũng tồn tại nhiều vấn đề nảy sinh trong thực tế cần phải tập trung giải quyết Để làm được điều này, thì những quy định tại Công ước và kinh nghiệm trong quá trình quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên của UN-ESCO và các tổ chức tư vấn quốc tế, các quốc gia trên thế giới là một chủ đề rất cần được quan tâm nghiên cứu, áp dụng vào thực tiễn quản lý, bảo vệ

và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh ở nước ta Hơn nữa, những năm gần đây, trên bình diện quốc tế, chúng ta ngày càng tham gia sâu rộng vào các hoạt động của UN-ESCO, đặc biệt là các chủ đề hoạt động có liên quan tới di sản văn hóa và thiên nhiên, như tham gia các hội nghị, tập huấn, diễn đàn quốc tế do UNESCO và các cơ quan tư vấn của UNESCO là ICCROM, ICO-MOS, IUCN tổ chức, tham gia ứng cử vào “Ủy ban Di sản Thế giới”,… Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề thuộc Công ước lại càng trở lên quan trọng hơn bao giờ hết

Từ những nhận định trên, chúng tôi xác định việc tăng cường “Nghiên cứu, áp dụng Công ước bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và các quy định quốc tế trong hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay” là vấn đề cần đặc biệt quan tâm Qua đó, sẽ góp phần thiết thực vào việc định hướng hoàn thiện chính sách, phát huy tác dụng tích cực của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc./

N.V.C

Chú thích:

1- Constitution of the United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization, Basic texts, p.7, UNESCO, Paris, 2004.

2- Vũ Khiêu, “Thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa và một

vài kết quả nghiên cứu ở Việt Nam”, trong Hội nghị lần thứ 13

“Việt Nam và thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa”, Hà Nội, 1997,

tr 57 - 71.

3- Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam:

Kết luận Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) trong những năm sắp tới.

Ngày đăng: 13/09/2019, 11:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w