Bảo hiểm là một trong những chính sách lớn của Đảng, Nhà nước và xã hội quan tâm, bảo hiểm là hoạt động tài chính quan trọng nhằm mục đích góp phần bình ổn thị trường tài chính trong nền kinh tế thị trường, nó vừa là điều kiện để khắc phục hậu quả khi có rủi ro, vừa là công cụ quan trọng trong việc huy động vốn, điều hành và sử dụng các nguồn vốn nhà dỗi trong nhân dân nói riêng và trong nền kinh tế xã hội nói chung. Nhà nước đặc biệt coi trọng lĩnh vực này, Bảo hiểm xã hội là một bộ phận cấu thành của bảo hiểm nói chung và cũng góp phần vào thực hiện mục tiêu của bảo hiểm nói chung. Chính sách Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam đã trải qua chặng đuờng dài trên nửa thế kỷ, có thể chia thành hai thời kỳ chính: Thời kỳ bao cấp, trước khi có Bộ luật lao động, đối tượng tham gia BHXH chỉ giới hạn với cán bộ, công nhân, viên chức làm việc trong khu vực Nhà nước và lực lượng vũ trang và thời kỳ sau khi có Bộ luật lao động theo hướng xoá bỏ bao cấp thì thành phần tham gia bảo hiểm xã hội ngày càng mở rộng đến nhiều đối tượng khác nhau. Sau Đại hội VI của Đảng, nước ta thực hiện chính sách đổi mới toàn diện, đặc biệt trong chính sách kinh tế đã chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước. Trong bối cảnh đó, quan hệ lao động theo cơ chế mới (cơ chế thị trường) cũng dần được hình thành, người lao động mọi thành phần kinh tế được bình đẳng trước pháp luật, thị trường lao động phát triển, người lao động có quyền tự do tìm kiếm việc làm. Thực tế này đòi hỏi phải có những thay đổi tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính sách bảo hiểm xã hội nói riêng. Năm 1994 tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá IX đã thông qua Bộ luật lao động, Bộ luật lao động đã quy định một chương riêng về chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc và chi với 5 chế độ khác nhau như: ốm đau, thai sản, tai nạn và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất. Ngày 29 tháng 6 năm 2006 luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 9 thông qua. Có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 01 năm 2007. Ngày 16 tháng 02 năm 1995 Bảo hiểm xã hội Việt Nam được thành lập, sau hơn 19 năm thực hiện, việc đổi mới chính sách bảo hiểm xã hội, xã hội có nhiều bước tiến quan trọng, thích nghi dần với nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội được mở rộng đến mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế và với nhiều hình thức tham gia khác nhau. Kết quả hoạt động trong thời gian qua của bảo hiểm xã hội Việt Nam đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc chuyển đổi chính sách bảo hiểm xã hội. Có thể nói qua hơn 19 năm xây dựng, đổi mới và phát triển bảo hiểm xã hội nước ta hiện nay đã được nhiều nước trong khu vực và tổ chức lao động quốc tế đánh giá là có nhiều tiến bộ vượt bậc và có những kết quả thần kỳ mà hiếm có nước nào phát triển kịp. Có được kết quả đó là nhờ sự lãnh, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, của Chính phủ, sự cố gắng, nỗ lực của đội ngũ cán bộ, công chức ngành bảo hiểm xã hội và đặc biệt là sự tham gia ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước. Thực hiện thắng lợi mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp, các cấp, các ngành đều cố gắng, nỗ lực để đạt mục tiêu chung đó. Đối với ngành bảo hiểm xã hội cũng vậy, cũng cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho. Thực hiện mục tiêu trên, trong những năm qua, hầu hết các địa phương trong cả nước đều tiến hành mở rộng và phát triển các khu, cụm công nghiệp khác nhau với nhiều chính sách thu hút đầu tư như ưu đãi thuế, đất...Khi thu hút được đầu tư xong, các nhà máy, xí nghiệp mọc lên và công nhân ở khắp mọi nơi đổ về lao động thì một vấn đề mà ít cơ quan quản lý nào quan tâm sát sao đó chính là chính sách bảo hiểm xã hội đối với người lao động theo quy định của pháp luật. Đây chính là kẽ hở trong quản lý làm cơ sở cho không ít những doanh nghiệp trong nước và cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lợi dụng không thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội với người lao động là thiệt hại không nhỏ đến thu nhập của người lao động. Hiện nay, những việc vi phạm đó vẫn diễn ra thường xuyên mà các cơ quan quản lý không hề hay biết. Các công ty được lợi thì quyền lợi của người lao động bị vi phạm, tổ chức công đoàn của công ty không dám lên tiếng vì lãnh đạo công ty có hành vi đe dọa đến việc làm của người lao động... Được học tập, nghiên cứu qua lớp quản lý nhà nước ngạch chuyên viên năm 2014 tại trường Chính trị tỉnh Bắc Giang, với những kiến thức thu được trên lớp và với tư cách là cán bộ công tác ngành bảo hiểm xã hội, em đưa ra tình huống vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Qua nội dung và hướng giải quyết tình huống, tác giả muốn đề cao tinh thần và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, đặc biệt là lợi ích từ việc được đóng bảo hiểm xã hội nhằm góp phần ổn định cuộc sống của người lao động trong các khu và cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng và cả nước nói chung.
Trang 1A LỜI NÓI ĐẦU
Bảo hiểm là một trong những chính sách lớn của Đảng, Nhà nước và
xã hội quan tâm, bảo hiểm là hoạt động tài chính quan trọng nhằm mụcđích góp phần bình ổn thị trường tài chính trong nền kinh tế thị trường, nóvừa là điều kiện để khắc phục hậu quả khi có rủi ro, vừa là công cụ quantrọng trong việc huy động vốn, điều hành và sử dụng các nguồn vốn nhàdỗi trong nhân dân nói riêng và trong nền kinh tế - xã hội nói chung Nhànước đặc biệt coi trọng lĩnh vực này, Bảo hiểm xã hội là một bộ phận cấuthành của bảo hiểm nói chung và cũng góp phần vào thực hiện mục tiêucủa bảo hiểm nói chung Chính sách Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam đã trảiqua chặng đuờng dài trên nửa thế kỷ, có thể chia thành hai thời kỳ chính:Thời kỳ bao cấp, trước khi có Bộ luật lao động, đối tượng tham gia BHXHchỉ giới hạn với cán bộ, công nhân, viên chức làm việc trong khu vực Nhànước và lực lượng vũ trang và thời kỳ sau khi có Bộ luật lao động theohướng xoá bỏ bao cấp thì thành phần tham gia bảo hiểm xã hội ngày càng
mở rộng đến nhiều đối tượng khác nhau
Sau Đại hội VI của Đảng, nước ta thực hiện chính sách đổi mới toàndiện, đặc biệt trong chính sách kinh tế đã chuyển đổi nền kinh tế kế hoạchhoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hộichủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước Trong bối cảnh đó, quan hệ laođộng theo cơ chế mới (cơ chế thị trường) cũng dần được hình thành, ngườilao động mọi thành phần kinh tế được bình đẳng trước pháp luật, thị trườnglao động phát triển, người lao động có quyền tự do tìm kiếm việc làm.Thực tế này đòi hỏi phải có những thay đổi tương ứng về chính sách xã hộinói chung và chính sách bảo hiểm xã hội nói riêng Năm 1994 tại kỳ họpthứ 5 Quốc hội khoá IX đã thông qua Bộ luật lao động, Bộ luật lao động đãquy định một chương riêng về chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc và chivới 5 chế độ khác nhau như: ốm đau, thai sản, tai nạn và bệnh nghề nghiệp,hưu trí và tử tuất
Trang 2Ngày 29 tháng 6 năm 2006 luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội khoá
XI kỳ họp thứ 9 thông qua Có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 01 năm 2007
Ngày 16 tháng 02 năm 1995 Bảo hiểm xã hội Việt Nam được thànhlập, sau hơn 19 năm thực hiện, việc đổi mới chính sách bảo hiểm xã hội, xãhội có nhiều bước tiến quan trọng, thích nghi dần với nền kinh tế thị trường
và hội nhập quốc tế Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội được mở rộngđến mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế và với nhiều hìnhthức tham gia khác nhau
Kết quả hoạt động trong thời gian qua của bảo hiểm xã hội Việt Nam
đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việcchuyển đổi chính sách bảo hiểm xã hội Có thể nói qua hơn 19 năm xâydựng, đổi mới và phát triển bảo hiểm xã hội nước ta hiện nay đã đượcnhiều nước trong khu vực và tổ chức lao động quốc tế đánh giá là có nhiềutiến bộ vượt bậc và có những kết quả thần kỳ mà hiếm có nước nào pháttriển kịp Có được kết quả đó là nhờ sự lãnh, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước,của Chính phủ, sự cố gắng, nỗ lực của đội ngũ cán bộ, công chức ngànhbảo hiểm xã hội và đặc biệt là sự tham gia ủng hộ của mọi tầng lớp nhândân trong cả nước
Thực hiện thắng lợi mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra đến năm
2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp, các cấp, các ngành đều
cố gắng, nỗ lực để đạt mục tiêu chung đó Đối với ngành bảo hiểm xã hộicũng vậy, cũng cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình mà Đảng, Nhànước và nhân dân giao cho Thực hiện mục tiêu trên, trong những năm qua,hầu hết các địa phương trong cả nước đều tiến hành mở rộng và phát triểncác khu, cụm công nghiệp khác nhau với nhiều chính sách thu hút đầu tưnhư ưu đãi thuế, đất Khi thu hút được đầu tư xong, các nhà máy, xí nghiệpmọc lên và công nhân ở khắp mọi nơi đổ về lao động thì một vấn đề mà ít
cơ quan quản lý nào quan tâm sát sao đó chính là chính sách bảo hiểm xãhội đối với người lao động theo quy định của pháp luật Đây chính là kẽ hở
Trang 3doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lợi dụng không thực hiện chế độbảo hiểm xã hội với người lao động là thiệt hại không nhỏ đến thu nhập củangười lao động Hiện nay, những việc vi phạm đó vẫn diễn ra thường xuyên
mà các cơ quan quản lý không hề hay biết Các công ty được lợi thì quyềnlợi của người lao động bị vi phạm, tổ chức công đoàn của công ty khôngdám lên tiếng vì lãnh đạo công ty có hành vi đe dọa đến việc làm của ngườilao động
Được học tập, nghiên cứu qua lớp quản lý nhà nước ngạch chuyênviên năm 2014 tại trường Chính trị tỉnh Bắc Giang, với những kiến thứcthu được trên lớp và với tư cách là cán bộ công tác ngành bảo hiểm xã hội,
em đưa ra tình huống vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội của doanh nghiệpngoài quốc doanh Qua nội dung và hướng giải quyết tình huống, tác giảmuốn đề cao tinh thần và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước cóliên quan trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động,đặc biệt là lợi ích từ việc được đóng bảo hiểm xã hội nhằm góp phần ổnđịnh cuộc sống của người lao động trong các khu và cụm công nghiệp trênđịa bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng và cả nước nói chung
Trang 4B NỘI DUNG
I Mô tả tình huống
Vào một buổi chiều ngày nghỉ cuối tuần, tôi dành chút thời gian đithăm một người bạn, tình cờ tôi gặp cháu Vui con gái người bạn cũ Quacâu chuyện xã giao, cháu Vui biết tôi đang công tác tại bảo hiểm xã hộihuyện B Cháu Vui liền hỏi tôi về trường hợp của cháu và bạn của mình là
An và Minh làm việc cùng Công ty Trường hợp của các cháu cụ thể nhưsau:
Vui, An và Minh cùng vào làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạnThịnh Đức và được nhận vào làm việc theo thông báo tuyển lao động củaCông ty tháng 10 năm 2007, khi được tuyển vào Công ty họ phải qua thờigian làm việc thử là 01 tháng (không lương) Sau khi hết thời gian thử việc
do làm tốt nhiệm vụ, họ được Công ty chính thức ký hợp đồng lao động vớithời hạn 3 tháng bắt đầu từ 01 tháng 12 năm 2007 đến 28 tháng 02 năm
2008 với mức lượng khởi điểm là 400.000đ/người/tháng không có phụ cấp,không được hưởng chế độ gì Khi hết thời hạn hợp đồng 3 tháng Công tylại ký tiếp hợp đồng lao động với cả 3 người là 6 tháng bắt đầu từ ngày 01tháng 3 năm 2008 đến 30 tháng 8 năm 2008 với mức lương là500.000đ/người/tháng, không có phụ cấp, không được hưởng chế độ gì.Sau khi hết hợp đồng lao động Công ty tiếp tục ký hợp đồng lao động 01năm với cả 3 người bắt đầu từ ngày 01 tháng 9 năm 2008 đến ngày 30tháng 8 năm 2009 với mức lương 600.000đ/người/tháng, không phụ cấp,không được hưởng chế độ gì Sau đó đến tháng 9 năm 2009 Công ty tiếptục ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với Vui và An từ 01tháng 9 năm 2009 với mức lương thuộc ngạch Trung cấp kế toán mà Vui và
An hiện đang làm kế toán tại Công ty là 1,86 x 650.000đ = 1.209.000đcùng phụ cấp ăn trưa là 150.000đ/người/tháng Còn Minh cũng được kýhợp đồng lao động không xác định thời hạn từ ngày 01 tháng 9 năm 2009
Trang 5Sau đó Công ty hứa sẽ cho các lao động hợp đồng tham gia bảo hiểm xãhội nhưng đến thời điểm tôi gặp Vui (tháng 6 năm 2010) thì Vui, An vàMinh vẫn chưu được tham gia bảo hiểm xã hội Trong thời gian này Minhnghỉ sinh cháu 03 tháng từ ngày 15 tháng 12 năm 2009 đến ngày 15 tháng
03 năm 2010 nhưng Công ty chỉ trợ cấp cho Minh 1.500.000đ Hiện tạiCông ty có 32 lao động, trong đó 22 lao động đã được đăng ký tham giađóng bảo hiểm xã hội, còn 10 lao động chưa được tham gia đóng bảo hiểm
xã hội, trong 10 lao động này có Vui, An, Minh là 3 lao động đã công tácgần 3 năm, còn 7 lao động được tuyển vào từ ngày 15 tháng 11 năm 2007cũng chưa được tham gia đóng bảo hiểm xã hội để được hưởng chế độ bảohiểm xã hội của người lao động Trong khi đó Công đoàn Công ty khôngdám đấu tranh để bảo vệ quyền lợi cho người lao động Vì trước đây cóđồng chí Sơn – uỷ viên Ban chấp hành Công đoàn Công ty đã đứng lên đấutranh đòi hỏi quyền lợi cho đồng chí Hồng một lao động trong Công ty.Nhưng sau đó đã bị Ban giám đốc Công ty xa thải buộc thôi việc không lý
do, từ đó dẫn đến Công đoàn Công ty hiện nay hầu như chỉ hoạt động mangtính hình thức mà không có tiếng nói gì để bảo vệ người lao động trongcông ty
Ngày 15 tháng 3 năm 2010 bảo hiểm xã hội huyện B đơn vị đượcphân cấp quản lý thu bảo hiểm xã hội đối với Công ty trách nhiệm hữu hạnThịnh Đức, đến kiểm tra tình hình việc thực hiện tham gia đóng bảo hiểm
xã hội đối với công nhân của Công ty Bảo hiểm xã hội huyện B đã lập biênbản số 03/BBKT-BHXH ngày 16/3/2010 với nội dung yêu cầu Công tytrách nhiệm hữu hại Thịnh Đức đến Bảo hiểm xã hội huyện B làm thủ tục
hồ sơ đăng ký đóng bảo hiểm xã hội cho 10 lao động hợp đồng còn lại củacông ty Sau khi biên bản số 03/BBKT-BHXH được lập đến nay đã 3 thángnhưng số lao động hợp đồng tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Thịnh Đứcvẫn chưa được tham gia bảo hiểm xã hội
Trang 6II Mục tiêu xử lý tình huống
Qua tình huống trên ta thấy có nhiều vấn đề cần phải xem xét làm rõnhằm không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, kỷ cương trật tự
xã hội đồng thời một mặt bảo vệ lợi ích của Nhà nước, mặt khác bảo vệ lợiích của công dân
Để giải quyết được yêu cầu đó cần phải làm rõ một số vấn đề sau:
1- Hành vi vi phạm của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thịnh Đức
trong việc bảo đảm quyền lợi cho người lao động và thực hiện các chế độvới người lao động
2- Hành vi Công ty trách nhiệm hữu hạn Thịnh Đức trong việc cản
trở hoạt động công đoàn tại Công ty
3- Hành vi cố tình không đến đóng bảo hiểm cho 10 lao động hợp
đồng còn lại của công ty trách nhiệm hữu hạn Thịnh Đức sau 3 tháng lậpbiên bản là hành vi coi thường pháp luật
4- Thẩm quyền của Bảo hiểm xã hội huyện B trong việc quản lý các
đơn vị sử dụng lao động thực hiện chế độ Bảo hiểm xã hội cụ thể là Công
ty trách nhiệm hữu hạn Thịnh Đức
5- Việc thực hiện chế độ Bảo hiểm xã hội với Vui, An và Minh.
Căn cứ vào những quy định của pháp luât Bảo hiểm xã hội, luật laođộng, một mặt cần xem xét làm rõ những vấn đề trên, mặt khác cần đề xuấtphương án giải quyết tối ưu nhất đối với tình huống Đồng thời rút ranhững bài học kinh nghiệm trong quản lý hành chính nói chung và quản lýviệc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động nói riêng
Trang 7III Nguyên nhân và hậu quả
1 Nguyên nhân xảy ra các sự kiện
Mặc dù chính sách bảo hiểm xã hội là quyền lợi của người lao độngđược pháp luật bảo vệ, tuy nhiên không ít người sử dụng lao động lại viphạm pháp luật về bảo hiểm xã hội Những vấn đề nêu trên do một sốnguyên nhân chính sau:
Thứ nhất, có nhiều chủ sử dụng lao động tuy hiểu biết pháp luật có
khả năng tài chính nhưng lại thiếu trách nhiệm, cố tình lách luật và tìm mọicách để lẩn trách nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc chiếm dụngtiền đóng bảo hiểm xã hội Bên cạnh đó có những doanh nghiệp sản xuấtkinh doanh gặp nhiều khó khăn, thua lỗ, không đủ khả năng để đóng bảohiểm xã hội
Thứ hai, công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội ở doanh
nghiệp ngoài quốc doanh nhiều địa phương thiếu chặt chẽ
Cơ quan lao động- thương binh và xã hội và cơ quan bảo hiểm xã hộichưa xác định được chính xác số lượng người lao động bắt buộc phải thamgia bảo hiểm xã hội; việc phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước trongđăng ký quản lý lao động còn thiếu chặt chẽ Mặc dù pháp luật quy địnhbắt buộc các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sau khi đăng ký hoạt độngkinh doanh phải đăng ký lao động với cơ quan lao động và bảo hiểm xã hộisong rất nhiều doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân không thực hiện quy địnhnày mà cũng không bị xử lý mặc dù các cơ quan quản lý biết Cá biệt ở một
số địa phương chính quyền cho rằng bảo hiểm xã hội là cơ quan thuộcTrung ương nên không thường xuyên quan tâm chỉ đạo
Sự thiếu trách nhiệm của cơ quan Bảo hiểm xã hội vì ở hầu hết cácđịa phương cơ quan Bảo hiểm xã hội hoạt động mang tính hành chính, chỉthụ động ngồi chờ các doanh nghiệp, tổ chức đến đăng ký tham gia Bảohiểm xã hội Bên cạnh đó Bảo hiểm xã hội cũng chưa quan tâm đúng mứcđến việc phổ biến, tuyên truyền, giải thích chính sách Bảo hiểm xã hội để
Trang 8chủ sử dụng lao động và người lao động có đủ thông tin, hiểu biết về tính
ưu việt của chính sách Bảo hiểm xã hội, từ đó lôi cuốn họ tham gia Bảohiểm xã hội một cách tự giác
Thứ ba, công tác kiểm tra, thanh tra thực hiện chính sách Bảo hiểm
xã hội của cơ quan quản lý nhà nước chưa thường xuyên, nguyên nhânchính là do thiếu trầm trọng số lượng cán bộ thanh tra lao động và yếu vềchất lượng chuyên môn của cán bộ
Chế tài xử phạt hành vi vi phạm chính sách Bảo hiểm xã hội trongnhiều năm qua chưa đủ mạnh cho nên nhiều người sử dụng lao động còncoi thường
Thứ tư, công đoàn là tổ chức đại diện cho người lao động, có chức
năng rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động Tuynhiên một số nơi có tổ chức công đoàn nhưng hoạt động lại rất yếu, cán bộcông đoàn do người sử dụng lao động trả lương và sợ mất việc làm nênkhông dám đấu tranh
Thứ năm, do sức ép về việc làm và nhận thức chưa đầy đủ về tính ưu
việt của chính sách Bảo hiểm xã hội và những nguy cơ rủi ro về thu nhập
và việc làm trong cơ chế thị trường cho nên không ít người lao động nhất làlao động từ các vùng nông thôn khó khăn đã không phản đối khi người sửdụng lao động không đóng Bảo hiểm xã hội cho họ, thậm chí còn có thái độđồng tình cho rằng mình chỉ lao động trong một thời gian, kiếm một số vốnrồi tìm việc khác, chưa cần chế độ bảo hiểm và còn được lợi trước mắt làkhông mất 5% tiền lương đóng Bảo hiểm xã hội
Thứ sáu, sự bất cập trong hệ thống các văn bản quản lý nhà nước quá
nhiều và chồng chéo, hiện có 128 văn bản hướng dẫn chế độ Bảo hiểm xãhội từ Bộ luật lao động, Luật Bảo hiểm xã hội đến công văn của nhiều cơquan Bộ, ngành ban hành nên rất khó khăn cho quản lý, người sử dụng laođộng cũng như người lao động hiểu và nắm vững chế độ, cập nhật thông tin
để thực hiện đúng quy định
Trang 92 Hậu quả
Thứ nhất, gây thiệt hại trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của
người lao động trong thời gian dài, ảnh hưởng đến hiệu quả lao động cũngnhư gây tâm lý ức chế trong quá trình thực hiện công việc
Thứ hai, Vai trò của tổ chức công đoàn trong công ty chỉ hoạt động
theo hình thức, không có tiếng nói gì trong bảo vệ quyền lợi của người laođộng, làm cho uy tín của tổ chức công đoàn giảm xút nghiêm trọng vìkhông giám tự đấu tranh để bảo vệ lợi ích chung
Thứ ba, sự thiếu trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong quá trình
quản lý đối với hoạt động của doanh nghiệp làm giảm lòng tin, uy tín củangười lao động với các cơ quan quản lý, đặc biệt là cơ quan Bảo hiểm xãhội của huyện B
Thứ tư, từ sự thiếu trách nhiệm của các cơ quan quản lý có liên quan
dẫn đến hành vi coi thường của công ty trách nhiệm hữu hạn Thịnh Đức, vìsau 3 tháng lập biên bản về việc làm sai phạm của họ mà họ vẫn ngangnhiên hoạt động, không đến cơ quan bảo hiểm để làm thủ tục đóng bảohiểm lao động cho 10 lao động còn lại của công ty
Thứ năm, từ những hậu quả trên dẫn đến sự vi phạm pháp chế
nghiêm trọng của doanh nghiệp và sự thiếu trách nhiệm của các cơ quanquản lý nhà nước có liên quan
Trang 10IV Phõn tớch và lựa chọn phương ỏn giải quyết
1 Cơ sở phỏp lý giải quyết tỡnh huống
Để giải quyết tỡnh huống này triệt để nhất cần phải dựa trờn một sốvăn bản phỏp luật sau:
1 Bộ luật lao động của nước CHXHCN Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2002).
* Điều 32 Bộ luật lao động quy định:
“Ngời sử dụng lao động và ngời lao động thoả thuận vềviệc làm thử, thời gian thử việc, về quyền, nghĩa vụ của haibên Tiền lơng của ngời lao động trong thời gian thử việc ítnhất phải bằng 70% mức lơng cấp bậc của công việc đó Thờigian thử việc không đợc quá 60 ngày đối với lao động chuyênmôn kỹ thuật cao và không đợc quá 30 ngày đối với lao độngkhác
Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoảthuận làm thử mà không cần báo trớc và không phải bồi thờngnếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì ngời sử dụng lao động phảinhận ngời lao động vào làm việc chính thức nh đã thoảthuận.”
* Điều 29 Bộ luật lao động quy định:
“1- Hợp đồng lao động phải có những nội dung chủ yếusau đây: công việc phải làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉngơi, tiền lơng, địa điểm làm việc, thời hạn hợp đồng, điềukiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội
đối với ngời lao động
2- Trong trờng hợp một phần hoặc toàn bộ nội dung củahợp đồng lao động quy định quyền lợi của ngời lao động thấp
Trang 11hơn mức đợc quy định trong pháp luật lao động, thoả ớc lao
động tập thể, nội quy lao động đang áp dụng trong doanhnghiệp hoặc hạn chế các quyền khác của ngời lao động thìmột phần hoặc toàn bộ nội dung đó phải đợc sửa đổi, bổsung
3- Trong trờng hợp phát hiện hợp đồng lao động có nộidung nói tại khoản 2 Điều này, thì Thanh tra lao động hớng dẫncho các bên sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Nếu các bên khôngsửa đổi, bổ sung thì Thanh tra lao động có quyền buộc huỷ
bỏ các nội dung đó.”
* Điều 114 Bộ luật lao động quy định:
“1- Ngời lao động nữ đợc nghỉ trớc và sau khi sinh con,cộng lại từ bốn đến sáu tháng do Chính phủ quy định, tuỳtheo điều kiện lao động, tính chất công việc nặng nhọc, độchại và nơi xa xôi hẻo lánh Nếu sinh đôi trở lên thì tính từ conthứ hai trở đi, cứ mỗi con, ngời mẹ đợc nghỉ thêm 30 ngày.Quyền lợi của ngời lao động nữ trong thời gian nghỉ thai sản
đợc quy định tại Điều 141 và Điều 144 của Bộ luật này
2- Hết thời gian nghỉ thai sản quy định tại khoản 1 Điềunày, nếu có nhu cầu, ngời lao động nữ có thể nghỉ thêm mộtthời gian không hởng lơng theo thoả thuận với ngời sử dụng lao
động Ngời lao động nữ có thể đi làm việc trớc khi hết thờigian nghỉ thai sản, nếu đã nghỉ ít nhất đợc hai tháng sau khisinh và có giấy của thầy thuốc chứng nhận việc trở lại làm việcsớm không có hại cho sức khoẻ và phải báo cho ngời sử dụng lao
động biết trớc Trong trờng hợp này, ngời lao động nữ vẫn tiếptục đợc hởng trợ cấp thai sản, ngoài tiền lơng của những ngàylàm việc.”
Trang 12* Điều 141 Bộ luật lao động quy định: Đối tượng ỏp dụng Bảo hiểm
xó hội bắt buộc và cỏc chế độ trợ cấp Bảo hiểm xó hội người lao động đượchưởng
“1- Loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc đợc áp dụng đốivới doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động làmviệc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên
và hợp đồng lao động không xác định thời hạn ở nhữngdoanh nghiệp, cơ quan, tổ chức này, ngời sử dụng lao động,ngời lao động phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại
Điều 149 của Bộ luật này và ngời lao động đợc hởng các chế
độ trợ cấp bảo hiểm xã hội ốm đau, tai nạn lao động, bệnhnghề nghiệp, thai sản, hu trí và tử tuất
2- Đối với ngời lao động làm việc theo hợp đồng lao động
có thời hạn dới ba tháng thì các khoản bảo hiểm xã hội đợc tínhvào tiền lơng do ngời sử dụng lao động trả theo quy định củaChính phủ, để ngời lao động tham gia bảo hiểm xã hội theoloại hình tự nguyện hoặc tự lo liệu về bảo hiểm Khi hết hạnhợp đồng lao động mà ngời lao động tiếp tục làm việc hoặcgiao kết hợp đồng lao động mới, thì áp dụng chế độ bảo hiểmxã hội bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều này."
* Điều 149: “Mức đúng Bảo hiểm xó hội và sự hỡnh thành của nguồnquỹ”
“1- Quỹ bảo hiểm xã hội đợc hình thành từ các nguồn sau đây:
a) Ngời sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lơng;b) Ngời lao động đóng bằng 5% tiền lơng;
c) Nhà nớc đóng và hỗ trợ thêm để bảo đảm thực hiện các chế độ bảohiểm xã hội đối với ngời lao động;
d) Tiền sinh lời của quỹ;
đ) Các nguồn khác