1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TL vi pham cua doanh nghiep BHXH

22 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 200 KB
File đính kèm TL vi pham cua doanh nghiep BHXH.rar (41 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. MỞ ĐẦU Bảo hiểm nói chung và Bảo hiểm xã hội (BHXH) nói riêng là một trong những chính sách lớn của Đảng, Nhà nước, là hoạt động tài chính quan trọng nhằm mục đích góp phần bình ổn thị trường tài chính trong nền kinh tế thị trường, nó vừa là điều kiện để khắc phục hậu quả khi có rủi ro, vừa là công cụ quan trọng trong việc huy động vốn, điều hành và sử dụng các nguồn vốn nhàn dỗi trong nhân dân nói riêng và trong nền kinh tế xã hội nói chung. Chính sách Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam đã trải qua chặng đường dài trên nửa thế kỷ, có thể chia thành hai thời kỳ chính: Thời kỳ bao cấp, trước khi có Bộ luật lao động, đối tượng tham gia BHXH chỉ giới hạn với cán bộ, công nhân, viên chức làm việc trong khu vực Nhà nước và lực lượng vũ trang và thời kỳ sau khi có Bộ luật lao động theo hướng xoá bỏ bao cấp thì thành phần tham gia bảo hiểm xã hội ngày càng mở rộng đến nhiều đối tượng khác nhau, từng bước tiến tới bảo hiểm toàn dân. Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XI và có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 01 năm 2007; ngày 20112014, Quốc hội khóa XIII thông qua luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và có hiệu lực từ ngày 01012016. Bảo hiểm xã hội Việt Nam được thành lập từ ngày 16 tháng 02 năm 1995, sau hơn 17 năm thực hiện, việc đổi mới chính sách bảo hiểm xã hội, xã hội có nhiều bước tiến quan trọng, thích nghi dần với nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội được mở rộng đến mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế và với nhiều hình thức tham gia khác nhau. Để đạt mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp, các cấp, các ngành đều cố gắng, nỗ lực vì mục tiêu chung đó. Đối với ngành bảo hiểm xã hội cũng vậy, cũng cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Điều đó được thể hiện trong những năm qua, hầu hết các địa phương trong cả nước đều tiến hành mở rộng và phát triển các khu, cụm công nghiệp khác nhau với nhiều chính sách thu hút đầu tư như ưu đãi thuế, đất...Khi thu hút được đầu tư xong, các nhà máy, xí nghiệp mọc lên và công nhân ở khắp mọi nơi đổ về lao động thì một vấn đề mà ít cơ quan quản lý nào quan tâm sát sao đó chính là chính sách bảo hiểm xã hội đối với người lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Đây chính là kẽ hở trong quản lý làm cơ sở để không ít những doanh nghiệp trong nước và cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lợi dụng không thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội với người lao động gây thiệt hại không nhỏ đến quyền lợi của người lao động. Hiện nay, những việc vi phạm đó vẫn diễn ra thường xuyên mà các cơ quan quản lý không hề hay biết. Các công ty được lợi thì quyền lợi của người lao động bị ảnh hưởng, vai trò của tổ chức Công đoàn không được đề cao. Được học tập, nghiên cứu qua lớp quản lý nhà nước ngạch chuyên viên năm 2015 tại trường Chính trị tỉnh Bắc Giang, với những kiến thức tiếp thu được trên lớp và với tư cách là cán bộ công tác ngành bảo hiểm xã hội, em đưa ra “Tình huống hành vi vi phạm của doanh nghiệp trong thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội” làm ảnh hưởng quyền lợi của người lao động mà cơ quan quản lý nhà nước chưa làm tròn trách nhiệm của mình. Kết cấu của tiểu luận ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, phần nội dung gồm 5 phần: I. Mô tả tình huống. II. Mục tiêu xử lý tình huống. III. Phân tích nguyên nhân và hậu quả. IV. Phương án giải quyết tình huống V. Kế hoạch tổ chức thực hiện.

Trang 1

III PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ 07

IV PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG 10

Trang 2

quan trọng nhằm mục đích góp phần bình ổn thị trường tài chính trong nềnkinh tế thị trường, nó vừa là điều kiện để khắc phục hậu quả khi có rủi ro,vừa là công cụ quan trọng trong việc huy động vốn, điều hành và sử dụngcác nguồn vốn nhàn dỗi trong nhân dân nói riêng và trong nền kinh tế - xãhội nói chung Chính sách Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam đã trải qua chặngđường dài trên nửa thế kỷ, có thể chia thành hai thời kỳ chính: Thời kỳ baocấp, trước khi có Bộ luật lao động, đối tượng tham gia BHXH chỉ giới hạnvới cán bộ, công nhân, viên chức làm việc trong khu vực Nhà nước và lựclượng vũ trang và thời kỳ sau khi có Bộ luật lao động theo hướng xoá bỏbao cấp thì thành phần tham gia bảo hiểm xã hội ngày càng mở rộng đếnnhiều đối tượng khác nhau, từng bước tiến tới bảo hiểm toàn dân.

Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm

2006 tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XI và có hiệu lực thi hành từ 01 tháng

01 năm 2007; ngày 20/11/2014, Quốc hội khóa XIII thông qua luật Bảohiểm xã hội năm 2014 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2016

Bảo hiểm xã hội Việt Nam được thành lập từ ngày 16 tháng 02 năm

1995, sau hơn 17 năm thực hiện, việc đổi mới chính sách bảo hiểm xã hội,

xã hội có nhiều bước tiến quan trọng, thích nghi dần với nền kinh tế thịtrường và hội nhập quốc tế Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội được mởrộng đến mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế và với nhiềuhình thức tham gia khác nhau

Để đạt mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra đến năm 2020, ViệtNam cơ bản trở thành nước công nghiệp, các cấp, các ngành đều cố gắng,

nỗ lực vì mục tiêu chung đó Đối với ngành bảo hiểm xã hội cũng vậy,cũng cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Điều đó được thể hiệntrong những năm qua, hầu hết các địa phương trong cả nước đều tiến hành

mở rộng và phát triển các khu, cụm công nghiệp khác nhau với nhiều chínhsách thu hút đầu tư như ưu đãi thuế, đất Khi thu hút được đầu tư xong,các nhà máy, xí nghiệp mọc lên và công nhân ở khắp mọi nơi đổ về lao

Trang 3

động thì một vấn đề mà ít cơ quan quản lý nào quan tâm sát sao đó chính làchính sách bảo hiểm xã hội đối với người lao động theo quy định của phápluật về bảo hiểm xã hội Đây chính là kẽ hở trong quản lý làm cơ sở đểkhông ít những doanh nghiệp trong nước và cả doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài lợi dụng không thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội với người laođộng gây thiệt hại không nhỏ đến quyền lợi của người lao động Hiện nay,những việc vi phạm đó vẫn diễn ra thường xuyên mà các cơ quan quản lýkhông hề hay biết Các công ty được lợi thì quyền lợi của người lao động

bị ảnh hưởng, vai trò của tổ chức Công đoàn không được đề cao

Được học tập, nghiên cứu qua lớp quản lý nhà nước ngạch chuyênviên năm 2015 tại trường Chính trị tỉnh Bắc Giang, với những kiến thứctiếp thu được trên lớp và với tư cách là cán bộ công tác ngành bảo hiểm xã

hội, em đưa ra “Tình huống hành vi vi phạm của doanh nghiệp trong thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội”làm ảnh hưởng quyền lợi của người lao động mà

cơ quan quản lý nhà nước chưa làm tròn trách nhiệm của mình

Kết cấu của tiểu luận ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, phầnnội dung gồm 5 phần:

I Mô tả tình huống

II Mục tiêu xử lý tình huống

III Phân tích nguyên nhân và hậu quả

IV Phương án giải quyết tình huống

V Kế hoạch tổ chức thực hiện

B NỘI DUNG

I Mô tả tình huống

Trang 4

Diễn biến câu chuyện diễn ra như sau: Chiều ngày 17 tháng 11 năm

2013 là ngày nghỉ chủ nhật, tôi (Nguyễn Văn Quang) bớt chút thời gian đithăm một người bạn đồng ngũ là Lê Văn Hưởng và gặp cháu Hùng con traibạn tôi, qua bữa cơm chuyện trò, cháu Hùng biết tôi đang công tác tại cơquan Bảo hiểm xã hội huyện Lâm Tuyên Cháu Hùng liền hỏi tôi về trườnghợp của cháu và bạn của mình là Hưng và Đức cùng làm trong một công tyTrách nhiệm hữu hạn, cụ thể như sau:

Hùng, Hưng và Đức cùng làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạnNam Tiến và được nhận vào làm việc theo thông báo tuyển lao động củaCông ty tháng 7 năm 2011, khi được tuyển vào Công ty họ phải qua thờigian làm việc thử là 01 tháng (không lương) Sau khi hết thời gian thử việc

do làm tốt công việc, họ được Công ty chính thức ký hợp đồng lao độngvới thời hạn 3 tháng bắt đầu từ 01 tháng 8 năm 2011 đến 31 tháng 10 năm

2011 với mức lượng khởi điểm là 2.500.000đ/người/tháng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng chẵn) không có phụ cấp, không được hưởng chế độ gì.

Khi hết thời hạn hợp đồng 3 tháng Công ty lại ký tiếp hợp đồng lao độngvới cả 3 người là 6 tháng bắt đầu từ ngày 01 tháng 11 năm 2011 đến 30

tháng 5 năm 2012 với mức lương là 3.000.000đ/người/tháng (Ba triệu đồng chẵn), không có phụ cấp, không được hưởng chế độ gì Sau khi hết hợp

đồng lao động Công ty tiếp tục ký hợp đồng lao động 01 năm với cả 3người bắt đầu từ ngày 01 tháng 6 năm 2012 đến ngày 30 tháng 5 năm 2013

với mức lương 4.000.000đ/người/tháng (Bốn triệu đồng chẵn), không phụ

cấp, không được hưởng chế độ gì Đến tháng 6 năm 2013 Công ty tiếp tục

ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với Hùng và Đức từ ngày 01tháng 6 năm 2013 với mức lương thuộc ngạch Đại học kế toán mà Hùng vàĐức hiện đang làm kế toán tại Công ty là 3,0 x 1.400.000đ = 4.200.000đ

(Bốn triệu hai trăm nghìn đồng chẵn) cùng phụ cấp ăn trưa là 350.000đ/người/tháng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng chẵn) Còn Hưng

cũng được ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ ngày 01 tháng

Trang 5

6 năm 2013 với mức lương 4.000.000đ (Bốn triệu đồng chẵn), không phụ

cấp, không được hưởng chế độ gì khác Ban Giám đốc Công ty hứa sẽ chocác lao động hợp đồng tham gia bảo hiểm xã hội nhưng đến thời điểm tôigặp Hùng (tháng 11 năm 2013) thì 3 cháu Hùng, Đức và Hưng vẫn chưađược tham gia bảo hiểm xã hội Trong thời gian này Đức nghỉ làm việc 3tháng do tai nạn lao động nhưng Công ty chỉ trợ cấp cho Đức 1.000.000đ

(Một triệu đồng chẵn) Và hiện tại Công ty có 32 lao động, trong đó 22 lao

động đã được đăng ký tham gia đóng bảo hiểm xã hội, còn 10 lao độngchưa được tham gia đóng bảo hiểm xã hội, trong 10 lao động này có Đức,Hùng và Hưng là 3 lao động đã làm việc tại Công ty hơn 2 năm, còn 7 laođộng được tuyển vào từ ngày 15 tháng 5 năm 2013 cũng chưa được thamgia đóng bảo hiểm xã hội Khi đó các Tổ công nhân cũng có ý kiến vớiCông đoàn Công ty để bảo vệ quyền lợi cho người lao động nhưng Côngđoàn Công ty cũng không thể hiện rõ vai trò của mình Vì trước đây có anh

Hà – uỷ viên Ban chấp hành Công đoàn Công ty đã đứng lên đấu tranh đòihỏi quyền lợi cho cô Hồng một lao động trong Công ty Nhưng sau đó đã bịBan giám đốc Công ty sa thải buộc thôi việc không lý do, từ đó dẫn đếnCông đoàn Công ty hiện nay hầu như chỉ hoạt động mang tính hình thức

mà không có tiếng nói gì để bảo vệ người lao động

Biết được thông tin đó, ngày 10 tháng 2 năm 2014 Bảo hiểm xã hộihuyện Lâm Tuyên đơn vị được phân cấp quản lý thu bảo hiểm xã hội đốivới Công ty trách nhiệm hữu hạn Nam Tiến đến kiểm tra tình hình việcthực hiện tham gia đóng bảo hiểm xã hội đối với công nhân của Công ty.Bảo hiểm xã hội huyện Lâm Tuyên đã lập biên bản số 03/BBKT-BHXHngày 10/02/2014 với nội dung yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn NamTiến đến Bảo hiểm xã hội huyện Lâm Tuyên làm thủ tục hồ sơ đăng kýđóng bảo hiểm xã hội cho 10 lao động hợp đồng còn lại của công ty Saukhi biên bản số 03/BBKT-BHXH được lâp đến nay đã 5 tháng nhưng Công

Trang 6

ty trách nhiệm hữu hạn Nam Tiến vẫn không đến cơ quan Bảo hiểm xã hộilàm thủ tục tham gia Bảo hiểm cho 10 lao động còn lại của công ty.

II Mục tiêu xử lý tình huống

Câu chuyện tình huống trên ta thấy, có nhiều vấn đề cần phải xem xétlàm rõ trách nhiệm của các bên cơ quan quan lý và người sử dụng lao độngnhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động trong lĩnh vực bảo hiểm xã hộinói riêng và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa nói chung

Trên cơ sở nội dung tình huống trên và để giải quyết triệt để cần phảitập trung giải quyết làm rõ một số vấn đề sau:

1- Hành vi vi phạm pháp luật Bảo hiểm xã hội của Công ty Trách

nhiệm hữu hạn Nam Tiến đã xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp củangười lao động cần phải được xử lý nghiêm minh, kịp thời theo đúng quyđịnh của pháp luật

2- Ban Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nam Tiến vi phạm

pháp luật Lao động trong việc cản trở và coi nhẹ vai trò của tổ chức Côngđoàn Công ty, ảnh hưởng đến các chế độ của người lao động trong Công ty

3- Công ty Nam Tiến cố tình không đến cơ quan Bảo hiểm xã hội

đóng bảo hiểm cho 10 lao động hợp đồng còn lại của Công ty theo biên bảnkiểm tra số 03/BBKT-BHXH đã được lập ngày 10 tháng 02 năm 2014 làhành vi coi thường pháp luật

4- Trách nhiệm quản lý nhà nước của Bảo hiểm xã hội huyện Lâm

Tuyên trong việc quản lý các đơn vị, doanh nghiệp sử dụng lao động thựchiện chế độ chính sách Bảo hiểm xã hội với người lao động cần phải được

đề cao và giải quyết triệt để, cụ thể là đối với Công ty trách nhiệm hữu hạnNam Tiến

5- Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nam Tiến phải thực hiện chế độ Bảo

hiểm xã hội với anh Hùng, Hưng và Đức theo đúng quy định của pháp luật

Trang 7

Trên cơ sở những quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, Bộ luật laođộng, một mặt cần xem xét làm rõ những vấn đề trên, mặt khác cần đề xuấtphương án giải quyết tối ưu nhất đối với tình huống Đồng thời rút ranhững bài học kinh nghiệm trong quản lý hành chính nói chung và quản lýviệc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động nói riêng.

III Nguyên nhân và hậu quả

Một là, có nhiều chủ sử dụng lao động tuy hiểu biết pháp luật có khả

năng tài chính nhưng lại thiếu trách nhiệm, cố tình lách luật để thu lợi bấtchính và tìm mọi cách để lẩn trách nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộchoặc chiếm dụng tiền đóng bảo hiểm xã hội Bên cạnh đó có những doanhnghiệp sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, thua lỗ, không đủ khảnăng để đóng bảo hiểm xã hội

Hai là, công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội đối với các

doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhiều địa phương thiếu chặt chẽ

Cơ quan lao động- thương binh và xã hội và cơ quan Bảo hiểm xã hộichưa xác định được chính xác số lượng người lao động bắt buộc phải thamgia bảo hiểm xã hội; việc phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước trongđăng ký quản lý lao động còn thiếu chặt chẽ Mặc dù pháp luật quy địnhbắt buộc các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sau khi đăng ký hoạt độngkinh doanh phải đăng ký lao động với cơ quan lao động và bảo hiểm xã hộisong rất nhiều doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân không thực hiện quy địnhnày mà cũng không bị xử lý mặc dù các cơ quan quản lý biết Cá biệt ở một

Trang 8

số địa phương chính quyền cho rằng Bảo hiểm xã hội là cơ quan thuộcTrung ương nên không thường xuyên quan tâm chỉ đạo.

Sự thiếu trách nhiệm của cơ quan Bảo hiểm xã hội vì ở hầu hết cácđịa phương cơ quan Bảo hiểm xã hội hoạt động mang tính hành chính, chỉthụ động ngồi chờ các doanh nghiệp, tổ chức đến đăng ký tham gia bảohiểm xã hội Bên cạnh đó Bảo hiểm xã hội cũng chưa quan tâm đúng mứcđến việc phổ biến, tuyên truyền, giải thích về chính sách Bảo hiểm xã hội

để chủ sử dụng lao động và người lao động có đủ thông tin, hiểu biết vềtính ưu việt của chính sách Bảo hiểm xã hội, từ đó lôi cuốn họ tham giaBảo hiểm xã hội một cách tự giác

Ba là, công tác kiểm tra, thanh tra thực hiện chính sách Bảo hiểm xã

hội của cơ quan quản lý nhà nước chưa thường xuyên, nguyên nhân chính

là do thiếu trầm trọng số lượng cán bộ thanh tra lao động và yếu về chấtlượng chuyên môn của cán bộ;

Chế tài xử phạt hành vi vi phạm chính sách Bảo hiểm xã hội trongnhiều năm qua chưa đủ mạnh cho nên nhiều người sử dụng lao động còncoi thường

Bốn là, Công đoàn là tổ chức đại diện cho người lao động, có chức

năng rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động Tuynhiên một số nơi có tổ chức công đoàn nhưng hoạt động lại rất yếu, cán bộcông đoàn do người sử dụng lao động trả lương và sợ mất việc làm nênkhông dám đấu tranh

Năm là, do sức ép về việc làm và nhận thức chưa đầy đủ về tính ưu

việt của chính sách Bảo hiểm xã hội và những nguy cơ rủi ro về thu nhập

và việc làm trong cơ chế thị trường cho nên không ít người lao động nhất làlao động từ các vùng nông thôn khó khăn đã không phản đối khi người sửdụng lao động không đóng Bảo hiểm xã hội cho họ, thậm chí còn có thái độđồng tình cho rằng mình chỉ lao động trong một thời gian, kiếm một số vốn

Trang 9

rồi tìm việc khác, chưa cần chế độ bảo hiểm và còn được lợi trước mắt làkhông mất phần trăm tiền lương đóng Bảo hiểm xã hội theo quy định.

Sáu là, sự bất cập trong hệ thống các văn bản quản lý nhà nước quá

nhiều và chồng chéo, hiện có khoảng hơn 128 văn bản hướng dẫn chế độBảo hiểm xã hội từ Bộ luật lao động, Luật Bảo hiểm xã hội và công văncủa nhiều cơ quan Bộ, ngành ban hành nên rất khó khăn cho quản lý, người

sử dụng lao động cũng như người lao động hiểu và nắm vững chế độ, cậpnhật thông tin để thực hiện đúng quy định

2 Hậu quả

Hậu quả của sự việc trên ảnh hưởng rất lớn đối với quyền lợi củangười lao động, tới hiệu quả quản lý nhà nước của cơ quan Bảo hiểm xãhội và đặc biệt là vi phạm nghiêm trọng chế độ pháp chế xã hội chủ nghĩa

Một là, tình huống trên gây thiệt hại trực tiếp đến quyền và lợi ích

hợp pháp của người lao động trong thời gian dài, ảnh hưởng đến hiệu quảlao động cũng như gây tâm lý ức chế trong quá trình thực hiện công việcđối với người lao động

Hai là, tổ chức Công đoàn trong công ty chưa được đề cao, chỉ hoạt

động theo hình thức, không có tiếng nói, không đúng vai trò của mình đểbảo vệ quyền lợi của người lao động, làm cho uy tín của tổ chức Công đoàngiảm xút nghiêm trọng

Ba là, sự thiếu trách nhiệm trong quản lý nhà nước của cơ quan Bảo

hiểm xã hội trong quá trình quản lý đối với hoạt động tham gia bảo hiểm xãhội cho người lao động của doanh nghiệp làm giảm lòng tin, uy tín củangười lao động với các cơ quan quản lý, đặc biệt là cơ quan Bảo hiểm xãhội của huyện Lâm Tuyên

Bốn là, từ sự thiếu trách nhiệm của các cơ quan quản lý có liên quan

dẫn đến hành vi coi thường của công ty trách nhiệm hữu hạn Nam Tiến, vìsau 3 tháng lập biên bản về việc làm sai phạm của họ mà họ vẫn ngang

Trang 10

nhiên hoạt động, không đến cơ quan bảo hiểm để làm thủ tục đóng bảohiểm lao động cho 10 lao động còn lại của công ty.

IV Phương án giải quyết tình huống

1 Cơ sở pháp lý giải quyết tình huống

Để giải quyết tình huống này triệt để nhất cần phải dựa trên một sốvăn bản pháp luật sau:

1 Bộ luật lao động năm 2012 được Quốc hội thông qua ngày18/6/2012 và có hiệu lực từ ngày 01/5/2013

* Điều 32 Bộ luật lao động quy định: “Người sử dụng lao động vàngười lao động thoả thuận về việc làm thử, thời gian thử việc, về quyền, nghĩa

vụ của hai bên Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc ít nhấtphải bằng 70% mức lương cấp bậc của công việc đó Thời gian thử việc khôngđược quá 60 ngày đối với lao động chuyên môn kỹ thuật cao và không được quá

30 ngày đối với lao động khác

Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận làm thử màkhông cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêucầu mà hai bên đã thoả thuận Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụnglao động phải nhận người lao động vào làm việc chính thức như đã thoả thuận.”

* Điều 29 Bộ luật lao động quy định:

“1- Hợp đồng lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây: côngviệc phải làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, địa điểm làmviệc, thời hạn hợp đồng, điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảohiểm xã hội đối với người lao động

2- Trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ nội dung của hợp đồng laođộng quy định quyền lợi của người lao động thấp hơn mức được quy định trongpháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động đang áp dụng

Trang 11

trong doanh nghiệp hoặc hạn chế các quyền khác của người lao động thì mộtphần hoặc toàn bộ nội dung đó phải được sửa đổi, bổ sung.

3- Trong trường hợp phát hiện hợp đồng lao động có nội dung quy địnhtại khoản 2 Điều này, thì Thanh tra lao động hướng dẫn và yêu cầu các bên sửađổi, bổ sung cho phù hợp Nếu các bên không sửa đổi, bổ sung thì Thanh tra laođộng có quyền buộc huỷ bỏ các nội dung đó; quyền, nghĩa vụ và lợi ích của cácbên được giải quyết theo quy định của pháp luật”

* Điều 141 Bộ luật lao động quy định: Đối tượng áp dụng Bảo hiểm

xã hội bắt buộc và các chế độ trợ cấp Bảo hiểm xã hội người lao động đượchưởng

“1- Loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc được áp dụng đối với doanhnghiệp, cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động làm việc theo hợp đồng lao động

có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thờihạn Ở những doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức này, người sử dụng lao động,người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 149 của Bộluật này và người lao động được hưởng các chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội ốmđau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí và tử tuất

2- Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạndưới ba tháng thì các khoản bảo hiểm xã hội được tính vào tiền lương do người

sử dụng lao động trả theo quy định của Chính phủ, để người lao động tham giabảo hiểm xã hội theo loại hình tự nguyện hoặc tự lo liệu về bảo hiểm Khi hếthạn hợp đồng lao động mà người lao động tiếp tục làm việc hoặc giao kết hợpđồng lao động mới, thì áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy địnhtại khoản 1 Điều này."

* Điều 149: “Mức đóng Bảo hiểm xã hội và sự hình thành của nguồnquỹ”:

“1- Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ các nguồn sau đây:

a) Người sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lương;

Ngày đăng: 22/08/2021, 19:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w