Do đó kết quả sản xuất kinh doanh chưa đạt hiệu quả tối ưu, việc phân loại chi phí và phân bổ chi phí sản xuất chung theo phương pháptruyền thống, xây dựng định mức chi phí, tổ chức hạch
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Sau quá trình nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuấttại Công ty TNHH xuất nhập khẩu Thuận Phát, tác giả đã nghiên cứu và tập hợp các tàiliệu để hoàn thành luận văn “Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty Trách
nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu Thuận Phát” dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy
giáo PGS.TS Vũ Mạnh Chiến cùng nhiều sự hỗ trợ của thầy cô, gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp
Tác giả xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tác giả
và các số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực
Tác giả
Đào Thị Hà
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện luận văn, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tác giả
đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, động viên, giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, côgiáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
Qua đây, tác giả xin phép được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáocùng gia đình, bạn bè, đồng nghiệp cũng như các ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ kếtoán, nhân viên đang công tác tại Công ty TNHH XNK Thuận Phát đã giúp đỡ và tạođiều kiện cho tác giả rất nhiều trong việc thu thập dữ liệu về tình hình thực tế tại doanhnghiệp Đặc biệt tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới sự giúp đỡ nhiệt tìnhcủa thầy giáo PGS.TS Vũ Mạnh Chiến – người đã trực tiếp hướng dẫn tác giả hoànthành luận văn thạc sỹ này
Cuối cùng tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo
và các cán bộ quản lý Khoa Sau đại học - Trường Đại học Thương mại đã hướng dẫn,đóng góp ý kiến để tác giả hoàn thành luận văn thạc sỹ này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thành nội dung nghiên cứu bằng tất cả sự nhiệttình và năng lực của mình, tuy nhiên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót.Tác giả rất mong nhận được các ý kiến đóng góp quý báu của các thầy giáo, cô giáo,các bạn bè, đồng nghiệp để hoàn thiện hơn nữa luận văn của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Đào Thị Hà
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Kết cấu đề tài 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 8
1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT 8
1.1.1 Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị chi phí sản xuất 8
1.1.2 Vai trò và nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí sản xuất 11
1.2 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 13
1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất 13
1.2.2 Hệ thống định mức và lập dự toán chi phí sản xuất 21
1.2.3 Các phương pháp xác định chi phí sản xuất và giá thành 29
1.2.4 Phân tích chi phí sản xuất để tăng cường quản trị doanh nghiệp 33
1.2.5 Hệ thống báo cáo kế toán quản trị 40
1.3 MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT 45
Trang 4KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 48
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY TNHH XNK THUẬN PHÁT 49
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH XNK THUẬN PHÁT 49
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH XNK Thuận Phát 49
2.1.2 Quy trình công nghệ và tổ chức quản lý sản xuất tại Công ty TNHH XNK Thuận Phát 50
2.1.3 Đặc điểm tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty TNHH XNK Thuận Phát 51
2.1.4 Đặc điểm tổ chức kế toán tại tại Công ty TNHH XNK Thuận Phát 53
2.2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY TNHH XNK THUẬN PHÁT 59
2.2.1 Công tác phân loại chi phí SX tại Công ty TNHH XNK Thuận Phát 59
2 2.2 Hệ thống ðịnh mức và lập dự toán chi phí tại Công ty TNHH XNK Thuận Phát 61
2.3 ÐỐI TƯỢNG TẬP HỢP, PHƯƠNG PHÁP XÁC ÐỊNH VÀ NỘI DUNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY TNHH XNK THUẬN PHÁT 63
2.3.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 63
2.3.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp 64
2.3.3 Kế toán chi phí sản xuất chung 65
2.4 Thực trạng báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất 68
2.5 Thực trạng phân tích thông tin kế toán quản trị chi phí sản xuất 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70
Trang 5CHƯƠNG 3: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY
TNHH XNK THUẬN PHÁT 71
3.1 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 71
3.1.1 Những kết quả đạt được 71
3.1.2 Những tồn tại và nguyên nhân trong kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty TNHH XNK Thuận Phát 72
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY TNHH XNK THUẬN PHÁT 75
3.2.1 Hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất phục vụ kế toán quản tr75 3.2.2 Hoàn thiện việc phân loại, hạch toán chi phí sản xuất phục vụ kế toán quản trị 79
3.2.3 Xây dựng hệ thống định mức và dự toán chi phí sản xuất phục vụ yêu cầu quản trị 81
3.2.4 Xây dựng các báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất phục vụ cho việc phân tích thông tin chi phí - khối lượng - lợi nhuận 83
3.3 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 87
3.3.1 Về phía cơ quan nhà nước 87
3.3.2 Về phía các tổ chức đào tạo, tư vấn về kế toán, tài chính và quản lý kinh tế89 3.3.3 Về phía doanh nghiệp 90
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 92
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH : Bảo hiểm xã hội
BHYT : Bảo hiểm y tế
CPSX : Chi phí sản xuất
CCDC : Công cụ dụng cụ
HMCT : Hạng mục công trình
KLXL : Khối lượng xây lắp
KPCĐ : Kinh phí công đoàn
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Đồ thị minh hoạ biến phí
Sơ đồ 1.2 Đồ thị minh hoạ định phí
Sơ đồ 1.3 Quá trình vận động chứng từ trong phương pháp xác định chi phí theo công việc
Sơ đồ 2.1 Quy trình sản xuất sản phẩm tại Công ty TNHH XNK Thuận Phát
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh tại
Sơ đồ 2.3 Tổ chức bộ máy kế toán của công ty TNHH XNK Thuận Phát
Sơ đồ 2.4 Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung
DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1 Phiếu chi phí công việc
Bảng 1.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo chức năng của chi phí
Bảng 1.3 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo cách ứng xử của chi phí
Bảng 3.1 Sổ chi tiết chi phí nguyên vật liệu phụ
Bảng 3.2 Sổ chi tiết chi phí nhân công trực tiếp
Bảng 3.3 Bảng phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử của phí
Bảng 3.4 Báo cáo chi phí cho bộ phận trực tiếp sản xuất
Bảng 3.5 Báo cáo chi phí cho bộ phận gián tiếp
Bảng 3.6 Báo cáo chi phí sản xuất
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường giấy sinh hoạt (hay giấy vệ sinh) tăng trưởng mạnh ở mức14%/năm về giá trị trong giai đoạn 2007-2012 Đặc biệt năm 2008, thị trường này
có mức tăng trưởng lên đến 19,4%, cao hơn cả mức tăng trưởng 15,6% của giấy inbáo Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng giấy tiêu dùng bình quân đầu người của Việt Nam vẫncòn rất thấp, chỉ ở mức 0,8kg/người/năm, so với mức trung bình của toàn thế giới là4,2kg/người/năm và dự kiến con số này sẽ tăng lên 5,4 kg năm 2018 và 10 kg năm2030; cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh, tăng trưởng thu nhập, đời sống người dânnâng cao và mức độ nhận thức về các vấn đề về vệ sinh được nâng lên, điều đó chothấy thị trường giấy sinh hoạt còn rất nhiều tiềm năng để phát triển
Mặc dù đã có nhiều nhà cung cấp giấy lụa nhỏ lẻ trên thị trường, nhưng ngườitiêu dùng thực sự chưa được tiếp cận với những loại giấy lụa vệ sinh, an toàn hơn từcác nhà sản xuất Điều đó đòi hỏi các nhà sản xuất phải đầu tư cho công nghệ máymóc thiết bị để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng tính cạnh tranh
Bên cạnh đó, nguồn nguyên liệu bột giấy phải nhập khẩu với tỷ lệ cao (năm
2012, ngành giấy cần khoảng 822.000 tấn bột giấy nguyên liệu để sản xuất, trong đó
có trên 50 nhà sản xuất bột giấy với lượng sản xuất khoảng 480.000 tấn bộtgiấy/năm còn lại là nhập khẩu) gây trở ngại lớn tới sản xuất giấy, phụ thuộc cả về sốlượng và giá cả Mặc dù, thời gian qua nhà nước đã quan tâm tạo điều kiện đầu tưxong kết quả chưa khả quan
Đứng trước tình hình chung của ngành, các doanh nghiệp sản xuất giấy sinhhoạt Việt Nam đang có nhiều cơ hội để mở rộng thị phần, nhưng cũng sẽ gặp không
ít khó khăn nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời phải đảm bảo giá cảcạnh tranh so với hàng ngoại nhập có chất lượng tốt hơn nhưng giá cả tương đương
Trang 9Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất giấy cần có những chính sách quản
lý, điều hành doanh nghiệp sao cho có hiệu quả nhất và thị phần ngày càng mởrộng Một trong các công cụ điều hành doanh nghiệp góp phần quan trọng trongquản lý là kế toán quản trị, đặc biệt là kế toán quản trị chi phí nói chung và kế toánquản trị chi phí sản xuất nói riêng
Tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất cung cấp thông tin ban đầu về giá cảsản phẩm, cơ cấu chi phí trực tiếp tạo ra sản phẩm Qua việc phân tích, đánh giá chiphí ban đầu đó bằng hệ thống chỉ tiêu và hệ thống báo cáo đặc trưng của kế toánquản trị, các nhà quản trị sẽ đưa ra các quyết định kinh doanh phù hợp, các giảipháp đúng đắn nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Qua tìm hiểu thực tế tại Công ty TNHH XNK Thuận Phát, một công ty chuyênsản xuất và kinh doanh giấy vệ sinh cao cấp nằm trên địa bàn Hà Nội, tôi nhận thấyCông ty đang gặp phải tình trạng khó khăn chung của ngành, tuy nhiên Công tychưa tổ chức được bộ máy kế toán quản trị nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý và điềuhành sản xuất kinh doanh Do đó kết quả sản xuất kinh doanh chưa đạt hiệu quả tối
ưu, việc phân loại chi phí và phân bổ chi phí sản xuất chung theo phương pháptruyền thống, xây dựng định mức chi phí, tổ chức hạch toán kế toán và hệ thống báocáo kế toán quản trị chưa rõ ràng dẫn đến hạn chế trong cung cấp thông tin chínhxác cho việc ra quyết định sản xuất kinh doanh của nhà quản trị trong Công ty.Xuất phát từ vấn đề lý luận và thực tiễn, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài
“Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu Thuận Phát” Thông qua việc thực hiện đề tài, tác giả mong muốn đưa ra
phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí sảnxuất trong Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Thuận Phát
2 Tổng quan nghiên cứu
Kế toán quản trị là thuật ngữ xuất hiện tại Việt Nam từ những năm 90 của thế
kỷ XX, và phổ biến khi được đưa vào chương trình giảng dạy trong các trường đại
Trang 10học vào những năm đầu thế kỷ XXI Từ đó đến nay đã có nhiều nghiên cứu từ kháiquát đến cụ thể về nhiều góc cạnh của kế toán quản trị Một số lượng lớn các họcgiả đã và đang xây dựng quan điểm về Kế toán quản trị trong phạm vi chung nhưcác công trình nghiên cứu của Phùng Thị Bích Hòa (2014), Phạm Thị Tuyết Minh(2014), Nguyễn Thị Mai Lê (2015), Trần thị Hương Trà (2014), Văn thị Thái Thu(2015) Nhìn chung, những nghiên cứu đưa ra quan điểm tổng quát về kế toán quảntrị, định hướng hoàn thiện kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhằm đáp ứngkịp thời việc cung cấp thông tin cho các nhà quản trị.
Về vai trò của quản trị chi phí và kế toán quản trị chi phí trong doanh
nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất, Phùng thị Bích Hòa (2014), “Phân
tích vai trò của kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp Sản xuất” đăng trên
Tạp chí Kế Toán và Kiểm toán số tháng 10/2014 đã trình bày và luận giải nhữngvấn đề về chi phí kinh doanh, khẳng định phân tích và quản trị chi phí kinh doanh làcông cụ không thể thiếu trong quản trị các doanh nghiệp sản xuất Tác giả đã chỉ ravai trò của việc phân loại chi phí theo mức độ hoạt động, theo biến phí và định phí, vậndụng mô hình ABC trong phân bổ chi phí sản xuất chung Đồng thời tác giả cũng phântích rõ các loại giá thành và mục đích sử dụng giá thành trong quản lý và ra quyết địnhsản xuất kinh doanh Từ đó, tác giả hướng tới xây dựng hệ thống bảng biểu sử dụngtrong báo cáo của kế toán quản trị ở các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam
Cũng tìm hiểu về vai trò của kế toán quản trị chi phí nhưng trong việc lựa chọn cơ hội kinh doanh, Nguyễn Quốc Hưng (2014), “Kế toán quản trị và phân
tích cơ hội kinh doanh” đăng trên tạp chí Kế toán và Kiểm toán số tháng 3/2014chỉ ra kế toán quản trị với chức năng cung cấp thông tin định lượng tình hình kinh
tế, tài chính về hoạt động của doanh nghiệp cho các nhà quản trị Phạm vi nghiêncứu và công việc của KTQT rất đa dạng, liên quan tới tất cả các bộ phận của doanhnghiệp, tham gia tất cả các khâu của công tác quản trị từ việc lập kế hoạch, tổ chức
Trang 11thực hiện, kiểm tra giám sát và tư vấn cho nhà quản trị ra quyết định Từ đó, trước một cơ hội đầu tư, kế toán quản trị thu thập, phân tích, lập dự toán chi phí cho từng phương án và tư vấn cho nhà quản trị quyết định phương án kinh doanh tối ưu.
Về việc tổ chức hệ thống KTQT và phát huy vai trò của KTQT, nhiều nhà
nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu hoàn thiện tổ chức KTQT trong doanh nghiệp.Phạm Quang (2002) nghiên cứu “Phương hướng xây dựng hệ thống báo cáo kế toánquản trị và tổ chức vận dụng vào các doanh nghiệp Việt Nam” Tác giả đã phântích, chỉ ra điểm xuất phát để tổ chức hệ thống Kế toán quản trị và xây dựng hệthống báo cáo kế toán quản trị cho các doanh nghiệp, đó là giả thiết về “ Chu kỳsống” của các mặt hàng kinh doanh hoặc loại hình kinh doanh cụ thể Từ giả thuyếtnày, tác giả đã xây dựng các khái niệm về thu nhập, chi phí, kết quả kinh doanh củamột doanh nghiệp đồng thời chỉ ra cách thức phân loại chi phí trong Kế toán quảntrị để tạo tiền đề cho việc xây dựng hệ thống báo cáo Kế toán quản trị Tác giả đãnghiên cứu hai chức năng cơ bản của báo cáo Kế toán quản trị là chức năng địnhhướng và chức năng đánh giá tình hình thực hiện tiêu chuẩn kiểm soát, từ đó xác địnhcác yêu cầu cho hệ thống báo cáo kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Tác giả mớiđịnh hướng xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị vào các doanh nghiệp ViệtNam trong thời kỳ hội nhập và phát triển bằng các nguyên tắc cơ bản để xây dựng và
tổ chức vận dụng hệ thống báo cáo Kế toán quản trị ở các doanh nghiệp
Đi sâu nghiên cứu kế toán quản trị chi phí cho các ngành cụ thể, có một số
tác giả như Nguyễn Quốc Thắng (2010) nghiên cứu tổ chức kế toán quản trị chi
phí, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam;
Phạm Thị Tuyết Minh (2014) nghiên cứu tổ chức công tác kế toán quản trị trong
các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Công nghiệp Ô tô Việt Nam; Nguyễn Thị Mai
Lê (2015) nghiên cứu Tổ chức kế toán quản trị trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn tỉnh Nghệ An; Văn Thị Thái Thu (2015) nghiên cứu phương pháp tính chi
Trang 12phí dựa trên cơ sở hoạt động để kiểm soát chi phí chuỗi cung ứng logistics tại cácdoanh nghiệp Việt Nam; Trần Thị Thu Hường (2014) nghiên cứu xây dựng mô hình
kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam; Phạm
Hồng Hải (2014) nghiên cứu quản trị chi phí kinh doanh theo quá trình hoạt động
trong các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam; Các tác giả đã hệ thống hoá những
nội dung lý luận chung về tổ chức kế toán quản trị từ đó định hướng những nộidung cần hoàn thiện cho từng ngành kinh doanh đặc thù được nghiên cứu Nội dung
kế toán quản trị được hoàn thiện trong các công trình nghiên cứu như tổ chức bộ phận kế toán quản trị trong bộ máy kế toán; vận dụng phương pháp phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí để nhận diện chi phí; xây dựng hệ thống dự toán; phương pháp xác định chi phí; phương pháp phân tích thông tin phục vụ quá trình
ra quyết định.
Về nội dung kế toán quản trị chi phí, Trần Thị Quyên (2014) nghiên cứu về
kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam; Trần ThịHương Trà (2014) nghiên cứu về KTQT chi phí tại công ty cổ phần xây dựng côngtrình giao thông 475 Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã phản ánh thực trạngứng dụng KTQT chi phí trong đơn vị nghiên cứu, các hạn chế còn tồn tại chủ yếutrong phân loại chi phí, công tác kế toán chi phí còn yếu, thông tin kế toán quản trịchưa đáp ứng nhu cầu quản lý và ra quyết định trong sản xuất kinh doanh Trên cơ
sở nghiên cứu thực tế và khả năng áp dụng, các tác giả đã đưa ra giải pháp hoànthiện và nâng cao hiệu quả làm việc của KTQT chi phí từ khâu lập dự toán, phânloại chi phí và đặc biệt là hệ thống báo cáo quản trị
Nói chung, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến các vấn đề căn bản của kếtoán quản trị chi phí Các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu các phương pháp mangtính tác nghiệp để giải cứu cho những khó khăn trong kiểm soát chi phí một cáchriêng biệt Đã có công trình định hướng mô h́nh kế toán quản trị chi phí trong từngloại h́nh doanh nghiệp, đã chứng minh việc thiết kế mô hình kế toán quản trị cho
Trang 13các doanh nghiệp nói chung cần dựa vào các nhân tố tác động trực tiếp như: Cơ cấu
tổ chức; Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các phòng ban; Nhu cầu thông tin về chi phí củacác nhà quản trị; Quy trình kỹ thuật sản xuất; Cơ sở vật chất thực hiện công việc kếtoán; Trình độ của nhân viên kế toán; Môi trường pháp lý đối với ngành sản xuất Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mới chỉ giải quyết được hai góc độ làđịnh hướng khái quát cho mô hình kế toán quản trị chi phí cần phù hợp với các điềukiện cụ thể của doanh nghiệp, các nhân tố tác động trực tiếp nêu trên và khắc phục
hạn chế theo hướng bổ khuyết Và các nội dung được hoàn thiện như: xây dựng bộ máy kế toán quản trị chi phí, lập dự toán và định mức chi phí, phương pháp xác định chi phí thực hiện, phân tích biến động chi phí.
3 Mục đích nghiên cứu
Về mặt lý luận
Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề cơ bản liên quan đến chi phí sản xuất,phân loại chi phí sản xuất, làm rõ các nội dung của kế toán quản trị chi phí trongdoanh nghiệp sản xuất giấy vệ sinh; Chỉ ra khả năng ứng dụng các phương pháp kếtoán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất giấy vệ sinh
Về mặt thực tiễn
Phân tích và đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công tyTNHH XNK Thuận Phát: Việc lập dự toán chi phí sản xuất, việc phân loại chi phí
và xác định giá thành sản xuất; việc phân tích chi phí để ra quyết định kinh doanh;
… những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân từ đó đề xuất các giảipháp và điều kiện cần thiết nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tạiCông ty TNHH XNK Thuận Phát
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu việc thực hiện công tác kế toán quản trị chi phí sảnxuất tại Công ty TNHH XNK Thuận Phát
Trang 14Phạm vi thời gian
Thông tin, số liệu được sử dụng trong đề tài nghiên cứu được thu thập tậptrung trong năm 2014
Giới hạn nội dung nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu về việc thực hiện kếtoán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH XNK Thuận Phát Trên cơ sở đó
đề tài đưa ra một số các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuấttại Công ty
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp quan sát,
phương pháp điều tra phỏng vấn Từ nguồn thông tin thu thập được tác giả đã thống
kê, so sánh…để đưa ra nhận định, đánh giá của mình
Nguồn dữ liệu thu thập bao gồm:
Nguồn dữ liệu sơ cấp: Tài liệu sơ cấp được thu thập thông qua trao đổi trựctiếp và phỏng vấn các đối tượng có liên quan, như: Trao đổi trực tiếp với lãnh đạo
DN, phỏng vấn trực tiếp nhân viên kế toán phụ trách
Nguồn dữ liệu thứ cấp: Các tài liệu liên quan như kế hoạch sản xuất, Bảngbiểu, sổ sách kế toán của Công ty TNHH XNK Thuận Phát Các sách báo khoa học,các bài nghiên cứu có liên quan
6 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luậnvăn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị và kế toán quản trị chi phí sản
xuất trong doanh nghiệp sản xuất giấy vệ sinh
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH
XNK Thuận Phát
Chương 3: Kết luận và các đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí
sản xuất tại Công ty TNHH XNK Thuận Phát
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT
1.1.1 Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị chi phí sản xuất
1.1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí sản xuất
Hệ thống kế toán Việt Nam đang được chuyển đổi phù hợp với cơ chế thịtrường, thông lệ và chuẩn mực quốc tế về kế toán Như chúng ta đã biết, chức năngcủa kế toán là cung cấp và truyền đạt các thông tin kinh tế về một tổ chức cho cácđối tượng sử dụng khác nhau; mục đích của kế toán nhắm cung cấp các thông tinhữu ích cho việc ra quyết định kinh tế - xã hội, cho việc đánh giá hiệu quả tổ chức
và quản lý Do vậy, thông tin kế toán phục vụ cả trong và ngoài doanh nghiệp
Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành của hệ thống thông tin kế toán nóichung trong các tổ chức hoạt động Sự cạnh tranh nhau giữa các doanh nghiệp, tậpđoàn, quốc gia trong tổng thể nền kinh tế thị trường là tiền đề cho sự hình thành vàphát triển của kế toán quản trị Nhưng trong bất kỳ một tổ chức hoạt động nào thìchức năng cơ bản của thông tin kế toán quản trị cũng là công cụ hữu hiệu để các cấplãnh đạo đưa ra các quyết định điều hành mọi hoạt động hướng tới mục tiêu tốithiểu hoá chi phí, tối đa hoá doanh thu và lợi nhuận
Về định nghĩa Kế toán quản trị, có nhiều nhà nghiên cứu, chuyên môn đã cókhái niệm:
Theo Ronald W.Hilton, giáo sư đại học Cornell (Mỹ): “Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong một tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức”.
Theo Ray H Garrison: “Kế toán quản trị có liên hệ với việc cung cấp tài liệu cho các nhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệm trong việc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó”
Trang 16Theo luật kế toán của Việt Nam số 03/2003/QH11 ngày 17/06/2003 thì “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
Như vậy nhìn chung Kế toán quản trị có những đặc điểm sau:
- Kế toán quản trị là công cụ không thể thiếu được trong các doanh nghiệpkinh doanh theo cơ chế thị trường vì nó là cơ sở khoa học để đưa ra mọi quyết địnhkinh doanh
- Thông tin kế toán quản trị trong các tổ chức hoạt động giúp cho nhà quản trịthực hiện chức năng quản trị doanh nghiệp: Lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; kiểmtra, đánh giá và ra quyết định
Từ đó ta thấy: “Kế toán quản trị là một môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin định lượng kết hợp với định tính về các hoạt động của một đơn vị cụ thể Các thông tin đó giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị”.
Đối với chi phí sản xuất, dưới góc độ của kế toán quản trị, chi phí sản xuấtđược coi là những khoản phí tổn thực tế gắn liền với các phương án, sản phẩm trongsản xuất; chi phí sản xuất mang tính cụ thể nhằm để xem xét hiệu quả của các bộphận sản xuất như thế nào, đó chính là cơ sở để đưa ra các quyết định đầu tư, chọnphương án tối ưu
Như vậy, từ khái niệm Kế toán quản trị và những đặc điểm trên, có thể khái
quát lại Kế toán quản trị chi phí sản xuất là một bộ phận của hệ thống thông tin kế toán, nó thu nhận, xử lý, phân tích, đánh giá, tổng hợp và cung cấp thông tin định tính
và định lượng về những phí tổn thực tế gắn liền với hoạt động sản xuất theo các đối tượng phù hợp, từ đó giúp cho các nhà quản trị ra quyết định trong việc hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát, đánh giá hệ thống để sử dụng có hiệu quả nguồn lực các yếu tố đầu vào, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao giá trị doanh nghiệp.
Trang 171.1.1.2 Bản chất kế toán quản trị chi phí sản xuất
Do kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành nên thông tin kế toán nên trướchết ta hãy cùng tìm hiểu bản chất của thông tin kế toán
Thông tin kế toán là một bộ phận cấu thành cơ bản trong hệ thống các công cụquản lý kinh tế vi mô, nó có vai trò tích cực trong việc điều hành và kiểm soát cáchoạt động kinh tế của các đơn vị, có ý nghĩa cho mọi đối tượng tùy theo các lợi íchkhác nhau Kế toán là một công cụ quan trọng để quản lý nền kinh tế nói chung vàcác đơn vị trong nền kinh tế ở bất kỳ loại hình đơn vị nào nói riêng Đối với cácdoanh nghiệp kinh doanh, kế toán là một nguồn thông tin quan trọng để đưa ra cácquyết định kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Đối với các đơn vịhành chính sự nghiệp, kế toán là công cụ theo dõi tình hình sử dụng và cấp phátnguồn kinh phí của ngân sách nhằm góp phần tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sửdụng kinh phí Thông tin kế toán chia thành hai bộ phận cơ bản: Thông tin kế toáncung cấp cho các đối tượng bên ngoài sử dụng để đưa ra quyết định hữu ích cho
từng đối tượng (các nhà đầu tư, các cơ quan thuế… ) được gọi là kế toán tài chính;
thông tin kế toán chỉ cung cấp cho các cấp quản trị trong nội bộ doanh nghiệp sử
dụng để đưa ra quyết định điều hành các hoạt động kinh doanh được gọi là kế toán quản trị
Mục tiêu cuối cùng của các đơn vị kinh doanh là lợi nhuận Và cách tốt nhất
để đạt được mục tiêu này là kiểm soát chi phí thật tốt Như vậy, kế toán quản trị chiphí sản xuất có nhiệm vụ theo dõi tình hình biến động của tất cả những yếu tố gắnliền với sản xuất trong mối tương quan với các quan hệ tài chính để cung cấp chocác cấp quản trị theo yêu cầu cụ thể
Từ những phân tích trên ta có thể khái quát ở ba điểm sau:
- Thứ nhất, thông tin kế toán quản trị chi phí sản xuất chủ yếu cung cấp chocác nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định điều hành các hoạt động kinh
Trang 18doanh Các cấp quản trị từ Tổ trưởng sản xuất, Quản đốc phân xưởng, Trưởng cácphòng ban đến Ban giám đốc và Hội đồng quản trị doanh nghiệp.
- Thứ hai, thông tin kế toán quản trị chi phí sản xuất thường cụ thể và mang tínhchất định lượng nhiều vì gắn với các hoạt động sản xuất cụ thể tại từng phân xưởng
- Thứ ba, thông tin kế toán quản trị chi phí sản xuất được cụ thể hoá thành cácchức năng cơ bản của các nhà quản trị như: Xây dựng kế hoạch; tổ chức thực hiện;phân tích, đánh giá và ra các quyết định điều phối các hoạt động sản xuất để tốithiểu hoá chi phí sản xuất nhằm tăng lợi nhuận
1.1.2 Vai trò và nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí sản xuất
Mục tiêu cơ bản của kế toán là cung cấp thông tin kinh tế, tài chính về mộtthực thể kinh tế Những thông tin tài chính do kế toán cung cấp rất cần thiết cho cảnội bộ lẫn bên ngoài doanh nghiệp Từ đó có thể thấy, nhiệm vụ cơ bản của kế toán
là cung cấp thông tin tài chính cho những người ra quyết định Để thực hiện đượcnhiệm vụ này, kế toán phải thực hiện các công việc sau:
- Ghi nhận, lượng hoá và phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng hệthống chứng từ và sổ sách để ghi chép các hoạt động kinh doanh hàng ngày
- Phân loại, hệ thống hoá và tập hợp các nghiệp vụ để ghi sổ theo các chỉ tiêutổng hợp và chi tiết
- Tổng hợp và tính toán các chỉ tiêu thông tin theo yêu cầu quản lý trong vàngoài doanh nghiệp
- Sau cùng là cung cấp số liệu để ra quyết định quản lý
Là một trong hai nhánh của kế toán nói chung, kế toán quản trị là một phươngpháp xử lý các dữ kiện để đạt được các mục tiêu sau đây:
- Biết được từng thành phần chi phí, tính toán và tổng hợp chi phí sản xuất, giáthành cho từng loại sản phẩm, từng loại công trình dịch vụ
- Xây dựng được các khoản dự toán ngân sách cho các mục tiêu hoạt động
Trang 19- Kiểm soát thực hiện và giải trình các nguyên nhân chênh lệch giữa chi phítheo dự toán và thực tế.
- Cung cấp các thông tin cần thiết để có các quyết định kinh doanh hợp lý
Là một bộ phận của hệ thống kế toán quản trị trong doanh nghiệp, kế toánquản trị chi phí sản xuất có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí trong cácdoanh nghiệp sản xuất Vai trò thông tin kế toán quản trị chi phí sản xuất có liên hệchặt chẽ với các chức năng quản lý của nhà quản trị, giúp nhà quản trị ra quyết địnhđảm bảo sự tồn tại, phát triển liên tục của doanh nghiệp và kiểm soát việc thực hiệncác quyết định đó
Trước hết, trong xác định mục tiêu, kế toán quản trị chi phí sản xuất phải thiết
lập một hệ thống các chỉ tiêu sản xuất, mở tài khoản hàng hoá và chi phí, lập sổsách chi tiết và tổng hợp để ghi chép một cách có hệ thống hoạt động sản xuất Vídụ: phân loại nguyên vật liệu theo sản phẩm sản xuất để ghi chép theo thời gian,theo đối tượng, khi đó ta có thể phản ánh chính xác chi phí theo sản phẩm
Thứ hai, trong lập kế hoạch, kế toán quản trị chi phí sản xuất tiến hành triển
khai lập các bản dự toán chung và dự toán chi tiết về tất cả các yếu tố phát sinhtrong quá trình sản xuất Ví dụ: lập định mức tiêu thụ trên một sản phẩm, một giờlao động… cho các yếu tố thuộc chi phí biến đổi (tiêu hao nguyên vật liệu trực tiếptrên một sản phẩm, tiêu hao nguyên vật liệu gián tiếp cho một sản phẩm, giờ cônglao động trực tiếp trên một sản phẩm…), và tổng chi phí dự kiến cho nhưng yếu tốthuộc chi phí cố định
Thứ ba, trong tổ chức thực hiện, kế toán quản trị chi phí sản xuất thu thập kết
quả thực hiện trong thực tế quá trình sản xuất cả về số lượng và giá trị làm số liệuchi tiết cho các báo cáo liên quan đến sản xuất cần lập
Cuối cùng, trong kiểm tra và đánh giá, kế toán quản trị chi phí sản xuất tiến
hành tính toán các chỉ tiêu sản xuất theo yêu cầu quản trị nội bộ và tổng hợp thành
Trang 20các báo cáo của các cấp quản trị khác nhau Sau đó kiểm tra các thông tin trên cácbáo cáo sản xuất, phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất và trợ giúp nhàquản lý đưa ra quyết định phù hợp về sản xuất trong mối quan hệ với các phòng banhành chính và marketing.
1.2 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP
1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất
Một trong những thông tin quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp làcác thông tin về chi phí, vì mỗi khi chi phí tăng thêm sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tớilợi nhuận Do vậy, các nhà quản lý cần phải kiểm soát chặt chẽ chi phí của doanhnghiệp, trong đó không thể không kể đến chi phí sản xuất Trong kế toán quản trị,chi phí sản xuất được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, mỗi tiêu thức phân loạiđều có ý nghĩa đối với các nhà quản trị trong quá trình kiểm soát các loại chi phí nóichung và chi phí sản xuất nói riêng Mặt khác, các tiêu thức phân loại chi phí còn có ýnghĩa cung cấp thông tin cho mọi đối tượng bên ngoài nhằm đạt được các mục tiêukhác nhau Có các cách phân loại chi phí, đó là: Phân loại chi phí theo chức năng, theomối quan hệ với mức độ hoạt động, theo khả năng quy nạp, theo tính liên quan
1.2.1.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Việc phân loại chi phí theo chức năng hoạt động để phục vụ hai mục đíchchính Thứ nhất là để xác định vai trò, chức năng hoạt động của chi phí trong quátrình hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp Thứ hai là để cung cấpthông tin có tính hệ thống cho việc lập các báo cáo tài chính Theo chức năng hoạtđộng, chi phí được chia thành hai loại: Chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất
* Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là các khoản chi phí phát sinh trong phạm vi sản xuất củadoanh nghiệp (phân xưởng, tổ, đội…) Chi phí sản xuất là sự tiêu hao của các yếu tố
Trang 21sản xuất như lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu và các chi phí khác để tạo
ra giá thành của sản phẩm hay dịch vụ trong kỳ Chi phí sản xuất thường được chiathành ba khoản mục cơ bản:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là các khoản chi về các loại vật liệu mà có
thể tập hợp thẳng cho các đối tượng chịu chi phí Đặc điểm của chi phí nguyên vậtliệu trực tiếp thường mang tính chất biến phí, nó cấu thành nên thực thể của sảnphẩm, chiếm tỉ trọng khá cao trong chỉ tiêu giá thành sản phẩm Thông thường, chiphí nguyên vật liệu trực tiếp có thể định mức cho một đơn vị sản phẩm vừa là cơ sởxây dựng dự toán, vừa là cơ sở để kiểm soát chi phí
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể xác định cho từng đơn vị sản phẩm nênđược tính thẳng vào từng đơn vị sản phẩm Trong khi đó, chi phí nguyên vật liệugián tiếp không thể xác định tách biệt cho từng đơn vị sản phẩm nên phải đưa vàochi phí sản xuất chung rồi phân bổ sau
- Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm các khoản tiền lương, phụ cấp và các
khoản trích theo lương, tiền ăn ca… của công nhân trực tiếp tạo ra sản phẩm Khoảnmục chi phí này thường mang tính chất biến phí, thường xây dựng định mức chomột đơn vị sản phẩm nhằm góp phần kiểm soát chi phí, xây dựng hệ thống dự toánchi phí
- Chi phí sản xuất chung: là phần chi phí sản xuất không thể xác định trực tiếp
cho từng sản phẩm Trong thực tế quá trình sản xuất, chi phí sản xuất chung thườngbao gồm các yếu tố sau:
+ Chi phí nguyên vật liệu gián tiếp
+ Chi phí công cụ, dụng cụ phục vụ phân xưởng và đội sản xuất
+ Chi phí nhân công gián tiếp: tiền lương, phụ cấp, các khoản trích theo lương
và những chi phí khác phải trả cho quản lý phân xưởng (quản đốc, phó quản đốc,đội trưởng…) hoặc các nhân viên của các bộ phận không tham gia vào quá trìnhtrực tiếp tạo nên sản phẩm
Trang 22+ Chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ quá trình sản xuất Thời gian khấu haocủa tài sản cố định phụ thuộc vào đặc điểm của tài sản, thông thường, các máy móc cócông nghệ biến đổi nhanh thường áp dụng phương pháp khấu hao giảm dần, các tài sản
cố định như nhà xưởng thường áp dụng phương pháp khấu hao bình quân
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài (tiền điện, tiền nước…) phục vụ quá trình sản xuất+ Chi phí khác liên quan đến quá trình sản xuất: thiệt hại trong sản xuất…
Chi phí sản xuất chung có bốn đặc điểm: Thứ nhất, bao gồm nhiều khoản mụcchi phí khác nhau; thứ hai, các khoản mục thuộc chi phí sản xuất chung đều có tínhgián tiếp với từng đơn vị sản phẩm, nên không thể tính thẳng vào sản phẩm; thứ ba,
cơ cấu chi phí sản xuất chung gồm cả biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp; thứ tư,
do gồm nhiều khoản mục chi phí nên chúng được nhiều bộ phận khác nhau quản lý
và rất khó kiểm soát
Như vậy chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí cần thiết để chế tạo ra sản phẩm hoặccung cấp dịch vụ Những loại chi phí khác không gắn liền với việc sản xuất sản phẩmhay cung cấp dịch vụ thì không được xếp vào chi phí sản xuất
* Chi phí ngoài sản xuất
Để tổ chức và thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp còn phải thực hiệnmột số khoản chi phí ở khâu ngoài sản xuất được gọi là chi phí ngoài sản xuất Chi phíngoài sản xuất gồm hai loại: chi phí bàn hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
- Chi phí bán hàng: là các khoản chi phí phục vụ cho việc tiêu thụ hàng hoá, sản
phẩm của các tổ chức hoạt động kinh doanh Chi phí này gồm nhiều yếu tố, mỗi yếu tốthường bao gồm cả định phí và biến phí Chi phí bán hàng thường gồm: chi phí nhânviên bán hàng (lương, tiền thưởng, phụ cấp, các khoản trích theo lương của nhân viênbán hàng); chi phí vật liệu phụ cho bán hàng (văn phòng phẩm, bao gói sản phẩm); chiphí công cụ dụng cụ phục vụ cho bán hàng (dụng cụ quầy hàng, tủ hàng…); chi phí khấuhao tài sản cố định phục vụ bán hàng; chi phí mua ngoài (tiền điện, nước, dịch vụ quảngcáo, tiếp thị…) và các chi phí khác (tiếp khách, hoa hồng cho khách…)
Trang 23- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các khoản chi phí điều hành, tổ chức và
phục vụ hành chính Chi phí này cũng bao gồm nhiều yếu tố cả định phí và biến phí
Do đó các nhà quản trị muốn kiểm soát các yếu tố chi phí cũng cần kiểm soát trênhai bộ phận là định phí và biến phí Chi phí quản lý doanh nghiệp gồm: chi phí nhânviên bộ máy điều hành, chi phí vật liệu cho quản lý, chi phí công cụ cho quản lý, chiphí khấu hao tài sản cố định, chi phí mua ngoài cho quản lý và chi phí khác Xéttheo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí, thông thường chi phí ngoài sản xuấtthường được coi là chi phí gián tiếp
* Ngoài ra, trong kế toán quản trị, chi phí còn được phân thành chi phí sảnphẩm và chi phí thời kỳ
- Chi phí sản phẩm: gồm những chi phí gắn liền với các sản phẩm được sản
xuất ra hoặc mua vào để bán lại Đối với doanh nghiệp sản xuất, chi phí sản phẩmgồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuấtchung Như vậy, chi phí sản phẩm cũng chính là chi phí sản xuất
- Chi phí thời kỳ: gồm những khoản chi phí phát sinh trong kỳ hạch toán Chúng
không phải là những chi phí tạo thành thực thể sản phẩm hay nằm trong các yếu tố cấuthành giá vốn hàng hoá mua vào, chúng gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanhnghiệp Như vậy, chi phí thời kỳ cũng chính là chi phí ngoài sản xuất
Phân loại chi phí theo cách này có tác dụng phục vụ công tác tính giá thànhsản phẩm, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, hạ giá thành sản phẩm,dịch vụ Ngoài ra còn làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sản xuất và lập
kế hoạch giá thành sản phẩm kỳ sau
1.2.1.2 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động (theo cách ứng xử của phí)
Xét theo cách ứng xử của phí, chi phí được phân thành ba loại: biến phí, địnhphí và chi phí hỗn hợp Việc phân loại chi phí theo cách này có những ý nghĩa quantrọng đối với các nhà quản trị như sau:
Trang 24- Phân loại chi phí thành biến phí và định phí góp phần cho các nhà quản trịdoanh nghiệp hiểu đúng bản chất sự vận động của các yếu tố chi phí, từ đó gópphần kiểm soát các khoản chi theo các tính chất biến phí và định phí.
- Xây dựng Báo cáo kết quả kinh doanh theo cách ứng xử của phí, Báo cáo kếtquả kinh doanh theo các bộ phận nhằm phân tích và đánh giá hiệu quả của từng bộphận để đưa ra các quyết định điều hành những hoạt động hàng ngày
- Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng sản phẩm sản xuất, tiêu thụ vàlợi nhuận của các tổ chức hoạt động Thông tin từ kết quả phân tích để đưa ra cácquyết định đầu tư, lựa chọn các sản phẩm sản xuất và tiêu thụ nhằm đạt các mụctiêu tối đa cho doanh nghiệp
* Biến phí (chi phí biến đổi): là các khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ với kết quả
sản xuất hay quy mô hoạt động Biến phí thường có hai đặc điểm sau: Thứ nhất,
biến phí tính cho một đơn vị sản phẩm thường không thay đổi Xét theo tổng quy
mô hoạt động thì biến phí thay đổi và khi đó tổng chi phí biến đổi của hoạt độngthường tỷ lệ với kết quả sản xuất, nếu doanh nghiệp không hoạt động thì biến phíkhông phát sinh Dựa vào đặc điểm này, các nhà quản trị xây dựng định mức biến
phí để kiểm soát các khoản chi phí Thứ hai, biến phí của doanh nghiệp có nhiều
loại khác nhau, nếu chia theo tính chất tác động, biến phí gồm hai loại cơ bản làbiến phí tỷ lệ và biến phí cấp bậc Biến phí tỷ lệ là biến phí hoàn toàn tỷ lệ thuậnvới kết quả sản xuất hoặc quy mô hoạt động biến phí cấp bậc là biến phí chỉ thayđổi khi mức độ hoạt động thay đổi nhiều và rõ ràng ( ví dụ như chi phí bảo dưỡngmáy móc…)
Trang 25Đặc điểm của biến phí được minh hoạ theo hai đồ thị dưới đây
biến phí tỷ lệ
Sơ đồ 1.1 Đồ thị minh hoạ biến phí.
Biến phí sẽ biến đổi theo căn cứ được xem là nguyên nhân phát sinh ra chi phí
đó – thường được gọi là hoạt động căn cứ Các hoạt động căn cứ thường được dùnggồm: Sản lượng sản xuất; số giờ máy hoạt động; số giờ lao động trực tiếp; số kmvận chuyển; mức tiêu thụ sản phẩm; diện tích gieo trồng… Tuỳ theo từng loại chiphí cụ thể phát sinh trong doanh nghiệp, nhà quản trị cần xác định được hoạt độngcăn cứ của từng loại chi phí để có thể xây dựng hệ thống định mức cũng như kiểmsoát tốt nhất chi phí phát sinh
* Định phí (chi phí cố định): là những khoản chi phí không thay đổi trong giớihạn của quy mô hoạt động Giới hạn của quy mô hoạt động là phạm vi giữa khốilượng sản phẩm tối thiểu và khối lượng sản phẩm tối đa mà doanh nghiệp dự địnhsản xuất Trong thực tế, chi phí cố định thường phức tạp hơn chi phí biến đổi vì nóphụ thuộc vào giới hạn của quy mô hoạt động Khi giới hạn của quy mô hoạt độngthay đổi thì định phí chuyển sang một lượng khác – chính là sự biến đổi lượng, chấttrong quá trình biến đổi kinh tế
Định phí thường có hai đặc điểm sau:
Thứ nhất, xét trong tổng thể giới hạn của quy mô hoạt động thì định phí
thường không thay đổi, tức là định phí tính cho một đơn vị sản phẩm thay đổi khisản lượng sản phẩm sản xuất thay đổi Nếu muốn định phí trên một đơn vị sản phẩmthấp nhất thì cần khai thác tối đa công suất của các tài sản tạo ra định phí đó
Trang 26Thứ hai, định phí trong doanh nghiệp cũng đa dạng, có thể chia thành hai dạng
cơ bản là định phí bộ phận và định phí chung Định phí bộ phận thường gắn với sựtồn tại và phát sinh của các bộ phận trong một tổ chức hoạt động Khi bộ phận trong
tổ chức hoạt động không tồn tại thì định phí đó cũng không tồn tại Định phí chung(định phí bắt buộc) là định phí liên quan đến cơ sở hạ tầng của một doanh nghiệp,
do vậy khi một bộ phận trong tổ chức không tồn tại thì định phí chung vẫn phát sinh( ví dụ: tiền thuê văn phòng, chi phí quảng cáo thương hiệu công ty…)
Định phí có thể được minh hoạ theo hai đồ thị dưới đây
Sơ đồ 1.2 Đồ thị minh hoạ định phí
* Chi phí hỗn hợp: là các khoản chi phí bao gồm cả biến phí và định phí.Thông thường, ở mức độ hoạt động căn bản thì chi phí hỗn hợp thể hiện các đặcđiểm của định phí, khi vượt khỏi mức độ hoạt động căn bản thì nó lại thể hiện đặctính của biến phí Trong chi phí sản xuất, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phínhân công trực tiếp là biến phí, còn chi phí sản xuất chung mang đặc điểm chi phíhỗn hợp
Chi phí hỗn hợp thường khó kiểm soát, trong thực tế các nhà quản trị muốnkiểm soát nó cần phải xác định quy mô hoạt động của doanh nghiệp và sử dụng cácphương pháp tách chi phí hỗn hợp thành hai bộ phận là biến phí và định phí Nếuviệc phân tách này được thực hiện một cách cẩn thận thì sẽ cho phép dự đoán kháchính xác chi phí hỗn hợp sẽ phát sinh trong điều kiện cụ thể Các phương phápthường được sử dụng để phân tách chi phí hỗn hợp là: phương pháp cực đại – cực
Trang 27tiểu, phương pháp bình phương bé nhất, phương pháp hồi quy bội, phương pháp đồthị phân tán và các phương pháp khác.
1.2.1.3 Phân loại chi phí theo khả năng quy nạp vào đối tượng chịu phí
Căn cứ theo khả năng quy nạp vào đối tượng chịu phí, chi phí chia thành haidạng: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
* Chi phí trực tiếp: là chi phí mà kế toán có thể xác định trực tiếp cho đốitượng chịu chi phí một cách dễ dàng và thuận tiện Một đối tượng chịu chi phí mà
có tỷ trọng chi phí trực tiếp cao thì độ chính xác của chỉ tiêu giá thành sản phẩm,kết quả kinh doanh của các đối tượng càng cao
* Chi phí gián tiếp: là chi phí không thể xác định trực tiếp cho đối tượng chịuchi phí một cách dễ dàng và thuận tiện, do vậy đối với từng yếu tố chi phí gián tiếp,
kế toán phải tiến hành phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí Độ chính xác của chiphí gián tiếp cần phân bổ còn phụ thuộc vào tiêu thức phân bổ, tiêu thức phân bổ phùhợp là tiêu thức đáp ứng được ba yêu cầu sau: Thuận tiện cho việc tính toán, thốngnhất cả kỳ hạch toán, và có tính đại diện cao cho chi phí gián tiếp cần phân bổ
Cách phân loại này giúp cho việc thực hiện kỹ thuật hạch toán, chi phi sphisphát sinh đòi hỏi phải áp dụng phương pháp phân bổ, lựa chọn tiêu thức phân bổhợp lý để cung cấp thông tin đáng tin cậy về chi phí cho từng đối tượng
1.2.1.4 Phân loại chi phí theo tính liên quan
Căn cứ theo sự ảnh hưởng tới việc lựa chọn các phương án, chi phí được chiathành ba loại: chi phí chênh lệch, chi phí chìm và chi phí cơ hội
* Chi phí chìm: là khoản chi phí mà doanh nghiệp vẫn phải chịu mặc dù cácnhà quản trị chọn bất kỳ phương án kinh doanh nào Nó thường là chi phí đã phátsinh trong quá khứ và không bị ảnh hưởng bởi các phương án hoạt động trong hiệntại cũng như trong tương lai
* Chi phí cơ hội: Trong thực tiễn kinh doanh của các doanh nghiệp hầu nhưcác khoản chi phí phát sinh đều được ghi nhận vào hệ thống sổ kế toán Tuy nhiên
Trang 28có những loại chi phí rất quan trọng thường tồn tại nhưng không được ghi vào sổ kếtoán – đó chính là chi phí cơ hội Chi phí cơ hội là phần lợi nhuận tiềm năng bị từ
bỏ khi lựa chọn một phương án thay vì phương án khác
* Chi phí chênh lệch: Trong kinh doanh, mọi quyết định đều liên quan đến ít nhấthai phương án lựa chọn Chi phí chênh lệch là chi phí khác nhau giữa hai phương án vàchỉ chi phí chênh lệch mới liên quan đến việc lựa chọn các phương án
Như vậy, mặc dù có nhiều cách phân loại chi phí khác nhau đáp ứng yêu cầu
sử dụng thông tin chi phí trong quản trị kinh doanh, song để đáp ứng yêu cầu thuthập, cung cấp thông tin, trình bày thông tin cũng như đặc điểm và yêu cầu quản trịcủa từng doanh nghiệp để vận dụng các cách phân loại cho phù hợp
1.2.2 Hệ thống định mức và lập dự toán chi phí sản xuất.
Thực tế sản xuất kinh doanh cho thấy để kinh doanh có hiệu quả đòi hỏi nhàquản lý phải thực hiện đồng bộ nhiều yêu cầu, tuy nhiên một trong những yêu cầuquan trọng để thực hiện tốt hoạt động kinh doanh vẫn là các nhà quản lý phải làmchủ được các khâu chi phí Điều này chỉ có thể được giải quyết đầy đủ và có hiệuquả khi doanh nghiệp có một hệ thống định mức chi phí tiêu chuẩn hoàn hảo
1.2.2.1 Định mức chi phí sản xuất
Quá trình xây dựng định mức tiêu chuẩn đòi hỏi sự kết hợp giữa suy nghĩ vàkhả năng chuyên môn của tất cả những người có trách nhiệm với giá cả và chấtlượng sản phẩm Nội dung, nguyên tắc xây dựng định mức tiêu chuẩn phải dựa trên
cơ sở xem xét một cách nghiêm túc toàn bộ kết quả đạt được, sau đó kết hợp vớinhững thay đổi về điều kiện kinh tế, về đặc điểm giữa cung và cầu, về kỹ thuật đểđiều chỉnh và bổ sung cho phù hợp Tuy nhiên, ở đây cũng cần nhấn mạnh là số liệuquá khứ chỉ có giá trị làm căn cứ để dự đoán tương lai, còn hệ thống định mức tiêuchuẩn được xây dựng phải phản ánh mức hoạt động hiệu quả trong tương lai chứkhông phải là mức hoạt động đã qua
Trang 29Định mức tiêu chuẩn được chia làm hai loại:
- Định mức lý tưởng (hay còn gọi là định mức lý thuyết): là những định mứcchỉ có thể đạt được trong những điều kiện hoàn hảo nhất Do đó, các định mức lýtưởng không có tính hiện thực vì vậy nó không được dùng trong thực tế
- Định mức thực tế là định mức được xây dựng chặt chẽ và có khả năng đạtđược nếu cố gắng Do vậy, nếu được xây dựng đúng đắn và hợp lý, định mức thực
tế sẽ có tác dụng động viên, khuyến khích người lao động Lấy định mức thực tếlàm cơ sở để phân tích, so sánh giữa thực hiện với định mức sẽ có nhiều ý nghĩa đốivới nhà quản trị, vì kết quả tìm được phản ánh được những hiện tượng không bìnhthường nhưng chỉ kém hiệu quả cần xem xét, tìm biện pháp khắc phục, hay nhữngtiềm năng cần khơi dậy để có biện pháp phát huy Định mức thực tế còn là cơ sởcủa các nhà quản trị lập kế hoạch dùng tiền và các kế hoạch tồn kho, nhưng đối vớiđịnh mức lý tưởng thì không làm được những việc này, vì nó không có tính thực tếnên các số liệu kế hoạch dựa trên đó chỉ là những con số không tưởng
Để xây dựng một định mức khoa học, phù hợp thực tế, các nhà quản trị phảikết hợp hài hoà sự hiểu biết giữa lý thuyết và thực tế Song, nhìn chung, định mứcđược xây dựng dựa trên những nguyên tắc sau:
- Căn cứ và nhu cầu sản xuất sản phẩm thực tế của doanh nghiệp, các địnhmức thực tế những kỳ trước đã xây dựng
- Căn cứ vào điều kiện kinh tế, điều kiện thực tế của doanh nghiệp để xâydựng định mức chuẩn cho kỳ này
- Việc xây dựng định mức đòi hỏi sự kết hợp cao giữa chuyên môn nghề nghiệp,tinh thần trách nhiệm và tư duy sáng tạo của các chuyên gia xây dựng định mức
Trang 30Định mức thường được xây dựng trên ba phương pháp: phương pháp thí nghiệm,phương pháp sản xuất thử, phương pháp thống kê kinh nghiệm Thông thường, trongsản xuất, nhà quản trị cần xây dựng ba loại định mức như sau:
* Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường phụ thuộc vào hai yếu tố:
Thứ nhất là số lượng nguyên vật liệu sử dụng cho một đơn vị sản Nguyên tắcchung tính toán định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, trước hết phải dựa vàothiết kế kỹ thuật về sản phẩm đó Từ đó xác định số lượng vật liệu chính, vật liệuphụ cần sử dụng, dự tính các vật liệu có khả năng thay thế; việc này cần dựa trêntrình độ tay nghề của công nhân đối với sản phẩm cụ thể Thứ hai là xác định đơngiá thực tế của một đơn vị vật liệu, giá thực tế bao gồm: giá trên thị trường thu mua,phí vận chuyển, định mức hao hụt, nguồn cung ứng
Sau khi xác định được hai nhân tố ảnh hưởng này, nhà quản trị xây dựng định
mức chi phí vật liệu cho đơn vị sản phẩm như công thức 1.1:
x Đơn giá thực tếnguyên vật liệuBằng phương pháp loại trừ ta có thể xác định mức độ ảnh hưởng của hai nhân
tố đến sự tăng giảm chi phí nguyên vật liệu
* Định mức chi phí nhân công trực tiếp:
Chi phí nhân công trực tiếp thường chiếm tỷ trọng đáng kể trong chỉ tiêu giáthành sản xuất sản phẩm đối với các doanh nghiệp có quy trình công nghệ thủ công.Nhưng nhìn chung định mức chi phí nhân công trực tiếp cho một đơn vị sản phẩmthường phụ thuộc vào những yếu tố sau:
- Thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
- Giá thực tế của một đơn vị thời gian
Trang 31Nguyên tắc chung tính toán định mức chi phí nhân công trực tiếp: trước hếtphải dựa vào thiết kế kỹ thuật về sản phẩm đó Từ đó xác định lượng thời gian cầnthiết để sản xuất ra đơn vị sản phẩm Khi xác định lượng thời gian cần thiết dựa trêntrình độ tay nghề của từng loại công nhân đối với sản phẩm cụ thể Đồng thời gắnvới các điều kiện trung bình của môi trường làm việc có tính đến thời gian nghỉngơi của công nhân, thời gian bảo dưỡng máy móc, máy chạy không tải.
Khi xác định thời gian lao động cần thiết cho một đơn vị sản phẩm có thể dựavào hệ thống bấm giờ tự động cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành Hoặc chia sảnphẩm thành từng thao tác khác nhau, sau đó xác định thời gian của mỗi thao tác vàtổng hợp lại thành thời gian cần thiết để tạo ra một sản phẩm
Khi xác định đơn giá một đơn vị thời gian cần chú ý tới trình độ tay nghề củatừng loại công nhân để thực hiện những thao tác đó Xác định đơn giá của một đơn
vị thời gian thường đi kèm các khoản phụ cấp nếu có, như bảo hiểm, trách nhiệm,độc hại… Sau khi xác định được lượng thời gian và đơn giá ta xây dựng định mức
chi phí nhân công trực tiếp cho đơn vị sản phẩm như công thức 1.2:
tố đến sự tăng hay giảm định mức chi phí nhân công trực tiếp
* Định mức chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung là chi phí hỗn hợp bao gồm nhiều yếu tố, mỗi yếu tốchi phí thường bao gồm phần định phí và biến phí Do vậy xây dựng định mức chiphí sản xuất chung cần gắn với từng yếu tố chi phí cụ thể Đối với các yếu tố mangtính chất biến phí cần dựa vào định mức cho một đơn vị sản phẩm Các yếu tố mangtính chất định phí thường xác định phạm vi giới hạn của quy mô hoạt động Mặt
Trang 32khác, xây dựng định mức chi phí sản xuất chung còn phụ thuộc vào đặc điểm chiphí trực tiếp của doanh nghiệp, quy mô và giới hạn hoạt động, yêu cầu quản lý củacác cấp.
- Trường hợp chi phí sản xuất chung có mối quan hệ chặt chẽ với chi phí trựctiếp, có thể áp dụng phương pháp thống kê kinh nghiệm để xác định định mức biếnphí sản xuất chung dựa trên định mức chi phí trực tiếp và tỷ lệ biến phí sản xuất
chung so với chi phí trực tiếp như công thức 1.3:
phẩm
x
Tỷ lệ biến phí sảnxuất chung so vớichi phí trực tiếp
- Trường hợp doanh nghiệp xác định được các tiêu thức phân bổ chi phí sảnxuất chung một cách khoa học, hợp lý thì xác định định mức biến phí sản xuấtchung trên cơ sở ước tính tổng chi phí sản xuất chung và dự toán tổng tiêu thức
phân bổ, xác định đơn giá phân bổ chi phí sản xuất chung như công thức 1.4 và 1.5:
Đơn giá phân bổ biến
phí sản xuất chung =
Tổng biến phí sảnxuất chung ước tính /
Tổng tiêu thứcphân bổĐịnh mức biến phí
vi giới hạn của quy mô hoạt động Do vậy căn cứ vào mức định phí hàng kỳ và tiêuthức phân bổ chi phí sản xuất chung ta xác định tỷ lệ phân bổ định phí sản xuất
chung như công thức 1.6 và 1.7.
Trang 33xuất chung phí sản xuất chung cho 1 đơn vị hoạt động
Để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến định mức chi phí sản xuất chung, cầnkết hợp phương pháp so sánh và phương pháp loại trừ nhằm xác định mức độ ảnhhưởng của từng nhân tố, từ đó đưa ra các biện pháp thích hợp
1.2.2.2 Dự toán chi phí sản xuất.
Để đạt được mức lợi nhuận mong muốn trong tình trạng tài chính chủ động vàlành mạnh, các doanh nghiệp phải dự toán được toàn bộ ngân sách sản xuất kinhdoanh Hệ thống dự toán ngân sách của doanh nghiệp gồm các bảng dự toán riêngbiệt cho từng bộ phận chức năng, từng sản phẩm dịch vụ, từng thời hạn Tuy nhiênchúng có quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau cùng thực hiện mục tiêu chung củadoanh nghiệp là tối đa lợi nhuận Dự toán ngân sách bao gồm 5 dự toán quan trọng
đó là: Dự toán tiêu thụ sản phẩm (dự toán doanh thu), dự toán sản lượng sản xuấtkinh doanh, dự toán chi phí, dự toán dòng tiền và dự toán báo cáo tài chính
Trong đó dự toán chi phí sản xuất được chi tiết thành 3 dự toán sau:
* Dự toán chi phí nguyên liệu trực tiếp:
Chi phí nguyên liệu trực tiếp trong chỉ tiêu giá thành sản xuất sản phẩmthường mang tính chất biến phí Do vậy tổng mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếpthường tỷ lệ với sản lượng sản phẩm sản xuất, đây là nhân tố quan trọng giúp choquá trình xây dựng dự toán nhanh và chính xác
Căn cứ để xây dựng dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường dựa vàonhững cơ sở sau:
- Định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho 1 đơn vị sản phẩm
- Đơn giá dự toán nguyên vật liệu sử dụng: Thông thường đơn giá nguyên vậtliệu khi lập dự toán thường ổn định trong cả một kỳ Tuy nhiên đơn giá vật liệucũng phụ thuộc vào các phương pháp tính giá vốn hàng xuất kho
- Dự toán về sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ tới
Từ những thông tin trên, ta xác định được dự toán chi phí nguyên vật liệu trực
Trang 34tiếp cho các sản phẩm như công thức 1.8 và 1.9.
Dự toán chi phí nguyên
Dự toán lượng vật
Sản lượng sản phẩmsản xuất dự toán x
Định mức tiêu hao vật
liệu
* Dự toán chi phí nhân công trực tiếp:
Chi phí nhân công trực tiếp trong chỉ tiêu giá thành sản xuất sản phẩm thườngmang tính chất biến phí có mối quan hệ với sản lượng sản phẩm sản xuất Dự toánchi phí nhân công trực tiếp phản ánh toàn bộ các khoản tiền lương, tiền công, bảohiểm… của công nhân trực tiếp để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ nhằm cung cấpthông tin cho các nhà quản trị trong các quyết định sử dụng lao động, đảm bảo môitrường làm việc văn minh, khuyến khích tăng năng suất lao động
Dự toán này có tác dụng giúp doanh nghiệp chủ động trong việc sử dụng,tuyển dụng, đào tạo lao động một cách hợp lý, không quá dư thừa hay thiếu gópphần giảm chi phí, đồng thời xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa người lao động vàdoanh nghiệp
Căn cứ để xây dựng dự toán chi phí nhân công trực tiếp thường dựa vào những
cơ sở sau:
- Định mức lao động để sản xuất ra đơn vị sản phẩm như thời gian cần thiết đểsản xuất ra 1 sản phẩm…
- Đơn giá dự toán 1 đơn vị thời gian hay 1 sản phẩm
- Cơ cấu sử dụng lao động, trình độ chuyên môn và tay nghề của từng loại lao động
- Dự toán về sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ tới
Từ những thông tin trên, ta xác định được dự toán chi phí nhân công trực tiếp
cho các sản phẩm như công thức 1.10.
Trang 35Dự toán chi phí
nhân công trực tiếp =
Dự toán sản lượngsản phẩm sản xuất x
Định mức tiềncông 1 sản phẩm
* Dự toán chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí phục vụ cho quá trình sản xuất củaphân xưởng, đội sản xuất Ta có thể xây dựng dự toán chi phí sản xuất chung dựavào nghiên cứu bản chất của từng yếu tố trong khoản mục này Mỗi yếu tố thuộc chiphí sản xuất chung vừa mang tính chất biến phí và định phí Do vậy, việc xây dựng
dự toán chi phí sản xuất chung cần phải tách biệt các yếu tố mang tính chất biến phí
Định mức biến phí
1 đơn vị sản phẩmThứ hai là dựa trên tỷ lệ biến phí theo dự kiến và dự toán biến phí trực tiếp
như công thức 1.12.
Dự toán biến phísản xuất chung =
Dự toán biếnphí trực tiếp x
Tỷ lệ biến phítheo dự kiến
Dự toán định phí sản xuất chung thường căn cứ vào giới hạn phạm vi của quy
mô hoạt động Đồng thời cần phân biệt các định phí bộ phận và định phí chung.Định phí bộ phận thường phụ thuộc vào các quyết định cụ thể của nhà quản trị cònđịnh phí chung thường ổn định trong cả một kỳ dự toán Dự toán định phí có thểcăn cứ vào mức độ tăng, giảm các tài sản cố định dự kiến trong kỳ tới của doanh
nghiệp như công thức 1.13.
1.2.3 Các phương pháp xác định chi phí sản xuất và giá thành
Trang 36Xác định chi phí sản xuất có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản trị trongviệc đưa ra mọi quyết định kinh doanh Mục đích xác định chi phí là để cung cấpthông tin về giá thành đơn vị sản phẩm, dịch vụ cần thiết cho nhà quản trị để điềuhành các hoạt động sản xuất kinh doanh như:
- Định giá bán sản phẩm cho phù hợp với thị trường nhằm tối đa hoá lợi nhuận
và đảm bảo được sự cạnh tranh phát triển bền vững
- Định giá hàng tồn kho cuối kỳ có căn cứ để lập kế hoạch thu mua hàng tồnkho cho phù hợp
- Xác định kết quả tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ và kết quả kinh doanh trong các
bộ phận và toàn doanh nghiệp một cách chính xác
- Ứng xử các tình huống và đưa ra quyết định hàng ngày
Trong thực tế, các doanh nghiệp thường vận dụng một trong hai phương phápxác định chi phí: phương pháp xác định chi phí theo công việc (đơn đặt hàng) vàphương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất (công nghệ)
1.2.3.1 Phương pháp xác định chi phí theo công việc (đơn đặt hàng)
Phương pháp này ghi chép lại một cách chi tiết thông tin của từng sản phẩmriêng biệt hoặc từng nhóm nhỏ sản phẩm tương tự nhau Phương pháp này áp dụngcho những sản phẩm có bốn đặc điểm dưới đây:
- Sản phẩm mang tính đơn chiếc do sản xuất theo đơn đặt hàng
- Sản phẩm thường có giá trị cao
- Giá bán sản phẩm được xác định trước khi sản xuất theo hợp đồng đã ký kết
- Sản phẩm thường có kích thước lớn, gắn liền với các yêu cầu kỹ thuật, tínhthẩm mỹ và thường thông qua bản thiết kế kỹ thuật, dự toán chi phí
* Nội dung phương pháp xác định chi phí theo công việc:
Để tập hợp chính xác và đúng đối tượng chi phí theo công việc, hệ thống kếtoán cần phải phản ánh những hoạt động của doanh nghiệp theo từng đơn đặt hàng,
Trang 37đó là
- Khách hàng đặt hàng và nêu rõ yêu cầu về sản phẩm mong muốn
- Doanh nghiệp đánh giá đơn đặt hàng để xác định giá bán cho sản phẩm trong
đơn đặt hàng Căn cứ vào yêu cầu của khách hàng, tính toán chi phí dự toán cho
việc hạch toán từng đơn đặt hàng
- Cộng dự toán vừa tính với số lãi mong muốn để tính ra giá bán cho sản phẩm
trong đơn đặt hàng,
- Doanh nghiệp thực hiện sản xuất theo đơn đặt hàng, kế toán tập hợp chi phí
theo từng đơn đặt hàng trong khi sản xuất
Quá trình vận động của chứng từ được khái quát theo sơ đồ sau:
Phiếu theo dõi thời gian khối lượng sản phẩm Phiếu xuất kho vật liệu
Phiếu theo dõi thời gian khối lượng sản phẩm
Phiếu chi phí công việc
Sơ đồ 1.3 Quá trình vận động chứng từ trong phương pháp xác định chi phí theo công việc
Tất cả các chi phí sản xuất được tập hợp vào phiếu chi phí công việc hoặc đơn
đặt hàng – là một chứng từ chi tiết dùng để tổng hợp các chi phí sản xuất phát sinh
khi đơn đặt hàng được thực hiện Phiếu tập hợp chi phí sẽ được lưu tại phân xưởng
sản xuất trong quá trình sản xuất, sau đó là căn cứ để tính tổng giá thành sản phẩm,
dịch vụ hoàn thành trong kỳ
Trang 38Phiếu chi phí công việc thường có kết cấu như sau:
Bảng 1.1 Phiếu chi phí công việc
Ngày Phiếu xuất
kho số Thành tiền Ngày
Phiếu theo dõi lao động số Thành tiền Ngày
Tỷ lệ phân bổ
Căn cứ phân bổ Thành tiền
Nhân công trực tiếp
Sản xuất chung
Tổng chi phí
Chi phí đơn vị sản phẩm
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Chi phí sản xuất chung
PHIẾU THEO DÕI CHI PHÍ THEO CÔNG VIỆC
Tổng hợp chi phí Số lượng sản phẩm bàn giao
Ngày
Phiếu xuất kho nguyên vật liệu là căn cứ để tập hợp chi phí vật liệu chính, phụcho từng đơn đặt hàng
Phiếu theo dõi lao động, giao nhận sản phẩm, hợp đồng giao khoán công việc
là căn cứ để xác định chi phí nhân công trực tiếp cho từng đơn đặt hàng
Trang 39Chi phí sản xuất chung thường là các khoản chi phí hỗn hợp vừa mang tínhchất định phí, vừa mang tính chất biến phí và phát sinh từ khi phân xưởng bước vàosản xuất cho tới khi phân xưởng kết thúc quá trình sản xuất Do tính chất khó xácđịnh chính xác trong giai đoạn đầu tiên nên thường phân bổ theo chi phí ước tínhsau đó điều chỉnh Nếu chênh lệch giữa chi phí sản xuất chung ước tính phân bổ vớichi phí sản xuất chung thực tế phân bổ là nhỏ thì chuyển toàn bộ số chênh lệch đóvào số dư của tài khoản “Giá vốn hàng bán” của kỳ đó; nếu chênh lệch là lớn vàdoanh nghiệp đề cao tính chính xác thì phần chênh lệch sẽ được phân bổ vào số dưcác tài khoản “Sản phẩm dở dang” và “Giá vốn hàng bán” theo tỷ lệ kết cấu của các
số dư đó
1.2.3.2 Phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất (công nghệ)
Phương pháp này thường được vận dụng trong các doanh nghiệp sản xuất sảnphẩm theo quy trình công nghệ sản xuất liên tục qua nhiều bước chế biến Phươngpháp này áp dụng cho những sản phẩm có những đặc điểm sau:
- Sản phẩm đồng nhất, sản xuất đại trà với số lượng lớn; sản phẩm được sảnxuất theo quy luật số lớn của nhu cầu xã hội
- Sản phẩm có giá trị không cao
- Giá bán sản phẩm được xác định sau khi sản xuất
Khi áp dụng phương pháp này, chi phí không xác định cho từng lô sản phẩm
cụ thể nào mà được tập hợp theo từng công đoạn hoặc từng phân xưởng sản xuấtkhác nhau của doanh nghiệp Việc tập hợp chi phí theo từng phân xưởng, theo giaiđoạn công nghệ góp phần tăng cường công tác hạch toán nội bộ
Quá trình sản xuất ở các doanh nghiệp thường được tổ chức theo hai quy trìnhcông nghệ: Quy trình sản xuất liên tục và quy trình sản xuất song song
- Quy trình sản xuất liên tục: hoạt động sản xuất diễn ra ở các phân xưởng,nguyên vật liệu chính là đầu vào của phân xưởng đầu tiên, sau đó chuyển sang phân
Trang 40xưởng tiếp theo và cứ như thế cho tới phân xưởng cuối cùng tạo ra thành phẩm củaquá trình sản xuất.
- Quy trình sản xuất song song: quá trình sản xuất diễn ra đồng thời tại cácphân xưởng tạo ra các chi tiết của sản phẩm, sau đó mới lắp ráp ở phân xưởng cuốicùng tạo ra thành phẩm
1.2.4 Phân tích chi phí sản xuất để tăng cường quản trị doanh nghiệp
Để đánh giá kết quả thực hiện chi phí định mức, phải so sánh giữa chi phí thực tếvới định mức chi phí, nếu có chênh lệch phải làm rõ nguyên nhân gây chênh lệch vàcác biện pháp cụ thể để khắc phục các nguyên nhân làm tăng chi phí so với định mức
1.2.4.1 Phân tích biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Các nguyên nhân biến động được xác định theo công thức 1.14 và 1.15:
mức)
* Kết quả so sánh biến động giữa thực tế và định mức được đánh giá như sau:+ Nếu thực tế lớn hơn định mức, đánh giá không tốt vì lúc này chi phí sản xuấtthực tế cao hơn định mức
+ Nếu thực tế nhỏ hơn định mức, đánh giá tốt nếu số lượng sản phẩm đượcđảm bảo
+ Nếu thực tế bằng định mức, bảo đảm thực hiện đúng định mức
* Nguyên nhân chủ yếu gây ra sự biến động về giá và về lượng nguyên vậtliệu có thể là:
- Giá thực tế mua nguyên vật liệu lớn hơn định mức do quan hê cung cầunguyên vật liệu, sự thay đổi về phương tiện vận chuyển Ngược lại cũng có thể do