Để đạt được điều đó, doanh nghiệp cũng đã không ngừng nỗ lực để phát triển, bên cạnh đó, nhà quản trị doanh nghiệp cần phải sử dụng các công cụ quản lý tài chính của đơn vị mình, kế toán
Trang 1LÊ THỊ KIỀU NGA
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊCHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY TNHH THIÊN NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Bình Định –Năm 2019
Trang 2LÊ THỊ KIỀU NGA
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊCHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY TNHH THIÊN NAM
Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã số: 8.34.03.01
Người hướng dẫn:GS TS NGUYỄN VĂN CÔNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy GS.TS Nguyễn Văn Công
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này, cũng như đã giúp đỡ tôi hoàn thiện kiến thức chuyên môn của bản thân
Tôi xin trân trọng cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học, Khoa Kinh tế & Kế toán Trường Đại học Quy Nhơn đã quan tâm đào tạo và tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, các Trưởng, Phó phòng ban cùng toàn thể đội ngũ nhân viên tại Công ty TNHH Thiên Nam đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong quá trình khảo sát số liệu và hoàn thiện luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Lê Thị Kiều Nga
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn với đề tài “Hoàn thiệnkế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Thiên Nam” là do tôi nghiên cứu thực hiện
dưới sự hướng dẫn khoa học của Thầy GS.TS Nguyễn Văn Công Các thông tin trong luận văn là những thông tin thu thập thực tế tại đơn vị Luận văn này chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Bình Định, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Lê Thị Kiều Nga
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 7
7 Kết cấu của luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 8
1.1.Bản chất, vai trò, yêu cầu và nguyên tắc của kế toán quản trị CPSX 8
1.1.1 Bản chất và vai trò 8
1.1.2 Yêu cầu và nguyên tắc 11
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán quản trị chi phí sản xuất 13
1.2.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp 13
1.2.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 15
1.3 Nội dung kế toán quản trị chi phí sản xuất 16
1.3.1 Nhận diện và phân loại chi phí 16
1.3.2 Xây dựng định mức và dự toán chi phí sản xuất ……….… 22
1.3.3 Kế toán chi phí hoạt động và tính giá thành sản phẩm 27
1.3.4 Phân tích biến động chi phí 28
1.3.5 Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
Trang 6Chương 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI
CÔNG TY TNHH THIÊN NAM 40
2.1 Tổng quan về Công ty TNHH Thiên Nam 40
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 40
2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý và sản xuất kinh doanh 41
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán 42
2.2 Thực trạng kế toán quản trị CPSX tại Công ty TNHH Thiên Nam 44
2.2.1 Nhận diện và phân loại chi phí 44
2.2.2 Xây dựng định mức và dự toán chi phí sản xuất 45
2.2.3 Kế toán chi phí hoạt động và tính giá thành sản phẩm 53
2.2.4 Phân tích biến động chi phí 62
2.2.5 Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất 64
2.3 Đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Thiên Nam 65
2.3.1 Thành tựu đạt được 65
2.3.2 Tồn tại, hạn chế 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY TNHH THIÊN NAM 74
3.1 Quan điểm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Thiên Nam 74
3.1.1 Yêu cầu hoàn thiện 74
3.1.2 Phương hướng hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất 75
3.2 Giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Thiên Nam 76
3.2.1 Hoàn thiện nhận diện và phân loại chi phí sản xuất 76
3.2.2 Hoàn thiện xây dựng định mức và dự toán chi phí sản xuất 79
3.2.3 Hoàn thiện chi phí hoạt động và tính giá thành sản phẩm 81
3.2.4 Hoàn thiện phân tích biến động chi phí 82
Trang 73.2.5 Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất 88
3.2.6 Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất 91
3.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Thiên Nam 94
3.3.1 Về phía Nhà nước 94
3.3.2 Về phía doanh nghiệp 95
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 97
KẾT LUẬN CHUNG 98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (Bản sao)
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nội dung
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức quản lý tại Công ty TNHH Thiên
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Giá trị sản xuất kinh doanh qua các năm (2016 – 2018) 43
Bảng 2.3 Bảng dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 53
Bảng 2.8 Bảng tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 58
Bảng 2.10 Bảng tổng hợp chi phí nhân công trực tiếp 60
Bảng 2.14 Sổ chi tiết tài khoản chi phí sản xuất kinh doanh dở dang 64 Bảng 2.15 Báo cáo chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 65 Bảng 2.16 Bảng so sánh biến động chi phí sản xuất thực tế và dự
Bảng 3.1 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí 78 Bảng 3.2 Báo cáo phân tích chi phí nguyên vật liệu chính 85 Bảng 3.3 Bảng phân tích chi phí nhân công trực tiếp 86 Bảng 3.4 Bảng phân tích biến động chi phí sản xuất chung 87
Bảng 3.8 Sổ chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 94
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành sản xuất và chế biến các sản phẩm từ gỗ là ngành đang được Nhà nước quan tâm hỗ trợ để phát triển kinh tế của Việt Nam Tỉnh Bình Định là một trong những địa phương được coi là thủ phủ của ngành chế biến, xuất khẩu gỗ trong cả nước Phát huy những ưu thế nổi trội với hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy và hàng không, đặc biệt, cảng biển Quy Nhơn là đầu mối nhập khẩu nguyên liệu cũng như xuất khẩu đồ gỗ không chỉ cho riêng Bình Định mà cả khu vực miền Trung - Tây Nguyên, trở thành cánh cửa rộng mở cho ngành công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu ở Bình Định và các vùng nguyên liệu tiếp cận thị trường thế giới Mặt dù, có nhiều lợi thế nhưng trong những năm gần đây các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ gặp rất nhiều khó khăn trong khâu tiêu thụ, nguồn cung đầu vào, công nghệ sản xuất, trình độ quản lý
Theo Hiệp hội gỗ và Lâm sản Bình Định- cho biết, với trên 120 doanh nghiệp chế biến gỗ, tổng công suất thiết kế đạt khoảng 345.000 m3 sản phẩm/năm, tổng vốn đầu tư khoảng 7.500 tỷ đồng, ngành chế biến gỗ của Bình Định đang có đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế tỉnh Cùng với Bình Dương, Đồng Nai và TP Hồ Chí Minh, Bình Định được xem là một trong những trung tâm chế biến gỗ của cả nước (Nguyễn Văn Thuận, 2018)
Các thống kê của ngành Công Thương Tỉnh cho thấy, hiện giá trị sản xuất của ngành công nghiệp chế biến gỗ Bình Định đang chiếm 35% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Tỉnh, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 10%/năm; kim ngạch xuất khẩu chiếm 50% so toàn tỉnh, trong đó có khoảng
70 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu trực tiếp; giải quyết việc làm khoảng 25.000 lao động
Để đứng vững và phát triển ổn định trong xu thế cạnh tranh, hội nhập hiện nay, doanh nghiệp chế biến sản xuất gỗ ở tỉnh Bình Định nói chung và
Trang 12Công ty Trách nhiệm Hữu hạn (TNHH) Thiên Nam nói riêng cần phải xác định chiến lược kinh doanh rõ ràng, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh Để đạt được điều đó, doanh nghiệp cũng đã không ngừng nỗ lực để phát triển, bên cạnh đó, nhà quản trị doanh nghiệp cần phải sử dụng các công cụ quản lý tài chính của đơn vị mình, kế toán quản trị chi phí sản xuất là công cụ quản lý kinh tế hiệu quả để doanh nghiệp đạt được lợi nhuận như mong muốn
Công ty TNHH Thiên Nam chuyên kinh doanh lĩnh vực sản xuất chế biến các sản phẩm từ gỗ nên công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất rất phức tạp Mặt dù, tại doanh nghiệp đã và đang thực hiện việc xây dựng định mức, dự toán, tổ chức quá trình sản xuất Qua tìm hiểu sơ bộ, công tác lập dự toán chi phí sản xuất còn chưa linh hoạt, việc xây dựng hệ thống định mức còn chung chung, chưa chi tiết Hệ thống kế toán quản trị chi phí sản xuất vẫn chưa cung cấp thông tin phù hợp, kịp thời và tin cậy cho việc ra quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp Vì vậy, việc áp dụng các hình thức quản lý chi phí dưới góc độ kế toán quản trị chi phí sản xuất là việc làm cần thiết
Xuất phát từ nhận thức trên việc hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất ngành sản xuất, chế biến gỗ là vấn đề cần thiết và có tính thực tiễn cao giúp cho doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, góp phần nâng cao hiệu
quả kinh doanh Do đó, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Thiên Nam”
2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Có nhiều công trình nghiên cứu vận dụng kế toán quản trị (KTQT) chi phí sản xuất trong các loại hình doanh nghiệp và đã vận dụng thành công vào thực tế Dưới đây là một số nghiên cứu đã công bố tiêu biểu có liên quan trực tiếp đến kế toán quản trị chi phí nói chung và kế toán quản trị chi phí sản xuất nói riêng
Trang 13Về bài báo công bố:
Nguyễn Bích Phương Thảo (2006) “Hiệu quả áp dụng hệ thống KTQT chi phí trong các doanh nghiệp chế biến thủy sản” đăng trên Tạp chí Khoa học số 75/2006 (13-15) đã cho thấy hiệu quả khi áp dụng hệ thống KTQT thông qua các chỉ tiêu phản ánh tình hình sử dụng nguồn lực tài chính, nhân lực và vật tư Tuy nhiên, bài báo cho thấy hiệu quả khi doanh nghiệp áp dụng hệ thống KTQT nhưng chưa chỉ ra được tình hình hiện nay của các doanh nghiệp chế biến thủy sản khi hệ thống KTQT chưa được quan tâm đúng mức
Phạm Văn Dược (2009) đăng trên Tạp chí kế toán số 77/2009 về: “Giải pháp kiểm soát chi phí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp” Tác giả nêu các giải pháp kiểm soát chi phí và sự cần thiết phải kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp
Nguyễn Thị Minh Tâm đăng trên tạp chí khoa học ĐHQG Hà Nội, kinh
tế và kinh doanh 26(2010) về“Vài nét về thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí và giá thành tại một số doanh nghiệp sản xuất ở Hà Nội”.Tác giả đã trình bày những quan điểm của nhà quản trị về nhận thức về kế toán quản trị, phân loại chi phí, phương pháp xác định chi phí, tính giá thành … tại một số doanh nghiệp ở Hà Nội Từ đó, đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện hệ
thống kế toán quản trị tại các doanh nghiệp này
Trần Hải Long (2012) “Tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp” đăng trên Tạp chí Kế toán và Kiểm toán số 12/2012 (111) Bài viết tập trung đề cập các bước tổ chức KTQT chi phí sản xuất trong doanh nghiệp như: Lập dự toán chi phí sản xuất, tổ chức KTQT chi phí trong doanh nghiệp cũng như quy trình Mục đích, bài viết cung cấp kiến thức hữu ích cho các nhà quản trị doanh nghiệp để có những bước tổ chức KTQT ngày càng hoàn thiện hơn
Trang 14Ngô Hà Tấn (2014) đăng trên Tạp chí kế toán số tháng 4/2014 “Bàn về
kế toán tài chính, kế toán quản trị, kế toán tổng hợp, kế toán chi tiết nêu trong Luật Kế toán” Tác giả đã nêu sự vận dụng của kế toán tài chính, kế toán quản trị và kế toán tổng hợp trong Luật kế toán
Văn Thị Thái Thu (2014) đăng trên Tạp chí Kinh tế và dự báo 55/2014 bàn về “Các doanh nghiệp chế biến gỗ Bình Định: Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí” Tác giả trình bày các vấn đề cần hoàn thiện trong công tác kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp gỗ trên địa bàn Tỉnh Bình Định
53-Trần Thị Ngọc Hân (2016) Học viện tài chính, 12/08/2016 “Vài trao đổi
về bản chất của kế toán quản trị” Tác giả trình bày một số trao đổi về bản chất của kế toán quản trị khi áp dụng vào trong doanh nghiệp
Một số công trình nghiên cứu luận văn tiêu biểu gần đây:
Luận văn thạc sĩ “Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp vận tải đường sắt Việt Nam” (Vũ Thị Kim Anh, 2012) Tác giả trình bày các loại báo cáo phục vụ kế toán quản trị chi phí Trong nghiên cứu của mình, tác giả chưa phân tích được các nhân tố ảnh hưởng làm phát sinh chênh lệch và nguyên nhân dẫn đến chênh lệch chi phí giữa thực tế và dự toán cũng như các báo cáo cung cấp thông tin thích hợp Việc này làm hạn chế quá trình cung cấp thông tin cho nhà quản lý
Luận văn thạc sĩ “Kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Thủy sản Bình Định” (Nguyễn Thị Lệ Chi, Đại học Đà nẵng, 2012) Luận văn đã khái quát tình hình tổ chức, đặc điểm kinh doanh cũng như thực tế áp dụng KTQT trong doanh nghiệp và luận văn chỉ ra những nhược điểm trong công tác vận dụng KTQT trong doanh nghiệp Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp hoàn thiện KTQT chi phí trong doanh nghiệp
Trang 15Luận văn thạc sĩ “Kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần cơ điện
và xây lắp Hùng Vương” (Nguyễn Thụy Phúc Trầm, Đại học Đà Nẵng, 2013) Tác giả đã phân tích chi phí sản xuất để tìm ra nguyên nhân gây biến động từng loại chi phí Qua đó, tác giả đưa ra các giải pháp hoàn thiện chi phí hướng Công ty đến mục tiêu tiết kiệm chi phí sản xuất
Luận văn thạc sĩ với đề tài “Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty
cổ phần thủy sản Nhật Hoàng”(Võ Thị Hoa Huệ, Đại học Đà Nẵng, 2014) Luận văn đã hệ thống hóa lý luận về kế toán quản trị chi phí sản xuất áp dụng vào thực tiễn sản xuất Luận văn nghiên cứu thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại đơn vị Tác giả chỉ ra những hạn chế trong công tác quản trị chi phí tại doanh nghiệp Qua đó, đề ra các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại doanh nghiệp
Luận văn thạc sĩ “Kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần VRG đá Bình Định” (Nguyễn Lê Dung, Đại học Quy Nhơn, 2016) Tác giả đã hệ thống hóa lý thuyết về kế toán quản trị chi phí phục vụ công tác quản trị và việc vận dụng công tác kế toán quản trị trong Công ty VRG đá Bình Định nhằm phục vụ công tác kế toán quản trị chi phí và góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty
Nhìn chung, các nghiên cứu về quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp đã được tiến hành nhiều ở trong nước Các nghiên cứu đã đưa ra được
hệ thống lý thuyết cơ bản về KTQT chi phí sản xuất Đồng thời, các nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp mang tính áp dụng với từng đặc thù riêng của doanh nghiệp mà các tác giả nghiên cứu Tuy nhiên với từng doanh nghiệp đều có các đặc điểm riêng biệt phù hợp với loại hình kinh doanh và địa bản hoạt động, nên các giải pháp không mang thể áp dụng một cách đồng nhất Tại Công ty TNHH Thiên Nam chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến KTQT chi phí sản xuất Xuất phát từ yêu cầu thực tế của đơn vị mà tác giả
Trang 16đang nghiên cứu, tìm hiểu nhằm phục vụ hữu ích ngay kiến thức đã học vào nâng cao hiệu quả công việc tại Công ty
3 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn đề ra các mục tiêu cụ thể: Nhận diện được sự cần thiết của kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp; đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm tại Công ty TNHH Thiên Nam Qua đó, tìm ra các giải pháp để hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm nhằm đưa ra những quyết định mang tính cạnh tranh, góp phần tăng lợi nhuận
tại Công ty TNHH Thiên Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu công tác KTQT chi phí
sản xuất như: phân loại chi phí, xây dựng định mức, lập dự toán chi phí, tính giá thành, cung cấp thông tin tài chính để nhà quản trị kiểm soát chi phí và ra quyết định kinh doanh, …
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực trạng công tác
kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Thiên Nam
+ Về thời gian nghiên cứu: Số liệu nghiên cứu được lấy trong 3 năm từ
2016 đến năm 2018
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đã đề ra, luận văn thu thập và xử lý dữ liệu như sau: + Thu thập dữ liệu : Dữ liệu thứ cấp lấy từ báo cáo tài chính, sổ sách kế toán chi tiết về chi phí sản xuất của công ty TNHH Thiên Nam trong 3 năm từ 2016-2018, các đánh giá từ việc phỏng vấn nhân viên tại Công ty
+ Xử lý số liệu : Luận văn sử dụng nhiều phương pháp tổng hợp số liệu như thống kê, phân tích dữ liệu, so sánh và đánh giá số liệu, bên cạnh đó sử
Trang 17dụng các công cụ hỗ trợ văn phòng như excel để xử lý số liệu nhằm đưa ra các đánh giá có cơ sở về thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công
ty TNHH Thiên Nam
Đề tài chọn phương pháp nghiên cứu thực tế, phương pháp thống kê tổng hợp số liệu và phân tích Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng phương pháp phỏng vấn cán bộ liên quan đến công tác kế toán tài chính và kế toán quản trị
để tìm hiểu việc áp dụng kế toán quản trị chi phí tại công ty Trên cơ sở đó, đưa ra những nội dung cần hoàn thiện phù hợp với khả năng thực hiện được của Công ty TNHH Thiên Nam
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Về lý luận: Hệ thống hóa, làm rõ các lý luận cơ bản của kế toán quản
trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp
- Về thực tiễn: Luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Thiên Nam Đồng thời, luận văn
đã đưa ra được một số giải pháp gợi ý cho Ban Giám đốc công ty để tham khảo từ đó hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất Ngoài ra, luận văn cũng là tư liệu tham khảo cho các đối tượng quan tâm đến vấn đề quản trị chi phí sản xuất
7 Kết cấu của luận văn
Nội dung của đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Thiên Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Thiên Nam
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN
XUẤT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.1.Bản chất, vai trò, yêu cầu và nguyên tắc của kế toán quản trị CPSX
1.1.1 Bản chất và vai trò
Sự ra đời và phát triển của kế toán quản trị là kết quả tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của nhà quản trị doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường luôn biến động và nhiều rủi ro Mặc dù, ra đời sau kế toán tài chính nhưng kế toán quản trị ngày càng chứng tỏ sự cần thiết và có vai trò đặc biệt quan trọng đối với công tác quản trị và điều hành doanh nghiệp (Huỳnh Văn Lợi, 2007)
KTQT chi phí sản xuất là một bộ phận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý KTQT chi phí sản xuất cung cấp bao gồm cả những thông tin quá khứ và thông tin có tính dự báo thông qua việc lập kế hoạch và dự toán trên cơ sở định mức chi phí Kế toán quản trị chi phí sản xuất với chức năng quản trị chi phí doanh nghiệp: KTQT chi phí sản xuất cung cấp thông tin chi phí phục vụ cho các chức năng quản lý
- Lập kế hoạch và dự toán
Để xây dựng kế hoạch nhà quản trị thường phải dự đoán, phán đoán kết quả của các chỉ tiêu kinh tế sẽ xảy ra dựa trên những cơ sở khoa học có sẵn Trong quá trình xây dựng, nhà quản trị thường phải liên kết các chỉ tiêu kinh tế với nhau để thấy rõ sự tác động về nguyên nhân và kết quả sẽ xảy ra trong tương lai
Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu phải đạt và vạch ra các bước thực hiện để đạt được những mục tiêu đó Các kế hoạch này có thể là kế hoạch dài hạn, ngắn hạn
Trang 19Dự toán cũng là một loại kế hoạch nhằm liên kết các mục tiêu và chỉ rõ cách huy động, sử dụng các nguồn lực để đạt các mục tiêu đề ra
Kế toán quản trị thu thập thông tin thực hiện (quá khứ) và những thông tin liên quan đến tương lai (thông tin dự đoán, dự tính) để phục vụ cho việc lập kế hoạch, dự toán
Hàng năm, các doanh nghiệp xây dựng kế hoạch tổng thể về tiêu thụ và sản xuất chi tiết cho từng quý trong năm dựa trên số liệu về tiêu thụ của năm trước và dự báo tình hình tiêu thụ của năm sau Từ dự toán kế hoạch tiêu thụ
và sản xuất kết hợp với định mức nhân công và định mức tiêu hao vật tư kế toán sẽ lập dự toán các loại chi phí sản xuất như: Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí SXC
- Tổ chức thực hiện
Trong việc tổ chức, nhà quản lý sẽ quyết định cách liên kết tốt nhất giữa
tổ chức, con người với các nguồn lực lại với nhau sao cho kế hoạch được thực hiện có hiệu quả nhất Trong việc điều hành, các nhà quản lý giám sát hoạt động hàng ngày và giữ cho cả tổ chức hoạt động trôi chảy
Kế toán quản trị có vai trò thu thập và cung cấp các thông tin đã và đang thực hiện để phục vụ cho việc ra quyết định (như các quyết định ngắn hạn: quyết định loại bỏ hoặc tiếp tục duy trì kinh doanh một bộ phận nào đó, quyết định tự sản xuất hay mua, quyết định nên bán ngay nửa thành phẩm hay tiếp tục chế biến… hoặc các quyết định tài sản dài hạn khác…) Ngoài ra còn thu thập thực hiện phục vụ cho việc kiểm tra đánh giá sau này
- Kiểm tra và đánh giá
Kiểm tra và đánh giá là việc đối chiếu, so sánh giữa doanh thu, chi phí thực hiện với các kế hoạch và dự toán đã đặt ra, qua đó phát hiện những điểm mạnh và những hạn chế để có chính sách khen thưởng, động viên và chế tài kịp thời Với yêu cầu đánh giá cho từng cá nhân, từng đơn vị, từng bộ phận
Trang 20trong quá trình kinh doanh, việc tổ chức dữ liệu cho đánh giá và kiểm tra phải được thực hiện chi tiết Đây là một công việc đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa
kế toán tài chính và kế toán quản trị
Do vậy, một yêu cầu đặt ra cho công tác kế toán, đặc biệt là kế toán quản trị là phải đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh, chính xác cho nhà quản lý nhằm hoàn thành tốt việc ra quyết định
Như chúng ta đã biết, kế toán tài chính chủ yếu phục vụ nhu cầu bên ngoài doanh nghiệp KTQT cung cấp thông tin nội bộ cho nhà quản trị doanh nghiệp Như vậy, KTQT chi phí sản xuất không ghi nhận chi phí như kế toán tài chính, KTQT chi phí sản xuất được ghi nhận theo nhiều chiều hướng khác nhau để đáp ứng nhu cầu thông tin trong hoạch định, thực hiện, kiểm soát và
ra quyết định
KTQT có vai trò rất to lớn trong việc cụ thể hóa các kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp thành các dự toán sản xuất kinh doanh KTQT chi phí sản xuất cũng cung cấp các thông tin để nhà quản lý kiểm soát quá trình thực hiện kế hoạch thông qua các báo cáo đánh giá, kiểm soát chi phí, nâng cao hiệu quả
và hiệu năng hoạt động của doanh nghiệp Thông tin chi phí sản xuất của từng
bộ phận, phân xưởng, sản phẩm được cung cấp chi tiết và thường xuyên sẽ giúp nhà quản lý kiểm soát quá trình sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ, giúp loại bỏ những khoản chi phí không cần thiết hoặc hữu ích nhằm kích
Trang 21thích quá trình kinh doanh có hiệu quả và tiết kiệm chi phí Trên cơ sở các báo cáo định kỳ so sánh kết quả thực tế với kế hoạch dự kiến về doanh thu, chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp, các nhà quản lý sẽ đánh giá hoạt động quản trị và tìm ra động lực cố gắng thực hiện tốt mục tiêu kinh doanh, nắm bắt điều kiện hoạt động hiện tại cũng như dự đoán bối cảnh tương lai cho đơn
vị mình Ngoài ra, KTQT chi phí sản xuất còn cung cấp các thông tin thích hợp cho các nhà quản lý để xây dựng chiến lược cạnh tranh như cung cấp các báo cáo về các bộ phận, phân xưởng, dịch vụ, sản phẩm…và các báo cáo về lựa chọn phương án kinh doanh như mở rộng cơ sở, đầu tư máy móc trang thiết bị, mở rộng thị trường tiêu thụ…
KTQT chi phí sản xuất sẽ trả lời câu hỏi chi phí sẽ là bao nhiêu, thay đổi như thế nào khi có sự thay đổi về sản lượng sản xuất, ai phải chịu trách nhiệm giải thích về những thay đổi bất lợi của chi phí và giải pháp cần đưa ra để điều chỉnh chi phí cho phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh
1.1.2 Yêu cầu và nguyên tắc
Thông tin của KTQT chi phí sản xuất chủ yếu là thông tin mang tính dự báo nên khó chính xác tuyệt đối, do vậy người làm công tác kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp cần phải tuân thủ những yêu cầu và nguyên tắc này để đảm bảo số liệu được chính xác, bám sát được tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động kế toán quản trị chi phí sao cho đạt hiệu quả cao nhất, cần tuân thủ một số yêu cầu như sau (Trương Bá Thanh, 2014)
- Cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời thông tin theo yêu cầu quản lý
về chi phí sản xuất của từng hoạt động, bộ phận, công việc, sảnphẩm Những thông tin thực hiện về khối lượng, đơn giá đầu vào, đầu ra nhằm phục vụ cho việc lập kế hoạch, lập định mức, lập dự toán, kiểm tra, giám sát, đánh giá
và ra quyết định
Trang 22- Thông tin kế toán quản trị chi phí sản xuất cung cấp chi tiết, cụ thể hơn
so với kế toán tàichính
- Thông tin kế toán quản trị chi phí sản xuất cung cấp có tính logic và
so sánh được nhằm nhận diện thông tin nhanh, chínhxác
- Thông tin kế toán quản trị chi phí sản xuất phải mang tính bảomật Vì, thông tin kế toán quản trị ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để hoạt động kiểm soát chi phí đem lại hiệu quả và tiết kiệm nhất có thể, ngoài việc thực hiện các yêu cầu trên, cần thiết phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc khách quan: Thực hiện nguyên tắc này để phù hợp với quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường như trình độ quản lý, quy mô sản xuất, ngành nghề kinh doanh, thực hiện nguyên tắc này để giảm thiểu sai sót trong khâu dự báo kế hoạch sản xuất
-Nguyên tắc phù hợp: Phải gắn lĩnh vực hoạt động kinh doanh trong tình hình thực tế kinh doanh của ngành, địa phương, lĩnh vực, Bên cạnh đó, tùy thuộc vào quy mô, lĩnh vực hoạt động, ngành nghề kinh doanh mà bố trí đội ngũ người làm công tác kế toán quản trị phù hợp với nhu cầu và trình độ quản lý của nhà quản trị doanh nghiệp và bối cảnh chung của nền kinh tế
- Nguyên tắc tiết kiệm và hiệuquả: Cần tránh tình trạng tổ chức bộ máy kế toán quản trị cồng kềnh, không linh hoạt và kém hiệu quả
- Nguyên tắc linh hoạt: Cần nhận thức rằng tại mỗi doanh nghiệp tổ chức một mô hình kế toán quản trị riêng, phù hợp với doanh nghiệp mình Không áp dụng mô hình kế toán quản trị sử dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp
- Nguyên tắc phối hợp: Cần phối, kết hợp giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính có hiệu quả để cung cấp thông tin cho các đối tượng cần sử dụng thông tin ở bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
Trang 23Như vậy, để vận hành hệ thống kế toán quản trị chi phí sản xuất hiệu quả thì nhà quản trị cần phải vận dụng và tiến hành giám sát, thực hiện các yêu cầu và nguyên tắc trong kế toán quản trị chi phí sản xuất
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán quản trị chi phí sản xuất
1.2.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
Quy trình sản xuất kinh doanh tại các lĩnh vực kinh doanh khác nhau sẽ không giống nhau trong từng doanh nghiệp Như vậy các nhân tố bên trong doanh nghiệp là nhu cầu thông tin của nhà quản trị doanh nghiệp; đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (quy trình sản xuất, xác định sản phẩm kinh doanh của doanh nghiệp, doanh thu, chi phí, mục tiêu phát triển doanh nghiệp của chủ sở hữu); trình độ của nhà quản trị doanh nghiệp, trình độ của nhân viên làm công tác kế toán quản trị và việc ứng dụng công nghệ thông tin … là những yếu tố ảnh hưởng tới nội dung KTQT chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp.Cụ thể:
- Nhu cầu thông tin của nhà quản trị doanh nghiệp:
Chủ sở hữu là những người có toàn quyền quyết định mục tiêu phát triển của doanh nghiệp Mục tiêu phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi phải có nhu cầu thông tin của nhà quản trị doanh nghiệp Theo đó, mỗi doanh nghệp
sẽ có những mục tiêu phát triển riêng Ngược lại, những doanh nghệp không
có mục tiêu phát triển dài hạn, hoạt động trongphạm vi hẹp thì nội dung KTQT chi phí sản xuất chỉ cần áp dụng những nội dung cơ bản, truyền thống, chủ yếu phục vụ mục tiêu quản lý tác nghiệp
- Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
Quy trình sản xuất sản phẩm có sự tham gia chủ yếu của máy móc, thiết
bị, đòi hỏi việc xây dựng định mức chi phí tại doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải tập trung vào các định mức kinh tế kỹ thuật Quy trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, đòi hỏi nội dung KTQT chi phí sản xuất liên quan
Trang 24đến các hoạt động tác nghiệp phải được triển khai đầy đủ, bao gồm: hoạch định tác nghiệp; kiểm soát và đánh giá hiệu quả tác nghiệp
- Sản phẩm của doanh nghiệp: Sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó hay có sản phẩm làm dở dang Vì vậy, việc xác định phương pháp tính giá thành phải phù hợp Sản phẩm có sự khác biệt hay không có sự khác biệt với những sản phẩm được tạo ra bởi các doanh nghiệp khác nhau Vì vậy, việc thực hiện các chức năng quản lý chiến lược của nhà quản trị cao cấp tại các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không hướng tới mục tiêu tạo ra sự khác biệt của sản phẩm mà đều tập trung vào việc dẫn đầu chi phí thấp
- Doanh thu của doanh nghiệp: doanh thu cũng có thể có sự biến động trong ngắn và trung hạn
- Chi phí: Thường là các chi phí trực tiếp liên quan đến một hay nhiều sản phẩm Do đó, doanh nghiệp cần sử dụng phương pháp để phân biệt và nhận diện chi phí sản xuất, xây dựng định mức chi phí, tập hợp chi phí và tính giá thành phù hợp với đặc điểm, loại hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Trình độ, nhận thức của nhà quản trị doanh nghiệp, cơ sở vật chất và việc ứng dụng công nghệ thông tin:
Thông tin KTQT chi phí sản xuất là để phục vụ nhà quản trị Ngoại trừ yếu tố nhu cầu thông tin để điều hành doanh nghiệp đạt được các mục tiêu của chủ sở hữu thì yếu tố trình độ của nhà quản trị cũng ảnh hưởng tới việc áp dụng nội dung KTQT chi phí sản xuất tại từng doanh nghiệp
Thông tin KTQT chi phí sản xuất được phân cấp thành nhiều loại để cung cấp cho nhà quản trị ở các cấp tương ứng Vì vậy, trình độ của nhà quản trị là yếu tố ảnh hưởng tới việc áp dụng nội dung KTQT chi phí sản xuất tại từng doanh nghiệp cụ thể
Trang 25Cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin: Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hành KTQT chi phí sản xuất ngày nay cũng rất quan trọng, bởi khối lượng và mức độ phức tạp trong việc KTQT chi phí sản xuất ngày càng tăng cao.Do vậy, người quản lý về KTQT chi phí sản xuất cần
có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin mới có thể thực hiện tốt công việc của mình, đảm bảo đáp ứng yêu cầu thông tin của nhà quản trị với từng nội dung KTQT chi phí sản xuất
1.2.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Thị trường kinh doanh tại Việt Nam hiện nay đã tiến những bước đi trong quá trình đổi mới, vận hành và phát triển thị trường cạnh tranh Bản chất của thị trường cạnh tranh là điều tiết nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Do vậy, các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng đến KTQT chi phí sản xuất như:
- Hệ thống văn bản liên quan đến chính sách, pháp luật của Nhà nước
và các văn bản liên quan đến ngành nghề sản xuất của doanh nghiệp
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật Cụ thể, đối với lĩnh vực kế toán thì Nhà nước Ban hành Luật kế toán năm 2018, Luật này là kim chỉ nam trong việc xây dựng, tổ chức
hệ thống kế toán tại doanh nghiệp Sau Luật, Nhà nước ban hành rất nhiều Thông tư, Nghị định để hướng dẫn doanh nghiệp áp dụng Luật này vào thực tiễn của doanh nghiệp Việc ban hành các văn bản hướng dẫn không cụ thể sẽ làm cho doanh nghiệp rất khó khăn trong việc triển khai công tác kế toán của doanh nghiệp Đối với KTQT chi phí sản xuất thì Nhà nước chỉ cần ban hành các hành lang pháp lý tổng quát, việc vận dụng chi tiết thì doanh nghiệp sẽ thực hiện để bộ máy KTQT chi phí sản xuất được tốt hơn Bên cạnh đó, Nhà nước còn ban hành rất nhiều văn bản liên quan đến ngành nghề sản xuất của
Trang 26doanh nghiệp.Ví dụ: Luật xây dựng, Luật bảo hiểm, …các văn bản hướng dẫn chi tiết cho từng lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp
- Cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế
Sự cạnh tranh tập trung trong phát triển các sản phẩm mới với lợi thế cạnh tranh (nếu có) chủ yếu đến từ việc dẫn đầu chi phí thấp Cạnh tranh sẽ bùng nổ khi các doanh nghiệp tham gia vào thị trường kinh doanh quốc tế Vì vậy, cạnh tranh là thách thức và cũng là cơ hội để bộ máy KTQT chi phí sản xuất của doanh nghiệp tận dụng hết công suất, hiệu quả giúp doanh nghiệp đi đến thắng lợi và dẫn đầu trong lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp mình
Tóm lại, việc áp dụng nội dung KTQT chi phí sản xuất tại mỗi doanh nghiệp nói chung hay doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói riêng đều phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Do vậy, khi nghiên cứu áp dụng nội dung KTQT chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp cần phải xem xét đầy đủ các yếu tố này, như vậy hệ thống KTQT nói chung hay các nội dung KTQT chi phí sản xuất nói riêng tại mỗi doanh nghiệp mới
có thể đem lại hiệu quả cao nhất, đáp ứng được các nhu cầu thông tin của nhà quản trị cũng như đảm bảo thực hiện được các mục tiêu do chủ sở hữu doanh nghiệp đặt ra
1.3 Nội dung kế toán quản trị chi phí sản xuất
1.3.1 Nhận diện và phân loại chi phí
Thông tin chủ yếu nhất mà KTQT xử lý và cung cấp cho các nhà quản trị là thông tin về chi phí Trong quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp, chi phí thường xuyên phát sinh, gắn liền với mọi hoạt động và có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận thu được Hơn nữa, trên giác độ quản lý, chi phí phần lớn phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, chịu sự chi phối chủ quan của nhà quản trị, do vậy, việc nhận diện và phân loại chi phí là mối quan tâm hàng đầu của nhà quản trị doanh nghiệp
Trang 27Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra để mua các yếu tố đầu vào nhằm sản xuất sản phẩm bán ra trong một thời kỳ nhất định (Đoàn Xuân Tiên, 2009)
Có thể phân loại chi phí sản xuất theo nhiều cách khác nhau, như:
- Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động:
Việc phân chi phí sản xuất theo chức năng hoạt đông giúp cho doanh nghiệp có thể xác định rõ vai trò, chức năng của từng khoản mục chi phí sản xuất trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp
+ Là căn cứ để tính giá thành sản xuất và giá thành toàn bộ của sản phẩm và tập hợp chi phí theo từng hoạt động chức năng
+ Cung cấp thông tin có hệ thống để lập các báo cáo quản trị Trong doanh nghiệp sản xuất, chi phí sản xuất được chia thành các khoản mục:
* Chi phí vật liệu trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm các loại nguyên liệu và vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm Trong
đó, nguyên vật liệu chính dùng để cấu tạo nên thực thể chính của sản phẩm và các loại vật liệu phụ khác có tác dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để hoàn chỉnh sản phẩm về mặt chất lượng và hình dáng
* Chi phí nhân công trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm tiền lương phải trả cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm và những khoản trích theo lương của họ được tính vào chi phí Cần phải chú ý rằng, chi phí tiền lương
và các khoản trích theo lương của bộ phận công nhân phục vụ hoạt động chung của bộ phận sản xuất hoặc nhân viên quản lý các bộ phận sản xuất thì không bao gồm trong khoản mục chi phí này mà được tính là một phần của khoản mục chi phí sản xuất chung
* Chi phí sản xuất chung là các chi phí trực tiếp khác ngoài các khoản chi phí phát sinh ở các phân xưởng, bao gồm: lương nhân viên quản lý phân xưởng, các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN, BHTNLĐ tính trên tiền
Trang 28lương phải trả nhân viên phân xưởng, nhân viên điều khiển máy móc thiết bị, khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và chi phí liên quan đến hoạt động của phân xưởng
- Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí:
Mối quan hệ giữa chi phí với hoạt động rất cần thiết cho các chức năng lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định của quản lý Nhằm mục đích lập kế hoạch và soạn thảo dự toán, nhà quản trị cần dự báo chi phí sẽ phát sinh ở những mức sản xuất và tiêu thụ khác nhau Khi phân loại chi phí theo cách ứng xử, kế toán quản trị chia chi phí thành 3 loại:
+ Biến phí: Là những khoản mục chi phí mà tổng của nó có quan hệ tỷ
lệ thuận trực tiếp với biến động của mức hoạt động nhưng không thay đổi khi tính trên một đơn vị của mức độ hoạt động Biến phí là những chi phí gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp… Biến phí thường thay đổi theo các yếu tố như sản lượng sản xuất, số giờ máy hoạt động, số giờ lao động trực tiếp, số
km vận chuyển, mức tiêu thụ sản phẩm…
Biến phí tồn tại dưới nhiều hình thức ứng xử khác nhau:
* Biến phí tỷ lệ: tổng của nó biến động tỷ lệ thuận với biến động của mức hoạt động căn cứ Biến phí tỷ lệ gồm các khoản chi phí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, …
* Biến phí bậc thang: là những biến phí mà sự thay đổi của chúng chỉ xảy ra khi mức hoạt động đạt đến một giới hạn, phạm vi nhất định Biến phí bậc thang gồm chi phí nhân công gián tiếp, chi phí bảo trì máy móc Nhà quản trị phải theo dõi toàn bộ khả năng cung ứng của từng bậc để tránh hiện tượng huy động quá nhiều nguồn lực so với nhu cầu, gây lãng phí nguồn lực
+ Định phí: Là những chi phí không biến đổi khi mức hoạt động thay đổi, nhưng khi tính cho một đơn vị hoạt động cơ sở thì định phí lại thay đổi,
Trang 29cụ thể khi mức hoạt động tăng thì định phí tính cho một đơn vị hoạt động cơ
sở giảm và ngược lại Định phí bao gồm các khoản tiền lương cho đội ngũ cán
bộ, chi phí khấu hao TSCĐ cho văn phòng, nhà xưởng, thiết bị máy móc…
Định phí tồn tại dưới nhiều hình thức ứng xử khác nhau trong hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm:
* Định phí bắt buộc: là những khoản định phí mà nhà quản trị không thể thay đổi dễ dàng vì chúng liên quan đến năng lực sản xuất hay cấu trúc cơ bản của tổ chức như chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí lương cho đội ngũ cán bộ…
* Định phí tùy ý: là những khoản chi phí mà nhà quản trị có thể quyết định mức độ hay thay đổi dễ dàng khi lập kế hoạch hàng năm như chi phí quảng cáo, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí nghiên cứu và phát triển…
- Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm cả các yếu tố biến phí và định phí Phần định phí phản ánh phần chi phí căn bản, tối thiểu để duy trì hoạt động Còn phần biến phí phản ánh thực tế phục vụ hoặc phần vượt quá định mức Vì vậy, để quản lý chi phí hỗn hợp nhà quản trị cần phân tích chi phí hỗn hợp nhằm tách riêng các yếu tố định phí và biến phí Các phương pháp thường được sử dụng là: phương pháp cực đại cực tiểu, phương pháp bình phương bé nhất, phương pháp hồi quy bội, phương pháp đồ thị phân tán
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong phân tích mối quan hệ chi phí- khối lượng- lợi nhuận, xây dựng mô hình kế toán chi phí và giúp nhà quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí
- Phân loại chi phí trong kiểm tra và ra quyết định:
Để phục vụ cho việc kiểm tra và ra quyết định trong quản lý, chi phí sản xuất của doanh nghiệp còn được xem xét ở nhiều khía cạnh khác
+ Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được:
Một khoản chi phí được xem là chi phí có thể kiểm soát được hoặc là chi phí không kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó là tuỳ thuộc vào khả
Trang 30năng cấp quản lý này có thể ra các quyết định để chi phối, tác động đến khoản chi phí đó hay là không Như vậy, nói đến khía cạnh quản lý chi phí sản xuất bao giờ cũng gắn liền với một cấp quản lý nhất định: khoản chi phí sản xuất
mà ở một cấp quản lý nào đó có quyền ra quyết định để chi phối nó thì được gọi là chi phí kiểm soát được (ở cấp quản lý đó), nếu ngược lại thì là chi phí không kiểm soát được Chi phí không kiểm soát được ở một bộ phận nào đó thường thuộc hai dạng: các khoản chi phí phát sinh ở ngoài phạm vi quản lý của bộ phận, hoặc là các khoản chi phí phát sinh thuộc phạm vi hoạt động của
bộ phận nhưng thuộc quyền chi phối và kiểm soát từ cấp quản lý cao hơn Xem xét chi phí ở khía cạnh kiểm soát có ý nghĩa lớn trong phân tích chi phí sản xuất và ra các quyết định xử lý, góp phần thực hiện tốt kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp
+ Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp:
Trong các doanh nghiệp sản xuất, các khoản chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện các đơn đặt hàng và do vậy có thể tính trực tiếp cho từng loại sản phẩm hay từng đơn đặt hàng thì được gọi là chi phí trực tiếp Ngược lại, các khoản chi phí phát sinh cho mục đích phục vụ và quản lý chung, liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ nhiều loại sản phẩm, nhiều đơn đặt hàng cần tiến hành phân bổ cho các đối tượng sử dụng chi phí theo các tiêu thức phân bổ được gọi là chi phí gián tiếp Thông thường, khoản mục chi phí NLVLTT và chi phí NCTT là các khoản mục chi phí trực tiếp, còn các khoản mục chi phí sản xuất chung là chi phí gián tiếp
Cách phân loại chi phí này giúp ích cho việc xây dựng các phương pháp hạch toán và phân bổ thích hợp cho từng loại chi phí sản xuất
+ Chi phí lặn:
Trang 31Khái niệm chi phí lặn chỉ nảy sinh khi ta xem xét các chi phí sản xuất gắn liền với các phương án hành động liên quan đến tình huống cần ra quyết định lựa chọn Chi phí lặn được hiểu là khoản chi phí đã bỏ ra trong quá khứ
và sẽ hiển hiện ở tất cả mọi phương án với giá trị như nhau Hiểu một cách khác, chi phí lặn được xem như là khoản chi phí không thể tránh được cho dù người quản lý quyết định lựa chọn thực hiện theo phương án nào Chính vì vậy, chi phí lặn là loại chi phí không thích hợp cho việc xem xét, ra quyết định của người quản lý Tuy nhiên, trong thực tế, việc nhận diện được chi phí lặn cũng như sự nhận thức rằng chi phí lặn cần được loại bỏ trong tiến trình ra quyết định không phải lúc nào cũng dễ dàng
+ Chi phí chênh lệch:
Chi phí chênh lệch (cũng còn được gọi là chi phí khác biệt) cũng chỉ xuất hiện khi so sánh chi phí sản xuất gắn liền với các phương án trong quyết định lựa chọn phương án tối ưu Chi phí chênh lệch được hiểu là phần giá trị khác nhau của các loại chi phí sản xuất của một phương án so với một phương
án khác Có hai dạng chi phí chênh lệch: giá trị của những chi phí chỉ phát sinh ở phương án này mà không có ở phương án khác, hoặc là phần chênh lệch về giá trị của cùng một loại chi phí ở các phương án khác nhau Người quản lý đưa ra các quyết định lựa chọn các phương án trên cơ sở phân tích bộ phận chi phí chênh lệch này nên chi phí chênh lệch là dạng thông tin thích hợp cho việc ra quyết định
+ Chi phí cơ hội:
Chi phí cơ hội là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi lựa chọn thực hiện phương án này thay cho phương án khác Chi phí cơ hội là một yếu tố đòi hỏi luôn phải được tính đến trong mọi quyết định của quản lý Để đảm bảo chất lượng của các quyết định, việc hình dung và dự đoán hết tất cả các phương án hành động có thể có liên quan đến tình huống cần ra quyết định là
Trang 32quan trọng hàng đầu Có như vậy, phương án hành động được lựa chọn mới thực sự là tốt nhất khi so sánh với các khoản lợi ích mất đi của tất cả các phương án bị loại bỏ
1.3.2 Xây dựng định mức và dự toán chi phí sản xuất
- Xây dựng định mức cho chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:Định mức
cho chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phải được xây dựng riêng biệt cho hai yêu tố đó là giá và lượng của chi phí nguyên liệu (Huỳnh Văn Lợi, 2007)
Về mặt giá nguyên vật liệu ước tính: Căn cứ vào các hợp đồng thu mua
đã ký; các quá trình thương lượng giá với các nhà cung cấp thường xuyên; dự báo về tình hình biến động trên thị trường, các hình thức chiết khấu mua sỉ; chi phí thu mua nguyên vật liệu Về mặt lượng nguyên vật liệu, lượng nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất một sản phẩm, có cho phép những hao hụt bình thường Để sản xuất một sản phẩm thì định mức tiêu hao nguyên vật liệu đó là định mức sử dụng theo tiêu chuẩn kỹ thuật và định mức tiêu hao ở mỗi công đoạn sản xuất; lượng vật liệu tính cho sản phẩm Đối với định mức sử dụng theo tiêu chuẩn kỹ thuật phải được doanh nghiệp thường xuyên xem xét nên
có sự thay đổi về yêu cầu chất lượng phải kịp thời điều chỉnh cho phù hợp
Đối với định mức tiêu hao doanh nghiệp xác định tổng tỷ lệ tiêu hao theo định mức của các giai đoạn sản xuất theo công thức:
T= {1 -[(1 –T1)x (1 -T2)x (1 -T3)x (1 -Tn)]}* 100(%)
Trong đó:
- Ti là tỷ lệ tiêu hao công đoạn thứ i trong quá trình sản xuất
- T là tổng tỷ lệ tiêu hao qua các công đoạn sản xuất
Và xác định nhu cầu nguyên vật liệu cần cung cấp để cung cấp để sản xuất sản phẩm doanh nghiệp sử dụng hệ số định mức K (định mức kg nguyên
liệu/kg sản phẩm) : K= 1 /(1 -T)
Trang 33Trong đó: T là tổng tỷ lệ tiêu hao qua các công đoạn sản xuất Qua
công thức trên có thể thấy được kết quả tỷ lệ hao hụt theo định mức phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của nguyên vật liệu và quy trình công nghệ sản xuất
Do đó, khi xác định tiêu hao của các giai đoạn phải căn cứ vào đặc điểm của công đoạn sản xuất, đặc điểm nguyên vật liệu sử dụng
- Xây dựng định mức cho chi phí nhân công trực tiếp:Định mức chi phí
nhân công trực tiếp bao gồm định mức giá của một giờ lao động trực tiếp và định mức lượng thời gian cần thiết Định mức về giá một đơn vị thời gian lao động trực tiếp căn cứ mức lương căn bản một giờ, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lương Định mức về lượng thời gian cho phép để hoàn thành một đơn vị sản phẩm dựa trên phương pháp kỹ thuật là chia công việc theo nhiều công đoạn rồi kết hợp với bảng thời gian tiêu chuẩn của những thao tác
kỹ thuật để định thời gian chuẩn cho từng công việc Thời gian cần thiết để sản xuất một sản phẩm được xác định như sau: thời gian cần thiết để sản xuất một sản phẩm; thời gian nghỉ ngơi, lau chùi máy; thời gian cho sản phẩm hỏng Định mức về giá của chi phí NCTT là ổn định Nó bao gồm đơn giá tiền lương, phụ cấp và các khoản phải trả khác: tiền ăn tăng ca liên quan đến lao động
- Xây dựng định mức chi phí sản xuất chung:
Do đặc điểm của chi phí sản xuất chung là mang tính gián tiếp và liên quan đến nhiều bộ phận quản lý nên không thể tính trực tiếp cho từng đơn vị sản phẩm, do đó việc tính chi phí sản xuất chung được thực hiện qua việc phân bổ chiphí
Đơn giá chi phí sản
xuất chung phân bổ =
Tổng chi phí sản xuất chung dự kiến Tổng đơn vị tiêu chuẩn chọn để phân bổ dự kiến Việc lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ tùy thuộc vào từng doanh nghiệp cho phù hợp với sản phẩm sản xuất hay công việc thực hiện Thông thường có thể
Trang 34chọn tiêu chuẩn phân bổ là tổng số giờ công lao động trực tiếp, tổng số giờ máy chạy, tổng khối lượng sảnxuất, tổng khối lượng sản phẩm hoàn thành,
Chi phí sản xuất chung bao gồm cả chi phí biến đổi và chi phí cố định,
sự tác động và ảnh hưởng của chi phí biến đổi và chi phí cố định với sự biến động chung của chi phí sản xuất chung khác nhau, do đó phải xây dựng riêng định mức chi phí biến đổi và định mức chi phí cốđịnh
Định mức chi phí sản xuất chung biến đổi:Cũng được xây dựng theo định mức giá và lượng Định mức giá phản ánh chi phí biến đổi của đơn giá chi phí sản xuất chung phân bổ
Định mức chi phí sản xuất chungcố định:Cũng được xây dựng tương tự như ở phần chi phí biến đổi Sở dĩ tách riêng là nhằm giúp cho quá trình phân tích chi phí sản xuất chung sau này được rõ ràng hơn
- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Phản ánh tất cả chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cần thiết để đáp ứng yêu cầu sản xuất đã được thể hiện trên dự toán sản xuất.Để lập dự toán nguyên vật liệu trực tiếp cần xác định
Định mức tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm
Đơn giá xuất nguyên vật liệu Thông thường đơn giá xuất ít thay đổi Tuy nhiên để có thể phù hợp với thực tế và làm cơ sở cho việc kiểm tra, kiểm soát khi dự toán đơn giá này cần phải biết doanh nghiệp sử dụng phương pháp tính giá hàng tồn kho nào: phương pháp nhập trước, xuất trước; giá đích danh hay đơn giá bình quân
Mức độ dự trữ nguyên vật liệu trực tiếp vào cuối kỳ dự toán được tính toán trên cơ sở lý thuyết quản trị tồn kho Như vậy:
Số lượng sản phẩm sản xuất theo dự
toán
Trang 35Và dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp xuất dùng cho sản xuất sẽ là:
Dự toán chi phí
nguyên vật liệu
trực tiếp =
Dự toán lượng nguyên vật liệu sử
Đơn giá xuất nguyên vật liệu
- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp:
Dự toán lao động là cơ sở để doanh nghiệp lập dự toán về đào tạo, tuyển dụng trong quá trình hoạt động sản xuất Để lập dự toán chi phí này, doanh nghiệp phải tính toán dựa vào số lượng nhân công, quỹ lương, cách phân phối lương và nhiệm vụ của doanh nghiệp
x Định mức tiêu hao
NVL trực tiếp x
Định mức giá của mỗi đơn vị NVLTT
- Dự toán chi phí sản xuất chung:
Bao gồm dự toán biến phí sản xuất chung và dự toán định phí SXC
Dự toán chi phí sản
xuất chung =
Dự toán định phí sản xuất chung +
Dự toán biến phí sản xuất chung Biến phí sản xuất chung có thể được xây dựng theo từng yếu tố chi phí cho một đơn vị hoạt động (chi phí vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp, )
Dự toán biến phí
sản xuất chung =
Dự toán biến phí đơn vị SXC x
Sản lượng sản xuất theo dự toán
Dự toán biến phí cũng có thể được lập theo tỷ lệ trên biến phí trực tiếp, khi đó biến phí sản xuất chung dự toán sẽ xác định:
Dự toán biến phí
sản xuất chung =
Dự toán biến phí trực tiếp x
Tỷ lệ biến phí theo
dự kiến
Trang 36Dự toán định phí sản xuất chung cần thiết phải phân biệt định phí bắt buộc và định phí tùy ý Dự toán định phí hằng năm có thể được lập dựa vào mức độ tăng giảm liên quan đến việc trang bị, đầu tư mới ở doanh nghiệp
Dự toán định phí
sản xuất chung =
Định phí SXC thực tế kỳ trước x
Tỷ lệ % tăng (giảm) định phí SXC theo
dự kiến
- Lập dự toán giá thành sản phẩm:
Dự toán giá thành sản phẩm là một trong những nội dung quan trọng của KTQT chi phí sản xuất
+ Giá thành dự toán: là tổng số các chi phí dự toán để hoàn thành một
sản phẩm Giá thành dự toán được xác định trên cơ sở các định mức theo thiết
kế được duyệt và khung giá nguyên vật liệu, nhân công cơ bản áp dụng tại thời điểm Giá thành dự toán là chỉ tiêu dùng làm căn cứ cho các doanh nghiệp xây dựng kế hoạch sản xuất của đơn vị, đồng thời làm căn cứ cho các
cơ quan quản lý nhà nước giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp
+ Giá thành kế hoạch: Là chỉ tiêu được xác định trên cơ sở giá thành dự
toán gắn liền với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp
Giá thành kế hoạch của sản phẩm là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch hạ thấp giá thành của doanh nghiệp
+ Giá thành thực tế: Là chỉ tiêu giá thành được xác định theo số liệu
hao phí thực tế liên quan đến khối lượng sản phẩm hoàn thành bao gồm chi phí định mức, vượt định mức và các chi phí khác Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế- tổ chức- kĩ thuật để thực hiện quá trình
Trang 37sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.3 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều hướng đến lợi nhuận, muốn vậy, thu nhập phải đảm bảo đủ trang trải chi phí bỏ ra và có lãi Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm gồm các công việc sau:
-Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất:
Tùy theo lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất phù hợp Với doanh nghiệp sản xuất: Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là từng sản phẩm, chi tiết từng sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng
- Xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm:
Đây là việc xác định toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất ra sản phẩm Đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp sản xuất có thể là sản phẩm, bán thành phẩm, công việc, đơn đặt hàng, từng chi tiết, bộ phận … mà doanh nghiệp bỏ ra
+ Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp toàn bộ: Là phương pháp
mà tất cả các chi phí liên quan vào quá trình sản xuất đều được tính vào giá thành sản phẩm sản xuất hoàn thành Bao gồm 2 hệ thống: hệ thống tính giá thành theo công việc áp dụng tại các doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng
và hệ thống tính giá thành theo quá trình sản xuất (áp dụng cho những doanh nghiệp sản xuất hàng loạt)
+ Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp trực tiếp:Theo phương
pháp này, giá thành sản phẩm chỉ bao gồm các chi phí sản xuất biến đổi, còn các chi phí sản xuất cố định không được tính và giá thành sản phẩm hoàn thành
Như vậy, phương pháp trực tiếp chỉ tính vào giá thành sản phẩm những chi phí trực tiếp biến động theo hoạt động sản xuất bao gồm: chi phí nguyên
Trang 38vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung ở dạng biến phí Còn chi phí sản xuất chung ở dạng định phí được xem là chi phí thời
kỳ và được tính vào chi phí kinh doanh ngay khi phát sinh
Chi phí sản xuất trong kỳ
Chi phí SXKD
dở dang cuối kỳ Giá thành đơn vị
+ Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ: Sản phẩm dở dang là khối lượng
sản phẩm, công việc còn đang trong quá trình sản xuất gia công, chế biến, đang nằm trên các giai đoạn của quy trình công nghệ hoặc đã hoàn thành một vài quy trình chế biến nhưng vẫn còn phải gia công chế biến tiếp mới trở thành sản phẩm Đánh giá sản phẩm dở dang là công việc không thể thiếu trong các doanh nghiệp sản xuất để tính giá thành sản phẩm Vì khi xác định giá thành sản phẩm, doanh nghiệp cần phải xác định giá trị chi phí nằm trong sản phẩm dở dang, mức
độ của sản phẩm dở dang còn trên dây chuyền sản xuất Tùy thuộc vào đặc điểm loại hình kinh doanh, quy trình sản xuất, trình độ của nhà quản lý, … để lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp nhất Doanh nghiệp có thể áp dụng một trong các phương pháp sau: Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí vật liệu chính (chi phí vật liệu trực tiếp); đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp ước tính sản lượng tương đương; Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức (hay chi phí kế hoạch)
1.3.4 Phân tích biến động chi phí
Chi phí là một trong những vấn đề quan trọng được nhà quản trị doanh nghiệp đặc biệt quan tâm vì nó tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, việc phân tích biến động chi phí để tìm hiểu lý do tăng, giảm chi phí, từ đó, tìm ra các biện pháp để khắc phục
Trang 39tình trạng này Để đạt được lợi nhuận doanh nghiệp phải tăng doanh thu, hạ chi phí Việc tăng doanh thu và hạ chi phí có quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau Việc tăng doanh thu phụ thuộc vào nhu cầu của người tiêu dùng và quy luật của nền kinh tế thị trường Bên cạnh đó, để đạt được lợi nhuận như mong muốn, nhà quản trị phải tìm mọi cách hạ thấp chi phí Do đó, muốn kiểm soát
và phân tích biến động chi phí thì nhà quản trị phải hiểu được các loại chi phí đang phát sinh tại doanh nghiệp
- Kiểm soát chi phí sản xuất:
Bất kỳ doanh nghiệp nào khi hoạt động đều phát sinh chi phí, đối với nhà quản lý thì vấn đề kiểm soát được các chi phí là mối quan tâm hàng đầu Bởi vì lợi nhuận thu được nhiều hay ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của những chi phí đã chi ra Kiểm soát được chi phí sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu, từ đó sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp Qua phân tích có thể xác định được khả năng tiềm tàng, các nguyên nhân về chủ quan và khách quan tác động đến tăng giảm chi phí thực tế so với dự toán, do đó kịp thời khắc phục những yếu điểm, góp phần tiết kiệm chi phí đồng thời giúp kiểm soát chi phí chặt chẽ hơn
+ Kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Là chênh lệch giữa chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế phát sinh với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp dự toán với khối lượng sản xuất thực tế, được phân tích qua biến động mức tiêu hao nguyên vật liệu và biến động giá Chi phí vật liệu trực tiếp chịu ảnh hưởng bởi hai nhân tố là lượng vật liệu sử dụng (gọi tắt là nhân tố lượng) và chi phí đơn vị vật liệu (gọi tắt là nhân tố giá)
Hình 1.1: Phân tích chi phí vật liệu trực tiếp
Trang 40Việc tìm ra nguyên nhân dẫn đến các chênh lệch có ý nghĩa quan trọng trong quản lý Khi đã xác định được nguyên nhân dẫn đến các chênh lệch, đặc biệt là các chênh lệch bất lợi, sẽ xác định được người chịu trách nhiệm, từ đó,
sẽ có các giải pháp quản lý thích hợp để kiểm soát tốt hơn hơn cho các kỳ sau
* Biến động về giá nguyên vật liệu:
Xét trên phương diện các trung tâm trách nhiệm thì biến động về giá gắn liền với trách nhiệm của bộ phận cung ứng vật liệu Khi kiểm soát biến động về giá, cần quan tâm đến các nguyên nhân do biến động của giá vật liệu trên thị trường, chi phí thu mua, chất lượng nguyên vật liệu, thuế và cả các phương pháp tính giá nguyên vật liệu (nếu có)
* Biến động lượng tiêu hao nguyên vật liệu trực tiếp:
Nhân tố biến động về lượng sử dụng thường do nhiều nguyên nhân, gắn liền với trách nhiệm của bộ phận sử dụng vật liệu (phân xưởng, tổ, đội…) Đó có thể là do khâu tổ chức sản xuất, mức độ hiện đại của công nghệ, trình độ công nhân trong sản xuất Ngay cả chất lượng nguyên vật liệu mua vào không tốt dẫn đến phế liệu hoặc sản phẩm hỏng nhiều làm cho lượng tiêu hao nhiều Khi tìm hiểu nguyên nhân của biến độngvề lượng cũng cần xem đến các nguyên nhân khách quan, như: thiên tai, hỏa hoạn, mất điện…
+ Kiểm soát chi phí nhân công trực tiếp: Là chênh lệch giữa chi phí nhân
công trực tiếp thực tế phát sinh với chi phí nhân công dự toán cho khối lượng sản xuất thực tế, được phân tích qua biến động giá nhân công và biến động thời gian lao động
Chi phí nhân công trực tiếp cũng chịu ảnh hưởng bởi hai nhân tố là lượng lao động sử dụng (gọi tắt là nhân tố lượng) và đơn giá lao động (gọi tắt là nhân tố giá) Nguyên nhân của chênh lệch lượng lao động thường bao gồm:Tay nghề công nhân; Chất lượng vật liệu; Máy móc thiết bị; …