Tên đề tài: Tình hình bỏ học của học sinh dân tộc ít người ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An 2.. Thời gian qua bộ chính trị đã có nghị quyết 34 NQ/TW ngày 16/8/2004; thủ tướng chính phủ còng
Trang 1ĐỀ XUẤT ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
1 Tên đề tài: Tình hình bỏ học của học sinh dân tộc ít người ở huyện
Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An
2 Lĩnh vực nghiên cứu: Giáo dục
3 Tính cấp thiết
Trong quá trình phát triển của mọi quốc gia, dân tộc; GD- ĐT được coi vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, là con đường quan trọng nhất
để phát huy nguồn lực con người Chính vì vậy đi lên bằmg giáo dục đã dược khẳng định trở thành con đường tất yếu của thời đại Trí tuệ của con người trở thành tài sản quí giấ của mọi quốc gia, dân tộc Nâng cao và phát triển dân là điều kiện tiên quyết để đưa đất nước tiến lên trong xu thế hội nhậphiện nay Từ
xu thế tất yếu của thời đạivà yêu cầu phát triển của nước ta trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đại héi §ảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: “phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng nhanh và bền vững”
Nhận thức đầy đủ vai trò của giáo dôc là tư tưởng tiến bộ mang tính thời đại, là tư tưpngr chủ đạo chỉ đạo chiến lược của đảng GD- ĐT đang đứng trước những thuận lợi để phát triển nhưng cũng phải đối đầu với những thực tại của những thách thức mới Yêu cầu phát triển nâng cao chất lượng giáo dục về qui mô, chất lượng đang đặt ra những vấn đề phải giải quyết: xác định mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung chương trình, phương pháp tổ chức quản lí, hệ thống chính sách, huy động các nguồn lực để phát triển giáo dục Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Đây là trách nhiệm của toàn đảng, toàn dân
Trang 2Ngệ An là một tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước trong đó 3/ 4 diện tích
là trung du, đồi núi; có 419 km đường biên giới với nước Cộng Hoà Dân Chủ Lào Hiện nay điều kiện sinh sống của đồng bào các huyện miền núi cao, dân tộc thiểu số đang gặp rất nhiều khó khăn Thời gian qua bộ chính trị đã có nghị quyết 34 NQ/TW ngày 16/8/2004; thủ tướng chính phủ còng đã có quyết định phê duyệt đề án “phát triển kinh tế- xã hội miền Tây tỉnh Nghệ An đến năm 2010” gồm 10 huyên miền núi: Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Nghĩa Đàn, Đô Lương, Thanh Chương, Quỳ Châu, QuÕ Phong, Quú Hîp, (đã được viện chiến lược phát triển – Bộ kế hoạch và đầu tư cùng với UBND tỉnh tham gia)
Ngoài ra các văn bản của văn phòng chính phủ, Ban chỉ đạo tập huấn về
đề án phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh tỉnh Ngệ An đến năm 2010 đề cập Trong đó các chỉ tiêu: các xã phải có trường mầm non đủ tiêu chuẩn, trên 50% trường tiểu học, THCS và THPT đạt chuẩn quốc gia vào năm 2008.
Thực hiện nghị quyết , quyết định của bộ chính trị, chính phủ, tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Nghệ An Ngành giáo dục và đào tạo đã chỉ đạo tổ chức thực hiện quản lí nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trên địa bàn toàn tỉnh nói chung và các huyện miền núi miền Tây nói riêng.
Kỳ Sơn là một huyện miền núi vùng cao biên giới của tỉnh Nghệ An, là địa bàn cư trú của ba dân tộc thiểu số Thái, Khơmú, Hơmông Đây là huyện miền núi được xếp vào một trong những huyện khó khăn nhất của cả nước Huyện đã được Đảng và nhà nước đăc biệt quan tâm , giúp đỡ nhằm khắc phục khó khăn, nghèo nàn, lạc hậu, đẩy mạnh sự phát triển kinh tế- xã hội; đồnh thời từng bước tạo những tiền đề cần thiết để tiến tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá như các vùng khác trong cả nước Để thực hiện được mục tiêu kinh tế xã hội, GD-ĐT giữ một vai trò quan trọng.
Trang 3Thế nhưng thực trạng về tình hình học tập của hoc sinh trên địa bàn huyện Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An, Đặc biệt là bộ phận học sinh dân tộc ít người lại đang là vấn đề đáng lo ngại Tình trạng học sinh bỏ học giữa chừng, nhất là học sinh tiểu học ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng cao của huyện còn rất phổ biến Cuộc sống dân dã nay đây mai đó; sự thiếu thốn về vật chất không đủ khả năng cho con đi học; không có người săn bắt hái lượm; thêm vào đó còn là nhận thức thiển cận, lệch lạc của một số bậc phụ huynh đã buộc con em phải nghỉ học giữa chừng.Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp giáo dục của huyện nói riêng mà còn ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội nói chung của Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An.
Là một sinh viên có mong muốn tìm hiểu, nghiên cưúvà góp phần vào việc nâng cao đời sống và nhận thức của đồng bào dân tộc ít người ở Nghệ An Đồng thời qua đây tôi hi vong sẽ nhận được sự góp ý của quí thầy cô và các bạn
để có được những biện pháp tốt nhất nhằm khắc phục được tình trạng bỏ học của học sinh dân tộc ít người trên địa bàn huyện Kỳ Sơn Tôi chọn đề tài: “Tình hình
bỏ học của học sinh dân tộc ít người ở huyện Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An” làm đề tài nghiên cứu.
4 Mục tiêu
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về cả lý luận và thực tiễn có liªn quan đến vấn đề nghiên cứu, theo quan điểm địa lý học về thực trạng cuộc sống cũng như giáo dục của huyện Kỳ Sơn đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục t×nh trạng bỏ học của học sinh d©n tộc Ýt người ở huyện Kỳ Sơn góp phần phát triển kinh tế x· hội của cña c¸c tộc người này nói riêng và huyện Kỳ Sơn nói chung.
5 Nội dung chính
5.1 Vị trí địa lý
Trang 4Dọc theo quốc lộ 7 đi ngược về phía Tây đến vùng địa đầu của con sông Lam, đến với cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn chúng ta sẽ đến với Kỳ Sơn- mảnh đất địa đầu của tỉnh Nghệ An về phía tây.
Kỳ Sơn là huyện miền núi (rẻo cao), ở về phía Tây Bắc tỉnh Ngệ An, nằm ở vị trí 14010 đến 10041 vĩ bắc và từ 103052 đến 104029 kinh đông, với diện tích 1761,7 km2 ; có 192 km đường biên giới chung vơi nướpc bạn Lào ở 3 phía Bắc, Tây, Nam Phía Đông giáp huyên Tương Dương.
Kỳ Sơn ngày nay co 21 đơn vị hành chính: thị trấn Mường Xén và các xã Mường Lống, Huồi Tụ, Na Loi, Đoọc Mạy, Phà Đánh, Hữu Lập, Hữu Kiệm, Chiêu Lưu, Bảo Nam, Bảo Thắng, Mường Ải, Mường Típ, Nậm Cắn, Tây Sơn, Bắc Lý, Mỹ Lý, Keng Đu, Nậm Càn, Na Ngoi, Tà Cạ.
5.2 Địa hình
Cấu tạo địa chất bề mặt của Kỳ Sơn khá phức tạp Đất đai Kỳ Sơn nằm trong hệ uốn nếp Trường Sơn gồm ba đới thành hệ kiến trúc Kỳ Sơn nằm trong đới phức hệ lồi Trường Sơn Quá trình hoạt động của địa chất địa mạo đã tạo ra những dạng địa hình khác nhau gồm có núi, đồi và những thung lũng trong đó núi chiếm ưu thế và coa độ dốc rất lớn, bình quân 350 Trên đất Kỳ Sơn, đứng ở đâu cũng nhìn thấy núi, dãy núi Puxailaileng thuộc xã Na Ngoi với đỉnh nhô lên đến 2.711m là ngọn núi cao nhất của hệ Trường Sơn và cũng là ngọn núi cao nhất tỉnh Nghệ An, dốc đứng trên một quãng dài 200km làm thành biên giứi tự nhiên của huyện Kỳ Sơn và Lào Ngoài đỉnh Puxailaileng, còn có nhiều đỉnh núi cao như Pu Soong (2.365m), Pu Tông Chinh (2.345m), Pu Long (2.176m) Phần lớn các núi này đều được cấu tạo băng đá riôlit hay granit là loại đá thường có lớp vỏ phong hoá khá dày, nhưng ở chỗ nào đá lộ ra ngoài mặt thì rất bền vững Các dãy núi này tạo nên nhiều thung lũng nhỏ mang những đặc điểm tự nhiên chứa đựng nhiều yếu tố tiểu khí hậu và chất đất khác nhau Các dân tộc simh sống ở đây đã tận dụng từng thung lũng, từng bãi đất ven sông, suối để trồng lúa nước và chăn nuôi, tạo dựng nên một cuộc sống bền vững
Trang 55.3 Khí hậu
Kỳ Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa song một số vùng
có đặc thù riêng như vùng Mường Lống, khí hậu mang tính chất á ôn đới, thường xuyên có mây mù bao phủ Một năm có hai mùa lạnh, khô và nóng, ẩm
rõ rệt Nhiệt độ tương đối cao, cao nhất 3405, thấp nhất 1405, bình quân 2305 Nhiệt độ mặt đất bình quân thường cao hơn nhiệt độ bình quân của không khí cao nhất 7006, thấp nhất 00, trung bình 270 Nhiệt độ mặt đất cao có ảnh hưởng trực tiếp không thận lợi đến cây trồng vì biên độ thay đổi lớn (00 -70 06 giữa tối cao và tối thấp) sẽ làm cho sự thích nghi va thích ứng của cây trồng hạn chế.
Hàng năm lượng mưa thấp, bình quân cả năm 1.815 mm song lại phân bố không đều giữa các vùng Như ở Mường Xén lượng mưa trung bình khoảng 651
mm (thấp nhất trong toàn quốc), nhưng ở Mường Lống lên tới 2.076 mm, mưa tập trung chủ yếu vào tháng 7, 8, 9; những tháng còn lại thường không có mưa, hoặc lượng mưa không đáng kể Ngược với lượng mưa thì lượng bốc hơi lại rất lớn vào thang 4, 5, 6 và 7, cao nhất 111,7 mm, trung bình 865 mm/năm, so với lượng mưa 815 mm/năm đây là hiện tượng mất cân đối giữa lượng mưa và lượng bốc hơi
Ở Kỳ Sơn, hướng gió chủ yếu trong mùa khô là gió mùa dông bắc thổi mạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Gió mùa đông bắc kéo theo hiện tượng hanh heo, khô hạn, song cường độ mưa đầu đợt gió và mưa phùn cuối thời kì gió mùa, có phần làm tăng độ ẩm
Trong mùa hạ thường có gió tây nam từ tháng 4- 10, làm nhiêy\tj độ tăng đột ngột và kéo dài nhiều ngày trong tháng 7 Vào thời tiết này, lượng bốc hơi tăng mạnh, dẫn đến nóng bức và khô hạn
Trên đây làngững nét chung về khí hậu của toàn huyện Do đặc điểm địa hình ở Kỳ Sơn có 4 tiểu vùng khí hậu mang nết đặc thù riêng cụ thể là:
Trang 6Tiểu vùng 1: bao gồm các xã Mường Lống, Huồi Tụ, Na Ngoi, Đoọc
Mạy, Nậm Cắn, vùng khí hậu mang tính chất á ôn đới; độ ẩm cao, quanh năm mây mù che phủ Nhiệt độ khhông khí tối thấp tuyệt đối 00C, tối cao 280C, trung bình 180- 200C Đặc biệt ở đây biên độ chênh lệch giữa ngày và đêm quá lớn (50
-70C), thang 12- 2 nhiều đêm có sương muối, mưa đã nhiều thang 5,8.
Mùa mưa bắt đầu sớm (tháng 4) và kết thúc muộn (tháng 10) Lượng mưa bình quân 2.076 mm/năm
Tiểu vùng 2:gồm xã Nậm Càn, Na Ngoi, Mường Típ, Hít Ngôn, Huồi
Giảng, Mường Ải, Trường Sơn, vùng này tiếp giáp với dải Trường Sơn, địa hình cao và dốc tạo nên nhiều thung lũng sâu và hẹp do đó khí hậu so với tiểu vùng 1cũng có sự khác biệt hơn, mưa ít do ảnh hưởng của dãy Trường Sơn, song độ
ẩm lại cao, quanh năm có mây mù bao phủ.
Tiểu vùng 3: gồm xã Bắc Lý, Mỹ Lý, Keng Đu là vùng có địa hình thấp
so với hai tiểu vùng trên do đó yếu tố khí hậu cũng giảm đi rõ rệt
Tiểu vùng 4: gồm xã Bảo Nam, Bảo Thắng, Phà Đánh, Tà Cạ, Hữu
Kiệm, Chiêu Lưu nằm dọc đường số 7, đây là những thung lũng khuất gió, khí hậu hai nmùa, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau, mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 9 Mùa mưa thường đến muộn và kết thúc sớm, lượng mưa thấp, trung bình cả năm 651 mm Nhiệt độ không khí trung bình cả năm 230C, cao nhất
360C, thấp nhất 200C.
Tóm lại, khí hậu ở Kỳ Sơn quả là có nhiều bất lợi đối với con người, mùa đông quá ẩm ướt, mùa hạ lại quá khô nóng Thêm vào đó là gió tây, sương muối,
lũ lụt Sự phân mùa và sự khác biệt giữa các tiểu vùng cũng có những thuận lợi cho việc tạo khả năng hìng thành một cơ cấu cây trồng hợp lý, đem lại sản phẩm đa dạng cho từng mùa từng vùng
Như vậy là phải tận dụng khai thác triệt để những mặt thuận lợi của khí hậu và phải tìm cách làm giảm hay hạn chế tối đa các thiệt hại đối với sản xuất,
có biện pháp hiệu quả trong việc chống hạn, chống lũ,
Trang 75.4 Khoáng sản
Ở Kỳ Sơn, trong lòng đất có một số mỏ có trữ lượng lớn, có ý nghĩa công nghiệp như mỏ than đá ở Nậm Cắn, Phà Đánh, mỏ đồng ở Phuxanbu
Có thể nói thiên nhiên ở Kỳ Sơn đã trao cho con người nhiều của cải vô giá, đó là nguồn tài nguyên đang còn ẩn sâu trong lòng đất, là rừng, là đất, Để phục vụ thiết thực cho cuộc sống, con người phải biết khai thác đúng cách, đúng hướng.
5.5 Đặc điểm kinh tế huyện Kỳ Sơn tỉnh Ngệ An
Kỳ Sơn là huyện miền núi cao biên giới, nằm về phía Tây Nam của tỉnh Nghệ An cách thành phố Vinh 250 km Theo phòng thống kê thuộc UBND Huyện Kỳ Sơn năm 2007 thì Huyện Kỳ Sơn có diện tích 208.997,32 ha với dân
số là 65881 người Là huyện vùng cao, Kỳ Sơn có tiềm năng lớn về phát triển kinh tế rừng Toàn huyện có 59 nghìn ha rừng, chiếm 28% diện tớch tự nhiên với nhiều loại động thực vật phong phú và quý hiếm Riêng về thực vật đó phát hiện được 12 họ gồm gần 150 loại cây có giá trị kinh tế cao Trong đó có nhiều loại gỗ quý như: đinh, lim, sến, táu, mật gội, nếp, lát mọc xen kẽ hoặc thành những quần thể diện tích rộng, trữ lượng gỗ lớn Ngoài ra, rừng cũng cho nhiều loại nứa, mộc, song, giang, đặc biệt là cây quế và cánh kiến Bên cạnh đó, các loại dược liệu quý mọc tự nhiên như: ngũ gia bì, sa nhân, đẳng sâm, thiên nhiên kiện., cùng một số cây đặc sản mọc tự nhiên ở Na Ngoi, Mường Típ, Tây Sơn, đó tạo nên giá trị to lớn của các loại lâm sản phi gỗ Rừng Kỳ Sơn có nhiều loại thú quý sống lâu đời, đó trở thành hiếm không chỉ ở Việt Nam mà cả nhiều nước trên thế giới như sóc bay, lợn rừng, sơn dương, báo, Thêm nữa, Kỳ Sơn cũng có nhiều khóang sản có giá trị như mỏ than đá ở Nậm Cắn, mỏ đồng ở Phuxanbu với trữ lượng khá lớn.
Trang 8Kỳ Sơn có đường biên giới với nước bạn Lào dài 192 km, ba hướng Bắc, Tây và Nam giáp 3 tỉnh (Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Pôlykhămxay) và 5 huyện của Lào Phía đông giáp với huyện Tương Dương Nhìn trên bản đồ, Kỳ Sơn có một thế đứng đặc biệt, cao vút, nhưng vững chãi, khó khăn nhưng bám trụ, tựa như bản lĩnh, khí chất của con người nơi đây Do những điều kiện đặc thù như vậy, huyện có nhiều khó khăn hơn thuận lợi để phát triển kinh tế Thực hiện các chủ trương chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc
và miền núi của Đảng và nhà nước Trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân huyện Kỳ Sơn đã có những bước tiến đáng kể trong lĩnh vực phát triển kinh tế –
xã hội, tạo bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn.
5.6 Đặc điểm x· hội huyện Kỳ Sơn tỉnh Ngệ An
Vào tháng 10-1961, trước yêu cầu của công tác chỉ đạo thực tiễn ở miền
núi, căn cứ vào tình hình từng vùng, tỉnh Nghệ An quyết định tách Tương Dương thành 2 huyện Tương Dương và Kỳ Sơn Ban đầu có 12 xã, đến năm
2004 huyện có 20 xã và 1 thị trấn.
1 Thị trấn Mường Xén
2 Xã Mỹ Lý
3 Xã Bắc Lý
4 Xã Keng Đu
5 Xã Đoọc Mạy
6 Xã Huồi Tụ
7 Xã Mường Lống
8 Xã Na Loi
9 Xã Nậm Cắn
10 Xã Bảo Nam
11 Xã Phà Đánh
12 Xã Bảo Thắng
Trang 913 Xó Hữu Lập
14 Xó Tà Cạ
15 Xó Chiờu Lưu
16 Xó Mường Tớp
17 Xó Hữu Kiệm
18 Xó Tõy Sơn
19 Xó Mường Ải
20 Xó Na Ngoi
21 Xó Nậm Càn
Theo phũng thống kờ thuộc UBND Huyện Kỳ Sơn năm 2007 thỡ Huyện
Kỳ Sơn cú diện tớch 208.997,32 ha với dõn số là 65881 người Kỳ Sơn hiện cú 4 dõn tộc sinh sống gồm người Thỏi, Khơ Mỳ, Mụng, và người Kinh Trong đó dân tộc Thái có 2.937 hộ với 17.742 khẩu; dân tộc Khơmú có 3.538 hộ với 21.373.khẩu; dân tộc Hơmông có 3.895 khẩu với 23.558 khẩu; dân tộc Kinh: 655 hộ với 2.297 khẩu.
Các dân tộc sống đan xen trong 15 xã, ngoài ra có 3 xã chỉ có dân tộc Hơmông và 3 xã chỉ có dân tộc Khơmú ở vùng thung lũng thờng là địa bàn c trú của ngời Thái và ngời Việt; vùng lng chừng núi có ngời Khơmú; và vùng cao, quanh năm chỉ
có mây mù bao phủ là những bản làng của ngời Hơmông Ngời Việt ở men theo đờng quốc lộ và tập trung tại thị trấn huyện
lỵ Mờng Xén.
5.7 Về Giáo dục
Ngành Giáo dục đã có nhiều chuyển biến trong việc
nâng cao chất lợng giáo dục toàn diện ỏ tất cả các ngành học, cấp học; qui mô các cấp học, ngành học phát triển ở tất cả các vùng Tỷ lệ huy động trẻ em trong độ tuổi đến trờng , chất
Trang 10l-ợng dạy và học ngày càng cao, chuẩn hóa, đánh giá, bố trí sắp xếp chuyển đội ngũ giáo viên và phổ cập giáo dục có nhiều tiến bộ Công tác giáo dục đạo đức, phẩm chất, lối sống; giáo dục dân số, pháp luật, bảo vệ môi trờng trong trờng học có nhiều chuyển biến tích cực Cơ sở trờng, lớp học đợc chú trọng, đầu t xây dựng đảm bảo đủ số phòng học cho học sinh Năm học 2006 – 2007 toàn huyện có 60 trờng phổ thông trong đó: Tiểu học và THCS 59 trờng, THPT 1 trờng; tổng số lớp
837 lớp trong đó: Tiểu học 68 lớp, THCS 231 lớp, THPT 30 lớp; tổng số học sinh 17.687 em Tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trờng đạt 98% Trong những năm gần đõy, huyện đó cú học sinh thi đỗ vào cỏc trường đại học, cao đẳng, trung học chuyờn nghiệp của Trung ương và tỉnh
5.8. Về văn hóa
Cỏc phong trào văn hoỏ, thể dục - thể thao diễn ra sụi nổi Năm 2003, toàn huyện cú 28 làng văn hoỏ và 1.500 gia đỡnh văn hoỏ Tất cả cỏc xó đều cú ăng ten chảo phục vụ việc tiếp súng phỏt thanh, truyền hỡnh từ Trung ương và tỉnh, đưa thụng tin tới từng người dõn Tỷ lệ hộ dựng nước sạch gia tăng đỏng
kể, đạt gần 80% Đến trước tết Nguyờn Đỏn năm 2004, điện lưới quốc gia đó về đến Kỳ Sơn, đem lại ỏnh sỏng, niềm vui cho đồng bào.
5.9 Tình hình chung về GD - ĐT huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An
Huyện Kỳ Sơn đợc thành lập ngày 15 – 7 – 1942, là một huyện miền núi khó khăn nhất trong các huyện khó khăn nhất của cả nớc nên GD - ĐT cũng có nhiều nét riêng biệt
Năm học 2008 -2009 trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ an có 67 trờng học từ mầm non đến THCS – PTCS; ngoài
ra trên địa bàn huyện còn có một trờng THPT và một TTGDTX