Những năm tới, quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty sẽ ngày càng được mở rộng, nhu cầu cung cấp thông tin quản trị sẽ ngày càng tăng đòi hỏi công tác kế toán nói chung, kế to
Trang 1MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Danh mục các chữ viết tắt viii
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 3
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung 3
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Tổng quan về kế toán quản trị và báo cáo kế toán quản trị 5
2.1.2 Hệ thống Báo cáo KTQT chi phí sản xuất trong doanh nghiệp 12
2.1.3 Tổ chức hệ thống báo cáo KTQT chi phí 21
2.2 Cơ sở thực tiễn 24
2.2.1 Báo cáo KTQT chi phí sản xuất của các doanh nghiệp trên thế giới 24
2.2.2 Báo cáo KTQT chi phí sản xuất của doanh nghiệp ở Việt nam 27
2.2.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan 29
3 ĐẶC ĐIỂM CƠ SỞ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Tổng quan về Công ty TNHH Hệ thống Công nghiệp LS-VINA 31
3.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Công ty 31
3.1.2 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của Công ty 32
3.1.3 Tình hình lao động và kết quả sản xuất kinh doanh của công ty 37
3.1.4 Tổ chức công tác kế toán của Công ty 44
Trang 23.2 Phương pháp nghiên cứu 47
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 47
3.2.2 Phương pháp phân tích 48
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
4.1 Thực trạng tổ chức sản xuất kinh doanh tại Công ty 51
4.1.1 Tình hình tổ chức sản xuất kinh doanh tại công ty 51
4.1.2 Đặc điểm sản xuất sản phẩm và quy trình công nghệ tại Công ty 52
4.2 Thực trạng hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí tại Công ty 58
4.2.1.Đặc điểm tổ chức công tác KTQT tại Công ty LSIS-VINA 58
4.2.2.Báo cáo kế toán quản trị cho công tác lập kế hoạch 61
4.2.3 Hệ thống báo cáo KTQT kết quả chi phí sản xuất 69
4.2.4 Báo cáo chi phí sản xuất trên sản phẩm của công ty 72
4.3 Đánh giá hệ thống báo cáo KTQT chi phí sản xuất tại công ty TNHH Hệ thống Công nghiệp LS-VINA 78
4.3.1 Đánh giá tổng quát 78
4.4 Hoàn thiện hệ thống báo cáo KTQT chi phí sản xuất tại công ty 81
4.4.1 Giải pháp hoàn thiện hệ thống báo cáo chi phí 81
4.4.2 Hoàn thiện, bổ sung hệ thống báo cáo chi phí 83
4.4.3 Hoàn thiện, bổ sung hệ thống báo cáo phân tích chi phí sản xuất 92
4.4.4 Bổ sung báo cáo kiểm soát chi phí sản xuất 93
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
5.1 Kết luận 96
5.2 Kiến nghị 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 101
Trang 3
DANH MỤC BẢNG
3.1: Cơ cấu lao động của Công ty 2012 – 2014 38
3.2: Tình hình kết quả kinh doanh của Công ty 2012 – 2014 41
3.3 : Cơ cấu doanh thu các nhóm sản phẩm của Công ty 2012 – 2014 43
4.1: Ý kiến đánh giá về tính hiện hữu của hệ thống báo cáo KTQT chi phí sản xuất 59
4.2: Hiệu quả của hệ thống báo cáo KTQT trong điều hành SXKD 60
4.3 Sản phẩm: Tủ điện 24kV 62
4.4: Định mức vật tư của sản phẩm tủ 35kV năm 2014 64
4.5 Dự toán nhân công cho sản phẩm: Tủ hạ thế 65
4.6 Định mức lao động của sản phẩm tủ điện MCSG 24kV năm 2013 66
4.7: Bảng dự toán lương toàn Công ty năm 2014 67
4.8 Dự toán chi phí sản xuất sản phẩm: Tủ điện LV 5000A 68
4.9 Chi phí sản xuất sản phẩm: tủ điện LV, năm 2014 69
4.10 : Báo cáo kết quả sản xuất 71
4.11 Báo cáo theo dõi vật tư sản xuất 72
4.12 Bảng báo cáo chi phí sản xuất sản phẩm tháng 12.2014 73
4.13: Chi phí sản phẩm tổ lắp ráp 1A năm 2014 74
4.14: So sánh tỷ lệ chi phí giảm dần qua quá trình cải tiến sản phẩm 75
4.15: Báo cáo chi phí dầu, điện, nước, hóa chất, bảo trì thiết bị 2013 76
4.16: Tổng chi phí sản phẩm MCSG 24kV tháng 12 năm 2014 77
4.17 : Bảng phân loại chi phí theo ứng xử chi phí 82
4.18 : Báo cáo tình hình thực hiện định mức chi phí nguyên vật liệu và phân tích chi phí nguyên vật liệu 85
4.19 : Báo cáo tình hình thực hiện định mức chi phí nhân công và phân tích chi phí nhân công 87
4.20 : Báo cáo tình hình thực hiện dự toán biến phí sxc và phân tích 89
4.21: Báo cáo tình hình thực hiện dự toán định phí sxc và phân tích 91
4.22: Báo cáo tình hình chi phí theo từng công nghệ sản xuất 94
Trang 4DANH MỤC HÌNH
3.1 Sơ đồ tổ chức Công ty TNHH Hệ thống Công nghiệp LS-VINA 36
3.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán 44
3.3 Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán nhật ký chung 46
4.1 Quy trình triển khai thực hiện hợp đồng sản xuất 51
4.2 Sơ đồ quy trình sản xuất tủ bảng điện 52
4.3: Sơ đồ công nghệ sản xuất 57
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CPNVLTT Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Trang 61 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã và đang phát triển nền kinh tế thị trường, với các chính sách kinh tế mở và chiến lược tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Phát triển kinh tế thị trường đã, đang và sẽ đặt nền kinh tế nước ta nói chung và các doanh nghiệp nói riêng đối diện với những thách thức, khó khăn trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt mang tính quốc tế nhằm giành được khách hàng và mở rộng thị trường ngay trong nước cũng như thế giới Trong nền kinh tế thị trường, một khi không còn sự bảo hộ của nhà nước, các doanh nghiệp trong nước phải tự điều hành quản lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh một cách có hiệu quả để có thể đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển Để điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh các nhà quản trị cần phải có thông tin đáng tin cậy, đặc biệt
là thông tin do bộ phận kế toán cung cấp Để đáp ứng nhu cầu thông tin,
ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển công tác kế toán trong các doanh nghiệp được hoàn thiện thành một hệ thống cung cấp thông tin theo nhu cầu quản lý cho các đối tượng khác nhau Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp ở Việt Nam đã có nhiều điều kiện phát triển mới, trong đó các khoa học quản lý tiến bộ cũng được ứng dụng vào quản lý ở nhiều doanh nghiệp và đã đưa lại nhiều thành công Đối với lĩnh vực kế toán, hệ thống kế toán quản trị đã được giới thiệu, ứng dụng rộng rãi và thực sự trở thành một công cụ quản lý rất hiệu quả đối với nhiều doanh nghiệp có quy mô, lĩnh vực hoạt động khác nhau Thực chất của kế toán quản trị là hệ thống kế toán hướng vào việc cung cấp thông tin kinh tế một cách chi tiết và cụ thể cho các nhà quản trị nội
bộ điều hành hoạt động thông qua hệ thống các báo cáo kế toán quản trị
Hệ thống thông tin do kế toán quản tri cung cấp có vai trò hết sức lớn
Trang 7giúp nhà quản trị doanh nghiệp có những căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch hoạt động, định mức chi phí, kiểm soát và ra quyết định sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả và toàn diện Hệ thống báo cáo quản trị là sản phẩm cung cấp các thông tin cần thiết cho doanh nghiệp
Công ty TNHH Hệ thống Công nghiệp LS-VINA là công ty chuyên sản xuất, kinh doanh hàng thiết bị điện phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu Cùng với xu thế chung, để tồn tại và phát triển sản xuất Công ty rất chú trọng đến việc kiện toàn, phát triển và hoàn thiện bộ máy kế toán
để đáp ứng yêu cầu quản lý tài chính và cung cấp thông tin, đặc biệt là thông tin cho việc điều hành hoạt động của nhà quản trị các cấp Tuy nhiên, do chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, chức năng của kế toán quản trị đối với công tác quản lý nên kế toán quản trị nói chung, hệ thống báo cáo kế toán quản trị và thông tin kế toán quản trị nói riêng của Công ty chưa được thiết lập có tính hệ thống và liên tục Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm hạn chế tính hiệu lực, hiệu quả của các quyết định sản xuất, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển của Công
ty Mặc dù thời gian qua, bộ phận kế toán cũng đã xây dựng được một hệ thống báo cáo kế toán quản trị, tuy nhiên hệ thống này còn chưa hoàn chỉnh, chưa liên tục nên về cơ bản chưa đáp ứng được yêu cầu thông tin phục vụ cho quản lý, nhất là các thông tin về chi phí Những năm tới, quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty sẽ ngày càng được
mở rộng, nhu cầu cung cấp thông tin quản trị sẽ ngày càng tăng đòi hỏi công tác kế toán nói chung, kế toán quản trị nói riêng, nhất là hệ thống báo cáo kế toán quản trị về chi phí phải được hoàn thiện và đầy đủ hơn Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh các thông tin về chi phí có vai trò hết sức quan trọng vì nó vừa liên quan trực tiếp đến mục tiêu hoạt động, vừa là căn cứ để điều hành hoạt động của doanh nghiệp Chính
Trang 8vì vậy, thông tin về chi phí cần phải được cung cấp một cách cụ thể, chi tiết theo từng loại chi phí, ở từng bộ phận, từng sản phẩm và đảm bảo cung cấp kịp thời và đầy đủ hơn Với các nội dung trên đây, tôi
chọn nội dung “Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Hệ thống Công nghiệp LS-VINA”
làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung
Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất của Công ty TNHH Hệ thống Công nghiệp LS-VINA, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống này nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin cho quá trình điều hành sản xuất, kinh doanh của Công ty trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về kế toán quản trị và hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Hệ thống Công nghiệp LS-VINA
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất cho Công ty đáp ứng yêu cầu thông tin về điều hành sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất, bản chất và vai trò của nó đối với công tác quản lý doanh nghiệp Trên cơ sở nghiên cứu thực tế tại một doanh nghiệp sẽ đề xuất các
Trang 9giải pháp hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin để điều hành sản xuất và nâng cao hiệu quả SXKD của đơn vị trong thời gian tới
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu nội dung hệ thống các báo cáo kế
toán quản trị chi phí sản xuất theo nội dung và tiêu chí khác nhau trong doanh nghiệp Phân tích thực trạng hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí của đơn vị nghiên cứu làm cơ sở đề xuất giải pháp hoàn thiện nội dung này tại đơn vị nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài được thực hiện tại Công ty TNHH Hệ thống Công
nghiệp LS-VINA (Nguyên khê – Đông anh – Hà nội)
- Về thời gian: Đề tài sử dụng thông tin, số liệu trong khoảng thời
gian từ 2012-2014, đề xuất định hướng và xây dựng giải pháp cho các năm tiếp theo
Trang 102 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Tổng quan về kế toán quản trị và báo cáo kế toán quản trị
2.1.1.1 Khái niệm về kế toán quản trị và báo cáo kế toán quản trị
Trong đời sống kinh tế, xã hội sẽ có rất nhiều loại hình tổ chức thực hiện các chức năng khác nhau như các tổ chức kinh tế, các tổ chức chính trị, xã hội, cơ quan sự nghiệp… Đối với mỗi loại tổ chức tuy có những mục tiêu hoạt động khác nhau, nhưng đều phải áp dụng các công cụ quản
lý phù hợp với tính chất, chức năng hoạt động của mình Để điều hành
và quản lý các hoạt động đạt được mục đích của mình các tổ chức đều phải cần thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, tính chất và đặc điểm thông tin cũng khác nhau Đối với các đơn vị kinh tế thông tin do kế toán cung cấp là quan trọng nhất và bao gồm cả thông tin kế toán tài chính và thông tin kế toán quản trị
Chức năng của kế toán tài chính chủ yếu là lập báo cáo tài chính để quản lý và cung cấp thông tin cho các đối tượng có liên quan Báo cáo tài chính do kế toán lập phải được xây dựng trên cơ sở các báo cáo thống nhất, được trình bày theo đúng quy định, chuẩn mực của chế độ kế toán hiện hành Thông tin của kế toán tài chính cung cấp thông qua các báo cáo tài chính mang tính tổng hợp, chủ yếu phản ánh bằng thước đo giá trị nên chỉ có ý nghĩa nhiều cho các đối tượng bên ngoài, ít có giá trị đối với nhà quản trị các cấp trong nội bộ doanh nghiệp Chính do nhu cầu thông tin để điều hành sản xuất nên kế toán quản trị ra đời và được phát triển mạnh do có tác dụng hữu hiệu đối với công tác quản lý, nhất là trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường
Đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về kế toán quản trị, nhưng đều có một điểm chung thống nhất cho rằng kế toán quản trị là công cụ
Trang 11quản lý để thực hiện chức năng cung cấp thông tin kinh tế tài chính đáp ứng yêu cầu quản lý của các nhà quản trị nội bộ Chính vì vậy kế toán
quản trị còn được gọi là kế toán dành cho nhà quản lý (Phan Đức Dũng,
Do tính đa dạng, đòi hỏi phản ánh một cách chi tiết, cụ thể nên các Báo cáo KTQT được tự thiết lập trong đơn vị xuất phát từ nhu cầu thông tin của các đối tượng quan tâm khác nhau trong nội bộ đơn vị Nhìn chung, báo cáo KTQT phải phán ánh toàn diện tình hình tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, giá thành sản phẩm, công nợ và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo yêu cầu quản lý của các cấp quản trị khác nhau trong doanh nghiệp theo thời gian và không gian khác nhau
Như vậy, báo cáo kế toán quản trị là một phương pháp của kế toán nhằm cung cấp các thông tin kế toán một cách chi tiết cho các nhà quản trị trong doanh nghiệp, giúp các nhà quản trị trong việc phân tích, đánh giá, dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Để từ đó các nhà quản trị có thể đưa ra các quyết định cho hoạt động sản xuất, kinh doanh cho các kỳ tiếp theo của doanh nghiệp Báo cáo kế toán quản trị do
Trang 12bộ phận kế toán lập theo yêu cầu quản lý nên về hình thức, nội dung, các chỉ tiêu phản ánh hoàn thoàn phụ thuộc vào nhu cầu thông tin cho quản lý của nhà quản trị nội bộ theo thời gian và không gian khác nhau
2.1.1.2 Thông tin cho quản lý và xây dựng báo cáo kế toán quản trị
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghịêp, kế toán góp phần rất quan trọng vào công tác quản lý các hoạt động kinh tế, tài chính Việc thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về tình hình thu nhập, chi phí, so sánh thu nhập với chi phí để xác định kết quả lỗ lãi là một trong những chức năng của KTTC Song do doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm, kinh doanh nhiều loại hàng hoá, dịch vụ khác nhau nên muốn biết một cách chi tiết cụ thể và kịp thời chi phí, thu nhập và kết quả của từng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ nhằm đưa ra các quyết định thích hợp thì KTTC không đáp ứng được yêu cầu các thông tin này Bên cạnh đó KTTC hướng chủ yếu vào chức năng lập báo cáo tài chính, cung cấp thông tin chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài liên quan đến toàn
bộ quá trình hoạt động của một tổ chức Những thông tin này phản ánh nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong kỳ đã xảy ra nên số liệu mang tính lịch
sử, quá khứ chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin cho điều hành hoạt động, hướng tới tương lai của nhà quản trị trong doanh nghiệp Cũng chính từ nhu cầu thông tin này mà hệ thống KTQT ra đời và phát triển như một tất yếu của yêu cầu quản lý “Kế toán quản trị thực hiện nhiều chức năng như xây dựng các dự toán chi phí, dự toán thu nhập và kết quả của từng loại sản phẩm hàng hoá, dịch vụ Sau đó tiến hành theo dõi, kiểm tra suốt quá trình phát sinh chi phí sản xuất, mua bán hàng hoá dịch vụ, tính toán giá thành sản phẩm, giá vốn hàng mua, hàng bán, doanh thu và kết quả của từng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ để đáp ứng yêu cầu quản lý cụ thể của doanh
nghiệp” (Phan Đức Dũng, 2008, trang 26 ) Việc quản lý các hoạt động về
kinh tế, tài chính một cách chặt chẽ, khoa học nhằm cung cấp thông tin
Trang 13chính xác và kịp thời để phục vụ cho điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đưa ra các quyết định điều hành chính xác luôn được ưu tiên hàng đầu
Kế toán quản trị cung cấp thông tin thoả mãn nhu cầu của các nhà quản trị doanh nghiệp, là những người mà các quyết định và hành động của họ ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành bại của doanh nghiệp đó Kế toán quản trị không những cung cấp thông tin cho các nhà quản trị cấp cao để ra quyết định kinh doanh, quyết định đầu tư và sử dụng các nguồn lực mà còn cung cấp cả các thông tin về các mặt kỹ thuật để các nhà quản lý thừa hành sử dụng thực thi trách nhiệm của mình Thông tin kế toán rất cần thiết cho nhà quản trị điều hành sản xuất kinh doanh, đề ra các chiến lược và quyết định kinh doanh Do
đó nếu thông tin kế toán sai lệch sẽ dẫn đến các quyết định của nhà quản trị không phù hợp, doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn
Để cung cấp các thông tin trên, kế toán trong đơn vị phải có trách nhiệm thiết lập hệ thống báo cáo kế toán theo nhu cầu thông tin của từng cấp quản lý, theo từng nội dung quản lý trong những điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể, trong không gian, thời gian nhất định Như vậy Báo cáo kế toán quản trị sẽ rất đa dạng và phong phú, phản ánh theo nhiều nội dung quản
lý Xuất phát từ thực tế đó, việc điều hành sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị nhằm đáp ứng mục tiêu đề ra
2.1.1.3 Vai trò, yêu cầu của Báo cáo KTQT trong doanh nghiệp
Thông tin trên báo cáo tài chính vừa có ý nghĩa đối với nhà quản trị doanh nghiệp, nhưng chủ yếu có ý nghĩa đối với các đối tượng bên ngoài, bao gồm các cơ quan quản lý của Nhà nước, các tổ chức tài chính, các nhà đầu tư và các đối tượng liên quan khác
Thông tin trên các báo cáo kế toán quản trị chủ yếu chỉ có ý nghĩa đối với các nhà quản trị nội bộ doanh nghiệp Nói khác đi, thông tin trên các
Trang 14báo cáo kế toán quản trị được hình thành từ nhu cầu quản lý nội bộ nên chủ yếu chỉ được sử dụng để điều hành sản xuất và đưa ra các quyết định của nhà quản trị liên quan đến mục tiêu hoạt động của đơn vị
Với các nội dung trên, vai trò của báo cáo kế toán quản trị, cụ thể là thông tin trên báo cáo kế toán quản trị đối với quản lý được thể hiện qua các nội dung sau:
- Làm căn cứ xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng hoạt động;
- Là cơ sở cho việc xây dựng dự toán, định mức chi phí sản xuất;
- Làm căn cứ để đánh giá tình hình hoàn thành kế hoạch, dự toán theo từng hoạt động;
- Là cơ sở cho nhà quản trị ra quyết định liên quan trong quá trình điều hành sản xuất, kinh doanh
Với chức năng ra quyết định đòi hỏi nhà quản trị phải có sự lựa chọn hợp lý trong nhiều phương án đặt ra Ra quyết định tự thân nó không phải
là một chức năng riêng biệt mà là sự kết hợp cả trong ba chức năng lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá, tất cả đều phải có quy định được đề ra Do đó phần lớn thông tin do kế toán quản trị cung cấp đều phục vụ chức năng ra quyết định Đó là chức năng quan trọng xuyên suốt quá trình quản trị doanh nghiệp, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện cho đến khâu kiểm tra, đánh giá
Chức năng ra quyết định đòi hỏi nhà quản trị phải có sự chọn lựa thích hợp trong nhiều phương án khác nhau được đưa ra Các quyết định trong một tổ chức có thể là quyết định chiến lược ảnh hưởng lâu dài đến tổ chức Tất cả các quyết định đều có nền tảng từ thông tin, và phần lớn thông tin đều do kế toán quản trị cung cấp nhằm phục vụ chức năng ra quyết định của nhà quản trị bao gồm quyết định kinh doanh ngắn hạn, dài hạn, quyết định ựa chọn phương án đầu tư
Trong kinh doanh, chi phí vừa là yếu tố đầu vào vừa là đối tượng quản lý nên báo cáo KTQT chi phí sản xuất thông qua phân tích thông tin
Trang 15thích hợp nhằm cung cấp các thông tin nhanh chóng, ngắn gọn, dễ hiểu liên quan đến các phương án, để giúp nhà quản lý lựa chọn quyết định phương
án kinh doanh cho đơn vị một cách hiệu quả nhất
Với các yêu cầu trên, kế toán quản trị phải cung cấp thông tin linh hoạt kịp thời và mang tính hệ thống, trên cơ sở đó giúp nhà quản lý phân tích các phương án thiết lập để lựa chọn quyết định phương án tối ưu nhất Các thông tin được cung cấp thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: có thể diễn đạt dưới dạng mô hình toán học, đồ thị, biểu đồ, …tuy nhiên hình thức qua báo cáo kế toán quản trị có tính phổ biến Để đáp ứng yêu cầu thông tin cho việc ra quyết định, nội dung và hình thức của thông tin trên các báo cáo kế toán quản trị phải đáp ứng được những yêu cầu sau:
- Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;
- Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng;
- Trình bày khách quan, không thiên vị;
Thứ nhất, đảm bảo tính kịp thời : thông tin kế toán phải được cung
cấp đúng lúc, đúng thời điểm yêu cầu của nhà quản trị, giúp nhà quản trị nắm bắt thông tin một cách nhanh chóng, trên cơ sở đó có thể ra những quyết định kịp thời Sự chậm trễ của các thông tin kéo theo sự chậm trễ trong việc ra quyết định có thể khiến cho doanh nghiệp bỏ lỡ thời cơ một
Trang 16cách đáng tiếc
Thứ hai, đảm bảo tính thích hợp : Tính thích hợp này còn gọi là tính
hữu ích của thông tin Những thông tin có tính thích hợp là những thông tin
có tác động đến quyết định kinh tế quả nhà quản lý Những tình huống ra quyết định khác nhau cần những thông tin khác nhau Việc sử dụng thông tin không thích hợp có thể dẫn đến những quyết định sai lầm, gây thiệt hại
về kinh tế cho DN Bởi vậy, KTQT cần lựa chọn những thông tin phù hợp
để cung cấp cho từng tình huống ra quyết định cụ thể của nhà quản lý
Thứ ba, đảm bảo tính chính xác : thông tin phục vụ cho việc ra
quyết định phải chính xác Nếu thông tin không chính xác, quyết định sẽ sai lầm Tuy nhiên mức độ yêu cầu không nhất thiết phải là thông tin chính xác tuyệt đối mà quan trọng là tính đúng đắn của thông tin Thông tin đưa ra phải phản ánh được tình hình thực tế của DN, có như thế nhà quản trị mới có thể đưa ra các quyết định đúng đắn Đôi khi tính chính xác và kịp thời của thông tin phải đánh đổi lẫn nhau
Thứ tư, đảm bảo tính đầy đủ và hệ thống : yêu cầu này đòi hỏi hệ
thống thông tin KTQT được thiết lập phải phản ánh đầy đủ mọi hoạt động, mọi khía cạnh liên quan đến các vấn đề kinh tế tài chính phát sinh, từ đó giúp cho nhà quản trị có thể nhìn nhận và đánh giá các vấn đề một cách toàn diện
và hệ thống
Đối tượng sử dụng thông tin báo cáo KTQT bao gồm nhiều cấp độ quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp nên báo cáo kế toán quản trị phải đáp ứng các yêu cầu:
- Báo cáo phải phản ánh theo từng nội dung theo yêu cầu quản lý khác nhau của từng cấp quản trị;
- Báo cáo phải đảm bảo tính thống nhất về chỉ tiêu, cách tính, dễ dàng cho việc đối chiếu và so sánh;
- Báo cáo phải đơn giản, rõ ràng dễ hiểu;
- Báo cáo phải phán ánh từng nội dung theo thời gian và không gian
Trang 17khác nhau
Báo cáo kế toán quản trị được lập dùng để phản ánh và cung cáp thông tin theo yêu cầu của nhà quản trị tuy không phải xây dựng theo khuôn mẫu chuẩn mực nhưng cũng cần phải xây dựng theo một mẫu chung, phản ánh theo từng nội dung, đối tượng mới có thể đáp ứng được các yêu cầu trên
2.1.2 Hệ thống Báo cáo KTQT chi phí sản xuất trong doanh nghiệp
2.1.2.1 Nhận diện và phân loại chi phí sản xuất
Để tập hợp và phản ánh chi phí vào hệ thống báo cáo kế toán quản trị, trước hết cần phải nhận diện và phân loại chi phí theo mục đích quản lý khác nhau
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, nhiều thứ khác nhau Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra cũng như phục vu cho việc ra các quyết định, chi phí sản xuất cần phải được phân loại theo những tiêu thức phù hợp
Chi phí sản xuất là toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp bỏ ra có lien quan đến chế tạo sản phẩm, cung cấp dịch vụ trong một kỳ, biểu hiện bằng tiền Chi phí sản xuất bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung Do chi phí gồm nhiều loại, ảnh hưởng khác nhau đến các quyết định quản lý nên khi sử dụng cần chú ý đến mục đích của mỗi cách phân loại, cụ thể:
a) Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế
Các chi phí sản xuất được chia thành các yếu tố chi phí, các yếu tố chi phí là các chi phí có cùng nội dung kinh tế và không chú ý tới mục đích
sử dụng Cách phân loại này làm rõ nội dung kinh tế của từng loại chi phí
để có hướng kiểm soát phù hợp
Trang 18b) Phân loại chi phí theo mối quan hệ đến đối tượng sử dụng chi phí
Các chi phí được chia thành hai loại đó là chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp Theo cách phân loại này cho biết sự ảnh hưởng trực tiếp của chi phí đến từng bộ phận, sản phẩm hoặc chịu ảnh hưởng gián tiếp (thông qua phân bổ các chi phí gián tiếp)
c) Phân loại chi phí theo mức độ hoạt động
Theo cách phân loại này, chi phí được chia thành ba loại là chi phí cố định, chi phí biến đổi và chi phí hỗn hợp, chi phí cố định là những chi phí
có tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi mức độ hoạt động của sản xuất, chi phí biến đổi là những chi phí thay đổi tỷ lệ với mức độ hoạt động của sản xuất, chi phí hỗn hợp là những chi phí mà bản thân nó bao gồm cả chi phí cố định và chi phí biến đổi
d) Phân loại chi phí theo địa điểm phát sinh chi phí
Theo cách phân loại này, các chi phí cũng sẽ được chia thành các khoản mục phí Các khoản mục phí được tập hợp có chú ý theo từng địa điểm, bộ phận và công dụng phát sinh của nó ảnh hưởng đên kết quả hoạt động ở những bộ phận này
Để xử lý thông tin chi phí phản ánh trên báo cáo KTQT trước hết cần
tổ chức tập hợp chi phí một cách chính xác theo đối tượng sử dụng chi phí Đối tượng để tập hợp các chi phí sản xuất sẽ dựa trên các căn cứ:
- Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp;
- Căn cứ vào quy trình công nghệ để sản xuất ra sản phẩm;
- Căn cứ vào đặc điểm phát sinh chi phí;
- Căn cứ vào yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
Thông thường, việc tập hợp và nhận diện chi phí được thực hiện theo một số cách thức chủ yếu sau:
Thứ nhất, tập hợp và nhận diện chi phí theo phương pháp kê khai thường xuyên
Trang 19Trong quá trình tập hợp chi phí, việc tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là việc cần thiết vì chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng chi phí, điều này thể hiện rõ nhất trong các ngành chế tạo công nghiệp, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là các chi phí về nguyên vật liệu chính, bán thành phẩm, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho sản xuất
Chi phí nhân công trực tiếp thường chiếm tỷ trọng lớn trong các ngành sản xuất đòi hỏi kỹ năng của người lao động hoặc khi yếu tố tay nghề là quyết định trong quá trình tạo sản phẩm Điều đặc biệt là chi phí nhân công sẽ luôn có xu hướng tăng do yếu tố mặt bằng giá nhân công luôn
có xu hướng tăng và kỹ năng nghệ nghiệp của người lao động ngày càng hoàn thiện đòi hỏi mức đãi ngộ ngày càng cao Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo số tiền lương của người lao động
Chi phí sản xuất chung là những khoản chi phí liên quan đến quá trình sản xuất như chi phí nhân viên quản lý trong xưởng bao gồm chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp theo lương, chi phí vật tư dung chung cho sản xuất như vật tư sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố định trong xưởng, vật tư tiêu hao trong quá trình thiết bị máy móc vận hành, văn phòng phẩm Chi phí dụng cụ sản xuất là những chi phí cho các loại công cụ, dụng cụ không tính vào tài sản cố định vì yếu tố thời gian sử dụng hoặc giá mua Chi phí khấu hao tài sản cố định sẽ bao gồm khấu hao của các tài sản cố định trong xưởng sản xuất Ngoài ra chi phí sản xuất chung còn bao gồm các chi phí mua ngoài để phục vụ cho xưởng sản xuất như chi phí sửa máy, chi phí điện, nước, điện thoại hoặc kể cả những chi phí tiếp khách
Trang 20Chi phí sản xuất chung thường được tập hợp rồi phân bổ cho các đối tượng như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, số giờ công trực tiếp
Thứ hai, tập hợp và nhận diện chi phí theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Tương tự như ở phương pháp kê khai thường xuyên, chi phí sản xuất vẫn được tập hợp trên các tài khoản:
TK 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp
TK 627: Chi phí sản xuất chung
TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang để sử dụng để phản ánh chi phí dở dang đầu kỳ và cuối kỳ
2.1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của phân loại báo cáo KTQT chi phí
Báo cáo kế toán quản trị chi phí cung cấp những thông tin kế toán cho các nhà quản lý nhằm đạt được những mục tiêu của tổ chức đã đề ra Nhà quản lý nhận được thông tin này dưới hình thức như: báo cáo dự toán chi phí, báo cáo giá thành kế hoạch, các báo cáo thực hiện chi phí
và giá thành… trong chu kỳ kinh doanh tháng, quý, năm Vai trò của báo cáo kế toán quản trị cung cấp thông tin phục vụ cho các chức năng chủ yếu: lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm soát và ra quyết định Nó cho phép các nhà quản trị sự hiểu biết chính xác và cụ thể hơn về những vấn đề cần giải quyết Các nhà quản trị sử dụng thông tin kế toán quản trị vào mục đích kiểm soát thông qua việc tác động vào việc hình thành quyết định của các thành viên, buộc các quyết định đó phải phù hợp với mục tiêu chung của tổ chức
Vai trò của báo cáo kế toán quản trị đối với việc lập kế hoạch
Việc lập kế hoạch trong một tổ chức liên quan đến hai vấn đề, đó là: xác định mục tiêu của tổ chức và xây dựng những phương thức để đạt được
Trang 21mục tiêu đó Dự toán ngân sách trong kế toán quản trị là một công cụ để kế toán viên giúp ban quản trị trong quá trình lập kế hoạch và kiểm soát việc thực hiện kế hoạch Vì vậy, kế toán quản trị phải trên cơ sở đã ghi chép, tính toán, phân tích chi phí, giá thành, kết quả từng loại hoạt động, từng sản phẩm, từng ngành hàng,…lập các bảng dự toán chi phí, giá thành kế hoạch…, để cung cấp thông tin trong việc phác họa dự kiến tương lai nhằm mục đích phát triển doanh nghiệp
Các báo cáo dự toán phục vụ cho chức năng lập kế hoạch chi phí bao gồm:
- Báo cáo dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp;
- Báo cáo dự toán chi phí nhân công trực tiếp;
- Báo cáo dự toán chi phí sản xuất chung;
(Nguyễn Ngọc Quang, 2011, trang 65)
Vai trò của báo cáo kế toán quản trị cho chức năng kiểm soát
Để giúp các nhà quản trị thực hiện chức năng kiểm soát, kế toán quản trị sẽ cung cấp các báo cáo thực hiện, rồi so sánh những số liệu thực hiện so với kế hoạch hoặc dự toán, liệt kê tất cả các sự khác biệt và đánh giá việc thực hiện Các báo cáo này có tác dụng như một hệ thống thông tin phản hồi để nhà quản trị biết được kế hoạch đang thực hiện như thế nào, đồng thời nhận diện các vấn đề hạn chế cần có sự điều chỉnh, thay đổi nhằm hướng hoạt động của tổ chức về mục tiêu xác định
Các báo cáo tình hình thực hiện chi phí phục vụ cho chức năng kiểm soát bao gồm:
- Báo cáo tình hình thực hiện định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Báo cáo tình hình thực hiện chi phí nhân công trực tiếp
- Báo cáo tình hình thực hiện định mức chi phí sản xuất chung
- Báo cáo giá thành sản phẩm
Trang 222.1.2.3 Đặc điểm, nội dung báo cáo KTQT chi phí
Đặc điểm của báo cáo KTQT chi phí là cung cấp các thông tin kế toán về chi phí phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh và giá thành cho nhà quản trị Các chỉ tiêu trong báo cáo kế toán quản trị chi phí cần phải được thiết kế phù hợp với các chỉ tiêu của báo cáo dự toán và báo cáo thực hiện nhưng có thể thay đổi theo yêu cầu quản lý của các cấp
Nội dung hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí cần đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin và tính so sánh được của các thông tin phục vụ yêu cầu quản lý, điều hành và ra các quyết định kinh tế của doanh nghiệp
“Báo cáo kế toán quản trị chi phí cung cấp những thông tin cần thiết giúp quản trị doanh nghiệp và các nhà chuyên môn phân tích mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đánh giá một cách khách quan toàn diện quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, xác định chính xác
kết quả cũng như hiệu quả của mọi hoạt động kinh doanh” (Phạm Thị Tuyết
Minh, 2012, trang 62)
Dựa vào hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí, những người quản trị doanh nghiệp có thể phát hiện những khả năng tiềm năng về kinh tế- tài chính, dự đoán tình hình sản xuất kinh doanh cũng như xu hướng vận động của doanh nghiệp
Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí cung cấp những tài liệu, số liệu quan trọng và cần thiết giúp cho các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch đầu tư, các dự toán sản xuất kinh doanh ngắn hạn cũng như dài hạn của doanh nghiệp
2.1.2.4 Báo cáo KTQT chi phí theo hệ thống tổ chức của doanh nghiệp
Quá trình tổ chức sản xuất ở hầu hết các doanh nghiệp đều được tổ chức thành nhiều bộ phận, đơn vị sản xuất khác nhau Do mỗi bộ phận đơn
vị có điều kiện, đặc điểm tổ chức sản xuất khác nhau nên để kiểm soát từng
bộ phận nhất thiết phải có các thông tin chi tiết của từng bộ phận Chính vì
Trang 23vậy, để thực hiện được những mục tiêu cụ thể mà kế hoạch đã đề ra, các doanh nghiệp cần phải xây dựng một hệ thống các báo cáo KTQT theo từng phân xưởng, tổ sản xuất chỉ rõ các giải pháp huy động và sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực để đạt được các mục tiêu đã định và so sánh biết được kết quả thực hiện mục tiêu với kế hoạch đã đề ra và các bộ phận khác nhau của doanh nghiệp
Báo cáo theo hệ thống tổ chức sản xuất cho biết tình hình sử dụng lao động, nguyên vật liệu cũng như chi phí nhân công, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của từng bộ phận, từng phân xưởng sản xuất hoặc cho toàn bộ doanh nghiệp Thông thường báo cáo theo hệ thống tổ chức sản xuất thường được chia thành 3 cấp :
a Cấp thấp bao gồm phân xưởng sản xuất là bộ phận chịu trách nhiệm sản xuất sản phẩm Kế toán quản trị của xưởng sản xuất sẽ lập các báo cáo sau :
+ Báo cáo sản xuất để phản ánh khối lượng sản phẩm hoàn thành, khối lượng sản phẩm dở dang, các loại chi phí theo phương pháp bình quân
+ Báo cáo năng suất lao động để phản ánh khả năng làm việc hiệu quả của công nhân trong phân xưởng dựa vào việc so sánh giữa kế hoạch
và thực tế v v
b Cấp trung gian : Phòng Quản lý lập các báo cáo chi phí doanh nghiệp bỏ ra Căn cứ vào đó để lập báo cáo giá thành, tham mưu ra quyết định đúng đắn cho doanh nghiệp Kế toán quản trị cấp trung gian sẽ tập hợp báo cáo kế toán quản trị của cấp dưới đưa lên, các báo cáo của bộ phận mình để đánh giá biến động của doanh nghiệp rồi báo cáo lên cho quản trị cấp cao hơn
c Quản trị cấp cao bao gồm Tổng giám đốc, ban giám đốc
Nhà quản trị cấp cao căn cứ vào báo cáo quản trị của các cấp rồi ra
Trang 24quyết định sản xuất kinh doanh, quyết định phương án, dự án đầu tư, chiến
lược phát triển cho doanh nghiệp
2.1.2.5 Hệ thống báo cáo KTQT theo ngành hàng, sản phẩm
Báo cáo theo ngành hàng, sản phẩm phản ánh các nhóm hàng, sản phẩm mà Doanh nghiệp đang sản xuất hoặc sẽ sản xuất
a Báo cáo theo ngành hàng : là các báo cáo về dự toán và tình hình thực hiện chi phí sử dụng nguyên vật liệu, nhân công, chi phí sản xuất chung của một ngành hàng hoặc nhóm hàng để doanh nghiệp chủ động trong việc tạo nguồn nguyên liệu, bố trí nguồn nhân lực, vật lực……tiết kiệm chi phí đầu vào
b Báo cáo theo sản phẩm : là các báo cáo KTQT phản ánh cùng một loại sản phẩm nhưng sản xuất ở các phân xưởng khác nhau thì có chi phí và giá thành cũng khác nhau Báo cáo này giúp nhà quản trị có quyết định điều chỉnh mở rộng hay thu hẹp sản xuất hoặc dừng sản xuất
2.1.2.6 Hệ thống báo cáo theo yếu tố chi phí
Hệ thống báo cáo theo yếu tố chi phí cung cấp cho nhà quản lý thông tin về chi phí cho từng đối tượng tập hợp chi phí (hoạt động sản xuất, dự
án, …) và theo từng khoản mục hoặc yếu tố chi phí
a) Báo cáo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Báo cáo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của doanh nghiệp nhằm kiểm soát, theo dõi việc đảm bảo cung cấp đầy đủ, đúng chất lượng, chủng loại nguyên vật liệu trực tiếp và tính chất kịp thời cho sản xuất, giúp cho quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp diễn ra một cách nhịp nhàng, đúng kế hoạch Ngoài ra, báo cáo nguyên vật liệu trực tiếp còn làm căn cứ
để dự trù nhu cầu nguyên vật liệu trực tiếp cho chu kỳ sản xuất kinh doanh
tới (Phạm Văn Dược, Đặng Kim Cương, 2008, trang 35)
b) Báo cáo chi phí nhân công trực tiếp
Thông qua báo cáo chi phí nhân công trực tiếp, quản trị doanh
Trang 25nghiệp có thể chủ động trong việc sử dụng lao động sống một cách có hiệu quả nhất, tránh tình trạng thiếu hoặc thừa lao động, gây khó khăn
cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (Phạm Văn Dược
và Đặng Kim Cương, 2008, trang 35)
c) Báo cáo chi phí sản xuất chung
Báo cáo chi phí sản xuất chung nhằm xác định tổng chi phí sản xuất chung giúp nhà quản trị doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch và kiểm soát
và điều chỉnh chi phí sản xuất chung khi cần thiết
Với quy trình sản xuất liên tục, phân xưởng là bộ phận sản xuất cơ
sở, là nơi phát sinh chi phí của quá trình sản xuất đó, hoạt động sản xuất diễn ra liên tục ở các phân xưởng kế tiếp nhau, sản phẩm có sự vận động và
chuyển đổi từ phân xưởng này sang phân xưởng khác (Phạm Văn Dược,
Đặng Kim Cương, 2008, trang 36)
Các báo cáo báo cáo tình hình thực hiện chi phí phục vụ cho chức năng kiểm soát
Nhà quản trị sau khi đã triển khai việc thực hiện kế hoạch thì bước tiếp theo là phải kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện đó Phương pháp kiểm tra và đánh giá thường là phương pháp so sánh Theo phương pháp này tất cả các số liệu thực hiện được so sánh với kế hoạch hoặc so với dự toán, từ đó phát hiện những sai lệch giữa kết quả đạt được với mục tiêu đã
đề ra Để làm được điều này, nhà quản trị cần được kế toán cung cấp các báo cáo thực hiện để đánh giá, có tác dụng như bước phản hồi giúp nhà quản trị nhận diện ra những vấn đề còn tồn tại cần có tác động của quản lý
Các báo cáo tình hình thực hiện chi phí phục vụ cho chức năng kiểm soát bao gồm:
- Báo cáo chi phí sản xuất;
- Báo cáo tình hình thực hiện định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp;
Trang 26- Báo cáo tình hình thực hiện định mức chi phí sản xuất chung;
- Các báo cáo khác
Báo cáo chi phí theo bộ phận có ý nghĩa rất quan trọng trong việc kiemr soát chi phí ở từng bộ phận khác nhau và cũng là cơ sở để đề xuất đổi mới dây chuyền công nghệ ở từng bộ phận cho phù hợp với điều kiện thực tế Chính vì vậy, các báo cáo bộ phận được chia thành:
- Báo cáo tình hình biến động nguyên vật liệu;
- Báo cáo năng suất lao động;
- Báo cáo tiến độ sản xuất;
- Báo cáo bộ phận theo sản phẩm tại phân xưởng;
- Báo cáo thu nhập theo phân xưởng;
- Báo cáo chi phí theo đơn hàng
(Nguyễn Ngọc Quang, 2011, trang 82)
2.1.3 Tổ chức hệ thống báo cáo KTQT chi phí
Trong tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất, việc
tổ chức các nội dung công việc cần làm hết sức quan trọng vì những vấn đề này sẽ liên quan đến nhân sự cũng như phân công, phối hợp với các bộ phận khác trong doanh nghiệp Ở góc độ căn bản, các công việc cần tổ chức bao gồm: tổ chức phân loại chi phí, tổ chức lập dự toán chi phí, tổ chức phân tích chi phí, tổ chức quản lý chi phí
Các dự toán bao gồm dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán nhân công, dự toán tồn kho, dự toán sản xuất
2.1.3.1 Tổ chức lập dự toán chi phí
Lập dự toán chi phí sản xuất là việc dự kiến (kế hoạch) những chỉ tiêu sản xuất một cách chi tiết, cụ thể, phù hợp với yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp, với ý nghĩa cung cấp thông tin về kế hoạch sản xuất kinh doanh nhằm giúp các nhà quản lý đưa ra dự định trong tương lai để đạt được mục đích đề ra, dự toán chi phí sản xuất là căn cứ đánh giá tình hình
Trang 27thực hiện các chỉ tiêu dự kiến, thấy được mặt mạnh và mặt tồn tại của doanh nghiệp Ngoài ra dự toán chi phí còn là căn cứ để sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp
Dự toán chi phí bao gồm việc dự toán sản lượng sản xuất và chi phí sản xuất ra sản phẩm, việc lập dự toán căn cứ trên định mức được xây dựng phù hợp của từng doanh nghiệp Trình tự lập dự toán sẽ phản ánh mối quan
hệ giữa Quản trị cấp trên và Quản trị cấp cơ sở khi Quản trị cấp trên đưa ra mục tiêu, Quản trị cấp cơ sở phản hồi bằng thực tế quá khứ và việc điều chỉnh dự toán thực hiện tại Quản trị cấp trên
2.1.3.2 Tổ chức phân tích chi phí
Để kết quả phân tích chi phí sản xuất được chính xác, việc lượng hóa các thông tin về mục đích của chi phí là điều cần thiết và là yếu tố quyết định để đưa ra kết quả phân tích chính xác Từ kết quả phân tích chi phí chính xác, doanh nghiệp có thể xây dựng chi phí định mức phù hợp và từ
đó có thể quản lý chi phí một cách hiệu quả
Việc xác định chi phí định mức thường được thực hiện theo 3 phương pháp và doanh nghiệp cần duy trì việc cập nhật, cải tiến định mức liên tục để nâng cao hiệu quả sản xuất
Phương pháp kỹ thuật:
Phương pháp này đòi hỏi sự kết hợp của các chuyên gia kỹ thuật để nghiên cứu thời gian thao tác công việc nhằm mục đích xác định lượng nguyên vật liệu và lao động hao phí cần thiết để sản xuất trong điều kiện về công nghệ, khả năng quản lý và nguồn nhân lực hiện có tại doanh nghiệp
Phương pháp phân tích số liệu lịch sử:
Xem xét các chi phí thực tế phát sinh trong kỳ trước cùng với việc xem xét các yếu tố thay đổi của kỳ này so với kỳ trước để đưa ra định mức
Phương pháp điều chỉnh
Ước tính các yếu tố thay đổi trong tương lai để điều chỉnh định mức
Trang 282.1.3.3 Tổ chức quản lý chi phí
Khi bắt tay vào xây dựng kế hoạch hay chiến lược sản xuất kinh doanh hoặc kế hoạch đầu tư, không một công ty sản xuất kinh doanh thành công nào không tính đến việc các chi phí sẽ được quản lý và sử dụng như thế nào, các đồng vốn bỏ ra mang lại lợi nhuận đến đến đâu, có đem lại hiệu quả như mong muốn ban đầu hay không Rõ rang yếu tố chi phí luôn đóng vai trò quan trọng trong bất cứ kế hoạch mở rộng hoặc tăng trưởng sản xuất kinh doanh nào
Về mặt lý thuyết, chi phí sản xuất là tổng số tiền tương đương với toàn bộ hao phí về các nguồn lực mà công ty đã bỏ ra trong một giai đoạn sản xuất nhất định Việc quản lý chi phí sản xuất không chỉ đơn thuần là quản lý số liệu phản ánh tổng hợp chi phí mà phải dựa trên cả các yếu tố chi phí riêng biệt để phân tích toàn bộ chi phí sản xuất của từng sản phẩm, lô sản phẩm hay theo nơi phát sinh chi phí Dưới các góc
độ xem xét khác nhau, theo những tiêu chí khác nhau thì chi phí sản xuất cũng được phân loại theo các cách khác nhau để đáp ứng yêu cầu thực tế của quản lý và hạch toán
Trên thực tế, hoạt động quản lý chi phí được tách rời đối với công tác kế toán thống kê Quản lý chi phí là tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng về việc sử dụng các nguồn vốn và chi phí, từ đó đưa ra những quyết định về các chi phí ngắn hạn cũng như dài hạn của công ty
Quản lý chi phí sản xuất bao gồm:
Tiến hành phân tích và đưa ra một cơ cấu chi phí và nguồn lực huy động tối ưu cho sản xuất trong từng thời kỳ
Thiết lập một chính sách phân chia chi phí cùng các mức lợi nhuận một cách hợp lý đối với công ty, vừa bảo vệ được quyền lợi của chủ công
ty và các cổ đông, vừa đảm bảo được lợi ích hợp pháp, hợp lý cho người lao động, xác định phần lợi nhuận còn lại từ sự phân phối này để đưa ra các
Trang 29quyết định về mở rộng sản xuất hoặc đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh mới, tạo điều kiện cho công ty có mức độ tăng trưởng cao và bền vững Kiểm soát việc sử dụng cả các tài sản trong công ty, tránh tình trạng
sử dụng lãng phí, sai mục đích
Bộ phận quản lý chi phí trong các công ty sẽ dựa vào các thống kê kế toán, báo cáo doanh thu, báo cáo nhân sự và tiền lương, do các bộ phận kế toán, quản trị và thống kê cung cấp, đồng thời kết hợp với những yếu tố khách quan để tiến hành phân loại, tổng hợp, phân tích và đánh giá các khoản chi phí của công ty, so sánh kết quả phân loại của kỳ này với kỳ trước của công ty mình với các công ty cùng ngành, lĩnh vực sản xuất, so sánh với các chuẩn mực của ngành
Bằng các chỉ tiêu và sự nhạy bén mà bộ phận quản lý chi phí có thể chỉ ra những mặt mạnh cũng như những thiếu sót của công ty trong kỳ Ngoài ra, bộ phận quản lý chi phí còn giúp giám đốc hoạch định chiến lược chi tiêu ngắn và dài hạn của công ty dựa trên sự đánh giá tổng quát cũng như từng khía cạnh cụ thể các yếu tố chi phí có ảnh hưởng quan trọng tới
sự tồn tại của công ty
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Báo cáo KTQT chi phí sản xuất của các doanh nghiệp trên thế giới
Cùng với những thăng trầm của nền kinh tế, kế toán quản trị cũng đã được hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn và đã có nhiều thay đổi
để phù hợp với sự phát triển của nền sản xuất xã hội Trong quá trình đó, KTQT thực sự đã phát huy được vai trò to lớn của mình và dần trở thành
bộ phận quan trọng trong việc cung cấp thông tin phục vụ cho công tác quản lý và điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quá trình hình thành và phát triển của KTQT ở các nước đều gắn liền với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường, đều mang trọng tâm là giải quyết các vấn đề quản trị doanh nghiệp
Trang 30Báo cáo Kế toán quản trị ở Cộng hòa Pháp:
Đặc trưng cơ bản của mô hình kế toán Cộng hoà Pháp là mô hình kế toán tĩnh, nên tổ chức kế toán có những đặc điểm khác biệt với mô hình kế toán động, cụ thể: Hệ thống kế toán bao gồm kế toán tổng quát (Kế toán tài chính) và kế toán phân tích (Kế toán quản trị) Kế toán tổng quát và kế toán phân tích được tổ chức tách rời nhau, độc lập tương đối Kế toán phân tích (Kế toán quản trị) sử dụng hệ thống tài khoản riêng, sổ kế toán và báo cáo
kế toán riêng Kế toán phân tích đặt trọng tâm xử lý và cung cấp thông tin
về chi phí, thu nhập và kết quả của từng loại hoạt động SXKD của DN theo tùng sản phẩm, dịch vụ Như vậy, các báo cáo kế toán quản trị ở đây cung cấp các thông tin cần thiết phục vụ cho việc kiểm tra, kiểm soát chi phí, lập
dự toán chi phí và các loại dự toán khác
Đối với báo cáo về giá thành bao gồm 3 loại:
- Báo cáo giá thành nguyên vật liệu: Bao gồm giá trị nguyên liệu, vật liệu mua vào ghi trên hóa đơn của nhà cung cấp và các chi phí liên quan đến mua nguyên liệu, vật liệu như chi phí chuyên chở, bảo hiểm…
- Báo cáo giá thành sản xuất: Bao gồm chi phí nhân công, chi phí nguyên vật liệu, khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê ngoài… phát sinh trong giai đoạn sản xuất sản phẩm
- Báo cáo giá thành phân phối: Gồm các chi phí về tiêu thụ sản phẩm như chuyên chở, bảo quản sản phẩm khi bán, bao bì đóng gói, tiếp thị quảng cáo…
Tóm lại, báo cáo chi phí và giá thành trong kế toán quản trị ở Cộng hoà Pháp được phân thành nhiều loại khác nhau Mỗi một loại báo cáo chi phí và mỗi chỉ tiêu giá thành đảm bảo cung cấp thông tin cần thiết nhất định để thỏa mãn yêu cầu quản lý
Báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất ở Mỹ:
Hiện nay, Mỹ là nước có nền kinh tế thị trường phát triển cao nhất
Trang 31Trình độ tổ chức quản lý nói chung, tổ chức kế toán nói riêng được nhiều nước vận dụng Ở Mỹ, không sử dụng một hệ thống tài khoản kế toán thống nhất cho các DN mà dựa trên các nguyên tắc kế toán để DN thiết kế
hệ thống tài khoản kế toán phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh và yêu cầu quản lý DN
Đặc trưng cơ bản của mô hình kế toán Mỹ là mô hình kế toán động, nên tổ chức kế toán có những đặc điểm khác biệt với mô hình kế toán tĩnh,
Báo cáo kế toán quản trị chi phí và giá thành đặt trọng tâm vào việc xây dựng, kiểm tra, xác định và hoạch định các chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cho nên rất chú trọng đến việc phân loại và xác định chi phí Đa phần các DN tổ chức theo cơ chế phân quyền, vì vậy báo cáo kế toán quản trị phải thu thập được thông tin chi tiết phục vụ cho nhà quản trị các cấp hiểu rõ về tình trạng thực tế của từng bộ phận để đưa ra các quyết đinh quản lý phù hợp Nhà quản trị cấp cao cần được cung cấp thông tin tổng hợp để hoạch định kế hoạch mang tính chiến lược
Báo cáo Kế toán quản trị chi phí sản xuất ở Nhật:
Đức là quốc gia nổi tiếng với việc sáng tạo ra những sản phẩm công nghiệp hoàn hảo và những phát minh đột phá mang lại sự phát triển cho toàn thế giới Báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Đức được tích hợp với Báo cáo quản trị chi phí môi trường thành MFCA (Material Flow Cost Accounting) có nghĩa là “Quản lý chi phí dòng nguyên liệu” từ năm
1990, tuy nhiên việc áp dụng rộng rãi tại các công ty của Nhật từ năm 2000
Trang 32đã mang lại tỷ lệ lợi nhuân trên vốn đàu tư cao nhất Phương pháp quản trị chi phí sản xuất này không tập trung nhiều vào các phương pháp tận dụng (thâm dụng) lao động mà thuần túy đề cập đến hiệu quả tối ưu trong việc quản lý chi phí vật tư theo dòng chảy sản xuất
Báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Nhật được sử dụng toàn
bộ trên phần mềm hệ thống nhằm kiểm soát Nguyên vật liệu, Năng lượng, Máy móc và Phát thải Bằng các tiện ích từ phần mêm, nhà quản trị dễ dàng kết xuất các báo cáo được sơ đồ hóa chỉ ra những điểm lãng phí cần có biện pháp cải tiến để giảm thiểu hoặc loại bỏ
2.2.2 Báo cáo KTQT chi phí sản xuất của doanh nghiệp ở Việt nam
Ở Việt Nam, mục đích báo cáo kế toán quản trị được xác định tại Thông tư 53/2006/TT-BTC ngày 12/06/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính về việc ban hành chế độ kế toán quản trị và báo cáo kế toán quản trị trong các doanh nghiệp như sau:
- Báo cáo kế toán quản trị là nguồn thông tin cần thiết cho các nhà quản trị ở các cấp độ khác nhau, đặc biệt là cho nhà quản trị cấp trung và cấp cao
- Thông qua hệ thống báo cáo kế toán quản trị sẽ giúp các nhà quản trị có cơ sở để hoạch định, kiểm soát, tổ chức thực hiện để đạt được các mục tiêu ngắn hạn đã đề ra
- Do đặc điểm của kế toán quản trị là thông tin cung cấp hướng về tương lai, đi vào từng chức năng và bộ phận hoạt động, có tính linh hoạt và thích ứng nên các báo cáo được thiết lập phải phù hợp với đặc điểm và quy mô hoạt động, trình độ và khả năng sử dụng thông tin kế
toán (Thông tư số 53)
Trên thực tế, hệ thống thông tin của kế toán chi phí tại các doanh nghiệp Việt nam như Công ty Cổ phần sữa Việt nam Vinamilk và hệ thống báo cáo kế toán quản trị như tập đoàn ABB… qua khảo sát tại các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cho thấy bên cạnh những bài học kinh nghiệm
Trang 33áp dụng thành công kế toán quản trị thì vẫn tồn tại đa số các doanh nghiệp chưa nhận thức được tầm quan trọng của kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng cũng như là vai trò của hệ thống báo cáo kế toán quản trị trong việc cung cấp thông tin giúp các nhà quản trị thực hiện chức năng quản lý của mình
Kế toán chi phí chưa phục vụ cho việc phân tích các mặt hoạt động của doanh nghiệp vào việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, việc xây dựng các phương án lựa chọn các quyết định sản xuất tối ưu Việc phân loại chi phí sản xuất chưa hướng tới kế toán cung cấp thông tin cho yêu cầu KTQT doanh nghiệp Hệ thống tài khoản kế toán đã có sự chi tiết nhưng chưa phù hợp với việc phân tích chi phí theo định phí, biến phí để từ đó có thể phân tích chênh lệch giữa chi phí thực tế và định mức Việc lập dự toán và định mức các khoản chi phí chưa được quan tâm đúng mức, bởi vậy mà chưa có
sự chủ động trong kế hoạch sản xuất, hầu hết phụ thuộc vào đối tác Công tác phân tích chi phí - khối lượng - lợi nhuận chưa được các doanh nghiệp thực hiện, do vậy thông tin chi phí chưa phát huy tác dụng trong việc lựa chọn những phương án sản xuất tối ưu Chưa tiến hành đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận trong doanh nghiệp Công tác kế toán quản trị trong đó có kế toán quản trị chi phí chưa được chú trọng, hệ thống, sổ sách còn rất sơ sài chủ yếu vẫn sử dụng sổ sách chi tiết của kế toán tài chính…Từ việc nghiên cứu và phân tích những vấn đề tồn tại nêu trên cần lựa chọn một mô hình tổ chức KTQT chi phí trong các doanh nghiệp tại Việt Nam là điều cần thiết
Trong điều kiện hiện nay các doanh nghiệp nên theo mô hình kết hợp
kế toán quản trị và kế toán tài chính trong cùng một hệ thống kế toán là phù hợp, bởi mô hình này cho phép kế thừa được những nội dung của kế toán tài chính đã tồn tại và biểu hiện cụ thể trong hệ thống kế toán hiện hành Thực chất kế toán tài chính và KTQT đều nghiên cứu sự biến động chi phí
Trang 34và kết quả của hoạt động Song KTQT mang nội dung chủ yếu vì nó cung cấp hệ thống thông tin về chi phí để các nhà quản trị đưa ra hàng loạt các quyết định Mặt khác, việc tồn tại một hệ thống kế toán sẽ tiết kiệm được chi phí trong hạch toán kế toán, đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả hơn là áp dụng mô hình tách rời dường như sẽ tốn kém chi phí nhiều hơn so với lợi ích thu được Điều này cũng phù hợp với các doanh nghiệp với 95% các doanh nghiệp hiện nay là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nó phù hợp với trình độ cán
bộ kế toán tại các đơn vị, đồng thời đảm bảo thuận lợi cho việc quản lý, kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước Mỗi phần hành kế toán nên phân công nhiệm vụ
rõ ràng để nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công việc của nhân viên kế toán, đồng thời tránh sự chồng chéo trong việc thu thập, xử lý và cung cấp
thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp (Phạm Thị Tuyết Minh, trang 63)
2.2.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan
1) Đặng Thị Hiền (2011) với nghiên cứu “Hoàn thiện hệ thống báo
cáo kế toán quản trị chi phí tại Nhà máy cơ khí Z125 – thuộc Tổng cục công nghiệp quốc phòng”- luận văn thạc sĩ, trường Đại học Nông nghiệp Hà nội
Tác giả đã phản ánh thực trạng hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí tại Nhà máy Với nội dung nghiên cứu là lý luận chung về kế toán quản trị, kế toán quản trị chi phí và hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí Theo kết quả nghiên cứu của tác giả, hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí của Nhà máy cũng đã cung cấp được một số thông tin cần thiết giúp cho các nhà quản trị trong quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh Theo nghiên cứu, Nhà máy đã xây dựng được một hệ thống báo cáo
kế toán quản trị chi phí, song hệ thống báo cáo này còn có một số tồn tại
Từ đó tác giả đã đưa ra các biện pháp nhằm hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí tại Nhà máy cơ khí Z125
2) Nguyễn Thị Hoan (2012) với nghiên cứu “Hoàn thiện hệ thống
báo cáo kế toán quản trị chi phí tại Nhà máy sản xuất bao bì bạt nhựa Tú
Trang 35Phương” - luận văn thạc sĩ, trường Đại học Nông nghiệp Hà nội
Tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về hệ thống báo cáo
kế toán quản trị chi phí và vai trò của nó trong quản trị doanh nghiệp Tác giả đã phản ánh thực trạng hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí của Nhà máy và tìm ra được trong hệ thống báo cáo chi phí của nhà máy vẫn còn một số điểm tồn tại cần hoàn thiện tuy nhiên luận văn chưa sâu, chưa chi tiết, cụ thể hầu hết các báo cáo đều mang tính cung cấp thông tin một cách chung chung chưa có báo cáo phân tích
Theo kết quả nghiên cứu, tác giả đã hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí của Nhà máy giúp các nhà quản trị trong việc cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản lý tại doanh nghiệp
3) Nguyễn Thị Thanh (2014) với nghiên cứu “Hoàn thiện hệ thống báo
cáo kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm hàng kinh tế của công ty TNHH MTV 76” - luận văn thạc sĩ, trường Đại học Nông nghiệp Hà nội
Tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về hệ thống báo cáo
kế toán quản trị chi phí và vai trò của nó trong quản trị doanh nghiệp Tác giả đã phản ánh thực trạng hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí của Công ty TNHH MTV 76 và tìm ra được trong hệ thống báo cáo chi phí của Công ty vẫn còn một số điểm tồn tại cần hoàn thiện, tuy nhiên với mục đích phục vụ công tác báo giá và giảm giá theo yêu cầu của khách hàng nên luận văn chưa đi sâu vào phân tích các yếu tố anh hưởng đến chi phí sản
xuất sản phẩm
Theo kết quả nghiên cứu, tác giả đã hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm hàng kinh tế của công ty TNHH MTV 76, qua đó giúp các nhà quản trị trong việc cung cấp thông tin phục
vụ yêu cầu quản lý tại doanh nghiệp
Trang 363 ĐẶC ĐIỂM CƠ SỞ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Tổng quan về Công ty TNHH Hệ thống Công nghiệp LS-VINA
3.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Tên Công ty: CÔNG TY TNHH Hệ thống Công nghiệp LS-VNA Tên tiếng anh: LSIS-VINA Co., Ltd
Trụ sở: Xã Nguyên khê, huyện Đông anh, Hà nội
Điện thoại: 84-38820222 Fax: 84-38820220
Biểu tượng Công ty:
Lĩnh vực sản xuất kinh doanh: Tủ bảng điện
Vốn điều lệ: 500.000.000.000 đồng
Công ty TNHH Hệ thống Công nghiệp LS-VINA là doanh nghiệp liên doanh được thành lập vào ngày 3/4/1997, có chức năng chuyên sản xuất các sản phẩm tủ bảng điện cho thị trường trong nước và xuất khẩu Trụ sở chính của công ty đóng tại xã Nguyên khê, huyện Đông anh, Hà nội với tổng diện tích mặt bằng sản xuất 1,3 ha
Điểm mạnh của Công ty TNHH Hệ thống Công nghiệp LS-VINA là khả năng đổi mới công nghệ, sáng kiến cải tiến kỹ thuật luôn được các cấp lãnh đạo trong Công ty chú trọng và áp dụng Ngoài ra Công ty có thuận lợi như: gần đường sắt, đường bộ, đường không thuận tiện cho việc giao lưu hàng hóa với các đơn vị bạn trong và ngoài nước
Nhưng bên cạnh đó Công ty vẫn còn một số điểm hạn chế trong công
Trang 37tác thủ tục hành chính do đó đôi khi giải quyết công việc thủ tục phải xin qua nhiều cấp đẫn đến quyết định chậm, ảnh hưởng đến công tác SXKD
3.1.2 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của Công ty
Tổ chức bộ máy trong doanh nghiệp đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất, toàn bộ hoạt động sản xuất được tiến hành liên tục, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường công tác quản lý và tiêu thụ thành phẩm Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra là bộ máy lao động gián tiếp phải gọn nhẹ, đáp ứng được yêu cầu quản lý, có như vậy mới tiết kiệm được chi phí quản lý doanh nghiệp nhằm giảm chi phí, tăng được lợi nhuận cho doanh nghiệp
Công ty có 200 lao động với một tổng giám đốc, phó tổng giám đốc,
ba giám đốc và bảy phòng ban chức năng
Tổng giám đốc: Là người điều hành chung mọi hoạt động của
Công ty theo đúng quy định của hợp đồng liên doanh, chịu trách nhiệm trước các bên đối tác và tập thể lao động về kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Giám đốc kỹ thuật: Là người chịu trách nhiệm kỹ thuật của Công
ty, chỉ đạo thực hiện các dự án, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, kiểm tra kỹ thuật đối với những loại máy móc mà Công ty dự định mua về
Giám đốc kinh doanh: Là người phụ trách vấn đề kinh doanh, chỉ
đạo thực hiện các hợp đồng kinh tế về tiêu thụ thành phẩm, công tác tiếp thị của Công ty
Giám đốc quản lý: Là người phụ trách về lĩnh vực tài chính, mua vật tư
sản xuất của Công ty, cung cấp các nguyên liệu để tạo đà cho quá trình sản xuất được liên tục
Chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban:
1 Phòng kinh doanh: Có chức năng đảm nhận công tác quản lý, xây dựng và triển khai kế hoạch kinh doanh
Lập kế hoạch kinh doanh tháng, quý, năm
Trang 38Chuẩn bị các thủ tục hợp đồng, thanh toán quốc tế và các hoạt động ngoại thương khác
Thực hiện các hợp đồng kinh doanh xuất khẩu Kinh doanh thương mại
Tiếp khách, đàm phán, giao dịch với khách hàng nước ngoài
Khảo sát thị trường, giới thiệu sản phẩm, trao đổi nghiệp vụ, thu thập thông tin nhằm mở rộng thị trường quốc tế
2 Phòng Quản lý sản xuất : Định kỳ đánh giá hoàn thành kế hoạch
của nhà máy
Báo cáo kế hoạch sản xuất kinh doanh theo quy định
Thực hiện các biện pháp trong công tác mua sắm, quản lý, cấp phát
và thanh toán vật tư
Lập kế hoạch mua sắm vật tư, dụng cụ phục vụ sản xuất theo kế
hoạch
Quản lý vật tư, cấp phát vật tư
Hợp đồng gia công, tổ chức khai thác và phát triển hàng gia công ngoài đảm bảo kế hoạch sản xuất kinh doanh của nhà máy
Tổ chức mua sắm, quản lý, cấp phát và thanh toán vật tư, dụng cụ trong toàn nhà máy
Xây dựng hệ thống quy địnhvề quản lý vật tư, dụng cụ
Quản lý hệ thống kho tàng trong toàn nhà máy, vận chuyển vật tư, hàng hóa trong khu vực sản xuất
3 Phòng hành chính – Nhân sự: Xây dựng và đề xuất các phương
án, biện pháp kiện toàn cơ cấu của đơn vị cho phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh Quản lý quân số và tiền lương, định mức lao động Quản lý, thực hiện chính sách theo phân cấp, xây dựng kế hoạch đào tạo
Trang 39huấn luyện hàng năm
4 Phòng Quản lý chất lượng: Kiểm tra, kiểm soát chất lượng nguyên vật liệu, bán thành phẩm và các sản phẩm mua ngoài nhập vào nhà máy
Kiểm tra chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất
Đảm bảo công tác đo lường, phân tích, thử nghiệm phục vụ cho sản xuất trong nhà máy và định kỳ mời cơ quan quản lý giám sát đo lường chất lượng đến hiệu chỉnh, kiểm định các trang thiết bị dụng cụ đo kiểm cũng như các yếu tố đảm bảo đến an toàn thiết bị và con người
5 Phòng Thiết kế: Thiết kế các sản phẩm theo đặc tính kỹ thuật được
gắn kèm hợp đồng với khách hàng và theo tiêu chuẩn kỹ thuật sản phẩm của công ty phù hợp với các tiêu chuẩn IEC liên quan
6 Phòng Sản xuất: có chức năng cơ bản là gia công chế tạo, lắp ráp
sản phẩm đạt yêu cầu chất lượng và tiến độ ngoài ra còn có chức năng xây dựng phương án phát triển kỹ thuật, tiến bộ kỹ thuật, xây dựng quy trình công nghệ, các chế độ bảo quản sử dụng máy móc thiết bị, xây dựng tiêu chuẩn hoá
kỹ thuật sản phẩm, xây dựng và bổ sung các định mức kinh tế kỹ thuật, đổi mới dây chuyền sản xuất và sản phẩm của công ty
7 Phòng Tài chính - Kế toán: Tổ chức quản lý, sử dụng tài sản, tiền
vốn đúng nguyên tắc và có hiệu quả cao Bảo toàn phát triển vốn
Tổ chức và quản lý tốt các giải pháp tài chính Tổ chức công tác tài chính, kế toán, thống kê theo đúng luật kế toán
Tổng kết và thực hiện công tác quyết toán tài chính và công khai tài chính theo quy định
Thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát ngăn ngừa hiện tượng tham
ô, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, thất thoát
Các phân xưởng: Công ty có 5 phân xưởng, chức năng và nhiệm vụ
Trang 40của từng phân xưởng, như sau:
(1): Phân xưởng Gia công 1: gồm 2 dây chuyền gia công chế tạo khung