1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương môn Luật hành chính

69 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Môn Luật Hành Chính
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Luật Hành Chính
Thể loại Đề Cương
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 112,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- phương tiện quản lý là pháp luật - Quản lý hành chính Nhà nước: là hoạt động của Nhà nước trước hết được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan hành chính Nhà nước, có nội dung đảm bảo sựu

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH

CHƯƠNG I KQC VỀ LUẬT HÀNH CHÍNH VÀ KHOA HỌC LUẬT HÀNH CHÍNH I.Luật hành chính – Một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt nam

1 Luật hành chính-ngành luật về quản lý hành chính nhà nước

a Quản lý

- Là sự tác động của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý

- Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy

b Quản lý Nhà nước

- Là hoạt độngc ủa Nhà nước trên 3 mặt: lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thực hiện các chứng năng đối nội và đối ngoại

- phương tiện quản lý là pháp luật

- Quản lý hành chính Nhà nước: là hoạt động của Nhà nước trước hết được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan hành chính Nhà nước, có nội dung đảm bảo sựu chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, là hoạt động chấp hành, điều hành của Nhà nước

- Tính chất điều hành: đảm bảo sự thực hiện các văn bản pháp luật của các cơ quan quyền lực được thực hiện trên thực tế, các chủ thể của quản lý hành chính phải được tiến hành hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền

- Tính chất chấp hành: đảm bảo trên thực tế các văn bản pháp luật của các cơ quan quyền lực nhà nước

- Chủ thể quản lý nhà nước: là tổ chức hay cá nhân mang quyền lực nhà nước trong quá trình tác động đến đối tượng quản lý, chủ thể quản lý bao gồm: Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân được thực hiện quyền thực hiện hoạt động quản lý nhà nước

- Khách thể: trật tự quản lý do pháp luật quy định

- Chủ thể quản lý hành chính nhà nước: là cơ quan nhà nước ( chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước, cán bọ nhà nước coa thẩm quyền, các tổ chức và

cá nhân được trao quyền quản lý trong một số trường hợp cụ thể

2 Đối tượng điều chỉnh

Trang 2

Là nhóm quan hệ xã hội xác định có đặc tính cơ bản giống nhau, do những quy

phạm thuộc ngành luật đó điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh là tiêu chuân chủ

yếu để phân biệt ngành luật này với ngành luật khác

+ Các quan hệ pháp lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà

nước thực hiện hoạt động chấp hành-điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của

đời sống xã hội

+ Các quan hệ hành chính hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước xây

dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ của cơ quan nhằm ổn định về tổ chức

để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình

+ Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cá nhân và tổ chức được

nhà nước traoq uyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong

một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định

3 Phương pháp điều chỉnh

- “ mệnh lệnh – phục tùng “

- Phương pháp được xây dựng trên nguyên tắc:

+ Xác định sự khong bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ quản lý hành

chính nhà nước: một bên được nhân danh nhà nước sử dụng quyền lực nhà

nước để đưa ra các quyết định hành chính, cong bên kia phải phục tùng những

quy định ấy

+ Bên sử dụng quyền lực nhà nước có quyền đơn phương ra quyết định trong

phạm vi thẩm quyền của mình vì lợi ích của nhà nước, của xã hội

+ Quyết định đơn phương của bên có quyền sử dụng quyền lực nhà nước có

hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên có lien quan và được đảm bảo thi

hành với các bên hữu quan và được thi hành bằng cưỡng chế nàh nước

4 Phân biệt luật hành chính với các ngành luật khác

Luật hiến pháp là ngành luật có đối tượng điều chỉnh là những quan hệ xã hội cơ

bản nhất, quan trọng nhất như chính sách cơ bản của nhà nước trong lĩnh vực đối

nội đối ngoại; chế độ kinh tế - chính trị; các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của

Trang 3

hệ thống chính trị của nước ta; thiết lập bộ máy nhà nước Ðối tượng điều chỉnh

của luật hiến pháp rộng hơn đối tượng điều chỉnh của luật hành chính

Luật hành chính giữ vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa, chi tiết hóa các quy

phạm pháp luật nhà nước để từ đó điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong

hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước.Ngược lại, các vấn đề quyền công

dân, về tổ chức bộ máy bộ máy nhà nước được qui định cơ bản trong hiến pháp,

thể hiện rõ tính ưu việt trong các qui phạm pháp luật hành chính

b Luật hành chính và luật đất đai

Luật Hành chính nói ngắn gọn là ngành luật về quản lý nhà nước.Quản lý hành

chính nhà nước trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội là những mảng tương ứng

của luật hành chính Luật đấi đai là một ví dụ Luật đất đai, về phương diện hành

chính là ngành luật về quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực đất đai, xuất

hiện, thay đổi và chấm dứt khi có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước

Tuy nhiên, các quan hệ pháp luật này có những nét đặc thù riêng.ở nước ta, "đất

đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý"[1] Vì vậy không có

khái niệm "chuyển nhượng quyền sở hữu đất", mà chỉ có khái niệm "chuyển

nhượng quyền sử dụng đất" Hơn nữa, luật đất đai không chỉ được cơ quan hành

chính nhà nước điều chỉnh như một lĩnh vực có tính đặc thù riêng, mà còn được

điều chỉnh trên cơ sở quan hệ pháp luật dân sự liên quan đến các hợp đồng cầm cố,

thế chấp đất đai Vì vậy, theo quan điểm được nhiều nhà nghiên cứu hiện nay thống

nhất, luật đất đai là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt nam, có quan hệ

chặt chẽ sơ khởi với quan hệ pháp luật hành chính:

- Luật đất đai là ngành luật điều chỉnh quan hệ giữa nhà nước, với tư cách là chủ sở

hữu duy nhất đối với đất đai

- Trong quan hệ pháp luật đất đai, nhà nước có tư cách vừa là chủ sở hữu, vừa là

người thực hiện quyền lực nhà nước

Cả hai ngành luật này đều có các chế định pháp lý quy định hành vi vi phạm pháp

luật và các hình thức xử lý đối với người vi phạm Trong cả hai quan hệ pháp luật

Trang 4

này, ít nhất là một bên trong quan hệ nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước.

- Hơn nữa, việc phân biệt tội phạm với hành vi vi phạm hành chính đôi khi khá phức tạp, nhất là những trường hợp vi phạm hành chính "chuyển hoá" thành tội phạm

- Luật hành chính qui định nhiều nguyên tắc có tính bắt buộc chung, ví dụ như: quitắc an toàn giao thông, qui tắc phòng cháy chữa cháy, qui tắc lưu thông hàng hoá, văn hoá phẩm Trong một số trường hợp, khi vi phạm qui tắc ấy có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Ví dụ như: hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, trốn thuế Những hành vi nêu trên nếu được thực hiện lần đầu với số lượng không lớn thì là vi phạm hành chính, còn nếu với số lượng lớn hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn tái phạm thì đó là tội phạm Tuy nhiên, giữa chúng có sự khác biệt cơbản sau:

Luật hình sự quy định hành vi nào là tội phạm, hình phạt nào áp dụng cho hành vi phạm tội, điều kiện, thủ tục áp dụng Ðể xác định hành vi nào thuộc đối tượng điềuchỉnh của luật hình sự cần phải xem xét các yếu tố cấu thành của tội phạm về mặt chủ quan, khách quan, chủ thể, khách thể Thêm nữa, luật hình sự phân biệt với luật hành chính ở tính chất hành vi có tính chất nguy hiểm cao, mức độ thiệt hại lớn hơn

Còn luật hành chính lại quy định về các hành vi vi phạm hành chính, các hình thức

xử lý vi phạm hành chính và các vấn đề khác liên quan đến việc xử lý đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính Sự khác nhau giữa hai ngành luật này là ở tính chất, mức độ của hành vi vi phạm

Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, các hình thức xử phạt vi phạm hành chính không phải là hình phạt vi phạm hành chính mà là chế tài đối với vi phạm hành chính

"Hình phạt" trong hệ thống pháp luật Việt nam chỉ được qui định và áp dụng trong luật hình sự mà thôi

d Luật hành chính và luật dân sự

Ðối tượng điều chỉnh của luật dân sự là những quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa tiền tệ và các quan hệ nhân thân phi tài sản Luật dân sự quy định nội dung quyền sở hữu, những hình thức chuyển nhượng, sử dụng, định đoạt tài sản và phương pháp điều chỉnh của luật dân sự là phương pháp bình đẳng, thỏa thuận

Trang 5

Trong quan hệ pháp luật dân sự các chủ thể bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa

vụ.Trong khi đó đối tượng điều chỉnh của luật hành chính là các quan hệ xã hội

phát sinh trong lĩnh vực chấp hành-điều hành Luật hành chính quy định những vấn

đề như thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong quản lý nhà vắng chủ, trưng

mua tài sản

Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là mệnh lệnh đơn phương, dựa trên

nguyên tắc quyền uy - phục tùng Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thể

trực tiếp điều chỉnh quan hệ tài sản thông qua việc ban hành quyết định chuyển

giao tài sản giữa các cơ quan, tổ chức đó Một số cơ quan quản lý có quyền ra

quyết định tịch thu, kê kiên tài sản hoặc phạt tiền Nhưng trong cơ chế quản lý mới

hiện nay, các cơ quan quản lý nhà nước chủ yếu điều chỉnh quan hệ tài sản một

cách gián tiếp thông qua các quyết định về kế hoạch, tiêu chuẩn, chất lượng, về cơ

chế định giá

Mặt khác, trong nhiều trường hợp, các cơ quan quản lý nhà nước cũng tham gia

trực tiếp vào quan hệ pháp luật dân sự Nhưng ở đây, các cơ quan đó không hoạt

động với tư cách trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước, mà tham gia với

tư cách một pháp nhân, do vậy không thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật

hành chính

Nhiều qui phạm của Luật Hành chính và Luật lao động đan xen, phối hợp để điều

chỉnh những vấn đề cụ thể liên quan tới hoạt động công vụ, lao động viên chức,

tuyển dụng, cho thôi việc đối với viên chức nhà nước, nhưng điều chỉnh từ những

góc độ khác nhau Nếu luật lao động "nội dung" của việc quản lý trong lĩnh vực

quan hệ lao động, "trình tự ban hành" các quan hệ lao động ấy lại được qui định

trong luật hành chính Nói một cách cụ thể:

Luật lao động điều chỉnh những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của

người lao động như quyền nghỉ ngơi, quyền được trả lương, quyền hưởng bảo

hiểm xã hội và bảo hộ lao động

Luật hành chính xác định thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước trong

lĩnh vực lao động, đồng thời điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan đến việc tổ

chức quá trình lao động và chế độ công vụ, thủ tục tuyển dụng, thôi việc, khen

thưởng

Trang 6

Hai ngành luật này quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện:

- Quan hệ pháp luật hành chính là phương tiện thực hiện quan hệ pháp luật lao

động

- Quan hệ pháp luật lao động lại là tiền đề của quan hệ pháp luật hành chính

Luật tài chính là ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hoạt

động tài chính của nhà nước, trong đó bao gồm cả các lĩnh vực về thu chi ngân

sách, phân phối nguồn vốn của nhà nước mang tính chất tiền tệ liên quan đến

nguồn thu nhập quốc dân Nhìn một cách tổng quát, luật tài chính và luật hành

chính đều điều chỉnh hoạt động tài chính của nhà nước:

+ Là một bộ phận chấp hành, điều hành nhà nước, luật tài chính cũng sử dụng phổ

biến phương pháp mệnh lệnh

+ Luật hành chính qui định cơ chế kiểm toán nhằm đảm bảo tính đúng đắn trong

các quan hệ tài chính

+ Luật hành chính chứa đựng các QPPL qui định thẩm quyền của các cơ quan của

các công tác tài chính vừa là qui phạm của luật hành chính, đồng thời là nguồn của

luật tài chính

5 Nguồn của luật hành chính

a Khái niệm:

Nguồn của luật hành chính là các văn bản quy phạm pháp luật trong đó có

chứa các quy phạm pháp luật hành chính Một văn bản được coi là nguồn của luật

hành chính nếu văn bản đó thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu sau:

- Do chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật theo Luật định của Luật

ban hành văn bản quy phạm pháp luật ban hành

- Văn bản được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục, dưới hình thức theo luật định

Nội dung văn bản đó có chứa đựng quy phạm pháp luật hành chính

b Phân loại nguồn của Luật Hành chính

Trang 7

Căn cứ vào chủ thể ban hành, nguồn của luật hành chính bao gồm:

Hiến pháp:

Hiến pháp là đạo luật có giá trị pháp lí cao nhất quy định những vấn đề cơbản, quan trọng liên quan đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa- xã hội của quốcgia Hiến pháp là nguồn của mọi ngành luật trong đó có Luật hành chính Nhữngquy phạm pháp luật hành chính trong Hiến pháp là những quy định mang tínhchung, nguyên tắc làm cơ sở ban hành ra các quy phạm pháp luật hành chính khác

Luật:

Là loại văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành để cụ thể hóa cácquy định của Hiến pháp Có các văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật hànhchính như: Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân,Luật khiếu nại, tố cáo

Nghị quyết của Quốc hội:

Là văn bản được ban hành để quyết định kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội,chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, chính sách dân tộc, tôn giáo, đối ngoại, quốcphòng an ninh, dự toán ngân sách và phân bổ ngân sách nhà nước, phê chuẩn điềuước quốc tế, quyết định chế độ làm việc của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Các Ủyban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và quyết định các vấn đề khác thuộc thẩmquyền của Quốc hội

Pháp lệnh:

Là văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành.Quy định những vấn đề được Quốc hội giao, sau một thời gian thực hiện trìnhQuốc hội xem xét, quyết định ban hành thành Luật.Những pháp lệnh có chứa đựngquy phạm pháp luật hành chính là nguồn của Luật hành chính

Nghị định của Chính phủ:

Nghị định của Chính phủ dùng để quy định chi tiết thi hành luật, Nghị quyếtcủa Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyếtđịnh của Chủ tịch nước quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các Bộ,

cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩmquyền của Chính phủ thành lập, quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưngchưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý

Trang 8

nhà nước, quản lí kinh tế, quản lý xã hội Tất cả những Nghị định của Chính phủban hành với tư cách là văn bản quy phạm pháp luật hành chính nêu trên đều lànguồn của Luật hành chính.

Nghị định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Là văn bản được ban hành để giải thích Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, giám sátviệc thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy banthường vụ Quốc hội, giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao,giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân, quyết định tuyên bố tìnhtrạng chiến tranh, tổng động viên hoặc động viên cục bộ, ban bố tình trạng khẩncấp trong cả nước hoặc từng địa phương hoặc quyết định những vấn đề khác thuộcthẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội Những nghị quyết nào của Ủy banThường vụ Quốc hội chứa đựng quy phạm pháp luật hành chính là nguồn của Luậthành chính

Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp:

Là văn bản quy phạm pháp luật duy nhất mà cơ quan quyền lực nhà nước ởđịa phương có quyền ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp đề cậpđến các chính sách về kinh tế, văn hóa- xã hội, an ninh quốc phòng cũng như giảiquyết những vấn đề cụ thể khác của địa phương thuộc thẩm quyền của Hội đồngnhân dân các cấp theo quy định của pháp luật Những van bản này nếu chứa quyphạm pháp luật hành chính thì là nguồn của luật hành chính

Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước:

Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan có chức năng quản lý hành chínhnhà nước theo quy định của pháp luật Chính vì vậy, các văn bản là nguồn của Luậthành chính do cơ quan này chiếm một số lượng rất lớn:

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Được ban hành để quyết định các chủtrương, biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hànhchính nhà nước từ trung ương đến cơ sở, quy định chế độ làm việc với các thànhviên Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ

- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ có chứa đựng quy phạm pháp luật hành chính lànguồn của Luật hành chính

Trang 9

- Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan nganh Bộ, thủtrưởng cơ quan thuộc Chính phủ.

- Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quanthuộc Chính phủ để hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước,nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ

có liên đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó

6 Hệ thống ngành luật hành chính

a Theo chủ thể quản lý và chủ thể của quản lý:

- Qui phạm pháp luật Hành chính công

- Qui phạm pháp luật Hành chính tư

b Theo phạm vi quản lý:

- Quản lý hành chính nhà nước nói chung

- Quản lý nhà nước trong các lĩnh vực đời sống xã hội

II Khoa học luật hành chính Việt Nam

Trang 10

1.Ðối tượng nghiên cứu TOP

Là hoạt động quản lý hành chính nhà nước, những quan hệ hình thành trong quá

trình quản lý hành chính nhà nước và việc điều chỉnh những quan hệ ấy, hệ thống

pháp luật hành chính và hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước Cụ

thể như sau:

- Quản lý hành chính nhà nước, chủ thể quản lý và chủ thể của quản lý hành chính

nhà nước

- Cách thức quản lý hành chính nhà nước

- Những phương thức nhằm bảo đảm pháp chế XHCN và kỷ luật nhà nước

- Quản lý hành chính nhà nước trong trong lĩnh vực qui hoạch xây dựng: những

phát hiện mới mẻ trong lĩnh vực hành chính tư

- Tố tụng hành chính và các vấn đề có liên quan

- Quản lý hành chính nhà nước trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội

2 Nhiệm vụ của khoa học luật hành chính

Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước, nghiên cứu tổng kết thực

tiễn hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, thực tiễn xây dựng và áp

dụng pháp luật trong quản lý hành chính nhà nước, đề xuất những ý kiến nhằm

hoàn thiện các chế định pháp luật hành chính Cải cách nền hành chính, đảm bảo

bộ máy hành chính thực sự là công bộc của nhân dân

a Khái niệm

Phương pháp luận của luật hành chính là cách thức tiếp cận vấn đề mà luật hành

chính điều chỉnh

b Các phương pháp

Trang 11

- Theo phép duy vật biện chứng (nhìn nhận sự vật hiện tượng trong trạng thái vận động không ngừng)

- Theo chủ nghĩa Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Ðặc biệt, những tác phẩm, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật, pháp chế; nhiệm vụ củachính quyền các cấp, về bộ máy nhà nước, về cán bộ, về mối quan hệ giữa cán bộ nhà nước và nhân dân là những tài liệu hết sức quí báu cho việc định hướng hoạt động quản lý nhà nước

- Các nghị quyết của đại hội Ðảng Cộng Sản Việt nam với những chủ trương

đường lối, chính sách, đề ra những nguyên tắc cơ bản, những biện pháp chủ yếu nhằm đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước, mà trước hết là bộ máy hành chính nhà nước

- Khoa học luật hành chính có mối quan hệ mật thiết với các ngành khoa học xã hội cơ bản như: triết học, kinh tế chính trị, lý luận nhà nước và pháp luật, khoa học luật hiến pháp

- Khoa học luật hành chính cũng có mối liên hệ mật thiết với nhiều môn khoa học nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu, đặc biệt là khoa học quản lý Sự phát triển của cả các ngành khoa học này là yếu tố quan trọng góp phần và tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước

Ngoài ra, khoa học luật hành chính cũng sử dụng hàng loạt phương pháp cụ thể để nghiên cứu về những quan hệ xã hội về hành chính như: phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh pháp luật, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp thực nghiệm

III Môn học Luật hành chính

Luật hành chính là một ngành Luật độc lập, gắn liền với sự phát triển nhà nước vàpháp luật, có vai trò, vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt nam

Ðể đánh giá hiệu quả hoạt động của một bộ máy nhà nước, người ta không thểkhông xem xét đến hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan đượcxem là "bộ mặt" của bộ máy nhà nước, trãi dài từ trung ương đến địa phương vớiđội ngũ viên chức đông đảo nhất Luật Hành chính, vì thế là một ngành luật cóphạm vi nghiên cứu rộng, trên tất các các lĩnh vực của đời sống xã hội về phươngdiện quản lý nhà nước.Môn học trang bị cho sinh viên những kiến thức lý luậnkhoa học luật hành chính và khà năng áp dụng những kiến thức thực tiễn trên một

số lĩnh vực quản lý cơ bản của đời sống xã hội vào thực tế Trong môn học Luật

Trang 12

Hành chính, sinh viên sẽ nghiên cứu những nội dung tương ứng với các bốn phầnsau đây:

CHƯƠNG II QUY PHẠM VÀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH

Trang 13

I QUY PHẠM PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH.

a) Khái niệm

Quy phạm pháp luật hành chính là các quy tắc xử sự chung do cơ quan Nhà nước,

các cán bộ nhà nước có thẩm quyền ban hành, chủ yếu điều chỉnh những quan hệ

xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước (hay còn gọi là hoạt

động chấp hành - điều hành của Nhà nước) có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với

những đối tượng có liên quan

b) Ðặc điểm của quy phạm pháp luật hành chính

Qua khái niệm trên cho thấy quy phạm pháp luật hành chính là một trong những

dạng quy phạm pháp luật và nó có những đặc điểm sau:

1 Là qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung Giống như các qui phạm pháp luật

khác, qui phạm pháp luật hành chính có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các đối

tượng có liên quan và được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế nhà nước

Những qui phạm này xác định hành vi của cacù đối tượng có liên quan: được làm

gì, không được làm gi và làm như thế nào Các qui tắc xử sự này được ban hành

theo thủ tục, trình tự chắt chẽ theo pháp luật Khi có một quan hệ pháp luật hành

chính cụ thể tương ứng phát sinh, qui tắc xử sự chung trên sẽ là căn cứ để ra văn

bản áp dụng Tuy vậy, dù có hay chưa có văn bản áp dụng, qui phạm pháp luật trên

vẫn tồn tại và không mất đi giá trị pháp lý trừ khi hết hiệu lực

2 Ðược ban hành bởi những cơ quan nhà nước và cán bộ nhà nước có thẩm quyền

ở các cấp khác nhau với, mục đích cụ thể hóa các quy phạm pháp luật hành chính

của các cơ quan quyền lực nhà nước và các cơ quan nhà nước cấp trên Vì các văn

bản pháp luật do các cơ quan quyền lực nhà nước ban hành trong lĩnh vực quản lý

hành chính mới chỉ quy định một cách chung nhất nên chúng đòi hỏi phải được cụ

thể hóa trong từng lĩnh vực của quản lý hành chính

3 Tính thống nhất: mặc dù quy phạm pháp luật hành chính được ban hành bởi

những cơ quan khác nhau, có hiệu lực pháp lý cũng như phạm vi thi hành khác

nhau nhưng về cơ bản chúng hợp thành một hệ thống thống nhất Tính thống nhất

của các quy phạm pháp luật hành chính được bảo đảm bởi hệ thống các nguyên tắc

Trang 14

trong luật hành chính, đặc biệt là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và nguyên tắc tập trung dân chủ Những nguyên tắc này đòi hỏi:

+ Các quy phạm pháp luật hành chính do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, Nghị quyết và Pháp lệnh của các cơ quan quyền lực nhà nước

+ Những quy phạm pháp luật hành chính do các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ban hành phải phù hợp với những quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ban hành

+ Các quy phạm pháp luật hành chính phải được ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức pháp luật đã quy định

+ Việc ban hành các quy phạm pháp luật hành chính của cơ quan cấp dưới đòi hỏi phải phù hợp với những quy phạm pháp luật hành chính do cấp trên ban hành

+ Các quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan địa phương ban hành để thi hành

ở địa phương phải phù hợp với quy phạm pháp luật hành chính do các cơ quan ở trung ương ban hành để thi hành trong cả nước

4 Những qui phạm pháp luật hành chính ban hành chủ yếu điều chỉnh những quan

hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hành chính nhà nước Ðiều này đồng nghĩa với

sẽ có những văn bản thứ yếu phát sinh trong lĩnh vực khác của nhà nước Thật vậy,ngoài việc xác định thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước trong lĩnh vực lao động, luật hành chính đồng thời điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quanđến việc tổ chức quá trình lao động và chế độ công vụ

5 Các quy phạm pháp luật hành chính được đặt ra, sửa đổi hay bãi bỏ trên cơ sở

những quy luật phát triển khách quan của xã hội và những đặc điểm cụ thể trong từng giai đoạn Hiện nay, qui phạm pháp luật Hành chính là tổng hợp các qui phạm

về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực tương ứng với các lĩnh vực quản lý của đời sống xã hội Vì vậy, qui phạm pháp luật hành chính hiện tại được ban hành bởi khánhiều cơ quan, có hiệu lực pháp lý khác nhau và thi hành khác nhau, cũng như tính

ổn định các văn bản này không cao Tuy nhiên, đây không phải là bản chất của qui phạm pháp luật hành chính Tuy tính đa dạng về văn bản các cấp gắn liền với qui phạm hành chính, nhưng về lâu dài sẽ phải có một Bộ Luật hành chính hoặc Luật hành chính thống nhất điều chỉnh các mối quan hệ chung nhất chứa đựng một cách

có hệ thống hơn các qui phạm pháp luật hành chính

Trang 15

2 Phân loại quy phạm pháp luật hành chính TOP

Ðể phân loại các quy phạm pháp luật hành chính có thể dựa trên nhiều tiêu chí

khác nhau.Tuy nhiên, trong giới hạn của chương trình học ta chỉ phân loại dựa trên

một số tiêu chí chủ yếu Các tiêu chí đó là các căn cứ về nội dung pháp lý, về tính

chất của những quan hệ được quy phạm pháp luật hành chính điều chỉnh, về thời

gian áp dụng, cơ quan ban hành cũng như căn cứ vào phạm vi hiệu lực pháp lý của

+ Quy phạm trao quyền: là quy phạm trao quyền cho các đối tượng có liên quan

quyền thực hiện những hành vi nhất định Qui phạm trao quyền được thể hiện rõ

trong quan hệ pháp luật hành chính công khi cấp trên ban hành qui phạm trao

quyền cho cấp dưới

+ Quy phạm ngăn cấm: là quy phạm buộc các đối tượng có liên quan tránh thực

hiện những hành vi nhất định

b) Căn cứ vào tính chất của những quan hệ được điều chỉnh ta có hai loại quy

phạm:

+ Quy phạm nội dung: là quy phạm quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham

gia quan hệ quản lý hành chính nhà nước

+ Quy phạm thủ tục: là quy phạm quy định trình tự thủ tục mà các bên phải tuân

theo trong khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình

c) Căn cứ vào cơ quan ban hành ta có các quy phạm sau:

+ Những quy phạm do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành

+ Những quy phạm do Chủ tịch nước ban hành

Trang 16

+ Những quy phạm do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Viện

trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành

+ Những quy phạm do cơ quan hành chính nhà nước ban hành

+ Những quy phạm do các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị-xã hội phối hợp ban hành

d) Căn cứ vào thời gian áp dụng chúng ta có ba loại quy phạm, đó là: quy phạm áp dụng lâu dài, quy phạm áp dụng có thời hạn và những quy phạm tạm thời

+ Quy phạm áp dụng lâu dài: là quy phạm mà trong văn bản ban hành chúng khôngghi thời hạn áp dụng, do vậy, chúng chỉ hết hiệu lực khi cơ quan có thẩm quyền tuyên bố bãi bỏ hay thay thế chúng bằng những quy phạm khác

+ Quy phạm áp dụng có thời hạn: là những quy phạm mà trong văn bản ban hành chúng có ghi thời hạn áp dụng Thường là những quy phạm được ban hành để điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong tình huống đặc biệt, khi tình huống nàykhông còn thì quy phạm cũng hết hiệu lực

+ Quy phạm tạm thời: là những quy phạm được ban hành để áp dụng thử Nếu sau thời gian áp dụng thử mà xét thấy nó phù hợp thì sẽ ban hành chính thức Có

những trường hợp được ban hành thí điểm, áp dụng giới hạn ở một số địa phương nhất định Sau một thời gian đánh giá hiệu quả hoạt động trên thực tế, sẽ ban hành đồng loạt

e) Căn cứ vào phạm vi hiệu lực pháp lý ta có hai loại sau:

+ Quy phạm pháp luật hành chính có hiệu lực trên phạm vi cả nước

+ Quy phạm pháp luật hành chính có hiệu lực pháp lý ở từng địa phương

Việc phân loại này sẽ được phân tích cụ thể trong phần sau về hiệu lực của QPPL hành chính

3 Thực hiện quy phạm pháp luật hành chính

Thực hiện quy phạm pháp luật hành chính là việc dùng quy phạm pháp luật hành chính để tác động vào hành vi của các bên tham gia quan hệ quản lý nhà nước, được biểu hiện dưới hai hình thức là chấp hành và áp dụng quy phạm pháp luật

Trang 17

Chấp hành quy phạm pháp luật hành chính: là việc các cơ quan, tổ chức và cá nhân

làm theo đúng những yêu cầu của quy phạm pháp luật hành chính Các chủ thể của

quan hệ pháp luật hành chính thưc hiện hành vi chấp hành quy phạm pháp luật

hành chính trong những trường hợp sau:

+ Khi thực hiện đúng các hành vi mà quy phạm pháp luật hành chính cho phép;

+ Khi thực hiện đúng các hành vi mà quy phạm pháp luật hành chính buộc phải

thực hiện;

+ Khi không thực hiện những hành vi mà quy phạm pháp luật hành chính cấm thực

hiện

+ Việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải tuân theo những yêu cầu của

nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và đảm bảo nhân dân lao động có điều kiện

tham gia vào quản lý nhà nước theo Ðiều 12 và Ðiều 53 Hiến pháp 1992 Vì áp

dụng quy phạm pháp luậỷt hành chính là hoạt động của các cơ quan nhà nước có

thẩm quyền giải quyết tất cả những vấn đề có liên quan đến quyền lợi của các tổ

chức, cá nhân

+ Việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính trực tiếp làm phát sinh, thay đổi

hay chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể, vì vậy phải được thực hiện

bởi cơ quan có thẩm quyền của nhà nước và phải được tiến hành theo đúng trình

tự, thủ tục, đúng thời hạn pháp luật quy định, phải xem xét, giải quyết đúng hạn

các yêu cầu nhận được, trả lời công khai, chính thức về kết quả giải quyết cho các

đối tượng có liên quan

+ Kết quả áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được thể hiện bằng văn

bản của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và việc áp dụng chỉ được coi là hoàn

thành khi quyết định của cơ quan áp dụng pháp luật được chấp hành trong thực tế

II QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH.

a Khái niệm

Quan hệ pháp luật hành chính là một dạng của quan hệ pháp luật.Ðó là những quan

hệ xã hội phát sinh chủ yếu trong lĩnh vực chấp hành điều hành giữa một bên mang

Trang 18

quyền lực nhà nước có chức năng quản lý hành chính nhà nước và một bên là đối tượng quản lý.Các quan hệ này được điều chỉnh bởi những quy phạm pháp luật hành chính Trong một quan hệ pháp luật hành chính thì quyền của bên này sẽ là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Chúng rất phong phú và đa dạng, phát sinh trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Như vậy, quan hệ pháp luật hành chính là những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chấp hành và điều hành của nhà nước được điều chỉnh bởi quy phạm phápluật hành chính giữa những chủ thể mang quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quyđịnh của pháp luật hành chính

b.Ðặc điểm của quan hệ pháp luật hành chính

Căn cứ vào những đặc trưng riêng của quan hệ pháp luật hành chính, ta thấy quan

hệ pháp luật hành chính có những đặc điểm sau:

- Quan hệ pháp luật hành chính chủ yếu chỉ phát sinh trong quá trình quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, luôn gắn liền với hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước, chúng vừa thể hiện lợi ích của cácbên tham gia quan hệ vừa thể hiện những yêu cầu và mục đích của hoạt động chấp hành - điều hành

- Quan hệ pháp luật hành chính có thể phát sinh giữa tất cả các loại chủ thể như cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, công dân, người nước ngoài nhưng ít nhất một bêntrong quan hệ phải là cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan nhà nước khác hoặc tổ chức, cá nhân được trao quyền quản lý Ðiều này có nghĩa là quan hệ giữa công dân với công dân, tổ chức với tổ chức hay tổ chức với một công dân nào đó (không mang quyền lực hành chính nhà nước) thì không thể hình thành quan hệ pháp luật hành chính

- Quan hệ pháp luật hành chính có thể phát sinh do đề nghị hợp pháp của bất kỳ bên nào, sự thỏa thuận của bên kia không phải là điều kiện bắt buộc cho sự hình thành quan hệ

- Các tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính phần lớn được giải quyết theo trình tự, thủ tục hành chính và chủ yếu thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước

- Trong quan hệ pháp luật hành chính, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm trước nhànước chứ không phải chịu trách nhiệm trước bên kia của quan hệ pháp luật hành chính

Trang 19

2 Cấu thành của quan hệ pháp luật hành chính TOP

a.Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính

Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính là những bên tham gia vào quan hệ pháp

luật hành chính, có năng lực chủ thê, có quyền và nghĩa vụ tương ứng đối với nhau

theo quy định của pháp luật hành chính

Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính bao gồm: cơ quan nhà nước, cán bộ nhà

nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế, công dân Việt Nam, người nước ngoài và

người không quốc tịch Trong đó, có một loại chủ thể luôn luôn hiện diện trong

mọi quan hệ pháp luật hành chính: chủ thể quản lý-bên có thẩm quyền hành chính

nhà nước

* Chủ thể quản lý hành chính nhà nước: là các cá nhân hay tổ chức của con người

mang quyền lực hành chính nhà nước, nhân danh nhà nước và thực hiện chức năng

quản lý hành chính nhà nước "Mang quyền lực nhà nước" ở đây cần hội đủ 2 yếu

tố sau:

- Có thẩm quyền hành chính nhà nước do pháp luật qui định;

- Tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính với tư cách của chủ thể có thẩm

quyền hành chính nhà nước, không vượt ra khỏi thẩm quyền đã được luật định;

Nói lên điều này để phân biệt rạch ròi "vai trò" của một chủ thể nhất định trong

những trường hợp cụ thể nhất định Trường hợp chủ thể A là chủ thể có thẩm

quyền hành chính nhà nước, nhưng tham gia vào quan hệ không với tư cách thẩm

quyền ấy, thì không thể hình thành quan hệ pháp luật hành chính với A là chủ thể

quản lý

Chủ thể bắt buộc trong quan hệ pháp luật hành chính có quyền nhân danh Nhà

nước để đơn phương ra những mệnh lệnh (thể hiện dưới dạng các quy phạm pháp

luật hoặc các mệnh lệnh cụ thể để giải quyết công việc cụ thể) buộc phía bên kia

phải thực hiện Ðây là một đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật hành chính so

với các quan hệ pháp luật khác Ðiều kiện để trở thành chủ thể của quan hệ pháp

luật hành chính là phải có năng lực pháp luật hành chính và năng lực hành vi hành

chính Chủ thể này có thể là:

Trang 20

- Cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ hành chính nhà nước Tuy nhiên, cần phân

biệt quan hệ pháp luật hành chính với quan hệ chỉ đạo công tác trong nội bộ một cơ

quan

- Cơ quan nhà nước khác, cá nhân, tổ chức xã hội tham gia vào một quan hệ pháp

luật cụ thể với tư cách là bên có thẩm quyền hành chính nhà nước được qui định

trong pháp luật hành chính

* Chủ thể của quản lý hành chính nhà nước:

Là một bên trong quan hệ pháp luật hành chính, chịu sự quản lý, chấp hành mệnh

lệnh của chủ thể quản lý Trong quan hệ pháp luật hành chính, đây có thể là cơ

quan, tổ chức, cá nhân tham gia không với tư cách có quyền lực hành chính nhà

nước; hoặc cá nhân công dân, các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh, các tổ chức xã

hội không mang quyền lực hành chính nhà nước

b Khách thể của quan hệ pháp luật hành chính

Là trật tự quản lý hành chính nhà nước Trật tự này được quy định trong từng lĩnh

vực cụ thể và khi tham gia vào quan hệ này, đối tượng mà các chủ thể mong muốn

hướng tới là những lợi ích về vật chất hoặc những lợi ích phi vật chất, nó đóng vai

trò là yếu tố định hướng cho sự hình thành và vận động của một quan hệ pháp luật

hành chính ở đây có sự khác nhau về khách thể của quan hệ pháp luật hành chính

công và tư

Căn cứ chủ yếu vào yếu tố chủ thể và một phần khách thể của quan hệ pháp

luật hành chính, quan hệ pháp luật hành chính được phân thành 2 loại chính

yếu:

a) Quan hệ pháp luật hành chính công

¨ Chủ thể quản lý và chủ thể của quản lý:

· Ðối với chủ thể là cơ quan nhà nước thì năng lực chủ thể xuất hiện từ khi cơ quan

đó được chính thức thành lập và ấn định thẩm quyền, đồng thời chấm dứt khi cơ

quan đó bị giải thể

Trang 21

· Ðối với chủ thể là cán bộ có thẩm quyền thì

* năng lực pháp luật xuất hiện từ khi cán bộ đó được chính thức bổ nhiệm hay Nhànước giao cho một chức vụ nhất định trong bộ máy Nhà nước

* năng lực hành vi là khả năng thực hiện những hành vi trong phạm vi năng lực pháp luật của quyền hạn, chức vụ được bổ nhiệm

· Ðối với chủ thể là tổ chức xã hội được giao thẩm quyền hành chính nhà nước, thì năng lực chủ thể xuất hiện từ khi tổ chức đó được chính thức thành lập và ấn định thẩm quyền theo nội dung công việc cố định, chu kì hoặc theo tình huống cụ thể; thẩm quyền này chấm dứt khi tổ chức đó không còn được ấn định thẩm quyền hànhchính nhà nước

b) Quan hệ pháp luật hành chính tư

a Chủ thể quản lý: giống như chủ thể quản lý của quan hệ pháp luật hành chính công

- Còn năng lực hành vi hành chính của công dân là năng lực của công dân thực hiện được các quyền và nghĩa vụ của mình trên thực tế Năng lực đóù xuất hiện khi công dân đạt một độ tuổi nhất định hay có sức khỏe, trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, lí lịch cá nhân Nói cách khác, đó là khả năng bằng hành vi cá nhân củamình thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong quản lý hành chính Nhà nước và được Nhà nước thừa nhận

Ðối với các chủ thể cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, hoặc cá nhân có thẩm quyềnhành chính nhà nước nhưng tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính cụ thể

Trang 22

không với tư cách ấy thì vẫn là chủ thể của quản lý và có năng lực pháp luật hành chính tương ứng như các chủ thể của quản lý trong quan hệ pháp luật hành chính

c) Mục đích của việc phân chia quan hệ pháp luật hành chính "công" và "tư"

- Nhận ra được sự khác nhau của chủ thể và khách thể của quan hệ pháp luật hành chính, từ đó có phương pháp điều chỉnh hợp lý hơn

+ Hành chính công: mệnh lệnh phục tùng theo thể thức quản lý hành chính

+ Hành chính tư: quyết định của cơ quan hành chính nhà nước phải bảo đảm hợp pháp và hợp lý, thực sự đáp ứng nhu cầu của người dân

- Thấy rõ được phạm vi điều chỉnh của luật hành chính ở tầm rộng, nhận ra bản chất các mối quan hệ pháp luật có nguồn gốc hoặc có khả năng được điều chỉnh, hoặc quan hệ trực tiếp với quan hệ pháp luật hành chính

- Tăng cường sự tham gia của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước phù hợp theo từng lĩnh vực Ðặc biệt là sự tham gia trực tiếp vào việc xây dựng những qui định trong quan hệ pháp luật hành chính tư ở địa phương mình

+ Trước khi qui hoạch (dự thảo đồ án)

+ Sau khi qui hoạch (khiếu nại, khiếu kiện nếu ảnh hưởng đến quyền lợi)

- Khẳng định mục đích chính của quản lý nhà nước là hướng tới nhân dân, với vai trò là "công bộc" của nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước có trách nhiệm phải phục vụ, đáp ứng những nhu cầu và quyền lợi hợp pháp của công dân

- Cải cách hành chính: "cắt khúc" quan hệ pháp luật hành chính theo từng đoạn, xem thủ tục nào còn rườm rà, khâu nào còn chưa hợp lý để có sự cải cách thích hợp, góp phần vào việc cải cách chung "toàn khâu" thể chế hành chính:

+ Thủ tục quan hệ pháp luật hành chính công: Trước hết phải gọn, đồng bộ

+ Thủ tục của quan hệ pháp luật hành chính tư: Trước hết phải nhanh chóng, "phụcvụ" và không gây phiền hà cho nhân dân Thực hiện "một cửa một dấu" là một ví dụ

Trang 23

CHƯƠNG III ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

I KHÁI NIỆM VÀ ÐẶC ÐIỂM CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.

Bộ máy nhà nước là một chỉnh thể thống nhất, được tạo thành bởi các cơ

quan nhà nước Bộ máy nhà nước Việt nam gồm bốn hệ thống cơ quan chính:

cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan toà án và cơ quan kiểm sát

Trang 24

:

2 Phân loại cơ quan hành chính Nhà nước

Việc phân loại các cơ quan hành chính nhà nước được tiến hành dựa trên những căn cứ, những tiêu chuẩn khác nhau Có thể căn cứ vào những quy định của pháp luật, trình tự thành lập, địa giới hoạt động, nguyên tắc tổ chức và quản lý công việc Tùy thuộc vào từng loại căn cứ mà ta có các loại cơ quan hành chính nhà nước sau:

Trang 25

a Theo căn cứ pháp lý để thành lập: cơ quan hành chính nhà nước được phân thành hai

loại:

* Loại 1: Các cơ quan hiến định: là loại cơ quan hành chính nhà nước

+ Do Hiến pháp quy định việc thành lập

+ Ðược thành lập trên cơ sở các đạo luật và văn bản dưới luật

Ðây là các cơ quan hành chính nhà nước mà việc tổ chức, hoạt động của cơ quan

này do hiến pháp quy định bao gồm các cơ quan: Chính phủ, các Bộ, các cơ quan

ngang Bộ, UBND các cấp Ðây là những cơ quan hành chính nhà nước quan trọng

nhất, có vị trí ổn định, tồn tại lâu dài

* Loại 2: Các cơ quan luật định: là cơ quan hành chính nhà nước do luật, các văn

bản dưới luật quy định việc thành lập

+ Ðây là các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn kể cả ở

trung ương và địa phương Bao gồm các tổng cục, các cục, sở, phòng, ban các cơ

quan này là cơ quan chuyên môn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung

+ Ðược thành lập trên cơ sở Hiến pháp, nhưng có tính năng động hơn, phù hợp với

những thay đổi của hoạt động quản lý nhà nước

Cơ quan hành chính nhà nước được phân làm cơ quan hành chính nhà nước ở trung

ương và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

- Cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương: bao gồm Chính phủ, các Bộ, cơ quan

ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

Các cơ quan này hoạt động trên phạm vi toàn quốc, văn bản pháp luật do các cơ

quan này ban hành có hiệu lực trên phạm vi cả nước và có tính bắt buộc thi hành

đối với mọi cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới, với các tổ chức xã hội và mọi

công dân

Trang 26

- Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương: bao gồm UBND các cấp (tỉnh,

huyện, xã), các sở, phòng, ban Ðây là các cơ quan hành chính nhà nước được

thành lập và hoạt động trên một phạm vi lãnh thổ nhất định, các văn bản pháp luật

do các cơ quan này ban hành có hiệu lực trong một phạm vi lãnh thổ nhất định

Tuy có sự phân chia thành cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và cơ quan

hành chính nhà nước ở địa phương nhưng các cơ quan hành chính nhà nước này

luôn tạo thành một thể thống nhất, quan hệ chặt chẽ với nhau trên nguyên tắc tập

trung dân chủ

Tuy vậy, ở mỗi cấp cơ quan hành chính nhà nước, các tên gọi của những đơn vị

hành chính tương đương không giống nhau.Ðiều này, một mặt nói lên rằng, tuy

cùng cấp nhưng các cơ quan này có những chức năng tương đồng, nhưng cũng có

những chức năng riêng biệt, đặc thù Bởi vậy, có sự khác nhau giữa các loại cơ

quan hành chính nhà nước ở cùng một cấp (ví dụ: thành phố trực thuộc trung ương

có một số chức năng không giống tỉnh)

Trang 27

Căn cứ vào phạm vi thẩm quyền thì cơ quan hành chính nhà nước được phân chia thành: Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung và cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn

- Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung: là cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền giải quyết mọi vấn đề trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, đối với các đối tượng khác nhau như cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, công dân Các cơ quan loại này gồm có Chính phủ và UBND các cấp

- Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn: là các cơ quan quản lýtheo ngành hay theo chức năng, hoạt động trong một ngành hay một lĩnh vực nhất định và là cơ quan giúp việc cho cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung

+ ở trung ương có các cơ quan sau: các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

+ ở địa phương có các cơ quan : các Cục, Sở, Phòng, Ban

- Các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn được chia làm hai loại:

+ Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn chuyên ngành: thẩm quyền của các cơ quan này được giới hạn trong một ngành hay một vài ngành có liên quan

Ví dụ: Bộ Công an, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

+ Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn tổng hợp: Là các cơ quan nhà nước có chức năng quản lý chuyên môn tổng hợp

Ví dụ: Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Lao động- thương binh và xã hội

Các cấp

chính quyền

Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền

chung

Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên

môn

Trang 28

Cấp Tỉnh UBND Tỉnh Sở

d Căn cứ vào cách thức tổ chức và giải quyết công việc TOP

Nếu căn cứ vào nguyên tắc tổ chức và giải quyết công việc thì cơ quan hành chính

nhà nước chia thành hai loại sau: (Ðiều 112, 114, 115 và 124 Hiến pháp 1992)

- Các cơ quan tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo: Các cơ quan

này thường giải quyết những công việc và quy định những vấn đề quan trọng có

liên quan đến nhiều lĩnh vực nên cần có sự bàn bạc, đóng góp của nhiều thành

viên Ðây là các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung bao gồm

Chính phủ và UBND các cấp

Trên cơ sở Hiến định (Ðiều 115 và 124 Hiến pháp 1992), những vấn đề quan trọng

thuộc thẩm quyền của Chính phủ, hoặc UBND phải được thảo luận tập thể và

quyết định theo đa số Như vậy, người đứng đầu các cơ quan này (TTCP, Chủ tịch

UBND) có thẩm quyền giải quyết một số vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ

hoặc UBND tương ứng

- Các cơ quan tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc lãnh đạo một người: là các cơ

quan tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc chế độ thủ trưởng một người, đứng đầu

mỗi cơ quan đó là thủ trưởng cơ quan như bộ trưởng, giám đốc các sở, phòng, ban

Họ là những người thay mặt cơ quan ra những quyết định nhằm thực hiện những

nhiệm vụ, công việc và chịu trách nhiệm trước pháp luật

Các cơ quan hoạt động theo chế độ thủ trưởng chủ yếu là những cơ quan đòi hỏi

phải giải quyết công việc mang tính tác nghiệp cao Quyết định của thủ trưởng là

quyết định của cơ quan mang tính đại diện, nhưng chế độ trách nhiệm là trách

nhiệm cá nhân

Những người là cấp phó thủ trưởng, người đứng đầu các bộ phận cơ quan chỉ là

người giúp thủ trưởng cơ quan, thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công, phân cấp

Trang 29

của thủ trưởng cơ quan Tuy vậy, quyết định của thủ trưởng cơ quan là quyết định

cao nhất

II Địa vị pháp lý của cơ quan hành chính Nhà nước

a Chính phủ, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất

¨ Vị trí pháp lý của Chính phủ trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước

1 Chính phủ là một thiết chế chính trị nắm quyền hành pháp, theo nguyên tắc

thống nhất quyền lực nhà nước có sự phân công, phân cấp rành mạch giữa ba

quyền: lập, hành và tư pháp, Chính phủ có chức năng cụ thể là:

+ Có quyền lập qui để thực hiện các luật do cơ quan lập pháp định ra;

+ Quản lý công việc hàng ngày của nhà nước;

+ Quyền tổ chức bộ máy hành chính và quản lý bộ máy đó;

+ Trong phạm vi luật định, có quyền tham gia vào các dự luật, hỗ trợ Quốc hội

trong hoạt động lập pháp

2 Là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa

Việt Nam, Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị,

kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước, đảm bảo

hiệu lực của bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở Là cơ quan điều hành cao

nhất, Chính phủ chỉ đạo tập trung, thống nhất các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan

thuộc Chính phủ, các cấp chính quyền địa phương Chính phủ có toàn quyền quyết

định các vấn đề có liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước trên phạm vi toàn

quốc, trừ các công việc của Quốc hội và UBTV Quốc hội (Ðiều 112 Hiến pháp

1992 và Chương II, Luật tổ chức Chính phủ công bố ngày 10/02/1992)

3 Là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Chính phủ và các thành viên của Chính phủ

chịu sự giám sát của Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo với

Quốc hội Chính phủ phải trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội khi Quốc hội hoặc

đại biểu Quốc hội có yêu cầu

Trang 30

4 Trách nhiệm của Chính phủ và các cơ quan thành viên: Chính phủ do Quốc hội lập ra trong kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Quốc hội Quốc hội bầu TTCP theo đề nghị của Chủ tịch nước, giao cho TTCP đề nghị danh sách các Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ để Quốc hội phê chuẩn Ðiều này xác định ba yếu tố: + Vai trò và trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội;

+ Vai trò cá nhân của TTCP trong việc lãnh đạo toàn bộ công việc của Chính phủ

và chịu trách nhiệm trước Quốc hội Lãnh đạo toàn bộ hoạt động của Chính phủ là Thủ tướng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội, có quyền ra quyết định, chỉ thị, xác định vai trò, trách nhiệm của các thành viên khác trong Chính phủ; xác định trách nhiệm cá nhân của những thành viên này

+ Trách nhiệm cá nhân Bộ trưởng về lĩnh vực mình phụ trách

¨ Thẩm quyền của Chính phủ

- Quyền sáng kiến lập pháp: Trên cơ sở đường lối chính sách pháp luật của Ðảng

và nhà nước, Chính phủ dự thảo:

+ Các văn bản luật trình Quốc hội;

+ Các văn bản pháp lệnh trình UBTV Quốc hội;

+ Các dự án kế hoạch nhà nước và ngân sách nhà nước;

+ Các chính sách lớn về đối nội và đối ngoại của nhà nước

- Quyền lập quy: tức là ban hành những văn bản quản lý dưới luật có tính chất qui phạm pháp luật nhằm:

+ Ðưa ra các chủ trương, biện pháp để thực hiện chính sách, pháp luật;

+ Bảo vệ lợi ích nhà nước;

+ Bảo đảm trật tự xã hội;

+ Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;

Chính phủ có thẩm quyền ban hành nghị quyết, nghị định TTCP có thẩm quyền ban hành quyết định, chỉ thị Trong đó, nghị định của Chính phủ bao giờ cũng là văn bản pháp quy

Trang 31

- Quyền quản lý và điều hành toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội theo đúng đường lối, chủ trương chính sách của Ðảng,văn bản luật của Quốc hội, UBTV Quốc hội và hệ thống văn bản lập quy của Chính phủ

- Quyền xây dựng và lãnh đạo toàn bộ hệ thống tổ chức, các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương tới địa phương, từ cơ quan HCNN có thẩm quyền chung đến

cơ quan HCNN có thẩm quyền chuyên môn

- Quyền tổ chức những đơn vị sản xuất, kinh doanh theo những hình thức thích hợp, lãnh đạo các đơn vị ấy kinh doanh theo đúng kế hoạch, đúng cơ chế, đúng pháp luật

¨ Cơ cấu tổ chức Chính phủ

- Về cơ cấu tổ chức: Chính phủ gồm có Thủ tướng Chính phủ, các Phó thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và các thành viên khác Theo quy định của pháp luật thì Thủ tướng Chính phủ bắt buộc phải là đại biểu Quốc hội

+ Nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội Khi Quốc hội hết nhiệm

kỳ, Chính phủ tiếp tục hoạt động đến khi Quốc hội khóa mới thành lập Chính phủ mới

+ Bộ và các cơ quan ngang bộ do Quốc hội thành lập theo đề nghị của TTCP

- Chính phủ hoạt động bằng 3 hình thức căn bản Hiệu lực của hoạt động Chính phủ là kết quả tổng hợp của cả 3 hình thức, hoạt động sau đây:

+ Hoạt động của tập thể Chính phủ: phiên họp Chính phủ

+ Sự chỉ đạo điều hành của TTCP và các phó Thủ tướng (theo sự phân công của TTCP)

+ Sự hoạt động của các Bộ trưởng với tư cách là thành viên tham gia vào hoạt động Chính phủ, đồng thời cũng là người đứng đầu một Bộ hay cơ quan ngang Bộ

- Chính phủ chỉ hoạt động dưới hai danh nghĩa: tập thể Chính phủ, hoặc cá nhân TTCP Không có danh nghĩa thường vụ hay thường trực Chính phủ bởi vì theo Luật tổ chức Chính phủ hiện hành, không có cơ quan thường trực Chính phủ

Trang 32

- Chính phủ là cơ quan làm việc theo chế độ tập thể, những vấn đề quan trọng của Chính phủ phải được thảo luận và quyết định theo đa số (Ðiều 19 Luật tổ chức Chính phủ)

- Các vấn đề đưa ra Chính phủ thảo luận phải là vấn đề trọng yếu nhất có ý nghĩa quốc gia, có tầm chiến lược, kinh tế, khoa học kỹ thuật chung cho cả nước, cho cácngành và các địa phương trọng yếu cụ thể

¨ Nhiệm vụ và quyền hạn của TTCP

Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ, lãnh đạo công tác của Chính phủ, các thành viên Chính phủ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các cấp Thẩm quyền của TTCP được qui định trong điều 114, Hiến pháp

1992 và Ðiều 20, Luật tổ chức Chính phủ

Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên khác của Chính phủ Trong phạm vi thẩm quyền của mình, TTCP ban hành văn bản quyết định và chỉ thị

Ðể đảm bảo vai trò chỉ đạo của TTCP, đồng thời phát huy khả năng sáng tạo chủ động của các phó TTCP và các Bộ trưởng, cần phải:

+ Phó Thủ tướng được phân công phụ trách khối hay lĩnh vực hoặc giúp Thủ tướngchỉ đạo việc phối hợp các công việc giữa các Bộ trưởng phải bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của TTCP

+ Trong phạm vi quyền hạn được qui định và được giao, các phó TTCP và các Bộ trưởng phải chủ động trong hoạt động của mình Tuy vậy, vẫn phải đảm bảo việc phối hợp và điều hoà chung trong Chính phủ, bởi vì quyết định của tập thể Chính phủ là quyết định cao nhất của cơ quan hành pháp nước CHXHCN Việt nam

b Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ

¨ Bộ, cơ quan ngang Bộ (gọi tắt là cơ quan cấp Bộ) là cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ở trung ương; là cơ quan chuyên môn được

tổ chức theo chế độ thủ trưởng một người, đứng đầu là các Bộ trưởng hay Chủ nhiệm ủy ban Các cơ quan cấp Bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo ngành (quản lý chức năng, quản lý liên ngành) hay đối với lĩnh vực (quản lý tổng hợp) trên phạm vi toàn quốc (Ðiều 2 Luật tổ chức Chính phủ) Cụ thể như sau:

Trang 33

- Bộ quản lý theo lĩnh vực là cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo từng lĩnh vực lớn, ví dụ như: kế hoạch, tài chính, khoa học, công nghệ, lao động, giá cả, nội vụ, ngoại giao, tổ chức

và công vụ Các lĩnh vực này liên quan đến hoạt động tất cả các Bộ, các cấp quản

lý nhà nước, tổ chức xã hội và công dân

- Bộ quản lý theo lĩnh vực có những nhiệm vụ:

+ Giúp Chính phủ nghiên cứu và xây dựng chiến lược kinh tế-xã hội chung;

+ Xây dựng các dự án kế hoạch tổng hợp và cân đối liên ngành; xây dựng các qui định chính sách, chế độ chung

+ Kiểm tra và bảo đảm sự chấp hành thống nhất pháp luật trong hoạt động của các

Bộ và các cấp về lĩnh vực mình quản lý;

+ Phục vụ và tạo điều kiện cho các Bộ quản lý ngành hoàn thành nhiệm vụ

- Bộ quản lý ngành là cơ quan Nhà nước Trung ương của Chính phủ, có trách nhiệm quản lý những ngành kinh tế-kỹ thuật, văn hoá, xã hội, ví dụ như: nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, thương mại, văn hoá thông tin, giáo dục, y tế Bộ quản lý ngành có thể tập hợp với nhau thành một hoặc một nhómliên quan rộng.Nó có trách nhiệm chỉ đạo toàn diện các cơ quan, đơn vị hành chính

sự nghiệp, kinh doanh do mình quản lý về mặt nhà nước

¨ Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ là thủ trưởng cao nhất của

Bộ hay cơ quan ngang Bộ

- Bộ trưởng, một mặt là thành viên của Chính phủ, tham gia quyết định

những vấn đề thuộc thẩm quyền chung của Chính phủ; mặt khác là thủ

trưởng người đứng đầu Bộ thực hiện quyền hành pháp, tức là người đứng đầu hệ thống hành chính Nhà nước đối với ngành hay lĩnh vực, để quản lý ngành hay lĩnh vực được giao trong phạm vi cả nước

- Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu sự lãnh đạo của Thủ tướng Chính phủ, chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực, ngành mình phụ trách trên phạm vi cả nước, bảo đảm sự tuân thủ pháp luật trong ngành, lĩnh vực; chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về lĩnh vực, ngành mình phụ trách

Trang 34

¨ Các cơ quan thuộc Chính phủ là những cơ quan có chức năng gần ngang Bộ như Tổng cục du lịch, Tổng cục hải quan, Tổng cục thống kê Thủ trưởng các

cơ quan này không phải là thành viên của Chính phủ, họ có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ nhưng không có quyền biểu quyết

¨ Mối quan hệ giữa ngành và Bộ:

- Bộ là một phạm trù tổ chức nhà nước, là cơ quan Trung ương quản lý nhà nước, hoạt động theo nguyên tắc tổ chức hành chính nhà nước

- Ngành (ví dụ như ngành kinh tế-kỹ thuật) là một phạm trù kinh tế, và các tổ chức liên hiệp ngành, hoạt động theo nguyên tắc và phương thức kinh doanh

- Không nhất thiết khi có một ngành hình thành do chuyên môn hoá ngày càng sâu thì phải có một Bộ chủ quản Bởi vì trên thực tế, do xu hướng ngày càng mở rộng quyền tự chủ kinh doanh cho xí nghiệp, cho nên ngày càng xuất hiện nhiều ngành phân chia rất hẹp.Ðiều đó, cần sự quản lý bao quát hơn của Bộ, chứ không phải lúcnào cũng thành lập một Bộ riêng

¨ Mối quan hệ giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ nếu

có mối liên hệ với nhau, phải có trách nhiệm tôn trọng quyền quản lý của nhau,

phối hợp thực hiện những nhiệm vụ của nhà nước

c Ủy ban Nhân dân các cấp

- UBND do HÐND bầu ra, là cơ quan chấp hành của HÐND, nó là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có chức năng và nhiệm vụ chấp hành hiến pháp, luật,các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HÐND cùng cấp

- Nhiệm vụ và quyền hạn của UBND được quy định cụ thể trong Hiến pháp 1992

và Luật tổ chức HÐND và UBND (Ðiều 42, Luật sửa đổi);

Ngày đăng: 25/08/2021, 11:11

w