PHÂN TÍCH NỘI DUNG CHƯƠNG 2 Chương 2 : Nội dung chương 2 nói về : “Đặc điểm lớp phủ thổ nhưỡng và bản đồ đất”. MỤC 2.1 : Nêu tổng quan về chương 2. Thứ nhất : Sự cần thiết phải điều tra, đánh giá tài nguyên đất Nội dung phần này nói về vấn đề : Vì sao phải điều tra, đánh giá tài nguyên đất: Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp, với tiềm năng đất nông nghiệp của hành tinh chúng ta được xác định là khoảng 3 – 5 tỷ ha. Ngày nay, hoạt động của con người ngày càng gia tăng cùng với việc gia tăng dân số làm cho nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt và đất đai ngày càng bị suy thoái dẫn đến giảm năng suất và không mang lại hiệu quả kinh tế cao. Từ đó, nhân loại đã làm hư hại phá hủy dần đi lượng đất nông nghiệp vốn có. Cho nên, cần phải đánh giá lại vấn đề về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trường để phục vụ cho công tác quy hoạch đạt hiệu quả lâu dài và ổn định. Trong đó công tác đánh giá đất đai là một phần quan trọng và là nền tảng trong quy hoạch sử dụng đất đai, cung cấp đầy đủ thông tin về tính chất đất đai và các kết quả hoạt động của con người trên từng đơn vị đất đai đó, từ đó các nhà chuyên môn có thể vận dụng để chọn lọc và đề nghị cho các đánh giá và đề xuất khác nhau làm cơ sở cho các quyết định và cấp độ quản lý sử dụng đất. Và để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp của con người thì sản xuất nông nghiệp cần đi theo 2 hướng là : Thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp. Dù đi theo hướng nào cũng phải điều tra, nghiên cứu đất đai để nắm vững số và chất lượng đất đai, gồm điều tra lập bản đồ đất, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất và quy hoạch sử dụng đất. Chính vì vậy trong koảng 30 năm trở lại đây tổ chức FAO đã có những hoạt động về vấn đề nghiên cứu đất. Và trong những năm gần đây, công tác đánh giá đất đai đã được tổ chức FAO rất quan tâm, phương pháp đánh giá đất do FAO đề nghị đã được áp dụng rất rộng rãi trên thế giới và có tính khả thi cao. Thứ 2 : Sự khác nhau về những quan điểm và phương pháp về nghiên cứu phân loại và đánh giá đất đai hiện nay trên thế giới.
Trang 1PHÂN TÍCH NỘI DUNG CHƯƠNG 2 Chương 2 :
Nội dung chương 2 nói về : “Đặc điểm lớp phủ thổ nhưỡng và bản đồ đất”.
MỤC 2.1 : Nêu tổng quan về chương 2.
Thứ nhất : Sự cần thiết phải điều tra, đánh giá tài nguyên đất
Nội dung phần này nói về vấn đề : Vì sao phải điều tra, đánh giá tài nguyên đất:
Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp, vớitiềm năng đất nông nghiệp của hành tinh chúng ta được xác định là khoảng 3 – 5
tỷ ha Ngày nay, hoạt động của con người ngày càng gia tăng cùng với việc giatăng dân số làm cho nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt và đất đai ngày càng
bị suy thoái dẫn đến giảm năng suất và không mang lại hiệu quả kinh tế cao Từ
đó, nhân loại đã làm hư hại phá hủy dần đi lượng đất nông nghiệp vốn có Chonên, cần phải đánh giá lại vấn đề về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và môitrường để phục vụ cho công tác quy hoạch đạt hiệu quả lâu dài và ổn định.Trong đó công tác đánh giá đất đai là một phần quan trọng và là nền tảng trongquy hoạch sử dụng đất đai, cung cấp đầy đủ thông tin về tính chất đất đai và cáckết quả hoạt động của con người trên từng đơn vị đất đai đó, từ đó các nhàchuyên môn có thể vận dụng để chọn lọc và đề nghị cho các đánh giá và đề xuấtkhác nhau làm cơ sở cho các quyết định và cấp độ quản lý sử dụng đất Và đểthỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp của con người thìsản xuất nông nghiệp cần đi theo 2 hướng là : Thâm canh tăng vụ, tăng năngsuất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp Dù đi theo hướng nào cũngphải điều tra, nghiên cứu đất đai để nắm vững số và chất lượng đất đai, gồm điềutra lập bản đồ đất, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất vàquy hoạch sử dụng đất Chính vì vậy trong koảng 30 năm trở lại đây tổ chứcFAO đã có những hoạt động về vấn đề nghiên cứu đất Và trong những năm gầnđây, công tác đánh giá đất đai đã được tổ chức FAO rất quan tâm, phương pháp
Trang 2đánh giá đất do FAO đề nghị đã được áp dụng rất rộng rãi trên thế giới và cótính khả thi cao.
Thứ 2 : Sự khác nhau về những quan điểm và phương pháp về nghiên cứu phân loại và đánh giá đất đai hiện nay trên thế giới.
Nội dung phần này nói về vấn đề : Phân loại và đánh giá đất đai
Nội dung và các thuật ngữ cần làm rõ thêm là :
- Bản đồ đất là một loại bản đồ chuyên đề Bản đồ đất thể hiện sự phân bốtheo không gian các loại đất có trong một vùng lãnh thổ hay một đơn vị hànhchính về vị trí, độ dốc, độ phì, quy mô diện tích và các thuộc tính của từng đơn
vị đất Bản đồ đất được xây dựng trên bản đồ địa hình ở các tỷ lệ khác nhau từkết quả điều tra, nghiên cứu phân loại đất Bản đồ đất là tài liệu cơ bản quantrọng, là căn cứ xây dựng kế hoạch phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôitrồng thủy sản Đánh giá đất, phân hạng đất, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạchthiết kế nông nghiệp, lâm nghiệp đều phải dựa vào cơ sở bản đồ đất
Xây dựng bản đồ đất là sự thể hiện kết quả điều tra, nghiên cứu phân loạiđất lên bản đồ
Hiện nay trên thế giới đồng thời tồn tại nhiều trường phái phân loại đấtkhác nhau, mỗi trường phái lại có cách phân loại, đánh giá đất khác nhau, điều
đó gây trở ngại cho việc nắm vững một cách thống nhất tài nguyên đất đai toàncầu
Ở Việt Nam, công tác nghiên cứu phân loại đất ở từng vùng đã được tiếnhành từ đầu thế kỷ XX Và cho đến ngày nay, nước ta đồng thời tồn tại 3 hệ
Trang 3thống phân loại đất : Hệ thống phân loại phát sinh, hệ thống phân loại đất của
Mỹ và hệ thống phân loại đất của FAO/UNESCO Mỗi hệ thống phân loại phùhợp với từng kiểu địa hình đất đa dạng ở nước ta, mang lại hiệu quả tốt trongcông tác nghiên cứu phân loại, lập bản đồ đất ở nước ta
(2) Về đánh giá đất đai :
- Thuật ngữ “đánh giá đất” được hiểu là : “Sự đánh giá khả năng thích nghi của đất đai cho việc sử dụng của con người vào nông nghiệp, lâm nghiệp, ” “Đánh giá đất đai nhằm mục tiêu cung cấp những thông tin về sự thuận lợi và khó khăn cho việc sử dụng đất đai, làm căn cứ cho việc đưa ra quyết định về sử dụng và quản lý đất đai”.
Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn cócủa vạt/khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sửdụng đất cần phải có
Nội dung chính của đánh giá đất đai gồm 4 vấn đề :
+ Xác định các chỉ tiêu và quy trình xây dựng đơn vị bản đồ đất đai
+ Xây dựng và mô tả các loại hình sử dụng đất và yêu cầu sử dụng đất.+ Hệ thống cấu trúc phân hạng đất đai
+ Phân hạng thích hợp đất đai
Trong công tác đánh giá đất thì tài liệu đánh giá đất của FAO đã đượctoàn thế giới quan tâm thử nghiệm, vận dụng và chấp nhận là phương pháp tốtnhất để đánh giá tiềm năng đất đai làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất Ở ViệtNam khái niệm phân hạng đánh giá đất đai đã có từ lâu và phương pháp đánhgiá đất của FAO đã được các nhà thổ nhưỡng Việt Nam thử nghiệm và đã chonhững đóng góp ban đầu rất có ý nghĩa Viện quy hoạch và thiết kế Nông nghiệp
đã khẳng định việc vận dụng phương pháp của FAO như một tiến bộ khoa học
kỹ thuật, cần thiết áp dụng rộng rãi vào Việt Nam
- Thuật ngữ “Lớp phủ thổ nhưỡng” được hiểu : Là phần trên cùng của lớp
vỏ phong hóa, là vật mang của tất cả các hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh tháicanh tác, là mặt bằng để phát triển toàn diện nền kinh tế quốc dân Nó vừa là vậtmang, vật cho, vừa là vật gánh chịu các tác động nhiều chiều của tự nhiên vàcon người
Thứ ba : Tình hình nghiên cứu đất ở Đồng Nai
Nội dung cần làm sáng tỏ :
Trang 4(1) Tình hình nghiên cứu đất Đồng Nai trước 1975 :
Ngay từ những năm 1930, chuyên gia thổ nhưỡng người Pháp đã cónhững công trình nghiên cứu về đất và sử dụng đất của vùng Đông Nam Bộ nóichung và tỉnh Đồng Nai nói riêng
Hai tài liệu đã đóng góp những hình ảnh khái quát căn bản đầu tiên chocác khu vực phía nam nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng về bản đồ thổnhưỡng và các loại đất trong vùng Đó là :
- Bản đồ tổng quát Nam Việt Nam : Năm 1961, Moorman đã xây dựngbản đồ đất tổng quát Nam Việt Nam với chú dẫn tổng quát cho bản đồ này là 25đơn vị đất, trong đó Đồng Nai có 8 đơn vị đất
- Tài liệu nghiên cứu về đất đai miền cao nguyên trung phần và miềnĐông Nam Bộ năm 1971 của Thái Công Tụng, đã mô tả 5 nhóm đất chính củamiền Đông Nam Bộ và các nhóm đất này đều hiện diện trong tỉnh Đồng Naihiện nay về nguồn gốc phát sinh, tính chất lý hóa học, phân bố và khả năng sửdụng
(2) Những nghiên cứu đất Đồng Nai sau 1975 :
Viện Nông hóa Thổ nhưỡng và Viện Quy hoạch Và Thiết kế Nông nghiệp
đã tổ chức đợt điều tra khá chi tiết cho từng huyện của tỉnh Đồng Nai cũ ĐấtĐồng Nai được chia ra 10 nhóm đất và 37 đơn vị bản đồ
Đây là cơ sở làm nền tảng cho những nghiên cứu đất trên phạm vi tỉnhĐồng Nai tiếp theo và trong nhiều năm đã trở thành tài liệu đóng góp phần quantrọng trong quy hoạch và định hướng sử dụng đất trong phạm vi toàn tỉnh
(3) Sau tài liệu 1978 hàng loạt các nông trường trạm trại được điều tra xâydựng bản đồ đất tỷ lệ lớn và chi tiết nhằm cho việc xây dựng các nông trườngnhư : nông trường cao su, cà phê,
(4) Về đánh giá đất đai tỉnh Đồng Nai :
Những năm 1992 – 1995 , một công trình đánh giá đất đai toàn vùngĐông Nam Bộ trên bản đồ tỷ lệ 1/250.000 đã được xây dựng và tỉnh Đồng Naiđược đánh giá là tỉnh có tiềm năng đất nông nghiệp vào loại bậc nhất của vùng.Tỉnh Đồng Nai là tỉnh có nhiều tiềm năng và rất năng động, việc khai thác đưavào sản xuất rất mạnh mẽ nhất là những năm sau 1990, làm cho đất thay đổi rấtcăn bản
Trang 5So với các tỉnh khác ở phía nam, tỉnh Đồng Nai đã có những tài liệunghiên cứu, điều tra đất đai phong phú và trên nhiều tỷ lệ bản đồ khác nhau Cáctài liệu này là cơ sở quan trọng cho những nghiên cứu đất tiếp theo của tỉnh Tuynhiên công tác xây dựng bản đồ đất và đánh giá tài nguyên đất theo phươngpháp FAO/UNESCO còn rất mới mẻ, chưa được áp dụng vào tỉnh Đồng Nai.
MỤC 2.2 : Phương pháp điều tra xây dựng bản đồ đất
* Nội dung phần này nói về các bước tiến hành điều tra xây dựng bản đồđất Gồm :
Bước 1 : Thu thập các tài liệu có liên quan đến đất đai tỉnh Đồng Nai :
- Tài liệu bản đồ đất : Các tài liệu liên quan đến công tác điều tra xâydựng bản đồ đất của tỉnh Đồng Nai như : bản đồ đất của vùng Đông Nam Bộ tỷ
lệ 1/250.000; Bản đồ đất tỉnh Đồng Nai 1/100.000; Bản đồ đất các nông trường,nông trạm trên phạm vi tỉnh Đồng Nai tỷ lệ 1/25.000 và 1/10.000
- Tài liệu khí hậu tỉnh Đồng Nai
- Tài liệu nước tỉnh Đồng Nai
- Địa chất tỉnh Đồng Nai
-
Sau khi thu thập được các tài liệu thì tiến hành xử lý tài liệu và xây dựngbản đồ đất dự thảo : Trên cơ sở các tài liệu thu thập được thì một bản đồ đất dựthảo được xây dựng ở tỷ lệ 1/50.000, kèm với một bảng phân loại đất dự thảo
Bước 2 : Khảo sát thực địa Gồm :
- Khảo sát theo tuyến : có 04 tuyến đã được thực hiện trong tháng10/1993, với tổng chiều dài 350 km, đi qua hầu hết các dạng địa hình, các mẫuchất đá mẹ khác nhau, nhằm phát hiện hết các loại đất trong tỉnh Đồng Nai
- Khảo sát chi tiết : Tiến hành khảo sát thực địa của từng huyện trong tỉnh
để thu thập các số liệu thực tế của tỉnh
Sau khi khảo sát theo tuyến, một bảng phân loại đất dự thảo thứ hai đượcxây dựng Và trên cơ sở bảng phân loại đất và tình hình thực tế của từng huyệnqua khảo sát chi tiết thì một đợt điều tra chi tiết được tổ chức ở các huyện
Bước 3 : Lựa chọn phương pháp phân tích :
Các mẫu đất sau khi thu thập được phân tích tại phòng phân tích đất Việnquy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp Các chỉ tiêu phân tích hoàn toàn theophương pháp của FAO/UNESCO
Bước 4 : Lực chọn phương pháp bản đồ :
Trang 6Các sản phẩm được xây dựng trên bản đồ nền địa hình tỷ lệ 1/50.000 hệUTM
Bản đồ đất được xây dựng trên bản đồ địa hình Tỷ lệ càng lớn, mức độchính xác càng cao Trên nền bản đồ địa hình, xác định mạng lưới phẫu diệnchính, phẫu diện phụ và phẫu diện thăm dò (định rang giới) Kết quả nghiên cứuphẫu diện và phân loại đất và phân loại đất là cơ sở để biên vẽ xây dựng bản đồđất
Và hiện nay việc áp dụng rộng rãi công nghệ GPS trong việc xây dựngbản đồ đất với các phần mềm riêng như : Mapinfo, Acview đã mang lại sựthuận lợi và hiệu quả cao trong công tác xây dựng bản đồ đất
* Nội dung cần làm sáng tỏ thêm :
Sau khi điều tra thu thập các thông tin liên quan đến bản đồ đất thì cácthông tin đó được xử lý như sau:
- Các số liệu sau khi điều tra được đưa vào máy tính để xử lý nội nghiệp
- Các bản đồ đơn tính về điều kiện tự nhiên được chỉnh lý trên giấy, thựchiện số hóa sau đó xử lý bằng phần mềm MAPINFO
- Xây dựng bản đồ tài nguyên đất đai dựa trên cơ sở kết hợp tất cả các sốliệu đặc tính đất đai về địa hình, khí hậu, đất nước và thực vật…
- Các dữ liệu điều tra về kinh tế, xã hội được nhập và xử lý bằng chươngtrình EXCEL so sánh quá trình thay đổi môi trường liên quan đến thay đổi trong
sử dụng đất đai
- Tổng hợp, chỉnh lý và xây dựng các bản đồ đơn tính: độ sâu xuất hiệntầng sinh phèn, độ sâu ngập, độ dày tầng canh tác, pH…Các thông tin này đượcthể hiện từ sự khảo sát và phân loại cho các loại bản đồ đơn tính khác nhau trên
cơ sở bản đồ biểu loại đất
- Xác định các đặc tính đất đai thông qua khảo sát nguồn tài nguyên đấtđai: độ sâu ngập, thời gian ngập, thời gian tưới, độ mặn… tùy thuộc từng vùngsinh thái khác nhau thì có đặc tính khác nhau
- Từ các cơ sở trên tiến hành xây dựng bản đồ đơn vị đất đai bằng cáchchồng lắp các bản đồ đơn tính (hay các đặc tính đất đai) lại bằng phương pháp
Trang 7thủ công hoặc máy tính và mô tả đặc tính của các đơn vị bản đồ thông qua lậpbản chú dẫn.
Từ đó xây dựng được bản đồ đơn vị đất đai và bản chú dẫn bản đồ đơn vịđất đai
MỤC 2.3 :Phân loại đất
Nội dung chính của phần này nói về việc phân loại đất ở tỉnh Đồng NaiHiện nay nước ta đồng thời tồn tại nhiều hệ thống phân loại đất và nước tađang trong thời kỳ hội nhập với quốc tế thì việc phân loại đất theo phương phápFAO/UNESCO là rất cần thiết
Và tỉnh Đồng Nai là tỉnh đầu tiên trong cả nước thực hiện phân loại đấthoàn toàn theo phương pháp FAO/UNESCO
Nội dung của mục này gồm những nội dung sau :
(1) Tổng quan về quan điểm và nguyên tắc phân loại đất theoFAO/UNESCO
- Về quan điểm phân loại : Phân loại đất phải được dựa trên những đặcđiểm của chính bản thân đất
- Các cấp phân vị trong phân loại đất : Sử dụng 3 cấp phân vị, loại đất ởcác cấp phân vị được lựa chọn dựa trên cơ sở những hiểu biết về sự hình thành,đặc điểm và phạm vi phân bố đất trên toàn bộ phạm vi lớp phủ thổ nhưỡng
- Nguyên tắc và phương pháp phân loại : Phân loại đất được tiến hànhtuần tự từ cấp phân vị cao đến thấp; Việc xác định tên đất được căn cứ vào sựxuất hiện các tiêu chuẩn chuẩn đoán trong vòng 0 – 125 cm của cột đất; Ở cấpphân vị thứ nhất tên đất được xác định dựa trên những đặc trưng được tạo ra docác quá trình thổ nhưỡng cơ bản, ở cấp phân vị thứ hai tên đất được xác địnhdựa trên những đặc điểm đất được tạo ra do tác động của các quá trình hìnhthành đất thứ cấp trội
(2) Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu phân loại đất FAP/UNESCO : Quacác kết quả phân tích trong phòng và mô tả các kiểu hình thái đất ngoài đồng,các tiêu chuẩn chuẩn đoán đã được phát hiện, một số yêu cầu và chỉ tiêu địnhlượng cụ thể đã áp dụng trong phân chia đất Đồng Nai theo : Tầng Argic và tầngFerralic
Trên đây là tất cả nội dung chương 2 : Từ mục 2.1 đến mục 2.3
Trang 8Qua đó chúng ta có thể thấy được sự cần thiết phải điều tra đánh giá tàinguyên đất.Thông qua việc đánh giá tài nguyên đất của nước ta, đặc biệt là đánhgiá đất tỉnh Đồng Nai, có thể cho thấy công tác đánh giá đất ở nước ta đang ngàycàng dược quan tâm, đầu tư chú trọng Mỗi loại đất, mỗi vùng lại có phươngpháp đánh giá đất đai phù hợp, đem lại hiệu quả cao trong công tác đánh giá đất.Đặc biệt là việc áp dụng công tác đánh giá đất theo FAO trên diện rộng đã đemlại hiệu quả cao trong công tác đánh giá đất của nước ta.
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM LỚP PHỦ THỔ NHƯỠNG VÀ BẢN ĐỒ ĐẤT 2.1 TỔNG QUAN
2.1.1 Sự cần thiết phải điều tra, đánh giá tài nguyên đất đai
Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp,trong đó khoảng 10 – 11% là đất canh tác (đất cày) Tiềm năng đất nông nghiệpcủa hành tinh chúng ta được xác định là khoảng 3 – 5 tỷ ha Trong lịch sử tiếnhóa của mình, nhân loại đã làm hư hại 1,4 tỷ ha đất và hiện nay hằng năm cókhoảng 6 – 7 triệu ha đất nông nghiệp bị loại bỏ do xói mòn và thoái hóa Vớinăng suất trung bình hiện nay để thỏa mãn nhu cầu về sản phẩm nông nghiệpphải có 1,4 ha đất canh tác trên đầu người Như vậy hàng năm trên thế giới phảikhai thác và đưa vào sản xuất nông nghiệp khoảng 30 triệu ha Để thỏa mãn nhucầu ngày càng tăng của con người về sản phẩm nông nghiệp phải đi theo 2hướng: (i) Thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng, (ii) Mở rộng diện tíchđất nông nghiệp Dù đi theo hướng nào cũng phải điều tra, nghiên cứu đất đai đểnắm vững số và chất lượng đất đai, bao gồm điều tra lập bản đồ đất, đánh giáhiện trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất và quy hoạch sử dụng đất hợp lý(Dent.D, 1986, 1987, 1992, Dugan.J, 1990; FAO, 1976, 1983, 1985, 1992).Trong khoảng 30 năm trở lại đây tổ chức FAO đã có nhứng hoạt động về vấn đềnghiên cứu đất, những hoạt động này nhằm vào 4 hướng chủ yếu: (i) Lập bản đồtài nguyên đất; (ii) Đánh giá đất đai; (iii) Nghiên cứu hiệu suất tiềm năng đấtđai; (iv) Sử dụng quản lý và bảo vệ đất Công tác lập bản đồ đất các tỷ lệ khác
Trang 9nhau đã được triển khai từ đầu thế kỷ 20 đến nay cùng với những nghiên cứuchuyên đề về đất và sử dụng đất Trong đó công tác đánh giá đất đai những nămgần đây đã được tổ chức FAO rất quan tâm Phương pháp đánh giá đất do FAO
đề nghị (1976, 1983, 1985, 1992) đã được áp dụng rất rộng rãi trên thế giới vàcho thấy tính khả thi cao
2.1.2 Tuy nhiên hiện nay trên thế giới nghiên cứu phân loại và đánh giá đất đai được tiến hành với những quan điểm và phương pháp khác nhau.
Về phân loại và bản đồ đất:
Nhìn tổng quát thì hiện nay trên thế giới đồng thời tồn tại nhiều trườngphái phân loại đất khác nhau, mà nổi bật là 2 trường phái chính : (i) Trường pháiphân loại phát sinh học của Dokuchaiev được sử dụng ở Liên Xô cũ và các nướcXHCN; (II) Trường phái phân loại định lượng của Mỹ được sử dụng hầu hết ởcác nước TBCN Một số nước, trong đó có nước ta đồng thời tồn tại hai hệthống phân loại của Liên Xô và của Mỹ, điều đó gây trở ngại cho việc nắm vữngmột cách thống nhất tài nguyên đất đai toàn cầu Vì vậy, nhằm thống kê quỹ đấttoàn cầu tổ chức FAO/UNESCO đã tập hợp trên 300 nhà khoa học thổ nhưỡnghàng đầu thế giới của các trường phái khác nhau và làm việc trong nhiều năm,
đã đưa ra một bảng chú dẫn bản đồ đất thế giới và xây dựng bản đồ đất thế giới1/5.000.000 ( Soil map of the World, FAO, 1975, 1988, 1990, 1994) Về nộidung cụ thể của các trường phái và vấn đề bản chú dẫn phân loại đất củaFAO/UNESCO sẽ trình bày kỹ trong chương IV
Ở Việt Nam công tác nghiên cứu một số loại đất ở từng vùng đã được tiếnhành từ đầu thế kỷ này (P.Morange, 1898 – 1902; R.F.Auriol, Lâm Văn Vãng,1934; B.E Castagnol, 1935; Castagnol, Phạm Gia Tu, 1940; Castagnol, Hồ Đắc
Vị, 1951 ) Công tác nghiên cứu phân loại đất và lập bản đồ đất những vùngrộng lớn bắt đầu từ thập kỷ 60 (V.M Fridland, Vũ Ngọc Tuyên, Tôn Thất Chiểu,
Đỗ Ánh, Vũ Cao Thái, (1958 – 1967) Cùng thời gian này ở miền nam F.R.Moorman và các chuyên gia Việt Nam đã tiến hành phân loại và lập bản đồ đất
Trang 10miền nam Việt Nam Từ đóviệc nghiên cứu bổ sung chi tiết cho phân loại và lậpbản đồ tỷ lệ lớn (ở miền bắc), hoặc chủ yếu phóng sao nhân để sử dụng (ở miềnnam) đã phát triển trước yêu cầu to lớn của sản xuất Nhất là từ sau ngày giảiphóng đến nay công tác điều tra lập bản đồ đất ở khắp các vùng trong nước đượcđẩy mạnh Hàng loạt bản đồ tỷ lệ 1/250.000 các vùng đã được xây dựng : tâybắc (Lê Thái Bạt và ctg, 1984); tây nguyên (Phạm Quang Khánh và ctg, 1989);đồng bằng Sông Cửu Long, (Tôn Thất Chiểu, Nguyễn Công Pho, Nguyễn VănNhân, Trần An Phong, Phạm Quang Khánh, 1991); Đông Nam Bộ (Phan Liêu vàctg, 1989 và Phạm Quang Khánh, 1995).
Hiện nay, ở nước ta đồng thời tồn tại 3 hệ thống phân loại đất : (i) Hệthống phân loại đất phát sinh, trên quan điểm của hệ thống phân loại này bảngphân loại đất quốc gia đã được thiết lập, cùng với bản đồ đất toàn quốc tỷ lệ1/1.000.000 (ban biên tập bản đồ đất, 1980); (ii) Hệ thống phân loại đất của Mỹ(Soil taxonomy), hệ thống này được sử dụng duy nhất ở một số tỉnh đồng bằngsông Cửu Long; (iii) Hệ thống phân loại đất của FAO/UNESCO mới được ápdụng vào nước ta mấy năm gần đây (Tôn Thất Chiểu, 1992 – 1996; Nguyễn Bảo
Vệ, 1985; Võ Tòng Xuân vad ctv, 1996, Vũ Cao Thái, Phạm Quang Khánh,
nghị của các nhà khoa học đất thế giới ở Amsterdam Song cho đến khoảngnhững năm 1970 thì khái niệm phân loại đất đai và giải thích nghiên cứu đấtđược sử dụng thay thế cho thuật ngữ đánh giá đất đai Thuật ngữ đánh giá đấtđai được xem xét lại vào năm do CSIRO tổ chức Trong hội nghị này khái niệm
Trang 11đánh giá đất được đưa ra tổng quát tương tự như định nghĩa tổng quát củaStewart (1968) Thuật ngữ này được phổ biến rộng rãi qua Farmerwork for landevaluation của FAO, 1976 Tiếp theo tài liệu này, hàng loạt các tài liệu hướngdẫn đáng giá đất cho các đối tượng cụ thể được ban hành : Đánh giá đất chonông nghiệp nhờ mưa (FAO, 1983); cho lâm nghiệp (FAO, 198); cho nôngnghiệp có tưới (FAO, 1985) và đánh giá phân tích hệ thống nông trại cho quyhoạch sử dụng đất, 1992
Tài liệu hướng dẫn đánh giá đất đai của FAO đã được toàn thế giới quantâm thử nghiệm, vận dụng và chấp nhận là phương pháp tốt nhất để đánh giátiềm năng đất đai làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất (Dent F.J, 1992)
Ở Việt Nam khái niệm phân hạng đánh giá đất đai đã có từ lâu, đất đượcchia ra “Tứ hạng điền, lục hạng thổ” chỉ nhằm mục đích cho việc đánh thuế màkhông nêu ra được những hạn chế của đất đai và các biện pháp để nâng hạngcho đất đai Năm 1972 – 1974, Vũ Cao Thái, Bùi Quang Toản đã tiến hành phânhạng đất cấp huyện và cấp xã tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình Cho mãi đếnnăm 1983, Tổng cục quản lý ruộng đất soạn thảo tài liệu hướng dẫn phân hạngđất lúa nước cấp huyện Tài liệu này đề nghị chia đất lúa ra 8 hạng, chỉ tiêu quantrọng chủ yếu dựa vào năng suất cây trồng
Phương pháp đánh giá đất của FAO đã được các nhà thổ nhưỡng ViệtNam thủ nghiệm và đã cho những đóng góp ban đầu rất có ý nghĩa : Búi QuangToản, 1985; Vũ Cao Thái, 1989; Vũ Văn An, 1990; Nguyễn Quang Trí,1990;Trần An Phong, Phạm Quang Khánh, Nguyễn Khang, Nguyễn Văn Nhân
1991 – 1996 Từ năm 1990 – 1993 Viện quy hoạch và thiết kế NN đã thực hiệnnhiều công trình đánh giá đất đai cho 9 vùng sinh thái toàn quốc ở tỷ lệ1/250.000, khẳng định việc vận dụng phương pháp của FAO như một tiến bộkhoa học kỹ thuật cần thiết áp dụng rộng rãi vào Việt Nam
Lớp phủ thổ nhưỡng phần trên cùng của lớp vỏ phong hóa có vai trò thamgia tích cực của vòng tuần hoàn sinh học Lớp phủ thổ nhưỡng là vật mang củatất cả các hệ sinh thái tự nhiên và các hệ sinh thái canh tác Nó còn là mặt bằng
Trang 12để phát triển toàn diện nền kinh tế quốc dân Nó vừa là vật mang, vật cho,vừa làvật gánh chịu các tác động nhiều chiều của tự nhiên và con người Vì vậy việcnghiên cứu lớp phủ thổ nhưỡng đã được đặc biệt chú ý và tập trung vào các lĩnhvực sau : (i) Nghiên cứu phát sinh và phân loại đất, (ii) Nghiên cứu tính chất vật
lý, hóa học đất và sinh học đất, (iii) Xây dựng bản đồ đất các tỷ lệ khác nhau,cuối cùng là thống kê quỹ đất cả về số và chất lượng làm cơ sở khoa học chocông tác sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất
2.1.3 Tình hình nghiên cứu đất tỉnh Đồng Nai
2.1.3.1 Những nghiên cứu trước năm 1975
Cũng như vùng Đông Nam Bộ (ĐNB), do tập trung những cao nguyênbazan rộng lớn, nên ngay từ những năm 1930 các chuyên gia người Pháp đã cónhững công trình nghiên cứu về đất ở vùng ĐNB nói chung và tỉnh Đồng Nainói riêng nhằm mục đích cho việc vây dựng các đồn điền Cao su Đáng chú ýnhất là công trình nghiên cứu và lập bản đồ đất đai của F.R Moorman (1958,
1959, 1961); Moorman Goden (1960); Thái Công Tụng, Moorman (1958); TháiCông Tụng (1972, 1973) Các công trình này đã phản ánh khái quát về sự phân
bố địa lý, đặc điểm một số loại đất chính và phàn nào đề cập đến việc sử dụngđất Trong đó hai tài liệu đã đóng góp những hình ảnh khái quát căn bản đầu tiêncho các khu vực phía nam nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng về bản đồ thổnhưỡng và các loại đất trong vùng :
(i) Bản đồ đất tổng quát Nam Việt Nam : (General soil map of south V.N)
tỷ lệ 1/1.000.000, F.R Moorman, 1961 Trên cơ sở những giải đoán không ảnh,bằng việc sử dụng các tổ hợp và các nhóm đất có cùng nguồn gốc phát sinh, tácgiả đã xây dựng chú thích tổng quát cho bản đồ này gồm 25 đơn vị Trong đótỉnh Đồng Nai có 8 đơn vị :
(1) Đất phù sa không phân biệt (Undifferentiated Alluvial soil)
(2) Đất phù sa mặn (Saline Alluvial soil)
(3) Đất cát trắng và đụn cát vàng (Regosols on White and yellow dunesand)
Trang 13(4) Đất Latosol và Regur nông cạn trên nham huyền vũ (Shallow regursand latosols generslly on basalt).
(5) Đất Podzolic cát trên nham thạch acid địa hình từ phẳng đến uốn(Sandy podzolic soils on acid rocks plance to rolling topography)
(6) Đất Podzolic xám trên phù sa cổ ( Gray podzolic soils on old alluvialsediments)
(7) Tổ hợp đất núi (Complex of mountainous soils)
(8) Đất Latosols nâu đỏ trên nham huyền vũ địa hình từ phẳng đến uốn(Reddish brown latosols on basalt plance to rolling topography)
Mặc dù là bản đồ tổng quát tỷ lên nhỏ, tác giả đã phát hiện hầu hết cácnhóm đất chính có trong địa bàn tỉnh Đồng Nai, các đơn vị này tương đối phùhợp với các tác giả sau này Tuy vậy do ảnh hưởng của chiến tranh gây khó khăncho khảo sát thực địa, trong phạm vi tỉnh Đồng Nai, tác giả chỉ khoanh được 36khoanh đất một cách rất khái quát đúng như tên gọi của chúng Ngoài ra tác giảcòn bỏ sót một nhóm đất rất quan trọng là nhóm đất phèn mà tác giả gộp chungtrong nhóm đất phù sa mặn
Từ bản đồ đất của Moorman đã phóng ra bản đồ đất tỷ lệ 1/200.000 chocác tỉnh (1972, Bộ Canh nông cũ) Trong đó đất của tỉnh Đồng Nai nằm trongcác tờ bản đồ Biên Hòa, Long Khánh và Phước Tuy cũ, với các đơn vị tương tựnhư bản đồ của Moorman, có bổ sung về thành phần sa cấu
(ii) Năm 1971, Thái Công Tụng
Thuộc sở Địa học biên soạn tài liệu nghiên cứu về đất đai miền caonguyên Trung phần và miền Đông Nam Bộ Trong tài liệu này tác giả đã mô tả 5nhóm đất chính của miền ĐNB và các nhóm đất này đều hiện diện trong tỉnhĐồng Nai ngày nay về nguồn gốc phát sinh, tính chất lý hóa học, phân bố và khảnăng sử dụng
* Đất Podzolic xám tương đương với đơn vị số 14 của Moorman, cónguồn gốc từ phù sa cổ sinh của các dòng sông Cửu Long, Đồng Nai tạo thành 3bậc thềm: cao, thấp và trung bình Đây là loại đất cát khô khan, nghèo chất hữu
cơ và dưới sâu có những vật liệu nhiều sét hơn Phản ứng dung dịch đất chua
Trang 14(Ph : 4.5 – 4.7), dung lượng hóa chuyển bazơ rất thấp (2 – 3 meq/100gr đất),SiO2 rất cao (80 – 85%), AL2O3 (từ 4 – 8%), Fe2O3 (từ 1 – 2%)
* Đât Latosols nâu đỏ, tương ứng với đơn vị số 8 và số 19 của MoormanĐất được hình thành do sự hủy hoại của đá basalt Là loại đất tương đối còn trẻ,
sa cấu sét, độ phì nhiêu cao hơn các đất khác trong vùng, diện trắc đất thườngsâu và đồng nhất
* Đất có ít chất hữu cơ và có đốm rỉ (Low humic gley soils) Cũng cónguồn gốc từ phù sa cổ nhưng nằm trong các trũng ở giữa các đồi chất xám Đất
có sa cấu nhẹ ở tầng mặt và mịn ở tầng sâu, mức thủy cấp tương đối nông, vềmùa mưa đều ngập nước, do đó thường được trồng lúa vào mùa mưa và trồnghoa màu cạn vào mùa nắng
* Đât Latosols nâu và cạn trên đá basalt (Terres brunes basaltiques), cónguồn gốc từ đá bọt basalt trong điều kiện úng thủy, trắc diện đất rất nông cạn,
đá mẹ lộ ngay trên mặt, độ phì nhiêu cao, thích hợp với các loại hoa màu nhưđậu tương, bắp
* Đất phù sa tương ứng với đơn vị số 01 của Moorman, có nguồn gốc rấtphức tạp, nên tính chất của chúng rất khác nhau, nó phụ thuộc vào đá mẹ tạo nênchúng Tác giả chia đất phù sa ra 2 đơn vị : Phù sa sông và Phù sa ven sông.Những phù sa ven sông thường có thịt pha cát màu nâu thẫm, trắc diện rất sâu,
dễ thoát nước, thành phần sét trên mặt : 18 – 20% và sét dưới sâu quãng 36%,
pH : 5- 5,5%, tổng bazơ trao đổi : 5 – 8 meq/ 100gr đất Đất phù sa xa sôngthường có sét nhẹ đến thịt nặng, mùa mưa dễ ngập nước và mùa nắng khô cạnnứt nẻ, thành phần sét : 60 – 65%, pH : 5 – 5,5 Đất phù sa sông trồng các cây ăntrái và hoa màu, đất phù sa xa sông thường trồng lúa nước
Thực chất tài liệu của Thái Công Tụng là làm rõ thêm tính chất của cácloại đất mà Moorman đã phát hiện Tài liệu Moorman có tính khái quát chungtoàn miền Nam, còn tài liệu của Thái Công Tụng làm rõ thêm tài liệu củaMoorman và cũng là chú giải bản đồ đất 1/200.000 các tỉnh Đây là tài liệu điềutra đất đầu tiên của các tỉnh phía nam, đã gây ra những ấn tượng quan trọng chonhững nghiên cứu về sau
Trang 152.1.3.2 Những nghiên cứu sau năm 1975
(i) Ngay trong năm 1975
Sau ngày giải phóng, trên cơ sở những tài liệu của Moorman và TháiCông Tụng, Viện quy hoạch thiết kế NN với một số tuyến khảo sát bổ sung đãxây dựng sơ đồ đất tỷ lệ 1/250.000 cho các tỉnh B2 cũ Các tác giả công trình này
đã chuyển đổi phân loại đất theo quan điểm phát sinh và chia đất miền ĐôngNam Bộ ra 9 nhóm đất chính : đất cát, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất đen, đấtxám, đất đỏ vàng, đất dốc tụ và đất trơ sỏi đá Tài liệu này phát hiện tương đốiđầy đủ các nhóm đất chính nhưng các contour đất rất đơn điệu Nhóm đất phèn
có phát hiện nhưng không thấy rõ bản chất mà chỉ dựa vào hàm lượng SO4²ˉ và
pH tầng đất mặt để chia ra đất phèn ít và phèn trung bình
(ii) Năm 1977 – 1978
Viện Nông hóa Thổ nhưỡng và Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp
đã tổ chức đợt điều tra khá chi tiết cho từng huyện thuộc tỉnh Đồng Nai cũ (baogồm cả Bà Rịa -Vũng Tàu) Đây là đợt điều tra đất chi tiết đầu tiên cho cáchuyện với quy mô lớn, tập trung khá đông đảo các nhà khoa học thổ ngưỡng của
cả nước Trên quan điểm thổ nhưỡng phát sinh học, một bảng phân loại đất vớicác đơn vị bản đồ được phân chia kĩ tới chủng và biến chủng, rất coi trọng chỉtiêu kết von, thành phần cơ giới, đá mẹ, độ dốc địa hình, độ dày tầng đất mịn.Các khoanh đất được khoanh chi tiết hơn hẳn các tài liệu trước đó Các tác giảtài liệu này đã chia đất tỉnh Đồng Nai ra 10 nhóm đất và 37 đơn vị bản đồ tươngđương loại phát sinh Bao gồm :
(1) Nhóm đất cát có 3 đơn vị : cồn cát, bãi cát và cát biển
(2) Nhóm đất mặn chiếm 1,99% diện tích, có 4 đơn vị bản đồ đất :
Trang 16- Đất phèn ít và trung bình, mặn.
(4) Nhóm đất phù sa chiếm 7,59% diện tích, có 6 đơn vị bản đồ đất:
- Đất phù sa được bồi sông Đồng Nai
- Đất phù sa không được bồi sông Đồng Nai
- Đất phù sa glây sông Đồng Nai
- Đất xám bạc màu trên macma acid và đá cát
(7) Nhóm đất đen, chiếm 13,05% diện tích, có 3 đơn vị bản đồ đất :
- Đất đen trên đá bọt núi lửa
- Đất đen trên sản phảm bồi tụ bazan
- Đất nâu thẫm trên đá bọt bazan
(8) Nhóm đất đỏ vàng, chiếm 55,13% diện tích, có 8 đơn vị bản đồ đất :
- Đất nâu tím trên đá bazan
- Đất nâu đỏ trên đá bazan
- Đất nâu vàng trên đá bazan
- Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất
- Đất đỏ vàng trên đá macma và acid
- Đất vàng nhạt trên đá cát
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ
- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước
(9) Nhóm đất thung lũng dốc tụ, chiếm 2,77% diện tích, có 2 đơn vị bản
Trang 17Đây là tài liệu làm nền tảng cho những nghiên cứu đất trên phạm vi tỉnhĐồng Nai tiếp theo và trong nhiều năm đã trở thành tài liệu đóng góp phần quantrọng trong quy hoạch và định hướng sử dụng đất trong phạm vi toàn tỉnh.
Tuy vậy, lúc đó do việc đi lại khó khăn, dân cư thưa thớt, an ninh phứctạp, cũng phải kể đến những thiếu thốn về cơ sở vật chất và trang bị kỹ thuật Một số vùng khảo sát với mật độ quá thưa, các mẫu đất chưa được phân tích đầy
đủ, cũng còn phải kể đến những hạn chế về sự hiểu biết về đất phèn và đất mặnlúc đó Cho đến nay tài liệu đã quá cũ và lạc hậu
(iii) Sau năm 1978
Sau tài liệu năm 1978 hàng loạt các nông trường, trang trại được điều traxây dựng bản đồ đất tỷ lệ lớn và chi tiết nhằm cho việc xây dựng các nôngtrường như : nông trường cao su, cà phê, các vùng chuyên canh bắp, đậu nành,bông
2.1.3.3 Về đánh giá đất đai
Đối với tỉnh Đồng Nai việc đánh giá đất đai còn rất mới mẻ và hầu nhưchưa có một công trình nào được nghiên cứu Đất đai tỉnh Đồng Nai mới đượcđánh giá trong các chương trình chung của toàn vùng Đông Nam Bộ và cả nước.Đặc biệt là những năm 1992 – 1995, một công trình đánh giá đất đai toàn vùngĐông Nam Bộ trên bản đồ tỷ lệ 1/250.000 đã được xây dựng (Phạm QuangKhánh, 1995) Trong đó tỉnh Đồng Nai được đánh giá là tỉnh có tiềm năng đấtnông nghiệp vào loại bậc nhất của vùng này, các cây công nghiệp dài ngày, cây
ăn quả, đậu nành, bắp, bông, vải là thế mạnh của tỉnh hiện nay và cả trong tươnglai
Một số đánh giá chung về kết quả đã nghiên cứu :
So với các tỉnh khác ở phía nam, tỉnh Đồng Nai đã có những tài liệunghiên cứu, điều tra đất đai phong phú và trên nhiều tỷ lệ bản đồ khác nhau Cáctài liệu đã có tuy khác biệt về thời gian xây dựng và tỷ lệ bản đồ nhưng cácnhóm đất chính phát hiện được tương đối phù hợp với nhau, nhất là các tài liệuxây dựng sau năm 1975 do cùng quan điểm phân loại và quy trình điều tra của