1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài giảng Phân tích lợi ích chi phí - ĐH Phạm Văn Đồng

77 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Phân tích lợi ích chi phí cung cấp cho người học những kiến thức như: Giới thiệu phân tích lợi ích chi phí; Cơ sở kinh tế phúc lợi của phân tích lợi ích chi phí; Cơ sở kinh tế vi mô cho phân tích lợi ích - chi phí; Nhận dạng lợi ích và chi phí. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG

KHOA KINH TẾ

BÀI GIẢNG

MÔN: PHÂN TÍCH LỢI ÍCH

CHI PHÍ

(Dùng cho đào tạo tín chỉ - Bậc đại học)

Người biên soạn: Th.S Phạm Thị Ý Nguyện

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ 1

1.1 Giới thiệu tổng quát phân tích lợi ích chi phí 1

1.1.1 Sự cần thiết phải phân tích lợi ích – chi phí 1

1.1.2 Định nghĩa phân tích lợi ích – chi phí 1

1.2 Vai trò của phân tích lợi ích – chi phí 2

1.3 Phân biệt phân tích lợi ích – chi phí với phân tích tài chính và phân tích hiệu quả - chi phí 3

1.3.1 Phân tích lợi ích – chi phí và phân tích tài chính 3

1.3.2 Phân tích lợi ích – chi phí và phân tích hiệu quả - chi phí 4

1.4 Mục đích sử dụng phân tích lợi ích – chi phí 5

1.4.1 Phân loại 5

1.4.2 Mục đích sử dụng 5

1.5 Các bước phân tích lợi ích chi phí 6

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KINH TẾ PHÚC LỢI CỦA 11

PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ 11

2.1 Mục tiêu của xã hội 11

2.2 Tối ưu Pareto 11

2.2.1 Cơ sở đạo đức của phân tích lợi ích chi phí 11

2.2.2 Khái niệm tối ưu Pareto 12

2.2.3 Điều kiện đạt tối ưu Pareto 12

2.3 Cải thiện Pareto 13

2.3.1 Cải thiện Pareto thực tế và nguyên tắc cơ bản lựa chọn dự án 13

2.3.2 Cải thiện Pareto tiềm năng và nguyên tắc thực tiễn lựa chọn dự án 14

2.4 Mối quan hệ giữa lợi ích ròng và tối ưu Pareto 16

Chương 3: CƠ SỞ KINH TẾ VI MÔ CHO PHÂN TÍCH LỢI ÍCH – CHI PHÍ 19

3.1 Mô hình tối ưu Pareto 19

3.2 Phân tích lợi ích – chi phí dựa trên mô hình cạnh tranh 19

3.3 Đường cầu và thay đổi thặng dư tiêu dùng 20

3.3.1 Đường cầu 20

3.3.2 Thay đổi thặng dư tiêu dùng 22

3.3.3 Đường cầu cá nhân và đường cầu thị trường 23

3.4 Đường cung và thay đổi thặng dư sản xuất 23

3.4.1 Đường cung 23

3.4.2 Đường cung thị trường 24

3.4.3 Thặng dư sản xuất 25

Trang 3

Chương 4: NHẬN DẠNG LỢI ÍCH VÀ CHI PHÍ 28

4.1 Nguyên tắc tổng quát 28

4.2 Các hướng dẫn cụ thể 28

4.2.1 Tính những kết quả tăng thêm 28

4.2.2 Loại trừ các kết quả chìm 28

4.2.3 Loại trừ các chi phí chung (chi phí cố định) 28

4.2.4 Tính tất cả các thay đổi về lợi ích 29

4.2.5 Tính tất cả thay đổi về chi phí 29

4.2.6 Loại trừ các khoản thanh toán chuyển giao 29

4.2.7 Xem xét thuế và trợ cấp 29

4.2.8 Kiểm tra các lệ phí của chính phủ 30

4.2.9 Tránh tính trùng 31

4.2.10 Loại trừ các kết quả quốc tế 31

4.2.11 Xem xét các thay đổi về giá trị tài sản 31

4.2.12 Phân biệt kết quả tư nhân với kết quả xã hội 31

4.2.13 Tính các ngoại tác 31

4.2.14 Tính các kết quả không có giá 32

4.3 Phân loại lợi ích và chi phí 32

Chương 5: ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH CHI PHÍ CÓ GIÁ THỊ TRƯỜNG 34

5.1 Cơ sở đánh giá theo giá thị trường 34

5.2 Giá ở thị trường cạnh tranh và không cạnh tranh 34

5.2.1 Giá ở thị trường cạnh tranh và không cạnh tranh 34

5.2.2 Ý nghĩa của giá cả cạnh tranh 35

5.3 Đánh giá những thay đổi biên tế 35

5.3.1 Đánh giá lợi ích 35

5.3.2 Đánh giá chi phí 36

5.4 Đánh giá những thay đổi không biên tế 36

5.4.1 Đánh giá lợi ích 36

5.4.2 Đánh giá chi phí 37

5.4.3 Trường hợp nghiên cứu: dự án hàng không 37

5.5 Giá ẩn đối với thuế, thuế quan và trợ giá 38

5.5.1 Đối với thuế, thuế quan và trợ giá 38

5.5.2 Đối với lao động 39

Chương 6: ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH CHI PHÍ KHÔNG CÓ GIÁ THỊ TRƯỜNG 42

6.1 Các lợi ích và chi phí không có giá cả 42

6.2 Phương pháp đánh giá 42

6.2.1 Nhóm phương pháp bộc lộ ý thích 42

Trang 4

6.2.2 Phương pháp phát biểu ý thích 50

Chương 7: YẾU TỐ THỜI GIAN CỦA LỢI ÍCH VÀ CHI PHÍ 54

7.1 Một số vấn đề cơ bản của giá trị tiền tệ theo thời gian 54

7.1.1 Phân tích giá trị tương lai 54

7.1.2 Phân tích giá trị hiện tại 54

7.2 Xử lý lạm phát trong phân tích lợi ích – chi phí 55

7.3 Suất chiết khấu xã hội 56

7.3.1 Tầm quan trọng của suất chiết xã hội 56

7.3.2 Ước tính suất chiết khấu xã hội dựa vào ưu tiên thời gian 57

7.3.3 Ước tính suất chiết khấu theo chi phí cơ hội 60

Chương 8: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ PHÂN TÍCH RỦI RO 62

8.1 Các tiêu chí đánh giá dự án 62

8.1.1 Hiện giá ròng (NPV) 62

8.1.2 Tỷ số lợi ích – chi phí (BCR) 63

8.1.3 Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) 63

8.2 Lựa chọn tiêu chí thích hợp cho phân tích 64

8.2.1 Chấp nhận hay bác bỏ một phương án 64

8.2.2 Lựa chọn một trong nhiều phương án 64

8.2.3 Chọn một nhóm các phương án 64

8.3 Phân tích độ nhạy 65

8.3.1 Khái niệm 65

8.3.2 Quy trình phân tích độ nhạy 65

8.3.3 Những kỹ thuật khác đối phó với vấn đề không chắc chắn 68

Trang 5

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ

1.1 Giới thiệu tổng quát phân tích lợi ích chi phí

1.1.1 Sự cần thiết phải phân tích lợi ích – chi phí

Xã hội luôn phải lựa chọn giữa rất nhiều mục tiêu khác nhau như: xây dựng một sân bay mới hay một đường băng khác ở nơi hiện có? Một chương trình xây dựng đồn điền hay khai thác hơn nữa rừng nguyên sinh? nhưng nguồn lực khan hiếm nên không thể cùng lúc đáp ứng mọi mong muốn của xã hội Do đó, cần phải đánh giá sự đánh đổi Hay nói cách khác cần phải thực hiện phân tích lợi ích – chi phí để cung cấp thông tin cho việc ra quyết định phân bổ nguồn lực

1.1.2 Định nghĩa phân tích lợi ích – chi phí

Frances Perkins đưa ra định nghĩa phân tích lợi ích chi phí từ góc độ phân tích tài chính: phân tích kinh tế, còn gọi là phân tích lợi ích chi phí, là phân tích mở rộng của phân tích tài chính,… được sử dụng chủ yếu bởi các chính phủ và cơ quan quốc tế

để xem xét một dự án hay chính sách có làm tăng phúc lợi cộng đồng hay không (Frances Perkins, 1994)

Tevfik F.Nas định nghĩa: phân tích lợi ích chi phí là một phương pháp được dùng để nhận dạng, lượng hóa bằng tiền tất cả cái được và mất tiềm năng từ một dự án nhất định nhằm xem xét dự án đó có đáng mong muốn hay không trên quan điểm xã hội nói chung (Tevfik F.Nas, 1996)

Boardman định nghĩa: Phân tích lợi ích chi phí là một phương pháp đánh giá chính sách mà phương pháp này lượng hóa bằng tiền giá trị của tất cả các kết quả của chính sách đối với tất cả mọi thành viên trong xã hội nói chung Lợi ích xã hội ròng (NSB = B – C) là thước đo giá trị của chính sách (Boardman, 2001)

Harry Campbell định nghĩa: Phân tích lợi ích chi phí là một quá trình nhận dạng, đo lường và so sánh các lợi ích và chi phí xã hội của một dự án đầu tư hay một chương trình (Campbell, 2003)

Dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng tất cả đều đề cập đến bốn vấn đề sau đây: (1) Phân tích lợi ích – chi phí là phương pháp đánh giá để thực hiện quyết định lựa chọn; (2) Phân tích lợi ích – chi phí xem xét tất cả các lợi ích và chi phí (có giá thị trường và không có giá thị trường); (3) Phân tích lợi ích – chi phí quan tâm chủ yếu đến hiệu quả kinh tế; (4) Phân tích lợi ích – chi phí xem xét vấn đề trên quan điểm

xã hội nói chung

Từ những định nghĩa trên, có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát:

Trang 6

Phân tích lợi ích chi phí là một công cụ/phương pháp dùng để đánh giá và so sánh các phương án cạnh tranh dựa trên quan điểm xã hội nói chung nhằm cung cấp thông tin cho việc ra quyết định lựa chọn phân bổ nguồn lực hiệu quả nhất

1.2 Vai trò của phân tích lợi ích – chi phí

Phân tích tài chính và phân tích lợi ích – chi phí được thực hiện ở ba trong sáu giai đoạn của quá trình hình thành và đánh giá dự án (thẩm định dự án)

Giai đoạn 1: Nhận dạng dự án Ở giai đoạn này, cơ quan khởi xướng xác định ý tưởng ban đầu của dự án và phát họa các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt tới Vấn đề chính yếu đầu tiên phải nghiên cứu tỉ mỉ là xem có cơ hội về thị trường hay không Đối với trường hợp các dịch vụ xã hội, người phân tích phải xác định nhu cầu dự kiến

về sản phẩm của dự án và các lợi ích mà công chúng kỳ vọng có được từ các dịch vụ này Trong giai đoạn này cần có một đánh giá sơ bộ về công nghệ tốt nhất có thể sẽ sử dụng, giá cả các yếu tố sản xuất ở địa phương, cũng như dự kiến quy mô và thời gian thích hợp của dự án Trong giai đoạn hình thành dự án này cần sự tham gia của chuyên gia ở nhiều lĩnh vực khác nhau như các kỹ sư, chuyên gia y tế, giáo dục, môi trường, nông nghiệp, phân tích thị trường, và các nhà kinh tế

Giai đoạn này cung cấp ý tưởng cơ bản của dự án và thông tin nền giúp cho cơ quan chính phủ có thể tiến hàng giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi

Giai đoạn 2: Phân tích tiền khả thi

Ở giai đoạn này, người phân tích thu thập những đánh giá ước chừng các thành phần chính yếu của các lợi ích và chi phí của dự án: lượng và giá các nhập lượng và xuất lượng Những ước lượng chính xác hơn về nhu cầu xuất lượng của dự án, công suất thiết kế, chi phí nhà máy hay công nghệ dự kiến, và yêu cầu nhân sự cho dự án phải được thực hiện Trong nhiều trường hợp, các dữ liệu này do các chuyên gia kỹ thuật tham gia trong giai đoạn nhận dạng dự án cung cấp

Sử dụng các dữ liệu ban đầu này, các chuyên gia phân tích kinh tế sẽ tiến hành phân tích tài chính và phân tích kinh tế của dự án để xem liệu dự án có thể khả thi về mặt tài chính và kinh tế hay không Một kế hoạch tài trợ sơ khởi có thể cũng được vạch ra để nhận dạng nguồn tài trợ cho dự án Nếu dự án có vẽ khả thi qua phân tích ban đầu này thì có thể tiến hành giai đoạn nghiên cứu khả thi đầy đủ

Theo Glenn P Jenkins, trong phân tích tiền khả thi của bất kỳ dự án công nào thông thường gồm sáu lĩnh vực khác nhau như sau:

(1) Nghiên cứu thị trường và xác định nhu cầu: Nhu cầu hàng hóa và dịch vụ, giá cả hay nhu cầu các dịch vụ xã hội được ước lượng, lượng hóa và giải trình

Trang 7

(2) Kỹ thuật và công trình: Các nhập lượng của dự án được xác định chi tiết và ước lượng chi phí

(3) Nhân sự và quản lý: Xác định nhu cầu nhân sự cho việc thực hiện cũng như vận hành dự án, nhận dạng và lượng hóa các nguồn nhân sự cho dự án

(4): Đánh giá thu chi tài chính cũng như đánh giá các phương pháp tài trợ dự

Giai đoạn 3: Phân tích khả thi

Ở giai đoạn này nhiều dữ liệu chính xác hơn về tất cả các lợi ích và chi phí của

dự án phải được thu thập thêm, nhưng đặc biệt là thực hiện phân tích rủi ro (độ nhạy)

có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự khả thi của dự án Mức độ khả thi về tài chính

và kinh tế của dự án được đánh giá lại Nếu dự án vẫn khả thi, thì nên đi đến quyết định thực hiện giai đoạn thực hiện dự án

Giai đoạn 4: Thiết kế chi tiết dự án

Giai đoạn 5: Thực hiện

Giai đoạn 6: Đánh giá sau dự án

Giai đoạn cuối cùng của dự án rất quan trọng, nhưng thường bị lờ đi trong thẩm định và thực hiện dự án Sự đánh giá này được thiết kế để xác định đóng góp thực sự của dự án vào phúc lợi quốc gia, sau một số năm hoạt động của dự án Mục đích chủ yếu của việc đánh giá này là giúp nhận dạng các nguồn gốc chính của sự thành bại của

dự án, vì thế các dự án tương lai có thể sẽ thuận lợi hơn Như vậy, phân tích tài chính

và phân tích lợi ích – chi phí được thực hiện ở các giai đoạn 2, 3, và 6

1.3 Phân biệt phân tích lợi ích – chi phí với phân tích tài chính và phân tích hiệu quả - chi phí

1.3.1 Phân tích lợi ích – chi phí và phân tích tài chính

Phân tích tài chính được sử dụng chủ yếu trong khu vực tư nhân để xác định xem kết quả nào tốt nhất theo quan điểm tư nhân (quan điểm chủ sở hữu hoặc quan điểm tổng đầu tư) Các dòng tiền và doanh thu kỳ vọng được coi là các dòng lợi ích, các khoản tiền chi trả trực tiếp để mua các yếu tố sản xuất được xem như chi phí bất kể ảnh hưởng của xuất lượng ở các khu vực khác trong nền kinh tế Chi phí gây ra cho nhóm cá nhân thứ ba như thiệt hại môi trường không được tính đến

Trang 8

Phân tích lợi ích – chi phí được dùng cho việc đánh giá các dự án công và kết quả của dự án luôn luôn được đánh giá trên cơ sở mối quan tâm cộng đồng Không giống như phân tích tài chính, trong đó các lợi ích và chi phí được đo lường bằng giá thị trường, việc đánh giá trong phân tích lợi ích – chi phí được tính theo giá đã điều chỉnh những biến dạng thị trường (giá ẩn, giá kinh tế) Điều quan trọng cần lưu ý là các chi phí và lợi ích được đo lường dưới dạng những thứ “được” và “mất” sự hữu dụng xã hội chứ không chỉ đơn thuần là các dòng thực thu và thực chi, và tất cả các lợi ích và chi phí ngoại tác được xem xét tính toán trong phân tích

Trong khi phân tích tài chính chỉ đề cập đến lợi ích của cơ quan hay công ty thực hiện, thì phân tích lợi ích – chi phí đề cập đến phúc lợi của tất cả các công ty, người tiêu dùng và chính phủ của một quốc gia cụ thể

Trong phân tích tài chính, giá thị trường của các nhập lượng và xuất lượng được

sử dụng để tính lợi ích ròng của dự án đối với chủ đầu tư Không cần bất kỳ sự điều chỉnh nào đối với các biến dạng trong các thị trường của hàng hóa này vì doanh nghiệp thực sự trả theo giá thị trường và doanh nghiệp chỉ đề cập đến việc lựa chọn dự án có hiệu số doanh thu trừ các khoản chi lớn nhất Không cần quan tâm đến chi phí và lợi ích của dự án ảnh hưởng đến cộng đồng nếu như những lợi ích và chi phí này không thể hiện trong bảng cân đối của doanh nghiệp

Trong phân tích lợi ích – chi phí tất cả các chi phí và lợi ích phát sinh từ dự án, trong quốc gia nơi dự án sẽ được thực hiện, đều được đưa vào ngân lưu kinh tế của dự

án Lợi ích và chi phí kinh tế được đưa vào ngân lưu kinh tế bất kể người nhận vào chịu các lợi ích và chi phí này là người thực hiện dự án hoặc nhóm người tiêu dùng và người sản xuất khác

Mục tiêu tối đa hóa phúc lợi kinh tế rộng hơn nhiều so với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, và việc theo đuổi mục tiêu này khó khăn và phức tạp hơn nhiều Xét về bản chất, phân tích lợi ích – chi phí liên quan đến việc đo lường các lợi ích và chi phí theo cách sao cho phản ánh đầy đủ lợi ích và chi phí thực Có như vậy mới có thể đánh giá xem dự án có thực sự đóng góp tích cực vào phúc lợi của một quốc gia hay không 1.3.2 Phân tích lợi ích – chi phí và phân tích hiệu quả - chi phí

Phân tích hiệu quả - chi phí (CEA) dùng để xếp hạng các kết quả không thể đo lường hoặc so sánh được bằng tiền Sự khác biệt chủ yếu giữa phân tích lợi ích – chi phí và phân tích hiệu quả - chi phí liên quan đến việc đo lường kết quả của lợi ích

Phân tích hiệu quả - chi phí được sử dụng: (1) để lựa chọn dự án có thể tạo ra một kết quả nhất định với chi phí sản xuất thấp nhất (xếp hạng các dự án được thiết kế

có cùng một kết quả theo chi phí của dự án này) hoặc (2) lựa chọn dự án có thể tạo ra

Trang 9

kết quả lớn nhất với cùng một mức chi phí (xếp hạng theo số lượng kết quả mà dự án

có thể tạo ra với cùng một khoản ngân sách cố định)

1.4 Mục đích sử dụng phân tích lợi ích – chi phí

1.4.1 Phân loại

Mục đích chính của phân tích lợi ích – chi phí là giúp quá trình ra quyết định xã hội dễ dàng và chính xác hơn Tuy nhiên, mục đích sử dụng còn tùy thuộc vào loại phân tích lợi ích – chi phí là gì Boardman (2001), hai loại chủ yếu:

- Ex ante CBA: khi một dự án hay chính sách đang được xem xét => hỗ trợ việc

ra quyết định xem liệu nguồn lực có nên phân bổ vào một dự án cụ thể nào đó hay không -> đóng góp vào việc ra quyết định trực tiếp, kịp thời và có tính đặc thù riêng

- Ex post CBA: được thực hiện vào cuối dự án -> ex post CBA đóng góp dưới dạng ‘thông tin’ cho những người quản lý, các chính khách và các nhà nghiên cứu để

có cơ sở xem xét liệu một nhóm các dự án cụ thể có đáng giá hay không - Middle CBA: được thực hiện trong quá trình thực hiện dự án

- So sánh ex ante CBA với ex post CBA của cùng một dự án để biết mức hiệu quả của CBA với vai trò là một công cụ đánh giá và giúp ra quyết định chính sách 1.4.2 Mục đích sử dụng

(1) Giúp ra quyết định đối với một dự án cụ thể: Ex ante CBA rất hữu ích cho việc quyết định xem nguồn lực có nên được phân bổ cho một dự án cụ thể đang được xem xét hay không Đối với các dự án đang được thực hiện thì in medias res CBA có thể được sử dụng cho mục đích ra quyết định khi vẫn còn khả thi để chuyển nguồn lực vào các mục đích sử dụng khác Ex post CBA được thực hiện ở cuối dự án nên rõ ràng

là quá trễ để có thay đổi hoàn toàn quyết định phân bổ nguồn lực đối với một dự án cụ thể

(2) Cung cấp thông tin về lợi ích xã hội ròng của một dự án cụ thể: Sự không chắc chắn về các tác động của dự án dẫn đến sự không chắc chắn về giá trị lợi ích xã hội ròng thực giảm theo thời gian khi thực hiện dự án, nên CBA được thực hiện ở giai đoạn sau có thể ước lượng lợi ích ròng của dự án chính xác hơn

(3) Cung cấp thông tin về lợi ích tiềm năng của các dự án tương tự: Ex post CBA giúp các nhà phân tích hiện đang thực hiện các ex ante CBA của các chính sách tương tự, đóng góp thông tin cho những người ra quyết định, cũng như những người nghiên cứu chính sách để xem liệu các loại dự án cụ thể có đáng giá hay không Lượng thông tin từ in medias res CBA và ex post CBA phụ thuộc vào khả năng phổ biến của một dự án cụ thể

Trang 10

(4) Cung cấp thông tin về mức độ hiệu quả của CBA: So sánh ex ante CBA với

ex post CBA rất hữu ích vì biết được giá trị của CBA, mức độ chính xác của ex ante CBA đã được thực hiện ở giai đoạn đầu, giúp hiểu được lý do tại sao có sự khác biệt giữa giá trị các lợi ích và chi phí thực tế với các lợi ích và chi phí ước đoán

1.5 Các bước phân tích lợi ích chi phí

Phân tích lợi ích – chi phí có 8 bước, cụ thể:

Bước 1: Nhận dạng vấn đề

Trong quá trình phát triển, xã hội sẽ phải đối mặt với các vấn đề cần phải đưa ra quyết định lựa chọn Việc xác định vấn đề cần ra quyết định là bước đầu tiên trong CBA Ngoài ra cũng cần phải xác định phạm vi phân tích: địa phương, vùng, tỉnh hay quốc gia?

Một dự án đáng giá sẽ đóng góp vào phúc lợi kinh tế của quốc gia, có khả năng làm cho mọi người đều được lợi (tốt hơn so với không có dự án) Tuy nhiên, thường không phải ai cũng được hưởng lợi từ dự án, mà một số người sẽ bị thiệt Hơn nữa, những nhóm người được lợi từ dự án lại không nhất thiết là những người phải chịu chi phí của dự án Cho nên người phân tích phải đặt và trả lợi các câu hỏi như sau:

- Dự án sẽ có những tác động như thế nào: địa phương, vùng, tỉnh, quốc gia hay toàn cầu?

- Nếu nguồn tài trợ cho dự án là của chính phủ thì có nên xem xét tính đến các lợi ích và chi phí phát sinh bên ngoài quốc gia hay không?

Thông thường các chính phủ thực hiện phân tích dựa trên quan điểm quốc gia, tính lợi ích và chi phí phát sinh trong một quốc gia nhất định Ngày nay với xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa và nhiều vấn đề về môi trường đang phát sinh mang tính toàn cầu, nên có ý kiến đề xuất nên phân tích theo quan điểm toàn cầu Tuy nhiên, thông thường việc xác định phạm vi phân tích tùy thuộc vào ai là người tài trợ chính của dự

Trang 11

- Quy mô

- Cách thức giảm tác động môi trường

Đối với dự án phát triển giao thông (ví dụ đường giao thông nông thôn), thì có thể phải quan tâm đến các tiêu chí sau đây:

- Loại mặt đường

- Số lượng làn xe

- Quy mô

- Có trạm thu phí hay không

- Bảo vệ môi trường

Phân tích lợi ích – chi phí so sánh lợi ích xã hội ròng của việc đầu tư nguồn lực vào một dự án cụ thể với lợi ích xã hội ròng của một dự án giả định nào đó Thông thường dự án giả định đó gọi là hiện trạng (status quo)

Bước 3: Nhận dạng các lợi ích và chi phí

Một khi dự án đã được xác định, tất cả các chuyên gia trong các lĩnh vực có liên quan sẽ giúp nhận dạng các tác động có thể có của dự án Trong bước này, tất cả các loại tác động trực tiếp hay gián tiếp, hữu hình hay vô hình đều phải được xác định Lưu ý, “tác động” bao hàm các nhập lượng và xuất lượng hay đúng hơn là các chi phí

và lợi ích có thể có của dự án Đồng thời, ta cũng xác định các đơn vị đo lường các lợi ích và chi phí đó (nếu có)

Trong phân tích lợi ích – chi phí, các nhà phân tích chỉ quan tâm đến các tác động có ảnh hưởng đến sự thỏa dụng của các cá nhân thuộc phạm vi quan tâm (standing) của dự án Những tác động không có giá trị gì đối với con người thì không được tính trong phân tích lợi ích – chi phí Nói cách khác, muốn xác định một ‘tác động’ nào đó của dự án, người phân tích cần tìm hiểu mối quan hệ nhân – quả giữa tác động đó với sự thỏa dụng của những người thuộc phạm vi ảnh hưởng

Bước 4: Lượng hóa các lợi ích và chi phí trong suốt vòng đời dự án

Trang 12

Sau khi xác định được tất cả các lợi ích và chi phí có thể có của dự án cũng như đơn vị đo lường tương ứng, người phân tích phải lượng hóa chúng cho suốt vòng đời

dự án cho từng phương án

Lưu ý, một khả năng có thể chấp nhận được là nếu những tác động rất khó lượng hóa hay đo lường chính xác được như tác động về văn hóa, xã hội người phân tích có thể cung cấp các thông tin dạng mô tả về chúng Ngoài ra, cũng có những trường hợp cần đến các giả định nào đó để có thể ước lượng được

Bước 5: Quy ra giá trị bằng tiền các lợi ích và chi phí

Đây là nhiệm vụ chính của các nhà kinh tế thực hiện phân tích lợi ích – chi phí Khi có được lượng các tác động của dự án người phân tích phải gán cho chúng một giá trị bằng tiền để có thể so sánh được Thực hiện bước này đòi hỏi người phân tích phải trang bị lượng kiến thức nhất định về các phương pháp đánh giá các lợi ích và chi phí trong trường hợp có giá cả thị trường (giá ẩn = giá tài chính sau khi đã điều chỉnh biến dạng, .) và trong trường hợp không có giá thị trường hay không có thị trường (giá kinh tế = giá sẵn lòng trả, chi phí cơ hội) Đây là bước quan trọng nhất trong quy trình thực hiện phân tích lợi ích – chi phí

Bước 6: Chiết khấu các lợi ích và chi phí, tính Hiện giá ròng NPV

Một dự án có các dòng lợi ích và chi phí phát sinh trong các thời điểm khác nhau không thể so sánh trực tiếp được, nên người phân tích phải tổng hợp chúng lại để

có thể so sánh được Thông thường các lợi ích và chi phí tương lai phải được chiết khấu để đưa về giá trị tương đương ở hiện tại để có cơ sở chung cho việc so sánh

Có một số tiêu chí quyết định có thể được áp dụng để có thể so sánh lợi ích và chi phí của một phương án cụ thể Hiện giá ròng (NPV) bằng hiện giá ròng của lợi ích trừ hiện giá ròng của chi phí nếu lớn hơn 0 thì đó là một dự án đáng giá và ngược lại Tiêu chí thứ hai là tỷ số lợi ích/chi phí nếu lớn hơn 1 là dự án đáng giá Ngoài ra, tỷ suất sinh lợi nội hoàn (IRR) cũng là một tiêu chí quan trọng, nếu lớn hơn suất chiết khấu xã hội được chọn thì đó là một dự án tốt

Bước 7: Thực hiện phân tích độ nhạy

Bất kỳ phân tích lợi ích – chi phí nào cũng hàm chứa sự không chắc chắn và người phân tích thường có một số giả định nào đó về các giá trị các lợi ích và chi phí Phân tích độ nhạy đòi hỏi sự nới lỏng các giả định cho chúng thay đổi ở nhiều mức độ khác nhau có thể có và tính toán lại các lợi ích và chi phí Nói cách khác, trong phân tích độ nhạy người phân tích thay đổi giá trị của một hay nhiều biến quan trọng liên quan đến dòng ngân lưu kinh tế của dự án và xem kết quả (NPV, IRR, ) thay đổi như

Trang 13

Từ kết quả trên người phân tích nên đề xuất phương án được ưa thích nhất Phương án được ưa thích nhất là phương án có lợi ích xã hội ròng lón nhất Lưu ý rằng người phân tích đề xuất phương án tốt nhất một cách khách quan dựa vào sự tối đa hóa hiệu quả hay phúc lợi kinh tế chứ không phải phương án do mình ưa thích

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Phân tích lợi ích – chi phí là gì? Tại sao cần phải thực hiện phân tích lợi ích chi phí?

2 Phân biệt phân tích tài chính với phân tích lợi ích chi phí?

3 Giả sử rằng ảnh hưởng hưởng của việc áp dụng thuế đối với mặt hàng cam quýt nhập khẩu trong thời gian vừa qua đã mang lại kết quả như sau:

- Nhà nước thu ngân sách từ thuế: 8 triệu USD

- Khuyến khích tăng sử dụng nguồn lực để trồng quýt trong nước: 6 triệu USD

- Giảm mức tiêu thụ quýt trong nước: 4 triệu USD

- Tăng lợi nhuận cho các hộ trồng quýt trong nước: 5 triệu USD

Trên quan điểm người làm CBA anh/chị hãy trả lời câu hỏi sau:

a Giả sử Nhà nước cho rằng những người trồng quýt là những người được hưởng lợi ích đầu tiên Như vậy họ sẽ tính lợi ích ròng như thế nào nếu họ là những người phải bỏ ra chi phí

b Giả sử kho bạc Nhà nước là người đóng vai trò thanh tra họ sẽ tính lợi ích ròng như thế nào trên cơ sở có một quy định nhà trồng quýt phải trả mức thuế lợi tức

là 20%

4 Hãy sắp xếp lại cho phù hợp với trình tự quy trình thực hiện một phân tích lợi ích – chi phí?

a Xác định các phương án (alternatives)

b Xác định người được và kẻ mất (standing)

c Lượng hóa các lợi ích và chi phí của dự án (quantification)

d Đề xuất dựa trên kết quả NPV (recommendation)

e Tính hiện giá ròng (NPV) của mỗi phương án (computing NPV)

f Thực hiện phân tích độ nhạy (sensitivity analysis)

g Nhận dạng các lợi ích và chi phí (identification)

h Chiết khấu các lợi ích và chi phí để đưa về giá trị tương đương ở hiện tại (discounting)

i Quy ra giá trị bằng tiền các lợi ích và chi phí (monetization)

Trang 14

5 Theo anh/chị trong các bước của quy trình thực hiện phân tích lợi ích – chi phí như trên thì vai trò của người phân tích kinh tế tập trung chủ yếu vào bước nào?

Trang 15

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KINH TẾ PHÚC LỢI CỦA

PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ 2.1 Mục tiêu của xã hội

Mỗi xã hội hướng đến rất nhiều mục tiêu như:

- Cải thiện phúc lợi kinh tế: là sự gia tăng trong tổng phúc lợi xã hội, được đo bằng sự gia tăng lợi ích ròng tạo ra từ sản xuất và tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ

- Cải thiện công bằng xã hội: là cải thiện trong phân phối lợi ích ròng giữa các

cá nhân trong xã hội và thường được giải thích bằng sự gia tăng cơ hội cho những người bị thiệt

- Cải thiện chất lượng môi trường: Cải thiện chất lượng môi trường xung quanh

và điều kiện sống,

Phân tích lợi ích – chi phí đánh giá trước hết sự mong muốn (theo lợi ích và chi phí) của các phương án theo mục tiêu phúc lợi kinh tế Phân tích này đánh giá sự mong muốn theo lợi ích và chi phí của tất cả các kết quả của một phương án kể cả các kết quả về môi trường CBA lựa chọn các phương án theo mục tiêu phúc lợi kinh tế để chỉ

ra phương án nào đóng góp nhiều nhất cho phúc lợi kinh tế Để hiểu khái niệm cải thiện phúc lợi kinh tế và cách đo lường sư cải thiện phúc lợi kinh tế phân tích lợi ích – chi phí sử dụng khái niệm tối ưu Pareto

2.2 Tối ưu Pareto

2.2.1 Cơ sở đạo đức của phân tích lợi ích chi phí

Phân tích lợi ích – chi phí dựa trên niềm tin cho rằng mọi thứ có thể được đánh giá theo ích lợi của chúng đối với các cá nhân Cơ sở đạo đức này được phát biểu theo

ba tiền đề sau đây:

- Các hoạt động và hàng hóa được đánh giá dựa vào sự ích dụng của chúng đối với con người

- Sự ích dụng đối với con người được đánh giá căn cứ vào ích dụng đối với cá nhân, và các cá nhân được xem như người đánh giá tốt nhất phúc lợi của chính mình

- Phúc lợi của tất cả các cá nhân phải được tính đến

Thuật ngữ “sự thỏa dụng” và “sự không thỏa dụng” được dùng từ lâu để thể hiện được ý niệm về sự ích dụng Bất cứ điều gì có ích đều mang lại sự thỏa dụng và

sự thỏa dụng có nghĩa là: đời sống (hoặc phúc lợi) khá hơn, sự thỏa mãn, hạnh phúc, cảm giác ấm áp, hoặc điều gì đó tốt hơn Ngược lại, bất cứ điều gì có hại thì mang lại

sự không thỏa dụng, sự không thỏa dụng mang ý nghĩa là không thỏa mãn, không hạnh phúc, cảm giác khó chịu hoặc điều gì đó xấu đi

Trang 16

2.2.2 Khái niệm tối ưu Pareto

Hai ứng dụng của khái niệm ích dụng cá nhân vào việc lựa chọn giữa các phương án (ví dụ giữa phương án A và hiện trạng) như sau:

- Ứng dụng 1: Phương án A tốt hơn tình trạng hiện tại nếu mỗi cá nhân nhận được sự thỏa dụng nhiều hơn từ phương án A so với từ tình trạng hiện tại (status quo)

- Ứng dụng 2: Phương án A tốt hơn tình trạng hiện tại nếu ít nhất có một người nhận được sự thỏa dụng nhiều hơn từ phương án A và không ai khác nhận ít đi so với tình trạng hiện tại

Pareto (1909) – nhà xã hội học và kinh tế học người Ý - sử dụng ứng dụng thứ hai trong khái niệm về tình trạng kinh tế tối ưu Tối ưu Pareto được định nghĩa là một tình trạng trong đó không có ai có thể giàu lên mà không làm người khác nghèo đi Thuật ngữ “giàu lên” thể hiện sự gia tăng thỏa dụng, và thuật ngữ “nghèo đi” thể hiện

sự gia tăng bất thỏa dụng Tối ưu Pareto đạt được khi tất cả các khả năng làm tăng phúc lợi đã được sử dụng hết

Định nghĩa tối ưu Pareto: Tối ưu Pareto được định nghĩa là một tình trạng trong

đó không một ai có thể giàu lên mà không làm người khác nghèo đi

Theo Jinden (1996), mục tiêu của phúc lợi kinh tế là tình trạng tối ưu Pareto mà tại đó không ai có thể giàu lên mà không làm người khác nghèo đi

Trang 17

Tối ưu Pareto đạt được khi tất cả các khả năng làm tăng phúc lợi đã được sử dụng hết Nói cách khác, tối ưu Pareto chỉ đạt được khi thỏa các điều kiện về hiệu quả trong cả quá trình sản xuất, trao đổi/tiêu dùng và trong phân phối

2.3 Cải thiện Pareto

2.3.1 Cải thiện Pareto thực tế và nguyên tắc cơ bản lựa chọn dự án

Ví dụ: Giả sử hiện tại A và B mỗi người nhận được phúc lợi là $25 Tổng phúc lợi là $50 Đây là điểm ở tình trạng hiện tại (status quo) Xã hội đang xem xét một dự

án (chính sách) nhằm tăng phúc lợi lên $100

Vấn đề đặt ra: trong các điều kiện nào kết quả của dự án sẽ làm cho A và B tốt hơn so với tình trạng hiện tại

Bất kỳ sự phân

bổ nào của $100 mà không làm ai giảm phúc lợi so với tình trạng hiện tại là một cải thiện Pareto Ví dụ, tăng phúc lợi của A lên

$75 trong khi đó B vẫn

có $25 (điểm a) là một điều tốt Tương tự, B nhận được $75 trong

Tại hai đầu đường UFUF hoặc cá nhân A hoặc

cá nhân B có thể nhận được $100 (và người kia nhận $0, hoặc cả hai có một tập hợp dọc theo đường UFUF sới phúc lợi $100 chia cho hai người

a

b

$75

$75Hình 2.3 Cải thiện Pareto thực tế

Trang 18

khi A vẫn có $25 ở điểm b là một điều tốt

Đường giới hạn Pareto là tất cả các điểm nằm giữa a và b Cả A và B cuối cùng nhận được nhiều hơn dọc theo đoạn ab

* Nguyên tắc giới hạn sử dụng (lựa chọn) – Cải thiện Pareto thực tế

Theo nguyên tắc này một phương án tốt có phải đưa các cá nhân vào trong (trên biên) vùng abc, trong vùng này thì xã hội tốt lên (người này được lợi, người kia cũng tăng phúc lợi hoặc ít nhận không bị giảm phúc lợi) Đây dược gọi chung là nguyên tắc giới hạn sử dụng

Nhận xét:

- Cả cá nhân A và B thích được chuyển đến bất kỳ điểm nào trên đường giới hạn Pareto (Pareto frontier)

- Những điểm trên đường giới hạn Pareto này đạt tối ưu Pareto vì phúc lợi của

A chỉ có thể tăng duy nhất bằng cách giảm phúc lợi của B

- Xã hội nên thực hiện chính sách này vì phúc lợi của các cá nhân đều tăng lên Nguyên tắc cơ bản cho việc lựa chọn là cải thiện Pareto thực tế Một thay đổi thực tế làm ít nhất một người giàu lên và không ai bị nghèo đi là một cải thiện Pareto thực tế, nghĩa là quyết định lựa chọn

2.3.2 Cải thiện Pareto tiềm năng và nguyên tắc thực tiễn lựa chọn dự án

Giả sử dự án sẽ dẫn đến một tình trạng nằm ngoài đường giới hạn Pareto UFUF (ngoài ab) (trên đường giới hạn Pareto tiềm năng) Trước hết giả sử rằng kết quả đạt được vẫn đạt tối ưu Pareto: nằm trên UFUF Có thể có hai khả năng:

- Khả năng 1: A sẽ giàu lên trong khi B sẽ nghèo đi (e)

- Khả năng 2: B sẽ giàu lên trong khi A sẽ nghèo đi (d)

a

be

d

Trang 19

Xét phương án d Phúc lợi của A giảm còn $10 và phúc lợi của B tăng lên $90 Giả sử ta chấp nhận phương án d và tiến hành điều tiết sao cho chuyển vào điểm d’, nghĩa là B nhận được được $60 và A được $40 Như vậy, ta vẫn kết luận:

- Cả cá nhân A và B đều có khả năng tốt hơn nếu thực hiện phương án d so với tình trạng hiện tại

- Dự án d được gọi là cải thiện Pareto tiềm năng (potential Pareto improvement) Với điều kiện “chuyển giao không tốn kém” để tổng phúc lợi vẫn là

$100: Cá nhân B có thể chuyển một số tiền của mình, ví dụ $30, cho cá nhân A sau khi thực hiện dự án d

=> Dự án d là một sự cải thiện Pareto tiềm năng và có thể vẫn tốt cho cả A và

B

Trên thực tế không có hoặc có rất ít dự án thỏa mãn nguyên tắc cải thiện Pareto thực tế Hầu hết các dự án/chính sách đều có người được kẻ mất Nếu ta chỉ chấp nhận các dự án thỏa mãn tiêu chí Pareto (cải thiện Pareto thực tế) thì xã hội sẽ không thể giải quyết nhiều vấn đề có thể giải quyết được

- Lưu ý rằng người được lợi không nhất thiết buộc phải thực sự đền bù cho kẻ mất Điều cần thiết là việc đền bù này là khả thi

- Cải thiện theo tiêu chí Kaldor-Hicks được sử dụng phổ biến như một tiêu chí hiệu quả trong phân tích lợi ích - chi phí

Nguyên tắc thực tiễn cho việc lựa chọn (theo tiêu chí Kaldor – Hicks) là cải thiện Pareto tiềm năng Một thay đổi làm ít nhất một người giàu lên và không ai bị nghèo đi là một cải thiện Pareto tiềm năng

Trang 20

Một dự án có người được kẻ mất, miễn lợi ích lớn hơn chi phí (NB>0), và việc người được có thể đền bù cho kẻ mất là khả thi gọi là một sự cải thiện Pareto tiềm năng Sự cải thiện này còn được gọi là cải thiện Kaldor-Hicks hay cải thiện Pareto tiềm năng

2.4 Mối quan hệ giữa lợi ích ròng và tối ưu Pareto

Mối liên hệ giữa lợi ích ròng dương và tối ưu Pareto là rất rõ: Nếu dự án có lợi ích ròng dương, thì có thể tìm ra một tập hợp các khoản chuyển giao mà làm cho ít nhất một người giàu lên mà không làm ai khác nghèo đi Để hiểu mối quan hệ này cần biết cách đo lường lợi ích và chi phí trong phân tích lợi ích – chi phí

Trong phân tích lợi ích – chi phí thì giá sẵn lòng trả được xem như phương pháp đánh giá (đo lường) lợi ích của dự án và chi phí cơ hội được xem như phương pháp đánh giá (đo lường) chi phí nguồn lực dùng để thực hiện dự án Các khái niệm này sẽ được giới thiệu kỹ hơn trong các chương sau, tuy nhiên để hiểu mối quan hệ giữa lợi ích ròng và tối ưu Pareto chúng ta cần nắm sơ qua các khái niệm căn bản này

- Giá sẵn lòng trả là một khoản tiền mà một người sẵn sàng chi trả hoặc nhận để

có thể bàng quan giữa tình trạng hiện tại và tình trạng nếu có dự án với khoản tiền chi trả hoặc nhận đó Lợi ích của một chính sách đối với xã hội là tổng sự sẵn lòng trả cho chính sách đó của mọi người

- Thực hiện dự án luôn đòi hỏi việc sử dụng đầu vào đáng ra có thể được sử dụng để sản xuất thứ khác có giá trị Chi phí cơ hội của việc sử dụng một nhập lượng

để thực hiện dự án là giá trị của nó trong việc sử dụng tốt nhất khác Chi phí cơ hội đo lường giá trị của những gì mà xã hội phải từ bỏ để sử dụng nhập lượng thực hiện dự

+ Thứ nhất, do khó khăn về thông tin (rất tốn kém)

+ Thứ hai, do chi phí quản lý để thực sự thực hiện việc chuyển giao đối với một

dự án cụ thể có thể rất cao

Trang 21

+ Thứ ba, do rất khó để vận hành hệ thống thanh toán đền bù mà không làm biến dạng đầu tư và hành vi của các hộ gia đình

+ Thứ tư, tạo động cơ cho người ta tìm cách nói quá chi phí và nói bớt lợi ích

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Khi sự phân bổ nguồn lực đạt tối ưu Pareto thì:

a Xã hội sẽ cung cấp lượng hàng hóa lớn nhất cho nhiều người nhất

b Không người tiêu dùng nào thích rổ hàng hóa tiêu dùng của người khác hơn

rổ hàng hóa của chính mình

c Không thể làm cho ai đó tốt hơn (giàu hơn) mà không làm người khác nghèo

đi

d Có thể làm cho ai đó giàu hơn mà không làm người khác nghèo đi

2 Tại sao nói “tối ưu Pareto chỉ đạt được khi tất cả các khả năng làm tăng phúc lợi đã được sử dụng hết”? Giải thích?

3 Tối ưu Pareto chỉ đạt được khi tất cả các điều kiện đạt về quả được thỏa mãn Như thế có nghĩa là phúc lợi xã hội cũng sẽ được tối đa hóa? Đúng hay sai? Giải thích?

4 Khác biệt cơ bản giữa cải thiện Pareto thực tế và cải thiện Pareto tiềm năng là gì? Loại nào phù hợp với điều kiện thực tế hơn? Tại sao? Rút ra kết luận gì trong phân tích lợi ích – chi phí?

5 Nếu một sự phân bổ nguồn lực đạt tối ưu Pareto, thì sự phân bổ đó phải thỏa mãn điều kiện:

a Hiệu quả phân phối (allocative efficiency) và hiệu quả sản xuất (production efficiency)

b Hiệu quả phân phối (allocative efficiency) và hiệu quả trao đổi (exchange efficiency)

c Hiệu quả sản xuất và hiệu quả trao đổi

d Hiệu quả sản xuất, hiệu quả trao đổi và hiệu quả phân phối

6 Trong thực tế khi thực hiện việc đền bù có thể gặp phải những khó khăn gì?

Và như thế sử dụng nguyên tắc cải thiện Parato tiềm năng có hợp lý hay không? Giải thích?

7 Giả sử có một cải thiện quan trọng về giao thông đường sắt giữa thành phố X

và thành phố Y, chi phí đầu tư này được tài trợ bằng thuế lấy từ các hãng sử dụng đường sắt để vận chuyển hàng đến và đi bằng tàu thủy Có thể có nhiều kịch bản khác nhau, bao gồm lời và lỗ cho các hãng sản xuất và cho người tiêu dùng như sau:

Trang 22

a Các hãng ở X và Y gia tăng được lượng buôn bán và lợi nhuận

b Chỉ có các hãng ở X (hoặc ở Y thôi) gia tăng được khối lượng mậu dịch và lợi nhuận, trong khi đó các hãng ở Y (hoặc ở X) thì không bị thiệt hại gì

c Các hãng không bị thiệt gì, vì lợi nhuận được tăng thêm Nhưng người tiêu dùng ở cả hai thành phố thì lại được dịp thoải mái lựa chọn nhiều chủng loại hàng hóa – với giá như cũ

d Như (c), ngoại trừ người tiêu dùng bây giờ được lựa chọn các loại hàng hóa như trước đây nhưng với giá rẻ hơn

Hỏi kịch bản nào có thể biểu hiện cải thiện Pareto thực tế? Khi nào kịch bản vi phạm tiêu chí về cải thiện Pareto thực tế?

Trang 23

Chương 3: CƠ SỞ KINH TẾ VI MÔ CHO PHÂN TÍCH LỢI ÍCH – CHI PHÍ 3.1 Mô hình tối ưu Pareto

Thị trường cạnh tranh là một thỏa thuận trao đổi hàng hóa và dịch vụ trong đó mỗi người tham gia có thể được lợi và không ai bị thiệt Do đó, thị trường cạnh tranh hữu ích cho xã hội vì nó khuyến khích cải thiện Pareto Mô hình thị trường này cho ta quy trình nhận dạng và đo lường lợi ích và chi phí Vì vậy, thị trường cạnh tranh hữu dụng cho các nhà phân tích vì nó cung cấp một phương pháp đánh giá lợi ích ròng của phương án cạnh tranh

Nội dung quan trọng của mô hình thị trường cạnh tranh là đường cầu thể hiện hành vi ứng xử của người tiêu dùng, đường cung thể hiện hành vi ứng xử của người sản xuất và tác động qua lại giữa cung – cầu trong quá trình trao đổi Các khái niệm, quy trình và công cụ của mô hình thị trường cạnh tranh có thể được áp dụng cho tất cả hàng hóa và dịch vụ, thậm chí những thứ không được trao đổi trên thị trường

Các khái niệm, quy trình và công cụ của mô hình thị trường cạnh tranh có thể được áp dụng cho tất cả hàng hóa và dịch vụ, thậm chí nhưng thứ không được trao đổi trên thị trường

3.2 Phân tích lợi ích – chi phí dựa trên mô hình cạnh tranh

Có ba loại hoạt động tổng quát trong nền kinh tế đó là sản xuất, trao đổi và tiêu dùng Thị trường đóng vai trò quan trọng trong tất cả các hoạt động này, đặc biệt trong trao đổi hàng hóa và dịch vụ, cũng như các nhập lượng sản xuất

Sản phẩm hoặc nhập lượng được trao đổi để lấy tiền và tương tác qua lại giữa người mua và người bán hình thành giá cả hàng hóa Về lý thuyết, mỗi thị trường là một thực thể duy nhất cho một loại hàng hóa hoặc nhập lượng cụ thể Trong thực tế, hầu hết thị trường trao đổi một số lượng rất nhỏ các hàng hóa gần giống nhau chứ không nhất thiết phải là những hàng hóa riêng biệt, duy nhất

Thị trường cạnh tranh là một thỏa thuận trao đổi với những đặc điểm sau đây:

- Nhỏ: mỗi người mua và mỗi người bán là rất nhỏ nên không thể gây ảnh hưởng giá cả sản phẩm hoặc nhập lượng

- Di chuyển: tất cả nhập lượng, hàng hóa và dịch vụ phải được di chuyển Người sản xuất có thể tham gia hoặc rời bỏ thị trường khi họ muốn Bằng cách này, họ

có thể mua nhập lượng và bán hàng hóa theo sự thay đổi giá cả và họ có thể sử dụng nhập lượng bất cứ nơi nào miễn thu nhập đem lại là cao nhất Tương tự, người tiêu dùng có thể tham gia hoặc rời bỏ bất cứ thị trường nào theo những thay đổi giá cả của hàng hóa hoặc dịch vụ Đặc điểm này cho phép mỗi cá nhân được lợi từ trao đổi và ngăn ngừa thiệt thòi của bất kỳ cá nhân nào trong sản xuất hoặc tiêu dùng hàng hóa

Trang 24

- Sự phản ứng không hạn chế: không có những kiềm chế nào về cầu, cung, giá hoặc số lượng trao đổi Không có giá cố định hoặc định lượng bởi chính phủ, nghiệp đoàn, người sản xuất hoặc người tiêu dùng Thái độ không hạn chế, di động của nhiều người tham gia nhỏ trong thị trường có thể làm tối đa hóa phúc lợi kinh tế

- Tính đồng nhất: người mua nhận biết rằng sản phẩm của bất kỳ một người bán nào trong một thị trường nhất định thì đồng nhất với sản phẩm của người bán khác trong cùng một thị trường Khi điều này thỏa mãn người tiêu dùng có thể mua hàng hóa như nhau từ bất cứ người sản xuất nào trên thị trường này

- Hiểu biết: tất cả mọi người tham gia đều có đầy đủ kiến thức Ví dụ: người tiêu dùng biết rõ về giá, nếu không họ có thể phải trả nhiều hơn mức cần thiết để mua được hàng hóa Người sản xuất biết chi phí và giá cả thị trường vì vậy họ có thể sản xuất sản phẩm đem lại lợi nhuận nhiều nhất

Trong thực tế, không có thị trường thực tế nào đáp ứng được tất cả những đặc điểm này Người ta dùng thị trường cạnh tranh như là mô hình lý thuyết tổng quát, do

đó những đặc điểm này là những giả định của mô hình Tính tổng quát này đòi hỏi một cách nhìn trừu tượng vì vậy mô hình không thể dự đoán được hành vi ứng xử trong tất

cả các thị trường Tuy nhiên, nó giải thích được thái độ thực tế trong một số thị trường

và là mô hình hiện hữu, thực tiễn nhất về động thái của người tiêu dùng và người sản xuất

Các mô hình về hành vi ứng xử trong thị trường này là đường cầu dùng để định giá lợi ích và đường cung dùng để định giá chi phí

3.3 Đường cầu và thay đổi thặng dư tiêu dùng

3.3.1 Đường cầu

Các nhà kinh tế giả định rằng người tiêu dùng chọn những hàng hóa để tối đa hóa tổng thỏa dụng nhận được từ việc chi tiêu của họ Cùng một thị trường, cùng người tiêu dùng và cùng khoảng thời gian, người ta thường mua nhiều ở giá thấp và mua ít ở mức giá cao Mối quan hệ hành vi tổng quát này được gọi là luật cầu và nhu cầu được hình dung như là một bảng liệt kê số lượng được mua ở mỗi mức giá

Đường cầu cho biết lượng một hàng hóa các cá nhân mua ở các mức giá khác nhau Nói cách khác, thể hiện quan hệ giữa lượng hàng hóa sẽ được mua với các mức giá khác nhau khi giữ nguyên các yếu tố khác Mỗi người có một đường cầu cá nhân riêng; tất cả các cá nhân trong một thị trường hình thành nên đường cầu thị trường Giả định cơ bản trong kinh tế học là đường cầu dốc xuống (đường D) như hình 3.1 dưới đây

Trang 25

Hình 3.1 Đường cầu Nguyên căn của đường cầu dốc xuống dựa vào nguyên lý hữu dụng biên giảm dần; mỗi đơn vị hàng hóa kế tiếp có giá trị hơi ít hơn một chút đối với mỗi người tiêu dùng so với đơn vị hàng hóa trước đó Vì lý do đó mà mỗi người tiêu dùng sẽ sẵn lòng trả ít hơn cho một đơn vị tiêu dùng kết tiếp Thực vậy, đến một mức nào đó, mỗi người tiêu dùng sẽ không sẵn lòng trả đồng nào cả cho một đơn vị tiêu dùng tiếp theo Như vậy ý tưởng về đường cầu chỉ ra người tiêu dùng sẵn lòng trả (tối đa) bao nhiêu cho các mức tiêu dùng khác nhau có nghĩa hết sức quan trọng để hiểu vai trò của đường cầu trong phân tích lợi ích – chi phí

Hình 3.1 chỉ ra rằng sẽ có ít nhất một người sẵn lòng trả mức giá P1 cho X1 đơn

vị Tương tự sẽ có ít nhất một người sẵn lòng trả mức giá P2 cho đơn vị hàng hóa thứ 2

Người tiêu dùng mong nhận được sự thỏa dụng từ tiêu dùng một hàng hóa

Sự thỏa dụng này hướng dẫn sự mua sắm hàng hóa và do đó làm nền tảng cho mối quan hệ giá cả - số lượng của đường cầu

Tổng thỏa dụng là tổng sự thỏa mãn có được từ việc tiêu dùng tất cả hàng hóa cụ thể ở một thời gian cụ thể - với điều kiện là số lượng hàng hóa khác vẫn được tiêu dùng như cũ

Thỏa dụng biên tế là sự thỏa mãn tăng thêm có được từ tiêu dùng thêm một hàng hóa cụ thể ở một thời gian cụ thể - với điều kiện là số lượng hàng hóa khác vẫn được tiêu dùng như cũ

Thỏa dụng biên tế thường giảm theo mỗi đơn vị tiêu dùng tăng thêm, khuynh hướng này được biết đến như là nguyên tắc thỏa dụng biên tế giảm dần Mặc dầu tổng thỏa dụng tiếp tục tăng lên nhưng thỏa dụng biên tế giảm bởi vì đơn

vị thứ hai đem lại ít thỏa dụng hơn cái thứ nhất, đơn vị thứ ba đem lại ít thỏa dụng hơn đơn vị thứ hai…

Trang 26

X2, Như vậy, diện tích dưới đường cầu là giá trị ước lượng gần đúng cho tổng giá sẵn lòng trả cho hàng hóa X của tất cả các cá nhân trong xã hội, chính xác hơn đó là tổng diện tích tam giác phía trên và diện tích hình chữ nhật màu tối ở dưới Tổng giá trị này còn được gọi là tổng lợi ích gộp mà xã hội sẽ nhận được nếu tiêu dùng một lượng X* hàng hóa X

Người tiêu dùng có một lợi ích ròng, hoặc thặng dư khi sự sẵn lòng trả nhiều hơn giá thị trường Sự sẵn lòng trả vượt quá giá thị trường được gọi là thặng dư của người tiêu dùng

Trong hầu hết các trường hợp, người tiêu dùng thực sự phải trả một khoản tiền nào đó để được tiêu dùng hàng hóa X Giả sử rằng thị trường cạnh tranh xác lập giá cân bằng của hàng hóa X là P* Như vậy, người tiêu dùng thực sự phải trả P*X*, diện tích hình chữ nhật màu tối, cho nhà sản xuất hàng hóa đó Trong trường hợp này, lợi ích ròng từ việc tiêu dùng hàng hóa X tại mức X* đơn vị: tổng lợi – khoản tiền phải trả, bằng diện tích dưới đường cầu nhưng trên đường giá Diện tích này được gọi là thặng dư tiêu dùng

3.3.2 Thay đổi thặng dư tiêu dùng

Để biết khái niệm thặng dư tiêu dùng có thể được dùng trong phân tích lợi ích – chi phí như thế nào, hãy xem xét một dự án/chính sách dẫn đến một sự thay đổi giá Ví

dụ như hình 3.2a, một chính sách làm giảm giá hàng hóa X từ P* xuống P1 sẽ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng (nghĩa là tăng thặng dư tiêu dùng) bằng diện tích P*ABP1– kết quả này do người tiêu dùng trả giá thấp hơn cho lượng tiêu dùng như trước và tiêu dùng thêm một lượng X1 – X*

Tương tự, ở đồ thị 3.2b, một chính sách làm tăng giá hàng hóa X từ P* lên P2 sẽ

P

Q X*

Trang 27

Nếu thay đổi giá hàng hóa X, ∆P và thay đổi lượng tiêu dùng hàng hóa X, ∆X đều biết và đường cầu là tuyến tính thì thay đổi thặng dư tiêu dùng ∆CS có thể dễ dàng được tính theo công thức:

∆CS = (∆P)X* + 0,5(∆X)(∆P)

3.3.3 Đường cầu cá nhân và đường cầu thị trường

Hình 3.3 Đường cầu cá nhân và đường cầu thị trường Đường cầu thị trường của một loại hàng hóa tư nhân đơn giản chỉ là tổng theo trục hoành (hàng ngang) tất cả các đường cầu cá nhân tại mỗi mức giá Đường cầu cá nhân cho biết lượng cầu của hàng hóa mội người tiêu dùng muốn mua ở mỗi mức giá Bằng cách cộng tất cả các lượng cầu ở mỗi mức giá ta sẽ có đường cầu thị trường của hàng hóa đó Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong phân tích lợi ích – chi phí vì nó hàm ý rằng một đường cầu thị trường có thể được sử dụng một cách hợp lý để đo lường ảnh hưởng của một sự thay đổi giá lên tổng thặng dư tiêu dùng của tất cả người mua hàng hóa trên thị trường Hay nói cách khác, tổng thặng dư tiêu dùng chỉ đơn giản

là tổng tất cả thặng dư của mỗi người tiêu dùng trên thị trường, và vì thế thay đổi trong tổng thặng dư tiêu dùng sẽ tương đương tổng các giá trị giá sẵn lòng trả theo một mức thay đổi giá nhất định

3.4 Đường cung và thay đổi thặng dư sản xuất

3.4.1 Đường cung

Các nhà kinh tế giả định rằng người sản xuất theo đuổi việc tối đa hóa lợi nhuận như là mục đích chính của họ Một hãng sẽ tăng sản lượng nếu giá tăng, bởi vì làm như vậy thì sẽ tăng lợi nhuận Mối quan hệ ứng xử tổng quát này là khuynh hướng tăng sản xuất khi giá tăng, gọi là quy luật cung

Cung được hình dung như một bảng liệt kê số lượng được sản xuất ở mỗi mức giá và đường cung là đồ thị của bảng kê này Cung có thể liên quan đến hãng cá nhân hay tất cả các hãng trên thị trường

Trang 28

Các chi phí tăng thêm cần có để tăng số lượng sản xuất là các chi phí quan trọng cho việc phân tích Sử dụng thuật ngữ chi phí biên tế để chỉ khoản chi phí tăng thêm để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm

Một đường cung miêu tả các chi phí biên cho từng lượng sản xuất nhất định Các chi phí biên tế bao gồm tất cả các chi phí phải được biến đổi để thay đổi sản xuất Mối quan hệ giữa giá, lợi nhuận và chi phí biên tế làm cơ sở cho hành vi ứng xử của người sản xuất và đường cung Người sản xuất có khuynh hướng tăng sản xuất một hàng hóa hay dịch vụ cụ thể khi giá cả của nó tăng bởi vì họ có thể tăng lợi nhuận bằng cách làm như vậy

Đường cung mô tả chi phí sản xuất biên tế của mỗi số lượng sản xuất Người sản xuất tối đa hóa lợi nhuận sẽ tăng lượng sản xuất tới mức mà tại đó giá cả bù đắp đủ hoặc bằng chi phí biên – bởi vì điều này tối đa hóa lợi nhuận Khi giá thị trường vượt quá chi phí biên, người sản xuất nhận được một lợi ích ròng, và phần giá cả vượt quá chi phí được gọi là thặng dư của người sản xuất

Từng nhà sản xuất riêng lẻ định nghĩa chi phí như là lượng tiền cần thiết để có được nhập lượng dùng cho sản xuất Việc này đúng vì số tiền này chính là chi phí nguồn lực thật sự của họ Nhưng xã hội sẽ đánh giá chi phí theo một cách khác Chi phí xã hội của một nhập lượng cụ thể là số tiền kiếm được trong cách sử dụng khác tốt nhất, vì số tiền kiếm được này chính là cái mà nhà sản xuất đã từ bỏ Khoản thu nhập

bị hy sinh này có thể chuyển về cho một hãng khác, hay từ một hoạt động khác nhưng

sẽ vẫn được tạo ra cho xã hội như là một tổng thể Chi phí xã hội thực của việc sử dụng nhập lượng trọng phương án A là khoản thu nhập tiềm năng của nhập lượng đó nếu được sử dụng cho phương án khác gọi là B nhưng bị bỏ qua Khoản thu nhập này gọi là chi phí cơ hội và định nghĩa nó như là khoản thu nhập có thể kiếm được theo một phương án khác tốt nhất sử dụng nhập lượng đó

3.4.2 Đường cung thị trường

Tương tự trường hợp đường cầu, một đường cung thị trường có thể được rút ra bằng cách cộng theo hàng ngang các đường cung cá nhân của các doanh nghiệp riêng

lẻ trên thị trường Các đường cung cá nhân này cho biết lượng cung mỗi doanh nghiệp

sẽ sẵn lòng bán ở mỗi mức giá Vì thế các đường cung cá nhân cung cấp thông tin để xác định tổng cung sẵn có trên thị trường tại mỗi mức giá

Trang 29

Hình 3.4 Đường cung thị trường Đường S là đường cung thị trường của hàng hóa X Diện tích dưới đường cung

S chỉ tổng chi phí biến đổi, đó là chi phí cơ hội để sản xuất lượng hàng hóa X* Diện tích OabX* còn gọi là chi phí tăng thêm để sản xuất (thêm) X* Nói cách khác, đây là tổng doanh thu tối thiểu mà các hãng phải nhận được trước khi họ sẵn lòng sản xuất sản lượng X*

3.4.3 Thặng dư sản xuất

Mặc dù diện tích OabX* (trên hình 3.4) là tổng doanh thu tối thiểu mà các hãng trên thị trường phải nhận được trước khi họ sẵn lòng sản xuất sản lượng X* tại mức giá P*, các hãng này thực sự nhận được tổng doanh thu bằng diện tích hình chữ nhật OP*bX* Khoảng chênh lệnh, diện tích aP*b, được gọi là thặng dư sản xuất (lợi nhuận kinh tế) Như vậy, thặng dư sản xuất bằng doanh thu bán sản lượng X* trừ chi phí biến đổi để sản xuất X* Nói cách khác, tổng thặng dư sản xuất và chi phí cơ hội bằng tổng doanh thu Tương tự trường hợp thặng dư tiêu dùng, thặng dư sản xuất cũng sẽ thay đổi theo sự thay đổi giá do các chính sách tác động của chính phủ Chẳng hạn, giá giảm từ P* xuống P1 sẽ giảm thặng dư sản xuất bằng diện tích P*bcP1 và giá tăng từ P* lên P2 làm tăng thặng dư sản xuất bằng khoảng P*bdP2

Trang 30

3.5 Lợi ích xã hội ròng

Hình 3.5 Mô hình lợi ích xã hội ròng Tổng thặng dư tiêu dùng và thặng dư xã hội được gọi là thặng dư xã hội như trên đồ thị 3.5 là diện tích abc Định nghĩa theo cách khác, thặng dư xã hội là phần chênh lệch giữa diện tích dưới đường cầu (đó chính là tổng lợi ích người tiêu dùng nhận được từ việc tiêu dùng sản lượng X*) và diện tích dưới đường cung (đó chính là chi phí cơ hội để sản xuất sản lượng X* Tại mức sản lượng cân bằng (trong trường hợp này là tạo mức sản lượng X*) thặng dư xã hội (lợi ích – chi phí) là tối đa Như vậy trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì cân bằng thị trường sẽ tối đa hóa thặng dư xã hội, hay đúng hơn là cân bằng thị trường sẽ đạt được tối ưu Pareto: Không thể làm cho một người giàu lên mà không làm cho ai khác nghèo đi Thực vậy, điểm cân bằng X* được gọi là điểm đạt hiệu quả phân phối vì bất kỳ sự kết hợp (tương tác) nào khác giữa cung – cầu thị trường mà có quá ít hay quá nhiều nguồn lực được phân bổ cho sản xuất

ra hàng hóa X sẽ làm giảm thặng dư xã hội Trong trường hợp có biến dạng sẽ gây ra

tổ thất cho xã hội Có thể nói rằng tối ưu Pareto (hiệu quả phân phối) có thể đạt được chỉ khi giá mà người tiêu dùng trả cho một hàng hóa bằng chi phí biên của xã hội để sản xuất hàng hóa đó

Trang 31

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Hãy minh họa bằng đồ thị và cách tính toán thặng dư tiêu dùng, thặng dư sản xuất, thặng dư xã hội; và thay đổi thặng dư tiêu dùng, thay đổi thặng dư sản xuất, thay đổi thặng dư xã hội? Điểm khác biệt cơ bản của hai nhóm khái niệm này là gì? Vai trò của các khái niệm này trong phân tích lợi ích – chi phí là gì?

2 Giá sẵn lòng trả là gì? Tầm quan trọng của nó trong phân tích?

3 Chi phí cơ hội là gì? Tầm quan trọng của nó trong phân tích?

4 Cầu hàng hóa A của một cá nhân được cho bởi phương trình sau đây:

q = 6 – 0.5p + 0.0001I

trong đó q là lượng cầu tại mức giá p khi thu nhập của cá hân là I Giả sử lúc

đầu cá nhân A có mức thu nhập là $40.000

a Tại mức giá nào thì lượng cầu bằng 0

b Nếu giá thị trường là $10, lượng cầu là bao nhiêu?

c Tại mức giá là $10, độ co giãn của cầu A theo giá là bao nhiêu?

d Tại mức giá là $10, thặng dư tiêu dùng là bao nhiêu?

e Nếu giá tăng lên $12, thì tổn thất thặng dư tiêu dùng là bao nhiêu?

f Nếu thu nhập của A bây giờ là $60.000, tổn thất thặng dư tiêu dùng sẽ là bao nhiêu nếu giá tăng từ $10 lên $12?

5 Tại điểm cân bằng thị trường hiện tại, giá của một hàng hóa là $30 và lượng

là 10 đơn vị Tại điểm cân bằng này, độ co giãn của cung theo giá là 1.5 Giả sử ta có đường cung tuyến tính

a Hãy sử dụng thông tin về độ co giãn và cân bằng thị trường để tìm hàm cung?

Trang 32

Chương 4: NHẬN DẠNG LỢI ÍCH VÀ CHI PHÍ 4.1 Nguyên tắc tổng quát

Lợi ích và chi phí được nhận dạng thông qua sự ích dụng đối với cá nhân, và phải bao gồm tất cả các kết quả cho mọi người Lợi ích thực là sự gia tăng thỏa dụng cho bất kỳ ai Chi phí thực là sự gia tăng sự không thỏa dụng cho bất kỳ ai Một kết quả là kết quả xã hội thực chỉ khi nó làm biến đổi lợi ích ròng cho toàn xã hội Nguyên tắc tổng quát này được ứng dụng để suy ra các hướng dẫn nhận dạng các lợi ích và chi phí xã hội của các phương án

4.2 Các hướng dẫn cụ thể

4.2.1 Tính những kết quả tăng thêm

Lợi ích tăng thêm hay chi phí tăng thêm từ dự án phải được tính mà không phải

là tổng lợi ích hay tổng chi phí

- Cần phân biệt giữa tổng lợi ích (chi phí) với thay đổi trong lợi ích (chi phí) Các lợi ích tăng thêm là các kết quả chỉ có thể đạt được bằng cách thực hiện dự án, và các chi phí tăng thêm chỉ có thể tránh bằng cách không thực hiện dự án

- Sự đóng góp của một dự án chỉ phụ thuộc duy nhất vào cách nó làm thay đổi lợi ích hay chi phí so với hiện trạng

- Ví dụ: Nâng cấp đường ray, phát triển khu rừng quốc gia, kênh dẫn nước cho sản xuất lúa,

4.2.2 Loại trừ các kết quả chìm

Các chi phí và lợi ích chìm không làm thay đổi lợi ích xã hội ròng của các dự

án mới, do đó phải loại trừ chúng khỏi các tính toán lợi ích và chi phí của dự án

- Đối với phân tích tài chính và phân tích lợi ích – chi phí thì quá khứ là quá khứ Điều cần quan tâm là chi phí và lợi ích tương lai Các chi phí đã phát sinh hay lợi ích đã nhận được trước khi dự án bắt đầu thì bây giờ không thể tránh hay thay đổi được Chúng không ảnh hưởng đến lợi ích ròng của các phương án tiềm năng, không ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn Cho nên, ta không xét đến chúng trong các phân tích lợi ích – chi phí hay phân tích tài chính

- Chi phí chìm không phải là một mất mát trong thu nhập do thực hiện các phương án mới, vì vậy chúng không phải là chi phí cơ hội và không cần phải đưa vào tính toán

4.2.3 Loại trừ các chi phí chung (chi phí cố định)

Các chi phí chung hay chi phí cố định không làm biến đổi lợi ích ròng giữa các

Trang 33

- Sản xuất hàng hóa và dịch vụ thường liên quan đến các chi phí nhất định bất

kể là sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu và sản xuất như thế nào Các chi phí này là chi phí chung cho tất cả các phương án

- Ví dụ: Thuế sử dụng tài nguyên

4.2.4 Tính tất cả các thay đổi về lợi ích

Tất cả các thay đổi về lợi ích gắn với một dự án phải được tính đến

- Phải tính toán các thay đổi trực tiếp do dự án tạo ra

- Phải xem xét thay đổi do dự án tạo ra, nhưng xảy ra ở bên ngoài dự án

- Ví dụ: Áp dụng giống mới, kỹ thuật canh tác mới

4.2.5 Tính tất cả thay đổi về chi phí

Tất cả các thay đổi về chi phí gắn với một dự án phải được tính đến

- Phải tính toán các thay đổi trực tiếp do dự án tạo ra

- Phải xem xét thay đổi do dự án tạo ra, nhưng xảy ra ở bên ngoài dự án

- Lưu ý: Lợi ích và chi phí không chỉ được căn cứ vào sự gia tăng về xuất lượng

và nhập lượng tương ứng, mà còn có thể từ việc giảm chi phí, giảm xuất lượng

4.2.6 Loại trừ các khoản thanh toán chuyển giao

Các khoản thanh toán chuyển giao không đo lường lợi ích từ hàng hóa, hay chi phí của nhập lượng, và do đó chúng phải được loại trừ

Một số giao dịch tiền tệ không chứa đựng các trao đổi về hàng hóa hay nhập lượng tương ứng Tiền có thể được chuyển từ một cá nhân hay nhóm đến người khác

mà không trao đổi hàng hóa hay nguồn lực nào Các nhà kinh tế sử dụng thuật ngữ

“các khoản thanh toán chuyển giao” để trình bày về dòng tiền này

4.2.7 Xem xét thuế và trợ cấp

Thuế và trợ cấp đôi khi phải được tính đến và đôi khi phải được loại trừ

- Thuế và trợ cấp tạo ra sự chênh lệch giữa giá người mua và giá người sản xuất nhận được, vậy nên sử dụng giá nào trong phân tích lợi ích chi phí?

- Cách giải quyết các khoản này như sau:

o Ứng dụng khái niệm giá sẵn lòng trả để xem xét thuế và trợ cấp có phải là lợi ích của dự án hay không

o Ứng dụng khái niệm chi phí cơ hội để để xem xét thuế và trợ cấp có phải là chi phí của dự án hay không

- Việc xử lý phụ thuộc vào việc dự án có làm tăng hay thay thế số lượng hàng hóa trên thị trường (xuất lượng), và có làm tăng hay thay thế nhập lượng trên thị trường hay không

Trang 34

Hình 4.1

* Xét trường hợp về xuất lượng của một dự án

(a) Nếu xuất lượng là một sự gia tăng ròng về tổng xuất lượng, hàng hóa được định giá theo giá sẵn lòng trả của người tiêu dùng – đó là giá bao gồm cả thuế Dq2)

(b) Nếu sản phẩm mới thay thế sản phẩm hiện có, hàng hóa mới được định giá theo chi phí cơ hội của sản xuất Chi phí cơ hội này là giá trị của nhập lượng mà lẽ ra được tiết kiệm – là sản phẩm tính theo giá nhập lượng loại trừ thuế (Dq1)

Một dự án cụ thể thường tạo ra khoản tiêu dùng mới và thay thế khoản tiêu dùng hiện tại nào đó Trong trường hợp này, giá trị thích hợp là các giá trị được tính theo cách (a) và (b), được lấy trọng số theo số lượng tương ứng Ví dụ: giả sử 15% sản phẩm của dự án tạo ra lượng tiêu dùng mới và 85% thay thế lượng tiêu dùng hiện có Giá trị thích hợp là [(0,15 x giá trị từ (a)) + (0,85 x giá trị từ (b))]

* Xét trường hợp nhập lượng

(a) Nếu dự án đưa tới một sự gia tăng ròng về nhập lượng có thể sẵn sàng cung ứng, mỗi đơn vị nhập lượng được định giá theo chi phí cơ hội thực của nó – đó là chi phí xã hội thực của tài nguyên được sử dụng – là chi phí thị trường không tính bất kỳ loại thuế nào nhưng bao gồm trợ cấp

(b) Nếu dự án sử dụng nhập lượng mà trước đây được sử dụng ở nơi khác, thì chi phí cơ hội của nó là giá mà những người sử dụng khác sẵn lòng trả cho chúng – đó

là chi phí gồm cả thuế nhưng loại trừ trợ cấp

Một dự án có thể thu hút một lượng đầu vào (nhập lượng) gia tăng trên thị trường, đồng thời có thể lấy đi nhập lượng từ các mục đích sử dụng hiện hành khác Vậy, giá trị đơn vị thích hợp được suy ra bằng cách lấy trọng số các giá trị từ (a) và (b) như đã làm ở trên đối với trường hợp xuất lượng

Trang 35

Phải tính các chi phí của chính phủ theo chi phí cơ hội thực của chúng

Chính quyền các cấp tính lệ phí một cách trực tiếp cho các hàng hóa và dịch vụ

mà họ cung cấp Cấp địa phương tính lệ phí nước, điện và thu gom rác; cấp quốc gia tính lệ phí cấp bằng lái xe, đăng ký xe, thuê đồng cỏ và tham quan công viên quốc gia…

Các lệ phí này biểu hiện chi phí của việc cung ứng nhập lượng do đó phải được tính đến trong tính toán lợi ích – chi phí Khi các lệ phí này được xác định theo chi phí

cơ hội, chúng phải được tính theo mức thực của nó Khi không được xác định theo chi phí cơ hội, thì chúng phải được đưa vào tính theo chi phí xã hội thực

vô ý tính cả hai cho nó

4.2.10 Loại trừ các kết quả quốc tế

Loại trừ lợi ích và chi phí phát sinh bên ngoài biên giới quốc gia

Các ảnh hưởng của một dự án có thể vượt ra ngoài biên giới quốc gia, ví dụ, khi sản lượng nông nghiệp gia tăng được xuất khẩu và tiêu dùng ở nước ngoài, hay thiết bị chuyên dùng sản xuất ở nước ngoài được nhập khẩu, các kết quả nêu trên là thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất ở các quốc gia khác Lưu ý: các kết quả xảy ra bên trong quốc gia do các hãng thuộc sở hữu của người nước ngoài phải được tính vào 4.2.11 Xem xét các thay đổi về giá trị tài sản

- Đối với dự án có thời gian tồn tại xác định, tính thu nhập hàng năm cho đến khi kết thúc dự án, tính chi phí thay thế khi chúng phát sinh và đưa vào tính toán bất

cứ thay đổi nào về giá trị tài sản vào cuối dự án

- Đối với dự án có thời gian tồn tại vô hạn, tính thu nhập hàng năm theo toàn

bộ thời gian tồn tại và đưa vào bất kỳ chi phí thay thế nào cần thiết để duy trì giá trị tài sản ngay khi chúng phát sinh

4.2.12 Phân biệt kết quả tư nhân với kết quả xã hội

Một số kết quả bằng tiền thích hợp với cá nhân hay phân tích tài chính của công

ty, nhưng không thích hợp để phân tích lợi ích – chi phí cho toàn xã hội và ngược lại

Các lợi ích và chi phí phù hợp với một công ty tư nhân hay hộ gia đình có thể không phù hợp với xã hội và ngược lại

4.2.13 Tính các ngoại tác

Trang 36

Ngoại tác xuất hiện khi sản xuất hay tiêu dùng của cá nhân (hay nhóm các cá nhân) ảnh hưởng đến sản xuất hay tiêu dùng của cá nhân (hay nhóm cá nhân) khác và không có sự đền bù hay thanh toán nào được thực hiện bởi cá nhân gây ảnh hưởng

Tất cả các ngoại tác phải được nhận dạng, định giá và đưa vào tính toán vì chúng là những thay đổi thực về lợi ích xã hội ròng

Trong thị trường cạnh tranh, không có lợi ích và chi phí cấp hai và do đó chúng không được đưa vào tính toán trong phân tích lợi ích – chi phí Nhưng trong các thị trường không cạnh tranh các kết quả cấp hai có thể hiện hữu và do đó phải được nhận dạng và đưa vào tính toán

4.2.14 Tính các kết quả không có giá

Các kết quả của dự án có thể là chất lượng nước, chất lượng không khí, cải thiện sức khỏe, giải trí, bảo tồn, … Các loại hàng hóa này không được trao đổi trên thị trường, và được gọi chung là kết quả không có giá Những kết quả này rất quan trọng

và thường không được xem xét trong các phân tích tài chính

Lợi ích và chi phí không có giá là các thay đổi thực về lợi ích xã hội ròng, vì vậy chúng phải được nhận dạng và đưa vào phân tích

4.3 Phân loại lợi ích và chi phí

Quy trình phân loại lợi ích và chi phí theo từng khoản mục thích hợp có thể giúp việc nhận dạng và xác định chúng cho sự đánh giá tiếp theo Một sự phân loại dễ thấy là phân loại lợi ích và chi phí Cách phân loại khác là so sánh kết quả chính với kết quả phụ vì phân biệt chúng rất khó Cách phân loại thứ ba gồm kết quả kinh tế với kết quả tài chính, ngoại tác với nội tác và kết quả có giá với kết quả không có giá

- Quy trình xác định các khoản mục:

+ Xác định và trình bày từng lợi ích và chi phí

+ Lập bảng cho mỗi lợi ích và chi phí theo một trong tám loại

- Hai nguyên tắc cơ bản trong phân tích lợi ích – chi phí:

Trang 37

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Xem xét một dự án mở rộng đường phố sẽ làm tăng đáng kể lưu lượng giao thông dọc đường này Xem xét loại thị trường cho mỗi tình huống sau đây và xem kết quả đó có nên được tính trong CBA hay không? Giải thích tại sao?

a Tăng giao thông sẽ gây những chấn động có thể làm nứt tường nhà khu vực dân cư lân cận

b Lợi nhuận của các cây xăng dọc đoạn đường này sẽ tăng

c Giá trị tài sản của các cây xăng sẽ tăng

d Kẹt xe trên các đường lân cận sẽ giảm Vì thế những người sử dụng những con đường lân cận sẽ đi nhanh hơn và chi phí sẽ giảm

e Ô nhiễm không khí khu vực dọc đoạn đường này sẽ tăng

f Gia tăng lưu lượng giao thông nên đòi hỏi thành phố cần thêm lực lượng cảnh sát để giữ gìn trật tự giao thông

g Số người sử dụng mô tô tăng lên sẽ làm tăng số vụ vi phạm giao thông và doanh thu của thành phố sẽ tăng do tăng tiền phạt

h Ít người đi xe buýt hơn và kết quả là công ty xe buýt sẽ xa thải 10 tài xế

i Mở rộng đường sẽ phải chặt một số cây dọc đường Số cây này có thể được bán cho một nhà máy chế biến gỗ gần đó

2 Một nhà máy theo quy mô lớn tạo ra công ăn việc làm cho gần 20.000 dân trong thành phố nhưng lại gây ô nhiễm nhiều Ống khói của nhà máy mày không có bộ phận lọc, do đó chất lượng không khí của thành phố ở mức dưới tiêu chuẩn của tổ chức Y tế thế giới (WHO) một nửa thời gian trong năm Nhà máy cũng đồng thời xả ra bùn và nhiều loại chất thải lỏng vào con rạch nhỏ dẫn ra biển ở hạ lưu cách đó khoảng vài cây số

Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm khắt khe sẽ đem lại nhiều tác động có lợi, bao gồm nâng cao tình trạng sức khỏe và giảm sự vắng mặt của công nhân ở nhà máy Nhưng nhà máy cho rằng các quy định kiểm soát ô nhiễm này sẽ đẩy giá thành lên cao

và sẽ làm mất thu nhập về xuất khẩu

Hãy nhận dạng các lợi ích và chi phí của phương án có kiểm soát ô nhiễm

Trang 38

Chương 5: ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH CHI PHÍ CÓ GIÁ THỊ TRƯỜNG

5.1 Cơ sở đánh giá theo giá thị trường

Hình 5.1 Cơ sở đánh giá theo giá thị trường Khi thị trường cạnh tranh, giá cả của một xuất lượng hay nhập lượng có thể sử dụng trực tiếp để suy ra giá trị và hai trường hợp cạnh tranh được nêu ra ở phần trên của hình 5.1 Khi thị trường không cạnh tranh, giá cả phải được điều chỉnh để suy ra giá trị xã hội thực

Khi điều chỉnh giá thị trường để tìm ra giá trị xã hội thực, ta gọi giá trị mới này

là giá ẩn vì nó phản ánh giá cả xã hội thực

5.2 Giá ở thị trường cạnh tranh và không cạnh tranh

5.2.1 Giá ở thị trường cạnh tranh và không cạnh tranh

Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo giá cả bằng chi phí xã hội biên và bằng lợi ích xã hội biên của một đơn vị hàng hóa và dịch vụ tăng thêm Khi phương án làm tăng sản lượng nhỏ so với toàn nền kinh tế, được gọi là sự thay đổi biên tế về lượng Ngược lại, số lượng tương đối lớn làm ảnh hưởng giá cân bằng thị trường được gọi sự thay đổi không biên tế

Trong thị trường canh tranh không hoàn hảo, có 3 trường hợp ảnh hưởng làm sai lệch giá thị trường:

- Các chính sách can thiệp của chính phủ như thuế, thuế quan, trợ giá

- Các tài nguyên khan hiếm

- Sở hữu nước ngoài

Trong trường hợp này, phải điều chỉnh giá thị trường để tìm ra giá trị thực Giá ẩn (giá kinh tế) của hàng hóa dịch vụ là giá sẵn lòng trả thực sự cả xã hội

Đánh giá sự thay đổi biên tế về lượng

Đánh giá sự thay đổi không biên tế về lượng

Thị trường

cạnh tranh

Sử dụng giá

cả thị trường

Điều chỉnh đối với tài nguyên khan hiếm

Điều chỉnh đối với trường hợp sở hữu nước ngoài

Thị trường

không

cạnh tranh

Suy ra các giá ẩn Điều chỉnh can thiệp của chính phủ

(thuế, thuế quan, trợ giá)

Ngày đăng: 19/08/2021, 17:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w