Cấu trúc luận văn Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn bao gồm 3 chương:Chương 1: Nhà văn Dạ Ngân và quan niệm nghệ thuật văn chương.Chương 2: Thế giới nhân vật trong truyện
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quảnêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã đượcchỉ rõ nguồn gốc
Trang 2MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích của đề tài 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Cấu trúc luận văn 7
CHƯƠNG 1: NHÀ VĂN DẠ NGÂN VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VĂN CHƯƠNG 8
1.1 Nhà văn Dạ Ngân 8
1.1.1 Tác giả, tác phẩm 8
1.1.2 Truyện ngắn Dạ Ngân trong dòng chảy của truyện ngắn nữ thời kỳ đổi mới 14
1.2 Quan niệm nghệ thuật văn chương 19
1.2.1 Quan niệm về hiện thực 20
1.2.2 Quan niệm về con người 22
Tiểu kết chương 1 24
CHƯƠNG 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN DẠ NGÂN 25
2.1 Nhân vật trong bi kịch đời tư 25
2.2 Nhân vật với khát khao hạnh phúc 40
2.3 Nhân vật tha hóa 46
2.4 Nhân vật tự nhận thức 54
Trang 3Tiểu kết chương 2 60
CHƯƠNG 3: KHÔNG GIAN, THỜI GIAN VÀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN DẠ NGÂN 62
3.1 Không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Dạ Ngân 62 3.1.1 Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Dạ Ngân 62
3.1.2 Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Dạ Ngân 73
3.2 Ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn Dạ Ngân 81
3.2.1 Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Dạ Ngân 81
3.2.2 Giọng điệu trong truyện ngắn Dạ Ngân 90
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 41
Trang 5Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Dạ Ngân (2014) của tác giả Lê Thị
Mơ tại Trường Đại học quốc gia Hà Nội- Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, người viết đi sâu vào các vấn đề như: nghệ thuật tổ chức cốt truyện, nghệthuật xây dựng nhân vật, đồng thời phân tích các phương thức trần thuật trongtruyện ngắn Dạ Ngân thông qua các yếu tố người kể chuyện, điểm nhìn
Những công trình nghiên cứu, ý kiến của các nhà phê bình văn học đitrước là những cứ liệu khoa học, giúp chúng tôi đi sâu hơn nghiên cứu đề tài
Đặc trưng thi pháp truyện ngắn Dạ ngân.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các đặc điểm nghệ thuật và biểu hiện đặc trưng của truyện ngắn DạNgân
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn vấn đề trong phạm vi 6 tập truyện ngắn của Dạ Ngân
đã được xuất bản trong giai đoạn từ sau 1986 đến nay Cụ thể là: Quảng đời
ấm áp, NXB Phụ nữ, 1986; Con chó và vụ ly hôn, NXB Phụ nữ, 1990; Nhìn từ phía khác, NXB Hà Nội, 2002; Nước nguồn xuôi mãi, NXB Phụ nữ 2008; Chưa phải ngày buồn nhất, NXB Phụ nữ 2012; Người yêu dấu và những truyện khác, NXB Phụ nữ 2017.
2
Trang 65 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc trưng của thi pháp học.Bên cạnh đó còn áp dụng một số biện pháp nghiên cứu khác như:
+ Phương pháp lịch sử: được sử dụng để tiếp cận một cách hệ thống vềtác giả và đời sống sáng tác; những quan niệm của tác giả về con người, về xãhội, đặc biệt là những quan niệm nghệ thuật
+ Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng để so sánh truyện của
Dạ Ngân qua các giai đoạn; so sánh truyện ngắn Dạ Ngân với tác phẩm cácnhà văn nữ cùng thời để thấy được đặc điểm riêng của nhà văn đối với văn họcđương thời
+Phương pháp thống kê: Phương pháp giúp phân loại các đặc điểm nổibật về nội dung, các kiểu nhân vật và các phương thức nghệ thuật trong truyệnngắn Dạ Ngân
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn bao gồm 3 chương:Chương 1: Nhà văn Dạ Ngân và quan niệm nghệ thuật văn chương.Chương 2: Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Dạ Ngân
Chương 3: Không gian, thời gian và ngôn ngữ nghệ thuật trong truyệnngắn Dạ Ngân
Chương 1 NHÀ VĂN DẠ NGÂN
VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VĂN CHƯƠNG
Dạ Ngân là một trong những nhà văn nữ có sự nghiệp sáng tác ổn định
và có nhiều đóng góp cho sự phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện nay Tìmhiểu về tác phẩm của Dạ Ngân và con đường đến với văn chương của nhà vănkhông chỉ để đánh giá đúng về tác phẩm mà còn để nhận thức khách quan hơn
về đời sống và giá trị văn chương nghệ thuật nói chung
3
Trang 71.1 Nhà văn Dạ Ngân
Nhà văn Dạ Ngân tên thật là Lê Hồng Nga sinh ngày 06 tháng 02 năm
1952 ở Cao Lãnh, Đồng Tháp Ngoài bút danh Dạ Ngân, nhà văn còn dùng cácbút danh khác như Lê Long Mỹ, Dạ Hương Cuộc đời của nữ nhà văn đã đi quatuổi 60 này từng trải qua nhiều biến cố, nhiều sự kiện, nhưng đáng lưu ý nhất
là những năm tháng của thời kỳ bom đạn chiến tranh ở miền Nam, thời hậuchiến ở miền Bắc và duyên nợ văn chương gắn bó ngẫu nhiên mà như số phậnvới bà
1.1.1 Tác giả, tác phẩm
Dạ Ngân là người con của miệt vườn Nam Bộ như bà từng nói: “Cuốngnhau tôi thuộc về miền đất Hậu Giang chua phèn, tôi vẫn tự hào mình gốc miệtvườn Tôi là phụ nữ miệt vườn chính cống và tôi luôn tự hào về điều đó”[37]
Cũng như Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy trước đây vàNguyễn Ngọc Tư bây giờ, Dạ Ngân luôn nhấn mạnh cội nguồn, bản quán củamình nhưng sự gắn kết với quê hương mỗi người mỗi khác Tuổi thơ của DạNgân được bao bọc bởi tình yêu thương của gia đình, trong đó vai trò quyếtđịnh là người cô ruột của mình - một người đàn bà góa, ở vậy để chăm đàncháu từ khi anh trai đi kháng chiến Đến khi người anh (tức cha Dạ Ngân) hysinh trong nhà tù Côn Đảo, thì người cô ấy một mình gánh vác, lo toan tất cả
Dạ Ngân lớn lên chịu ảnh hưởng từ người cô cả tâm hồn và tính cách Vào thời
đó, do làng quê thuộc vùng kháng chiến, nên gia đình Dạ Ngân cũng như nhiềunhà khác chuyển vào cứ để tham gia đánh giặc Cho dù bom đạn liên miên vàđiều kiện sống trong vùng sâu rất khắc nghiệt; nhưng với nhà văn, những ngàytháng ấy vẫn rất khó quên vì có nhiều kỷ niệm đẹp Tuổi thơ và tuổi thanh xuâncủa Dạ Ngân đã phải chứng kiến nhiều mất mát đau thương của chiến tranh,phải chứng kiến sự ra đi của những người thân yêu Đó không phải là sự trả giátất yếu của chiến thắng hay cho sự trọn vẹn thống nhất hai miền, nhưng quả
4
Trang 8thật bên cạnh tinh thần quật khởi của người dân miền Nam tham gia khángchiến, tinh thần yêu nước và sự hy sinh tất cả vì đất nước, Dạ Ngân cũng thấuhiểu những bi thương mà người dân phải gánh chịu cả trước, trong và sau cuộcchiến Những ngày tháng ấy dường như luôn thường trực trong kí ức và đã đểlại “dấu ấn” trong các tác phẩm của nhà văn.
Dạ Ngân đến với văn chương ngẫu nhiên từ thời chiến tranh nhưng cũng
có thể coi đó là sự tự ý thức của chính bản thân tác giả là phải kể lại chân thực
về những gì đã xảy ra và: “phải viết hay hơn, phải viết cho hay mỗi ngày đểđược yêu thương, khi được các thầy cô tiên đoán sẽ trở thành nhà báo hay nhàvăn gì đó” [37] Những ngày ở trong cứ, vừa học vừa thực hành làm báo ở Khu
9 (U Minh), Dạ Ngân được đến thư viện của Ban Tuyên huấn Tây Nam bộ Tại
đây tác giả được tiếp xúc lần đầu với Sông Đông êm đềm, Chiến tranh và Hòa bình, Tội ác và Trừng phạt, Bông Hồng Vàng, Những người khốn khổ, Chuông nguyện hồn ai kể cả những tác phẩm của những nhà văn trong nước như Hàn
Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Huy Cận, Hoài Thanh,Nguyên Ngọc và cả Nguyễn Quang Sáng Suốt quãng thời gian đó, lúc nào chịcũng “ôm sách và ôm đèn dầu, mặc cho các chú trong khu ủy bắt tắt đèn dầu
để lấy sức cho hôm sau” [37]
Niềm đam mê sách khi được tiếp xúc với những tác phẩm văn chươngnổi tiếng trên thế giới hồi ở khu căn cứ cùng với những trải nghiệm của thờichiến tranh đã thôi thúc Dạ Ngân ngồi vào bàn thử sức bằng thể loại truyện
ngắn và bút ký Lúc đầu, chỉ là những mẫu truyện nhỏ in trên báo Văn nghệ
nhưng được khen có chất văn học, nên nhà văn có động lực viết tiếp Tác phẩmvăn chương với Dạ Ngân đầu tiên như là những suy nghĩ, cảm xúc, giải bày vềcuộc sống, về những gì được chứng kiến
Trại sáng tác Vũng Tàu tháng 4 năm 1982, lần đầu Dạ Ngân tham dự làdấu mốc quan trọng làm thay đổi nhận thức của nhà văn về nghề viết Tại đây,
5
Trang 9Dạ Ngân được gặp, trò chuyện, trao đổi với nhiều tác giả đã nổi tiếng nhưNguyễn Quang Thân, Nhật Tuấn, Nguyễn Mạnh Tuấn, Đào Hiếu, Trần MạnhHảo, Nguyễn Nhật Ánh, Lý Lan, Trần Thùy Mai, Đinh Thị Thu Vân Nhà vănNguyên Ngọc và một số nhà văn khác phụ trách trại sáng tác này Khi nghe cácnhà văn lớn nói về tác giả Nobel này, tác giả Nobel kia, tác phẩm nào, tác giảnào đang được dư luận thế giới chú ý, Dạ Ngân hiểu mình còn chưa chuẩn bị
gì, chưa thực sự có kiến thức nền tảng về văn hóa và nghề viết dù mình đã viết,
đã sáng tác Điều may mắn là bà đã không nản chí bỏ cuộc mà lao đầu vào
“trường văn trận bút” quyết liệt hơn Sau khi bế mạc trại viết năm 1982 ấy, vềlại Cần Thơ, Dạ Ngân dành gần hai năm chăm chỉ đi thư viện để đọc và thu
thập thêm kiến thức Cũng trong năm 1982, truyện ngắn Quãng đời ấm áp của
Dạ Ngân đã gây được sự chú ý cho nhiều người đọc khi xuất hiện trên tuần báo
Văn nghệ của Hội nhà văn Nhiều người ngạc nhiên vì tác giả có cách viết
chững chạc, giàu nữ tính, có khả năng đi sâu vào những diễn biến phức tạptrong nội tâm nhân vật Truyện ngắn này cũng được nhà văn Nguyên Ngọcđánh giá tốt trong một lần nhà văn ghé đến miền Tây và được nhà thơ Nguyễn
Bá của Hội văn nghệ tỉnh Cần Thơ mời ở lại
Sau sự kiện dự trại viết năm 1982 và tự trang bị được một số kiến thứcvăn học, văn hóa, ngòi bút của Dạ Ngân dường như vững vàng, tự tin hơn
nhiều Năm 1985, truyện ngắn Con chó và vụ ly hôn ra đời Ngay lập tức, tác
phẩm được các nhà văn và dư luận quan tâm đặc biệt Các nhà nghiên cứuđánh giá cao bút lực của tác giả không phải vì dám phơi bày thẳng thắn nhữngchuyện thầm kín, khó nói của đời sống vợ chồng, mà chính là khả năng đi sâuvào những trạng thái tâm lý tinh vi, phức tạp, khó định hình nhất của nhân vật
Từ đây, bên cạnh một số nhà văn nữ trẻ được dư luận chú ý trong thập niên 90như Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần Thùy Mai, Lý Lan , có thêm cái tên Dạ Ngân.Chăm chỉ, cần cù, chịu khó học hỏi, Dạ Ngân khiến nhiều người mến phục vì
6
Trang 10bà không dựa vào kinh nghiệm sống để viết, không tự hào khoe những đónggóp trong kháng chiến mà viết bằng tất cả những khao khát được viết, đượcchia sẻ, được sống trong không khí sáng tạo nghệ thuật cùng với mọi người.Tác phẩm của Dạ Ngân chủ yếu là thể loại truyện ngắn Cũng như nhiều người,phần lớn những truyện ngắn này đều được gửi đăng trên các báo, tạp chí trướckhi tập hợp và xuất bản thành sách.
Dạ Ngân cũng đã thử sức với nhiều thể văn xuôi khác nhau và mỗi thểvăn đều có những thành công nhất định, nhưng truyện ngắn vẫn chiếm thếmạnh cả về số lượng lẫn chất lượng Sau thành công của tập truyện ngắn
Quãng đời ấm áp được xuất bản năm 1982, tập Con chó và vụ ly hôn in năm
1992 khiến vị trí, tên tuổi của nhà văn được khẳng định; Dạ Ngân viết nhanh
và tự tin hơn Năm 1993, Dạ Ngân có thêm tập Cõi nhà tiếp đó nhà văn cho ra mắt tập Truyện ngắn chọn lọc năm 1995, Nhìn về phía khác in năm 2002 và sau này là Nước nguồn xuôi mãi năm 2008 và tập Chưa phải ngày buồn nhất in năm 2012 Nếu Nước nguồn xuôi mãi là những tháng năm buồn vui với Hà Nội thì Chưa phải ngày buồn nhất hoàn toàn thuộc về những ngày làm cư dân mới
của Sài Gòn Ngoài ra, còn có một số truyện ngắn Dạ Ngân sáng tác sau này,đăng rải rác ở các báo, tạp chí văn nghệ, mãi đến năm 2017 mới tập hợp lại và
in thành tập truyện Người yêu dấu và những truyện khác, tập truyện gồm 1
truyện dài có độ nén của 1 tiểu thuyết và 9 truyện ngắn là những lát cắt đờisống trên cái phông xã hội hậu chiến, từ sau giải phóng đến hiện đại
Có thể nói, Dạ Ngân viết khá nhiều truyện ngắn và những tác phẩm đó
đã để lại những cảm xúc, ấn tượng trong lòng bạn đọc, gợi những dư âm tronglòng người đọc về tình người, tình đời
Dạ Ngân viết tiểu thuyết từ khá sớm Năm 1989, có tác phẩm Ngày của một đời Nhưng phải đến khi Gia đình bé mọn xuất bản lần đầu năm 2005, thì đây được coi là “bản dập”, là máu thịt của cuộc đời Dạ Ngân Gia đình bé mọn
7
Trang 11được xem là cuốn tiểu thuyết thành công trong sự nghiệp văn chương của DạNgân và gắn liền với tên tuổi của bà Nhắc đến Dạ Ngân, nhiều người đọc sẽ
nghĩ ngay đến Gia đình bé mọn, giống như nói đến Nam Cao là nhắc Chí Phèo, nhớ Ngô Tất Tố là nhớ đến Tắt đèn vậy Đó là niềm hạnh phúc mà không phải nhà văn nào cũng có được Tác phẩm Gia đình bé mọn được nhận liền hai giải
thưởng của Hội nhà văn Hà Nội (2005) và Hội nhà văn Việt Nam (2006) với sốphiếu tuyệt đối Đồng thời đây cũng là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của một nhàvăn nữ Việt Nam được nhà xuất bản Curbstone press dịch sang tiếng Anh, xuấtbản ở Mỹ với sự chuyển ngữ của bà Rosemary Nguyễn - một người phụ nữ nóitiếng Việt giỏi nổi tiếng của nước Mĩ Tác phẩm đã gây được tiếng vang lớnđối với giới phê bình nghiên cứu văn học lúc bấy giờ Giáo sư Hoàng Ngọc
Hiến cũng nhận xét: “Có thể đọc Gia đình bé mọn như một tiểu thuyết có đề tài
rộng hơn” [18]
Ngoài truyện ngắn và tiểu thuyết, Dạ Ngân còn viết truyện dài Năm
1992, bà có tác phẩm Miệt vườn xa lắm Nhà văn có nhiều tản văn và thể văn
này hợp với cách viết của bà và nhu cầu đọc của nhiều người hiện nay Với 238
tản văn được in trong năm tập: Mùa đồng đốt (2000), 100 tản mản hồn quê (2007), Gánh đàn bà (2009), Phố của làng (2009), Hoa ở trong lòng (2015),
đã minh chứng rằng nhà văn không dạo chơi ngang qua tản văn Ngòi bút của
Dạ Ngân đã đi cùng tản văn một chặng đường dài và đã khám phá thêm nhiềucái mới, nhiều thứ riêng từ cuộc sống mà tiểu thuyết và truyện ngắn đã chưa
khai thác hết Dạ Ngân còn có tập truyện dành cho thiếu nhi là Mẹ Mèo (1992) Đọc Mẹ Mèo sẽ thấy tâm hồn của người phụ nữ luôn trong sáng, hồn nhiên và
rộng bao la khi kết nối với thế giới trẻ thơ Dạ Ngân làm người đọc có khi liêntưởng đến nữ sĩ Xuân Quỳnh và những tập thơ viết cho trẻ con
Sự nghiệp văn chương có nhiều thành công nhưng cuộc sống riêng của
tác giả Gia đình bé mọn lại không suôn sẻ Cuộc hôn nhân đầu tiên của Dạ
8
Trang 12Ngân không xuất phát từ tình yêu nên sau đó bà đã phải gánh chịu nhiều tổnthương, mất mát về tinh thần, tình cảm Cuộc hôn nhân thứ hai đến với DạNgân ngẫu nhiên chính từ cuộc gặp gỡ định mệnh với nhà văn Nguyễn QuangThân vào năm 1982, ở trại sáng tác của Hội nhà văn tại Vũng Tàu Lúc đó, cảhai đều đã có gia đình, Dạ Ngân vẫn còn sống với chồng và Nguyễn QuangThân cũng đang sống với vợ con ở Hà Nội, dù cả hai đều không hạnh phúcnhưng họ vẫn bị hôn nhân ràng buộc Trong một quãng thời gian dài, Dạ Ngân
đã phải gánh chịu nhiều áp lực nặng nề, bị gia tộc, con cái, cơ quan và dư luậnlên án Nhưng Dạ Ngân cũng như Nguyễn Quang Thân cuối cùng cũng vượtqua được để đến với nhau, sau hơn mười một năm trời kẻ Nam người Bắc, chỉtrao đổi qua thư từ, điện tín và thỉnh thoảng mới gặp Năm 1993, họ mới tổchức lễ cưới, hai nhà văn được chính thức chung sống một nhà Khi ấy DạNgân 41 tuổi và Nguyễn Quang Thân 58 tuổi
Cuộc đời nhà văn từng trải, có nhiều mất mát, truân chuyên nhưng cuốicùng bà cũng có những phút giây viên mãn, hạnh phúc khi sống với ngườimình thương và tâm đầu ý hợp Dạ Ngân coi nhà văn Nguyễn Quang Thân vừa
là chồng, bạn đời vừa là người thầy của mình trên con đường văn chương Bà
là người sống hết mình và yêu hết mình, nhiều khi ít tính toán hơn thiệt Có lẽ
vì vậy mà trong tác phẩm của Dạ Ngân, độc giả có thể nhìn thấy khá chân thựccuộc đời cay đắng sống động và yêu thương da diết của chính nhà văn
1.1.2 Truyện ngắn Dạ Ngân trong dòng chảy của truyện ngắn nữ thời kỳ đổi mới
Từ xưa đến nay, trong lực lượng những người sáng tác thì nhà văn nữthường chiếm số ít Ở Việt Nam, sau Cách mạng tháng Tám, phụ nữ được chú
ý, được ca ngợi và được khuyến khích tham gia các hoạt động xã hội, kể cảhoạt động văn hóa văn nghệ Phương Lựu cho rằng: “Dần dần đã có thể nóiđến một dòng văn học của những cây bút nữ” [25, tr.93] Bên cạnh thơ nữ vốn
9
Trang 13có truyền thống lâu đời, các nhà văn nữ xuất hiện ngày càng nhiều hơn, đặcbiệt từ thời kì đổi mới (1986) Nhà nghiên cứu nhấn mạnh: “Đây là một hiệntượng tốt đẹp, đánh dấu một phương diện phát triển của văn học thế kỉ này trênđất nước ta” [25, tr.94] Đặc biệt hơn, trong lĩnh vực truyện ngắn đã có hiệntượng các cây bút nữ áp đảo nam giới - nói như nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng
là tình trạng “âm thịnh dương suy” Một số nữ nhà văn đã gây chú ý ngay khitác phẩm ra đời như Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà,Trần Thùy Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ Cho dù văn chương hay dở không phụthuộc vào giới tính, nhưng thường các nhà văn nữ vẫn có những cách mô tảcuộc sống và giải thích hiện thực theo cách của họ Chính sự khác biệt này đãthu hút người đọc Nhiều nhà văn nữ đã không ngần ngại chọn lựa những đề tàikhó, hướng đến những chủ đề phức tạp và rất tài năng trong nghệ thuật sửdụng câu chữ Trong vườn hoa văn chương phái nữ Việt Nam giai đoạn cuốithế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI muôn màu, nhiều kiểu dáng, nhiều hương thơm,mùi vị ấy, chúng ta không thể không nhắc đến Dạ Ngân
Nhà văn nữ đến với văn xuôi vừa sớm vừa muộn này đã có những tác phẩmđặc sắc, ghi được dấu ấn trong lòng người đọc
Còn nhớ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, khi Phạm Thị Hoài xuất hiện
với tiểu thuyết Thiên sứ, văn đàn Việt Nam đã xôn xao dậy sóng Dĩ nhiên,
Phạm Thị Hoài có chịu ảnh hưởng của văn học Phương Tây, nhưng không thể
phủ nhận cách viết và hình tượng nhân vật trong Thiên sứ là vô cùng mới mẻ
với nhiều người đọc Nhiều năm sau, hình tượng Bé Hon trắng trong với nụhôn thiên sứ lạc lõng giữa trần gian đen tối vẫn còn ám ảnh người đọc Thông
điệp mà Phạm Thị Hoài đưa ra đã có sức vang rất xa Truyện ngắn Bức thư gửi
mẹ Âu Cơ của Y Ban cũng vậy Tác phẩm không chỉ nói về thân phận nữ giới
mà rộng hơn là số phận con người khi đối diện với thực tại, với quá khứ ràng
buộc và những đổi thay trong vòng xoáy của cuộc sống Truyện ngắn Bức thư gửi mẹ Âu Cơ của Y Ban đã được nhận giải thưởng cuộc thi truyện ngắn của
10
Trang 14Tạp chí Văn nghệ quân đội (1989-1990) Nhưng điều quan trọng hơn là sau tácphẩm này, Y Ban đã thành một cái tên danh giá trên văn đàn Võ Thị Hảo sau
một số truyện ngắn được người đọc chú ý, tập truyện Biển cứu rỗi và tiểu thuyết Giàn thiêu đã xác nhận tài năng và con đường vững vàng đi vào địa hạt
văn chương của nhà văn Trước đó Nguyễn Thị Thu Huệ và Lý Lan cũng là
những tên tuổi lừng danh Tác phẩm Hậu thiên đường của Nguyễn Thị Thu
Huệ được nhiều người đọc yêu mến và giới nghiên cứu quan tâm Đầu thế kỷXXI, văn xuôi Việt Nam lại chứng kiến sự bổ sung thú vị vào đội ngũ nữ văn
sĩ Chúng ta còn có Thùy Dương, Trần Thanh Hà, Phan Thị Vàng Anh, ĐỗHoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư Tại hải ngoại, lực lượng nữ sống và sáng táctại nước ngoài bằng tiếng Việt thành công có Thuận, Đoàn Minh Phương,Linda Lê Việc giao lưu, học tập thuận lợi tại nhiều nước, cũng khiến chúng ta
có thêm một số nữ nhà văn trẻ tham gia viết khi đang sống ở nước ngoài hoặc
về đề tài cuộc sống nước ngoài như Dương Thụy, Trang Hạ
Điều đáng mừng nhất là trong đội ngũ các nhà văn nữ Việt Nam đã có
sự vươn lên về chất lượng, sự khẳng định quyết liệt về phong cách nghệ thuật.Xuất thân từ nhiều nơi, nhiều ngành nghề, nhiều môi trường sống, nhưng cácnhà văn nữ trẻ đã tự trang bị cho mình những kiến thức văn hóa vững vàng.Khả năng sáng tạo và niềm đam mê văn chương của họ không thua kém namgiới Có thể khẳng định đóng góp của các nhà văn nữ từ thời kỳ đổi mới là làmnên dòng văn học nữ mạnh mẽ về năng lượng khám phá cuộc sống, đa dạng đasắc thái về phong cách nghệ thuật Cho dù tiếng nói của nữ giới vẫn chưa đượcchú ý đúng mức; bằng chứng là trong Giải thưởng Văn học ASEAN từ 1996đến 2013, có 17 tác giả được trao nhưng chỉ có Nguyễn Ngọc Tư là nữ; thìchúng ta vẫn rất tự hào, trân trọng công lao, tài năng của các nhà văn nữ
Các nhà văn nữ không chọn riêng một mảng đề tài để sáng tác Họ cũngviết tất cả, theo sở trường, cảm hứng và sự lựa chọn của mỗi người; nhưng có
lẽ đề tài hoặc nội dung, phạm vi hiện thực mà các cây bút nữ khám phá cũng
11
Trang 15có nét riêng Nhà văn Y Ban đã có lần chia sẻ rằng bà muốn tác phẩm của bàđược xã hội, người đọc lắng nghe, thấu hiểu Đây có lẽ cũng là sự mong muốncủa nhiều người Các tác giả nữ thường đem vào văn chương tiếng lòng, tâmhồn khát khao được sống, được yêu thương, những trải nghiệm của bản thân vàmong muốn được tự do với chính mình Dù đề tài chiến tranh, lịch sử và nhữngxung đột, mâu thuẫn trong hiện thực vẫn được nhiều người quan tâm; nhưng đaphần các nhà văn nữ hướng cái nhìn vào cuộc sống, vào tận sự biến chuyểntinh vi trong tâm hồn mỗi người Họ không xây dựng con người tha hóa kiểunhư Nam Cao, Vũ Trọng Phụng đã từng viết trong giai đoạn trước 1945, nhưng
họ cũng không ngần ngại phơi bày những ích kỷ, gian dối, xấu xa trong góckhuất của mỗi người Những con người của đời thường, của cuộc sống trần trụikhông còn là những anh hùng của dân tộc hay đại diện cho cộng đồng nữa, họ
có khi xấu tốt lẫn lộn, rồng rắn trộn lẫn rất khó nhận định Các nhà văn nữthường chú ý kiểu nhân vật phức tạp, cá tính và không đại diện cho tầng lớp
nào trong xã hội Như nhân vật người chồng trong truyện Trăng nơi đáy giếng
của Trần Thùy Mai nhìn bề ngoài gia giáo, mực thước nhưng tận bên trong là
sự giả dối, ích kỷ đáng khinh Phơi bày hiện thực mà cái thực và cái ảo nhiềukhi đan xen vào nhau khó tách bạch, Trần Thùy Mai cũng như nhiều nhà văn
nữ đã phát hiện nó bằng sự nhạy cảm tinh vi hay còn gọi là trực giác của phụnữ
Trong môi trường sáng tác chung và cùng là phái nữ, Dạ Ngân chắcchắn được cộng hưởng chung từ đồng nghiệp nhiều thứ như chia sẻ cảm hứngnghệ thuật, quan niệm sáng tác, Ngay cả trong sự khác biệt của mỗi ngườihay những va chạm trong cách viết cũng có ích để mỗi nhà văn tìm kiếm vàkhẳng định được những giá trị riêng Với Dạ Ngân, phải đến khi tiểu thuyết
Gia đình bé mọn (2005) ra đời, nhà văn mới thực sự trở thành một cái tên được
“bảo chứng” về tài năng văn chương với hàng loạt những giải thưởng văn học
12
Trang 16Dạ Ngân được phân biệt với các nhà văn nữ cùng thời ở vốn sống phong phú,sức sáng tạo bền bỉ nên có thể viết liên tục nhiều tác phẩm thu hút được nhiềuthành phần độc giả Nhà phê bình Nguyễn Hoài Nam đã nhận định về sáng táccủa Dạ Ngân: “Ở Dạ Ngân có những phẩm chất từng làm nên thế mạnh ngòibút của Bà: sự cẩn trọng và tinh tế trong câu chữ; khả năng kết hợp nhuầnnhuyễn giữa mỹ văn và ngôn ngữ đời thường của người Nam Bộ; sự sắc sảotrong phác họa nhân vật bằng một vài chi tiết đắt giá, nhanh gọn; và sau cùng
là một cái nhìn dù với sự phê phán nhưng vẫn luôn đôn hậu” [35] Nhà văn dịch giả Trần Thiện Đạo thì lại nhận định: “ Một hình một bóng, trên conđường quen thuộc hơn một phần tư thế kỷ cầm bút trong Nam ngoài Bắc, tácgiả đã nhè nhẹ nắm tay người đọc, “rù quến”, lôi cuốn, dẫn họ cùng rảo bướcvới mình từ trang đầu cho tới hết trang chót” [35] Thành công càng khiến DạNgân ý thức hơn về quan điểm sáng tác của mình: “Với tôi, văn chương hoàntoàn xứng đáng được coi như đạo, bởi có nói gì gì nó vẫn có ý nghĩa cứu rỗi,hướng thiện cho con người Chính vì vậy mà nó cày lật không nương tay mặttrái của xã hội loài người và mảnh đất tâm linh của kiếp người” [55, Tr.18]
-Dạ Ngân có lối viết dung dị, không cầu kỳ chữ nghĩa, không dụng côngtrau chuốt Cách sử dụng ngôn ngữ rất đời thường có ý thức trong việc kểchuyện và xây dựng tính cách nhân vật Truyện ngắn Dạ Ngân thường bám rễsâu vào hiện thực đời sống với những vụn vặt của cuộc sống hằng ngày ít aiquan tâm, những thay đổi thầm lặng, những bỡ ngỡ của con người trước cuộcsống khi vừa bước ra từ cuộc chiến tàn khốc Mỗi truyện ngắn của Dạ Ngân lànhững mảng khác nhau về nhiều vấn đề Trong đó gia đình và bi kịch của conngười - đặc biệt là người phụ nữ là vấn đề được nhà văn trăn trở nhiều Viết vềngười phụ nữ, về nỗi đau của họ nhà văn chủ yếu đi vào khai thác những mẫuchuyện về cuộc sống bình dị của người phụ nữ với nỗi đau mất mát từ chiếntranh, những thăng trầm trong cuộc sống gia đình và đôi khi cũng có sự bấtchấp để tìm hạnh phúc riêng cho bản thân mình Nhân vật cô Mỹ Tiệp trong
13
Trang 17Gia đình bé mọn là một hiện tượng Có một điều ta dễ nhận thấy, bằng sự đồng
cảm của người phụ nữ nên khi viết về họ, Dạ Ngân thường chắt chiu tìm kiếm
để đưa lên trang viết của mình cả những mảng sáng và những góc khuất củacuộc sống để soi rọi những giá trị nhân bản Đọc những truyện ngắn của DạNgân, ta thấy có sự đồng điệu với các nhà văn nữ cùng thời như Lý Lan, VânTrang, Ngô Thị Kim Cúc, Nguyễn Thị Thu Huệ và Nguyễn Ngọc Tư sau nàykhi viết về nỗi đau của người phụ nữ, những điều tưởng như vụn vặt trongcuộc sống hằng ngày Tuy có những nét tương đồng, nhưng ở Dạ Ngân ta vẫnthấy nét nổi bật trong cách thể hiện văn phong, khi thì dịu dàng khi thì bùngcháy, đặc biệt rất tinh tế và sâu lắng Có thể ví ngòi bút của Dạ Ngân đẹp nhưmột người phụ nữ ở lưá tuổi ba mươi, đằm thắm và chín chắn
Bên cạnh hình tượng nhân vật nữ ta thấy hiện lên rất nhiều hình tượng nhân vậtkhác nhau Mỗi nhân vật đều được nhà văn sử dụng bút pháp nghệ thuật riêngbiệt để làm nổi bật lên số phận và tính cách Điều đó đánh dấu những đổi mớitrong nghệ thuật viết và xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của nhà văn Đặcbiệt, trong những nhân vật đó, ta luôn thấy bóng dáng của chính tác giả: từngtrải trong tình yêu, hôn nhân không hạnh phúc .Chính vì vậy, những truyệncủa Dạ Ngân dễ có sự đồng cảm đối với người đọc hơn
Ký ức và những hoài niệm về quá khứ là một mảng khác trong truyệnngắn Dạ Ngân Nhà văn muốn ký thác những tâm tình của mình vào trongtrang giấy Bản sắc văn hóa Nam Bộ được tác giả đặc biệt quan tâm Bởi lẽ,mỗi nhà văn đều lớn lên từ một vùng quê, vùng văn hóa riêng biệt nên trêntrang văn của họ cũng ít nhiều mang những sắc thái văn hóa của vùng đất quêhương Dạ Ngân, sinh ra và trưởng thành ở miệt vườn, vùng đất này có nhữngđặc trưng văn hóa hết sức độc đáo và riêng biệt đã trở thành một phần quantrọng trong ý thức sáng tạo của nhà văn Thiên nhiên, con người Nam Bộ vừa
là không gian, nền cảnh của câu chuyện vừa là những thông điệp mà nhà vănmuốn gửi gắm
14
Trang 18Trong bức tranh chung của truyện ngắn Việt Nam đương đại, chỉ riêngtruyện ngắn nữ đa dạng và phong phú vô kể Truyện ngắn Dạ Ngân mang đếncho tâm hồn người đọc những cảm xúc nhẹ nhàng nhưng tinh tế về những vấn
đề của cuộc sống thời chiến và hậu chiến với lối văn giàu suy nghiệm về đờisống bằng chất giọng đằm thắm và lối viết hiện đại Điều đó, tạo nên nét độcđáo riêng biệt của Dạ Ngân với các nhà văn nữ Nam Bộ nói riêng cũng nhưnhà văn nữ Việt Nam đương đại nói chung
1.2 Quan niệm nghệ thuật văn chương
Dạ Ngân là nhà văn có quan niệm về văn chương hết sức nghiêm túc,chị tâm sự: “Văn chương, đó không chỉ là nghề như mọi nghề mà còn là conđường khổ ải cho những người đàn bà cầm bút Dù vậy, vẫn hơn, vì con đường
ấy cho người ta sự cô độc tối cao, niềm tin dai dẳng và có thể khóc cười thoải
mái một mình” [56, tr.180] Tác giả của Gia đình bé mọn dường như chưa bao
giờ coi nghề văn tầm thường mà luôn coi như “đạo”, như sứ mệnh giải bày vàcứu rỗi cuộc đời Có lẽ, niềm tin này đã khiến Dạ Ngân luôn bền chí, vững tinkhi cầm bút
1.2.1 Quan niệm về hiện thực
Dạ Ngân sinh ra và lớn lên ở Miền Nam vào những năm cuộc chiếntranh chống Mỹ diễn ra ác liệt Những gì hằn sâu trong ký ức của nhà văn nhấtchính là hiện thực chiến tranh Dạ Ngân hiểu hơn ai hết về những năm thánghào hùng và oanh liệt ấy, sự hi sinh lớn lao và tình nghĩa của đồng bào, đồngchí, những người anh người chị đã sát cánh bên nhà văn Chiến tranh dù tànkhốc đến thế nào thì vẫn không làm nao lòng những con người có niềm tin sắt
đá vào cuộc chiến của dân tộc, những con người luôn yêu thương, đùm bọc, sátcánh cùng đồng đội của mình Khi miêu tả hiện thực chiến tranh, Dạ Ngânkhông nặng trong việc miêu tả những chiến công lừng lẫy, những chiến thuậttài tình của quân và dân ta Dạ Ngân đi vào phản ánh tinh thần chiến đấu anh
15
Trang 19dũng, kiên cường của một dân tộc anh hùng Từ sự trải nghiệm của chính bảnthân mình, nhà văn nhận thấy cuộc chiến giữa địch và ta là cuộc chiến khôngcân sức, nên đòi hỏi quân và dân ta phải có sự chuẩn bị chu đáo về mọi phươngdiện Chiến tranh tuy có mất mát đau thương, nhưng chính sự chuẩn bị chu đáo
mà hậu quả không đến nỗi quá thê lương Tinh thần chiến đấu đó được nhà văngửi gắm qua các tập truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh
Bằng sự từng trải của bản thân, Dạ Ngân đã đưa vào trang viết của mìnhthực tế sống động ở những đơn vị làm công tác văn thư, in ấn Họ là nhữngngười ít được quan tâm của giới văn nghệ sĩ Công việc có thể nói là khá nhẹnhàng nhưng lại rất quan trọng Từ những nhà in dã chiến này đã cho ra đờibiết bao tờ truyền đơn, công văn kịp thời phục vụ cho kháng chiến Hiện thựccuộc sống và chiến đấu nơi đây cũng gặp vô vàn khó khăn, nguy hiểm khôngkhác gì ngoài chiến tuyến ác liệt kia Đây có thể xem là nét mới trong quanniệm nghệ thuật về hiện thực của tác giả so các nhà giai văn đoạn trước Bởi,thông thường khi viết về chiến tranh, người cầm bút thường đi vào những chitiết hào hùng làm nên lịch sử của dân tộc Dạ Ngân đã đi vào những mảng hiệnthực ít được khai thác, ít được quan tâm nhất
Khi cuộc chiến tranh kết thúc năm 1975, đất nước bước vào thời kỳ hòabình, nhưng nhiều người đã không thể hình dung hết những thay đổi phức tạpcủa cuộc sống và con người sau khi bước ra khỏi cuộc chiến Cũng như nhiềunhà văn sau 1975, Dạ Ngân đã sớm có cái nhìn mới về hiện thực cuộc sống lúcbấy giờ Bản tính thẳng thắng, trung thực nên trong đời thực cũng như trêntrang viết, Dạ Ngân thường chỉ ra hiện tượng tham nhũng, phê phán những lớpngười có chức quyền, sớm rũ bỏ quá khứ, ích kỷ và kiêu ngạo Trong các sángtác của mình, nhà văn không nhìn hiện thực bằng cặp mắt “xanh non” màmạnh dạn đi vào những góc khuất để khám phá, phản ánh Thông qua tácphẩm, Dạ Ngân đã lên tiếng phê phán cái xấu, sự tham lam tiền và quyền của
16
Trang 20nhiều người Với bà, hiện thực là cuộc sống như nó vốn có, không được cheđậy, tô hồng hay né tránh vì ngại phải bóc tách khó khăn Dạ Ngân cũng nhưnhiều người viết sau 1975 đã nhận ra hiện thực không phải chỉ có phe ta, pheđịch và hai mặt tốt xấu đơn giản, hiện thực cần được nhìn nhận phức tạp, đadiện, đa chiều Muốn vậy, nhà văn không phải chỉ cần sống với thực tế, phảitrải nghiệm bản thân, mà trước hết phải học cách rèn giũa ngòi bút, phải tìm ranhiều cách tiếp cận hiện thực và những phương pháp khai thác hiện thực bằngnghệ thuật mới và độc đáo nhất.
1.2.2 Quan niệm về con người
Trước 1975, quan niệm con người trong văn xuôi là con người của cộngđồng, dân tộc Các nhân vật bao giờ cũng lao động hoặc chiến đấu với tư cáchđại điện ưu tú cho tập thể, chứ ít khi với tư cách cá nhân Sau 1975, đất nướcbước vào thời kỳ khác Con người bị chi phối bởi nhiều mối quan hệ phức tạpcủa đời thường, chuyên môn và nhiều thứ khác Nếu như trước 1975, các nhàvăn có xu hướng thể hiện con người theo tiêu chí giai cấp, lựa chọn nhân vậtđiển hình, chú trọng tính chung sao cho phù hợp với quan điểm về sự vận độngtích cực và thuận chiều của cuộc sống, bỏ qua phương diện riêng tư cá biệt củacon người, thì văn xuôi sau 1975 quan tâm nhiều đến con người với tư cách cánhân Sự thay đổi này là tất yếu vì sự khác nhau của mỗi giai đoạn văn họccũng chính là sự thay đổi, khác nhau trong quan niệm về con người
Dạ Ngân không quan tâm khai thác riêng một kiểu, hoặc một tính cáchriêng nào Các nhân vật của Dạ Ngân thường đa dạng, đủ thành phần, tính cáchkhác nhau trong xã hội Đó là những cán bộ kháng chiến với những mặt tốt đẹp
và những điều chưa tốt đẹp; đó là những người nông dân lam lũ chân lấm taybùn hai sương một nắng mà vẫn không thoát nghèo; đó là những nhà văn nhìnđời sắc sảo thích dịch chuyển; đó là những nhân viên thừa hành trong guồngmáy chính quyền thời hậu chiến và cả những người lính của chế độ cũ tiếp
17
Trang 21nối cuộc đời mình sau chiến tranh Tất cả những con người ấy, được nhà vănmiêu tả hết sức đa dạng từ ngoại hình đến tính cách, phong thái và cách ứng
xử Nhưng, Dạ Ngân có sự quan tâm, trăn trở đặc biệt đến những người vôdanh, những người ít ai biết đến, luôn gặp những trắc trở, khó khăn ngang trái
cả trong và sau chiến tranh Những phận người ấy rất nhỏ bé trước cuộc đời và
họ dễ bị cuộc đời lãng quên Nó như một chiếc tam bản nhỏ bé giữa dòng sôngchảy xiết, như một hạt bụi giữa khoảng không gian bao la Dạ Ngân đau đáu vềnhững thân phận đó và dành tình cảm sâu sắc khi viết về họ
Nhà văn còn chú ý nhiều đến những người phụ nữ bé mọn trong và sau chiếntranh Họ tầm thường, lam lũ, không phải anh hùng, không gây tiếng vang,nhưng họ đáng trân trọng, nâng niu đơn giản vì họ là mẹ, là vợ, là chị; là “conngười” trước chính họ, trước tiểu cộng đồng (gia đình) và đại cộng đồng (xãhội)
Như vậy, thông qua những nhân vật trong tác phẩm của Dạ Ngân, ngườiđọc có thể nhận ra nhà văn đã có nhiều tiến bộ trong quan niệm nghệ thuật vềcon người Tác giả luôn trân trọng những điểm tốt đẹp của con người, chú ýkhai thác, tiếp cận con người cá nhân - đời thường từ nhiều góc cạnh Nhà vănkhông sử dụng ngòi bút mình cho mục tiêu đấu tranh với cái xấu, mà như đểkhơi gợi lòng tốt, sự lương thiện, trắc ẩn Nhân vật trong tác phẩm Dạ Ngânthường đem đến một thông điệp nào đó, nhưng trước hết là sự đồng cảm, làthái độ chính trực bảo vệ cho cái yếu, sự lương thiện và tâm hồn ngay thẳng.Tuy không dữ đội, đa sắc thái như nhiều cây bút khác, nhưng nhiều nhân vậtcủa Dạ Ngân đã khẳng định được cá tính sáng tạo của nhà văn Việc khôngngừng khám phá cuộc sống, phát hiện mới về con người chính là cách để DạNgân tạo cảm hứng và hòa nhịp vào dòng chảy chung của văn học đương đại
Và cũng phải nói thêm rằng, những thay đổi của Dạ Ngân từ quan niệm về hiệnthực đến quan niệm nghệ thuật về con người có phần chịu ảnh hưởng từ chồng
bà là nhà văn Nguyễn Quang Thân Do cùng nhà, cùng nghề viết, cùng niềm
18
Trang 22đam mê sáng tác, lại thêm nhà văn Nguyễn Quang Thân nổi tiếng là người cókiến thức uyên bác, tiếp nhận rất nhạy bén các xu hướng đổi mới nghệ thuậtcủa thế giới Nhiều năm liền, nhà văn Nguyễn Quang Thân là người đọc đầutiên, người thẩm định tác phẩm khó tính nhất của bà Dạ Ngân là người phụ nữchịu thương chịu khó cả trong đời sống thường nhật lẫn trong công việc, nên
bà vừa phải luôn cố gắng để không lặp lại mình và lặp lại người khác, vừa phảiđổi mới nghệ thuật để tác phẩm hoàn hảo nhất có thể Đây cũng là điều đồngnghiệp trân trọng nhất ở Dạ Ngân
Tiểu kết chương 1
Dạ Ngân là nhà văn vẫn còn đang sáng tác, nhưng sự nghiệp của bà cóthể được định vị trong giai đoạn văn học sau 1975 Trong chương này, chúngtôi khảo sát về cuộc đời Dạ Ngân và đặt hành trình sáng tác của nhà văn trongdòng chảy các cây bút nữ cùng thời, để khẳng định vị trí, quan niệm nghệ thuật
và một số nét riêng của bà Dạ Ngân là người cầu tiến nên luôn có sự thay đổikhi phản ánh, ghi nhận hiện thực Nếu lúc bắt đầu, khi viết về chiến tranh, DạNgân có phần lãng mạn, thi vị; thì sau đó trong các tác phẩm khai thác đề tàicuộc sống đời thường (thế mạnh của nhà văn), ngòi bút bà tỏ ra rất nhạy bén,sắc sảo, quyết liệt Dù đã từng tham gia kháng chiến, nhưng Dạ Ngân khôngcoi nghề viết là nơi thể hiện bản thân Nhà văn biết cộng niềm đam mê đượcviết vào nhiệm vụ khó nhọc tự học, tự tích lũy tri thức để xây dựng nền tảngchuyên môn và đường đi vững vàng trong sự nghiệp Với những gì nhà văn đãviết và niềm tin nghiêm túc, nhất quán vào con người, vào giá trị của ngòi bút,
Dạ Ngân xứng đáng là một trong những nhà văn nữ tiêu biểu của giai đoạn vănhọc sau 1975
19
Trang 23Chương 2 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN DẠ NGÂN
Khảo sát truyện ngắn Dạ Ngân, chúng tôi thấy thế giới nhân vật trongsáng tác của nhà văn tương đối đa dạng Người đọc có thể đã gặp ở đó rấtnhiều gương mặt với các vai trò xã hội và tính cách khác nhau Dựa vào đặcđiểm thi pháp, có thể chia thế giới nhân vật trong truyện ngắn Dạ Ngân thànhcác kiểu sau: nhân vật trong bi kịch đời tư, nhân vật khát khao hạnh phúc, nhânvật tự nhận thức, nhân vật tha hóa
2.1 Nhân vật trong bi kịch đời tư
Từ điển Thuật ngữ văn học cho rằng: Bi kịch là “một thể loại kịch,
thường được coi như là đối lập với hài kịch” [16, tr.18] Trong tác phẩm vănhọc, bi kịch “phản ánh không phải bằng tự sự mà bằng hành động của nhân vậtchính, mối xung đột không thể điều hòa được giữa cái thiện và cái ác, cái cao
cả và cái thấp hèn diễn ra trong một tình huống cực kỳ căng thẳng mà nhânvật thường chỉ thoát ra khỏi nó bằng cái chết bi thảm gây nên những suy tư vàxúc động mạnh mẽ đối với công chúng” [16, tr.18] Từ đặc trưng của một thểloại, trong văn học, bi kịch còn được dùng như một tính từ chỉ tính chất, đặcđiểm bi thảm, đau thương của nhân vật, của hiện thực (nhân vật bi kịch, cuộcđời bi kịch, số phận bi kịch.) Văn học Việt Nam giai đoạn từ sau 1986 đã có
Trang 24nhiều đổi mới trong quan niệm về con người Các nhà văn thường đi sâu khaithác những mất mát, bi thương của con người, đề cập đến những xung độtphức tạp trong thế giới nội tâm, xây dựng con người trong mối quan hệ vớihiện thực đa dạng và phức tạp hơn Bằng sự khám phá ấy, con người trong vănhọc được thể hiện khách quan và đa diện, đa sắc thái hơn, đáp ứng nhu cầu tiếpnhận ngày càng cao của người đọc.
Vì nhân vật là nơi thể hiện tập trung nhất tư tưởng và quan điểm nghệthuật, tài năng của nhà văn, nên nhân vật thành công thường gắn liền với têntuổi tác giả Một nhân vật có số phận kịch tính, bi thương vẫn thường tạo cảm
xúc mạnh hay sự đồng cảm nơi người đọc Ví dụ tác phẩm Đoạn trường tân thanh dựa vào Kim Vân Kiều truyện nhưng khi nói đến tác phẩm người ta nghĩ
ngay đến số phận bi kịch của nhân vật Thúy Kiều và tài năng của Nguyễn Du.Các nhà văn khi xây dựng nhân vật với những mâu thẫn đan xen hay số phận
bi kịch thường hướng đến mục tiêu lý giải, cắt nghĩa hiện thực hơn là phảnánh, ghi nhận hiện thực đơn giản Khảo sát truyện ngắn Dạ Ngân, chúng tôithống kê thấy nhà văn có đề cập đến con người với những bi kịch đời tư khácnhau, trong đó nhiều nhất là nhân vật nữ Thống kê 60 truyện ngắn của DạNgân, thì thấy có đến hơn 40 truyện (tỷ lệ 2/3) có nhân vật nữ chính
Tình cảm vợ chồng, cuộc sống gia đình là đề tài được nhà văn dànhnhiều tâm huyết và có nhiều cảm hứng khám phá nhất Dạ Ngân cũng nhưnhiều cây bút khác nhận ra sau chiến tranh, cuộc sống đời thường có nhiều mốiquan hệ phức tạp hơn cuộc sống thời chiến và người phụ nữ vẫn là nhữngngười chịu nhiều thiệt thòi nhất Chiến tranh đã qua, nhưng nỗi đau chiến tranhvẫn còn âm ỉ trong lòng của những người vợ, người mẹ, những con người dùkhông trực tiếp chiến đấu nhưng lại phải chịu quá nhiều tổn thương Niềm
trong truyện Dù phải sống ít hơn có thể xem là nạn nhân của chiến tranh Nhân
vật Niềm được Dạ Ngân miêu tả: “chị già đi và gầy hơn xưa nhưng người vẫn
Trang 25còn tròn trặn uyển chuyển Nhìn toàn bộ, ở chị toát ra dáng vẻ cao quý củangười phụ nữ có tuổi mà vẫn trinh nguyên” [30, tr.41] Chữ “trinh nguyên”trong câu văn miêu tả của Dạ Ngân vừa thể hiện vẻ đẹp hình dáng, phong tháibên ngoài của nhân vật, vừa ngụ ý một tâm sự chua chát về người phụ nữ lớntuổi mà chưa được làm mẹ Trong truyện, Dạ Ngân sử dụng nghệ thuật trầnthuật khách thể, nhà văn như hóa thân vào nhân vật người vợ (Niềm) để giảibày “tiếng lòng” của nhân vật Đó là thái độ “không bàng hoàng” khi biếtchồng trở về sau hơn hai mươi năm với tấm hình người đàn bà khác trong hànhtrang Là cách xử sự để tránh sự khó xử cho Thịnh khi đề nghị làm bạn: “chịbảo: mình coi nhau như bạn được rồi” [30, tr.47] Là những cảm xúc của ngườiđàn bà trổi dậy trong chị khi hai người sống với nhau và cả cảm giác hy vọngđến tuyệt vọng được làm mẹ của chị: “từng ngày, từng tháng, chị lắng nghe sựthay đổi của cơ thể mình với niềm hy vọng ngày càng mãnh liệt như bị cơnkhát sa mạc giày vò Từ khi người đàn bà trong chị bị đánh thức, chị mới cótâm trạng đó Nhưng cái cơ thể quá thì của chị vẫn làm ngơ trước niềm hi vọngđau đớn của chị” [30, tr.47] Chọn cho mình điểm nhìn như thế, Dạ Ngân đãcho người đọc thấu hiểu đồng cảm, chia sẻ với những bi kịch mà người phụ nữphải oằn mình gánh chịu sự nghiệt ngã của hai chữ chiến tranh: người mấtchồng, kẻ mất cha và cả những người đàn bà chưa một lần được làm vợ, làm
mẹ Trong con người Niềm còn là sự giằng xé nội tâm, khi vừa có ý định xincon nuôi nhưng rồi lại vụt tắt khi có suy nghĩ sẽ nhận nuôi hai đứa con chồng.Rồi, chị lại nghĩ đến người phụ nữ kia, chị ta sẽ ra sao? Bằng tấm lòng cảmthông, trách nhiệm và để tránh sự khó xử cho Thịnh, chị đã mạnh dạn đề xuấtvới anh, muốn đưa những đứa con riêng của anh vào Nam chăm sóc, sau đó làmời người phụ nữ kia vào luôn cùng các con riêng của anh Việc đưa ra quyếtđịnh như vây, đối với chị thật là đau đớn, nhưng điều đó cũng không đau bằng
Trang 26việc chị bất chợt bắt gặp hình ảnh giữa chồng và người vợ vui đùa trong giâyphút đoàn tụ: “Niềm ngoái nhìn chiếc xe sau Họ ngồi lên, bối rối, sung sướng,chiếc va ly dựng dưới chân như đôi trẻ vừa vượt qua bao trắc trở mới được cónhau và đang bắt đầu một chặng đường đầy thú vị” [30, tr.46] Hành động
“ngoái nhìn” đó của Niềm diễn tả nỗi đau trong lòng chị, nỗi đau nhườngchồng cho người phụ nữ khác Nỗi đau chồng chất nỗi đau khi chị tiếp tục
“nhường” giường của mình để “đêm nay, chị trở thành khách trong ngôi nhàcủa chính mình” [30, tr.47] Chúng ta dễ nhận thấy sự hi sinh của Niềm giống
nhân vật Hạnh trong truyện ngắn Trăng nơi đáy giếng của Trần Thùy Mai.
Khác với Trần Thùy Mai, cái hay của Dạ Ngân là bà không để nhân vật “chết”trong bi kịch mà tìm lối thoát cho họ Sự hi sinh cao cả của Niềm được giađình riêng của chồng đền đáp bằng tình yêu thương, trân trọng, trong đó nhữngđứa con của anh coi chị như má ruột Đây có thể coi là bi kịch được tạo nênbởi chiến tranh nhưng nó lại được hóa giải bởi chính trái tim nhân hậu của conngười Người phụ nữ đó đã biết sống, biết cho, biết yêu và nhận được hạnhphúc dù không trọn vẹn
Truyện Con chó và vụ ly hôn là một tác phẩm xuất sắc của Dạ Ngân.
Khi mới ra đời, truyện đã gây nhiều tranh cãi trong dư luận khi lần đầu tiênnhững vấn đề khó nói, tế nhị trong cuộc sống vợ chồng lại được một nhà văn
nữ thể hiện sâu sắc Trong truyện, Dạ Ngân đã không ngần ngại đi vào nhữngchỗ cần chôn giấu của đời sống bản năng, nhu cầu tình dục nhưng đồng thời đềcao khát vọng tâm hồn và chỉ ra những đau khổ trong cuộc sống gia đìnhkhông lối thoát của nhân vật Đoan Nhân vật Đoan trong truyện được Dạ Ngânmiêu tả thông qua cảm nhận của bà chánh án Đoan là một người vừa có vẻđẹp buồn khổ vừa mạnh mẽ và trong sáng:
“Chị khá trẻ so với chồng, chỉ khoảng ba mươi tuổi, đôi mắt màu
Trang 27nâu buồn buồn do nhiều ngày mất ngủ và nhẫn nhịn, đôi mắt với cáinhìn thẳng thắn, trong veo, không có vẻ gì lẳng lơ, nó làm nên giá trị và
sự quyến rũ của gương mặt đó Cái nhân trung vừa dài vừa sâu như mộtcái rãnh cẩn thận của người tạo ra nó Và đôi môi nho nhỏ cong congkiên quyết Chị mặc sơ mi màu măng chín, cái cổ thanh thanh vươn trênmàu vải đằm thắm, cao quý như cái bông hoa lài” [30, tr.9]
Đọc truyện, ít ai quên được ánh mắt của Đoan Đôi mắt ấy thể hiện nội tâm bikịch của người vợ tinh tế, nhiều cảm xúc mà phải sống với một người chồngthô kệch và tàn bạo Đôi mắt ấy chứa đựng niềm đau khổ mỗi khi chứng kiến,chịu đựng những tật xấu của người chồng vũ phu: “Mắt chị dừng ở khuỷu taysăn chắc, ở sợi tĩnh mạch nổi vằn vèo dưới lớp da nâu ửng đỏ, biểu hiện củatrạng thái phẫn nộ trong anh” [30, tr.8] Với việc miêu tả chi tiết, khiến nhânvật Đoan dễ tạo ấn tượng cho người đọc
Bên cạnh nghệ thuật miêu tả nhân vật một cách gián tiếp, Dạ Ngân đứng
ở vị trí khách quan để quan sát câu chuyện xoay quanh cuộc đời và bi kịch củanhân vật Đoan Từ góc nhìn này, Dạ Ngân có thể nắm bắt nhiều khía cạnh củahành vi, suy nghĩ cũng như cách ứng xử của Đoan:
“Chị nằm ráng, lơ mơ nghe tiếng chó sủa nhặng nhị ngoài sân.Chắc bọn “ruồi nhặng” lại bu vào con Mực và “chàng” Vàng ra sức đánhđuổi chúng Nhà cửa tịnh không, con gái còn ở đằng lớp mẫu giáo, hàngxóm có vẻ yên ắng, có gì mà Nhiêu gọi thúc bách vậy? Đoan ngồi dậylấy tay chùi nước mắt và ra với chồng Trước mắt chị là cảnh hứng tìnhcủa bọn chó ghẻ trước tình yêu của con Mực và con Vàng, như chị từngnhìn thấy
- Gì vậy? -Chị hỏi thờ ơMặt Nhiêu sường sượng, hất hàm cho chị thấy cảnh trước sân rồiđóng cửa lại ngay Chị cảm thấy rất rõ một cái gì đó mà mình phải chịuđựng ( ) Chị không chỉ thấy “bị dùng” mà còn thấy bị làm nhục ( ) Chị
Trang 28còn cảm thấy bị xúc phạm, thê thảm vì hành động của chồng không xuấtphát từ nhu cầu của hai người mà từ sự khêu gợi súc vật” [30, tr.19]Nhà văn đã tinh tế khi chọn điểm nhìn có thể quan sát và tái hiện lại toàn bộbiến động tâm lý của nhân vật Đoan: “bị dùng”, “bị xúc phạm”, “bị làm nhục”.Chính sự hứng tình của Nhiêu đã làm Đoan tổn thương, không còn cảm giác ân
ái vợ chồng mà thay vào đó là cảm giác bị chiếm đoạt, một “sự khêu gợi súcvật” Cuộc sống vợ chồng giữa Đoan và Nhiêu thật sự có nhiều vết rạn, nhưngtất cả chỉ là chuyện cảm xúc, cảm giác Những điều này thật khó giải bày nhất
là nói trước tòa: “Đoan cảm thấy không đủ lời để diễn đạt hành trình củanhững cảm giác, nguyên nhân đưa đẩy chị đến quyết định xa chồng” [30,tr.10] Với lối trần thuật này, thế giới nội tâm của nhân vật Đoan hiện lên rõ nétvới nhiều cung bậc cảm xúc, người đọc cảm nhận nỗi đau tinh thần mà ngườiphụ nữ như Đoan và nhiều người khác phải chịu đựng Trong truyện, chúng tacũng không thể không nhắc tới một thủ pháp nghệ thuật xây dựng kết cấu theodòng ý thức và kỹ thuật lồng ghép truyện Từ diễn biến tại phiên tòa, mạchtruyện đã dẫn dắt người đọc đến đoạn kể về con chó, ngay từ lúc nó mới đượcxin về Để rồi truyện không kết thúc lại bằng một phiên tòa mà kết thúc bằngnhững chi tiết tạo ấn tượng rất mạnh đến người đọc, qua đó càng làm rõ bi kịchcủa nhân vật Đoan:
“Khi chị về đến nhà, con gái chị lại lập cập mách:
- Ba rủ mấy chú ở chỗ ba tới làm thịt con Mực rồi Ba đập đầu nóbằng búa Con thấy nó ngó ba y như lúc má giơ roi đánh con Rồi conkhông dám dòm, con trốn dưới gầm giường mình ngủ Con nghe chúHành hỏi ba: Vú chó ăn ngon như vú heo nái hôn?
Đoan ngồi phịch xuống đất” [30, tr.25]
Chữ “ngồi phịch” rất thực, tả hành động của nhân vật Đoan cho thấy sựthảng thốt, bất lực trước cái chết con chó và sự đứt đoạn, tuyệt vọng với người
Trang 29chồng Một nỗi đau không thành lời chỉ biết buông xuôi Việc kết thúc mởtrong truyện ngắn trên, thể hiện tài năng xử lý nhân vật của nhà văn và chứađựng tư tưởng nghệ thuật mà Dạ Ngân muốn gửi gắm.
Truyện ngắn Cái ban công trống Dạ Ngân sử dụng phương thức kết cấu
dòng ý thức và kĩ thuật lồng ghép truyện để làm rõ nỗi đau của từng thành viêntrong gia đình Truyện được mở đầu bằng sự gặp gỡ của nhân vật “Tôi” (ngườiphụ nữ gốc miệt vườn) với Hoành (người anh nuôi) Mạch truyện lại dẫn dắt
về tình tiết, Biên - vợ Hoành té lầu chết từ một cái ban công trống, không cóthanh chắn như mọi cái ban công thông thường khác Rồi truyện lại dẫn đếncác sự kiện khác: Tung, đứa con trai của hai vợ chồng vào bộ đội từ năm 18tuổi Chiến tranh đã chẳng chừa một ai, Tung đã sớm trở thành thương binh khituổi đời còn quá trẻ:
“Thằng Tung ngồi xe lăn, nó nhập vào đám người cùng cảnh lượnphố, vô định qua ngày, rồi đòi lên Trại an dưỡng chứ nhất quyết khôngchịu về nhà Ít lâu sau nó trốn nhà, xuống tàu đò ra chợ huyện rồi biếnmất ở đâu đó cho dù anh Hoành bới hết các nơi lên cũng không tìm thấy.Mãi mới tìm ra một mảnh giấy nó nhét trong áo gối nó hay nằm, nó nói
nó muốn giải thoát cho nó, cho mọi người, đừng có tìm kiếm mất công.”[33, tr.209]
Chính sự không tìm ra tung tích của đứa con trai thương binh, đã là nỗi đau lớntrong lòng hai vợ chồng Hoành Nỗi đau khổ ấy thường trực trong gia đình, để
họ thường cắn cấn nhau Đến kết cuộc đau buồn của gia đình họ là Biên té bancông chết Cái ban công không có thanh chắn và dang dở như chính cuộc đờicủa con trai họ Kết thúc truyện trở về với hiện tại, với nỗi đau mãi mãi khóphai của nhân vật Hoành Với sự đồng cảm và thấu hiểu sâu sắc Dạ Ngân đã đivào từng hoàn cảnh, từng số phận của nhân vật để sẵn sàng bênh vực, bảo vệ
và che chở họ Trong cuộc sống, bi kịch không chỉ của riêng người phụ nữ, mà
Trang 30đôi khi nam giới cũng được bà cảm thông và chia sẻ.
Trong truyện Tóc dài mấy lạng, cả nhân vật chính xưng em và nhân vật
nữ mua tóc đều có mái tóc đẹp Truyện chỉ quanh quẩn nói về tiếng rao muatóc và chuyện mua, bán tóc nhưng phía sau hai người phụ nữ ấy không chỉ làhai mái tóc mà còn là hai số phận khác nhau Mái tóc trở thành chứng nhân chotình yêu, tình đời Người thì đau khổ chạy trốn số phận dù rất yêu mái tóc thậtdày, thật mượt, đã từng làm người khác “đổ nhào”, nhưng lại muốn cắt bỏ nhưmột cách đoạn tuyệt với quá khứ, để mạnh dạn chấp nhận số phận khác Ngượclại, cô mua tóc, dù người chồng yêu vợ kiên quyết muốn giữ tóc nhưng trướcnhận xét của nhiều người: “làm nghề tóc dạo mà tóc mình vẫn dài thòn vậy”[33, tr.230] lại quyết định cắt tóc và cắt tóc đơn giản chỉ để mưu sinh Chỉ đơngiản là tả mái tóc, nhưng từ tóc lại gợi ý liên tưởng đến nhiều suy tư thấm đẫmtriết lý nhân sinh Đâu là vẻ đẹp vẫn luôn được ca ngợi của người phụ nữ vàđâu là chỗ dựa an toàn bền vững mà người phụ nữ cần có Cuộc đời luôn đổithay, mái tóc cũng dễ đổi thay, cuộc đời con người cũng vậy, hạnh phúc đó rồiđau khổ đó
Bên cạnh nghệ thuật đặc tả chi tiết mái tóc, Dạ Ngân còn sử dụng thờigian nghệ thuật để khắc họa bi kịch của nhân vật chính xưng em Dạ Ngân đặtnhân vật của mình vào sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại Hạnh phúc của quákhứ, cái thời “sinh viên cơ cực của chúng mình, em nhớ những giây phút thanhbình khi em a tòng với anh rằng mình sống theo kiểu chồng đi làm vợ cơmngon canh ngọt và có thể cúi xuống tháo giày cho chồng khi cần” [33, tr.235-236] Còn hiện tại, chị cảm thấy “uất hận tất cả, từ anh” [33, tr.236] Nghệthuật xây dựng tình huống để diễn tả nội tâm của nhân vật xưng em, một lầnnữa được nhà văn sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật “đắc dụng” Giữa trưa
hè Hà Nội, một tiếng rao, vâng, chỉ một tiếng rao thôi nhưng sao nó thê thiếtbiết mấy: “ai tóc dài bán đ ơ i !” [33, tr.227] Để nhân vật trong truyện
Trang 31thốt lên với lòng mình: “Em nhìn quanh cố đợi, em đợi một người chưa quenbiết, em đợi một thân phận chắc chắn là dân tỉnh lẻ trôi nổi, em đợi để hỏi cáinghề vô hại nhưng thê thiết, rợn người” [33, tr.227] Tình huống ở đây đượctạo nên bởi tiếng rao, tình huống ấy chưa hẳn là bi kịch, nhưng thật sự nó cósức lay động đến trái tim con người, nhất là với những ai nhạy cảm, dễ xúcđộng trước nghịch cảnh đời người Bởi mua tóc thật, tóc dài quả là một nghềmới.
Nhân vật Thuyên trong Người thương mến, cũng chịu chung bi kịch về hạnh phúc gia đình Với nhân vật Đoan trong Con chó và vụ ly hôn, Dạ Ngân
xây dựng người phụ nữ mạnh mẽ, muốn giải thoát chính bản thân mình khiphải sống với người chồng thô kệch, cứng nhắc, thậm chí có phần tàn nhẫn ỞThuyên, ta cũng thấy sự sự nổi loạn muốn thoát khỏi người chồng “như một cỗmáy” qua việc “yêu” Nghĩa - người bạn của Thuyên Nhưng cuối cùng tình yêukhông thành, vì muốn níu kéo hạnh phúc gia đình, không muốn những đứa conkhông có cha Chị lại quay về chấp nhận sống với người chồng giống như
“một cỗ máy với những nguyên tắc cơ khí đáng gờm đã không cho nàng cơ hộithoát ra” [33, tr.93] Để rồi bi kịch lại nối bi kịch trong một vòng luẩn quẩn,những đứa con được sinh ra không xuất phát từ sự yêu thương mà chỉ là để níukéo trong vô vọng
Nhân vật Tâm trong truyện Cõi nhà, cũng là nạn nhân của cuộc sống
không tình yêu Gia đình Tâm li tan, chị cùng hai đứa nhỏ ra ở phòng tập thểcủa cơ quan với muôn nỗi khó khăn vất vả Còn anh chồng, có ngay cô vợ bé,
ở ngay trong ngồi nhà lẽ ra phải dành cho những đứa con của mình Điều đểngười đọc quan tâm không chỉ có nỗi khổ của người vợ, mà là trách nhiệm củaanh chồng đối với con Làm sao lại có một ông bố vì lý do cá nhân mà từ chối
cả những trách nhiệm tối thiểu của một người làm cha, đến nỗi đứa con phảinài nỉ mẹ thuyết phục ba Việc đó khiến Tâm xót xa đến mức phải thốt lên than
Trang 32trách trời, vì ai lại phải chờ người khác nói thì mới chịu thương, chịu cưu mangcon mình Miêu tả sự đổ vỡ của những gia đình như gia đình Tâm, Dạ Ngân ítnhiều muốn cảnh tỉnh đến sự cảm thông và chia sẻ mọi khó khăn trong đờisống vợ chồng Tránh trường hợp bất đồng quan điểm sống dẫn đến việc lyhôn ảnh hưởng đến các thành viên khác trong gia đình.
Tình yêu với những bi kịch trong truyện ngắn Dạ Ngân còn được biểuhiện ở nhiều sắc thái khác nhau trong các truyện ngắn khác như: sự ngưỡng
mộ, tôn thờ người yêu nhưng không thể đến với nhau trong Thầy tôi; sự hi sinh
cả bản thân mình để có tiền chạy chọt cho chồng như người vợ trong Kẻ yêu chồng; tình cảm dành trọn cho nhau giữa Thanh và Tâm nhưng họ không thể là của nhau mãi mãi trong Thi vị cuộc đời; sự mong đợi, khát khao một tình yêu chẳng bao giờ nguôi và chẳng bao giờ thực hiện được của Bạch trong Trinh nữ miộìi
Giai đoạn trước 1945-1975, do ra đời trong hoàn cảnh chiến tranh, vănhọc không có điều kiện đi quá sâu vào những nỗi buồn, những mất mát, hi sinhhoặc những số phận riêng tư Bi kịch cá nhân, số phận con người cá nhân cóđược đề cập rồi cũng phải nén lại Tất cả vì mục đích chung, tinh thần chungcủa cộng đồng của dân tộc Thời hậu chiến, các nhà văn có một khoảng lùinhất định để nhìn nhận lại cuộc chiến khốc liệt của dân tộc, để thấy đượcnhững mất mát mà chiến tranh để lại quá to lớn Bước ra từ chiến trường đaukhổ ấy, hơn ai hết, Dạ Ngân thấu hiểu nỗi đau mà người phụ nữ phải chịu dochiến tranh gây ra Không trực tiếp cầm súng chiến đấu, nhưng những người
mẹ, người vợ, người phụ nữ có người yêu trên chiến trường đều có chung mộtnỗi đau mất mát về tinh thần: biết bao người phụ nữ mãi mãi phải xa chồng
(Năm Gấm và Tư Tầm trong Gặp ở giáp nước, năm người đàn bà trong Nhà không có đàn ông, Hai mật trong Trên mái nhà người phụ nữ ) Họ có tình yêu
trong sáng nhưng khi bước ra khỏi cuộc chiến, khó khăn về vật chất khiến họ
Trang 33tàn úa thảm hại (Tư Tím trong Hôm ấy trời đẹp lắm, Nhi trong Sống với nhớ thương) Từng ấy cũng đủ khiến người đọc băn khoăn, trăn trở.
Hai Mật trong truyện ngắn Trên mái nhà người phụ nữ cũng mang nỗi
đau chung ấy Ba lần đứng trước cơ hội có gia đình, một mái ấm gia đình bình
dị, đơn sơ giống như bao người phụ nữ bình thường khác Điều tưởng chừngnhư đơn giản ấy lại vượt quá tầm tay của chị Bão tố chiến tranh đã ba lầncướp mất những người đàn ông thân yêu của chị Họ ra trận và không bao giờtrở về Chỉ có người phụ nữ vò võ hằng đêm “hay mở mắt nhìn thao láo” lênmái nhà chông chênh, ở đó, “đêm đêm cuộc chiến tranh vẫn chưa hề nguôilạnh” [30, tr.38] Đôi mắt ấy đích thực không phải biểu thị cho con người, mà
đó là một nhân vật, một chứng nhân im lặng của thời chiến vẫn đi theo vàothời bình với những ám ảnh, day dứt khôn nguôi Ánh mắt “nhìn thao láo”hằng đêm ấy soi chiếu vào những góc khuất quá khứ và nhận ra những vếtthương chiến tranh chưa thể lành
Với truyện Gặp ở giáp nước, Dạ Ngân lại miêu tả một bi kịch khác mà
chiến tranh gây ra cho những người phụ nữ có chồng đi lính nhưng đều chếttrận “lần lượt hai người ấy bặt thư, thay vào là hai cái giấy báo tử” [33, tr.147].Hai người phụ nữ Năm Gấm và Tư Tầm họ sống nương tựa vào nhau trongcuộc sống buồn tẻ Trong một buổi chạng vạng đi kiếm cá để làm mắm ở vùng
U Minh, hai người phụ nữ đã gặp nạn, chiếc võ lãi bị lật úp giữa giáp nước vàolúc mặt trời đã biến hẳn đi, khiến họ không thể nào xoay xở được đành kêucứu: “La làng đi Gấm, tụi mình la làng để người ta nghe mà tiếp chớ” [33,tr.150] Hành động “la làng” cho thấy sự bất lực của hai người phụ nữ trướcnhững khó khăn trong cuộc sống Họ không có người đàn ông để nương tựa.Trong tình huống này sự xuất hiện và giúp đỡ của nhân vật Bảy Tháo giốngnhư một phép màu với Năm Gấm và Tư Tầm Để rồi, sự cố ở giáp nước đã làmcho chuyến đi của hai người ngắn lại và không còn hào hứng nữa, và “nhiều
Trang 34năm rồi họ không rủ nhau đi làm mắm nữa” [33, tr.156] Trong truyện, bêncạnh nghệ thuật tạo tình huống tài tình, nhà văn đã sử dụng thủ pháp đồng hiệnthời gian, với hình thức này, dòng tâm tư, quá khứ, hiện tại và tương lai đềuxuất hiện cùng một lúc, không bị ngăn cách, liên tục như một dòng chảy Nhờcách tổ chức thời gian đồng hiện mà nhân vật Năm Gấm và Tư Tầm tự bộc lộcon người bên trong của chính mình Quá khứ và hiện tại, hôm qua và hôm nayluôn sống trong con người hai nhân vật này Để khi họ nhớ lại chuyện ở giápnước, và nghĩ nếu như không có người bạn kia thì có lẽ mình cũng đã nên đôivới người đàn ông ở giáp nước đó rồi: “Năm Gấm thì giấu biệt bạn chuyệnngười đàn ông đã một lần tìm đến và mình đã khóc để từ chối ông ta như thếnào Tư Tầm cũng không bao giờ dám nói thật ý nghĩa với bạn rằng, giá không
có cô bạn chí cốt là Năm Gấm thì cái bến có cây bần lật nghiêng ấy có thể làcái bến cuối đời tốt đẹp của chị, có thể lắm chứ” [33, tr.157] Hai người phụ nữbất hạnh khi chồng của họ cùng chết trận, nhưng còn bất hạnh hơn khi không
ai dám để người kia lại và đi tìm hạnh phúc của riêng mình Đó là trách nhiệmhay là tình người vẫn là câu hỏi mà nhà văn muốn mỗi người đọc có cách nhìnnhận riêng
Dạ Ngân sử dụng mô típ “góa phụ” Mô típ “Góa phụ” trở thành một môtíp nổi trội trong truyện ngắn viết về chiến tranh Những chân dung “hònvọng phu” thời hiện đại đã cho chúng ta nhận dạng thêm một chiến trườngkhông kém phần ác liệt dù ở đó không hề có tiếng súng mà trong cuộc chiếnđâu đó bản thân người phụ nữ vừa là “địch” là “ta”, vừa là “tham mưu” cũng
vừa là “tác chiến”.[22, tr.69] Với mô típ trên, trong Nhà không có đàn ông Dạ
Ngân lại viết về một nghịch cảnh đau đớn và nghiệt ngã khác mà chiến tranh
để lại cho đại gia đình gồm năm người phụ nữ của ba thế hệ sống âm thầmdưới một mái nhà Họ đều có điểm chung là những bà “góa”, người thì khôngchồng, kẻ thì chồng mất sớm, chồng hi sinh ngoài mặt trận Ấn tượng nhất vẫn
Trang 35là nỗi đau của hai chị em Hai Thảo và Út Thơm, hai cô gái trẻ, bước qua cuộcchiến với nỗi đau âm ỉ của đời người Nếu Út Thơm, chị ở góa từ rất sớm, hồimới hai mươi tuổi, ngay hôm đất nước hòa bình, thì Hai Thảo “cũng có mộtanh bộ đội trên bàn thờ nhưng bất hạnh hơn cô em là không kịp sanh với chồngmột đứa con, mỗi khi nhớ lại mối tình tức tưởi của mình, chị cũng nhớ được sốlần hai người gần nhau mà chị có thể đếm trên đầu ngón tay” [30, tr.123] Nhưrất nhiều người phụ nữ trên đất nước này, bước ra khỏi cuộc chiến với nỗi đaunhức vì sự mất mát quá lớn Dạ Ngân đã nhạy cảm với nỗi đau của người trongcuộc, cho nên mỗi trang viết, mỗi nhân vật là sự thổ lộ, giãi bày nỗi lòng vàkhát vọng tình yêu hạnh phúc của con người.
Cuộc mưu sinh thời hậu chiến đã đặt những con người chân yếu taymềm trước thử thách mới cũng không kém phần nghiệt ngã Cạnh đó, nền kinh
tế thị trường cũng là một thứ thuốc thử về năng lực và nhân phẩm của con
người Trong Điều khác trước, Dạ Ngân không đề cập đến những mất mát tổn
thương mà chiến tranh để lại mà xem quá khứ chiến tranh như liều thuốc đểthử nhân cách con người: sự nghèo túng hiện tại của gia đình nhân vật “Tôi”
đã khiến anh chồng (Tên Tịnh) từ lâu đã có “sự ganh tị ngấm ngầm, sự mặccảm nghèo túng và nỗi buồn âm ỉ” [29, tr.142] với gia đình Hoa (cô bạn trongthời chiến cùng anh và vợ); lại khiến cả hai vợ chồng đều cảm thấy không cònnhu cầu đến với nhau, cảm thấy chán nhau “bất mãn vì sự bất lực của mỗingười đối với nền kinh tế gia đình” [29, tr.142] Tịnh quyết định hâm nóng lạitình yêu giữa hai vợ chồng anh Đó là sau chuyến đi dài ngày, Tình trở về vàmang theo những kỉ niệm thời chiến, nó giúp hai người hàn gắn lại, không cònnhững xích mích tủn mủn như ngày hôm qua Cả hai cùng nhớ về những conngười và mảnh đất cách đây bảy năm đã cưu mang và tổ chức đám cưới cho
họ Trong câu chuyện vợ chồng và kỉ niệm quá khứ, nhân vật “Tôi” đã cónhững giằng xé nội tâm quyết liệt:
Trang 36“Ký ức đang giày vò tôi Bao ý nghĩ bộn chộn trong đầu Tôi đểcho chúng tuôn ra vì nhu cầu muốn được tâm sự, được giãi bày và đượcchia sẻ cho người thân Càng nói, tôi càng ngỡ ngàng với biến động tinhthần vừa qua của mình, không hiểu nổi tại sao mình có lúc như thế,tưởng như nó không thuộc phần đời của mình Nhưng nó là sự thật Tôibiết lương tâm mình còn khổ sở lâu với nó” [ 29, tr.144].
Có thể thấy, thử thách của đời sống thời hậu chiến là liều thuốc đặc biệt để thử
nhân cách con người Nhân vật nữ trong truyện Điều khác trước thực sự tìm lại
được chính con người mình
Cuộc sống vật chất xô bồ tất bật khiến không ít người vô tình lãng quênnhững giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc, lãng quên tình cảm quê hương, giađình thân tộc và cũng có khi quên cả người đã sinh ra họ Để khi nhận thấy sự
ra đi mãi mãi của người ấy thì đã trở nên quá muộn và không gì cứu vãn
Truyện ngắn Người của mỗi người lại là một bi kịch trong cuộc sống cơ chế thị
trường mà Dạ Ngân khai thác Ngòi bút tác giả theo sát bước đi của nhân vậtchính (người mẹ), nhận rõ những biến chuyển về tâm hồn, nhân cách và bikịch cuộc đời người mẹ Tình mẫu tử khiến bà không ngần ngại giành chút tuổigià rảnh rổi còn lại cho con khi chúng cần được đỡ đần Nhưng sự tồn tại của
bà chính là chướng ngại lớn làm rạn nứt gia đình những người con Người mẹ
đã nghĩ mọi cách ra đi toàn vẹn, ít ảnh hưởng đến con mình nhất Bà từng có ýnghĩ ra đi trong cái bể nước đồ sộ ở sân sâu nhà người con trai lớn nhưng vìnghĩ tới sự êm ấm của các con, nên bà đành thôi; bà từng nghĩ đến cách ra đibằng việc lao vào một chiếc xe nhưng lại sợ mình bị thương tàn tật trở thànhgánh nặng cho con cái nên bà cũng đã thôi Cuối cùng bà muốn về quê, để dù
có chết thì bà cũng được chết trong không khí từng là của bà
Trên chuyến phà về quê, chợt bà nghĩ đến việc gieo mình xuống mặt nước dữtợn đang sôi sục ý muốn vồ vập những ai nhìn vào nó, và bà chọn giải pháp
Trang 37“một bà già sơ ý té phà vì chóng mặt [30, tr.72] với mong muốn không ai chịutrách nhiệm về cái chết của mình.
Việc miêu tả tâm lý người mẹ già cô đơn qua những lần đến ở tại nhàcủa từng đứa con, được nhà văn thể hiện bằng những lời lẽ vừa chân thực, đauxót vừa tỉnh táo, triết lý: “Hóa ra khi đứa con còn nhỏ, mẹ là cái cây tỏa bóng,lớn chút nữa mẹ là quả ngọt, là chỗ dựa tin cậy, khi hết đời cây bỗng thànhchướng ngại và cuối cùng chúng chỉ muốn bứng đi cho rảnh nợ” [30, tr.62].Qua bi kịch của người mẹ, Dạ Ngân đã phản ánh tình trạng băng hoại đạo đứccủa con người Vì ích kỷ, con người đã chà đạp lên cả gia đình, người thân,thậm chí cả người mẹ đã sinh ra mình
Bi kịch trong cuộc sống hiện đại, còn được Dạ Ngân thể hiện qua sự
chấn động tâm lý của đứa con gái mới lớn trong truyện Tường nhà quá mỏng.
Truyện nói về vấn đề khủng hoảng tâm lý của cô gái mới lớn khi sống trongchung cư chật hẹp, nối sát nhau bằng bức tường bê tông mỏng không cách âm.Bằng thủ pháp nghệ thuật độc thoại nội tâm nhân vật, Dạ Ngân đi sâu phân tíchđời sống nội tâm đầy những u uất, băn khoăn và cả thất vọng của nhân vật côcon gái mới lớn trong truyện: “Con thấy bất an quá đỗi Làm sao con biết đượcthực hư của con người ( ) Sao cô ta không thoát ra, để đêm đêm không phảivan xin và khóc lóc nữa? Hai con người khỏe mạnh đi đứng nói năng bìnhthường nhưng sao đêm đêm của họ thì tối tăm và bí ẩn như vậy? Mẹ biết dạo
ấy con xanh xao như một con ma nên những nhúm thuốc đông y điều kinh của
mẹ càng khiến con buồn rầu” [34, tr.33] Như vậy, từ lối dẫn thẳng người kểchuyện sang độc thoại nội tâm nhân vật, khiến cho người đọc dễ theo sát quátrình diễn biến tâm lý của nhân vật cô con gái Điều đó khiến cho mọi cung bậccảm xúc trong nhân vật như trào ra một cách tự nhiên và chân thật hơn
Như vậy, xây dựng những nhân vật bi kịch trong đời tư, hạnh phúc giađình, những tổn thương cá nhân và cả sự khủng hoảng tâm lý, Dạ Ngân sử
Trang 38dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật đắc dụng để thể hiện một cách nhìn đầy nhânvăn và đa diện hơn đối với cuộc sống Đồng thời qua đấy, nhà văn muốn thứctỉnh con người hãy biết cách điều hòa các mối quan hệ để cuộc sống của chúng
ta luôn hạnh phúc và tràn ngập tình yêu
2.2 Nhân vật với khát khao hạnh phúc
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư từng tâm sự: “Ai cũng có nhu cầu được ấm
áp, yêu thương, ngay cả những người mạnh mẽ và tàn ác nhất” [66] Với DạNgân, các nhân vật của bà không chỉ có nhu cầu yêu thương mà luôn khát khaođược yêu thương, khát khao tìm kiếm, hướng đến hạnh phúc Khảo sát cáctruyện ngắn Dạ Ngân, nhân vật nữ có cảm xúc, có tâm hồn khát khao hạnhphúc chiếm đa số
Tình yêu là tình cảm đặc biệt nhất của con người, nó không phân biệtnghề nghiệp, tuổi tác, địa vị sang hèn, kẻ tốt, người xấu Nhu cầu yêu thương
là nhu cầu chính đáng và tự nhiên Trong tình yêu mỗi người có cách cảm nhận
và yêu thương khác nhau Với truyện Trinh nữ muộn, Dim và Bạch là hai
người bạn thân cùng phòng, nhưng cách đón nhận và thể hiện tình yêu của họlại khác nhau Dim khát khao yêu thương bao nhiêu thì Bạch lại e dè bấynhiêu Là người cởi mở, Dim không chấp nhận lối sống khép mình của Bạch
Vì vậy, chị luôn tìm cách giúp bạn Khi biết Bạch trúng tiếng sét ái tình, Dimrất hào hứng Chị không ngại làm “quân sư” cho bạn Dim trong sự miêu tả của
Dạ Ngân là con người hết lòng vì bạn và tìm mọi cách để giúp bạn thoát khỏicái dáng vẻ trinh nữ Vì vậy, khi nghe Bạch tâm sự về chuyện tình cảm củamình, chị đã “hất vội tờ báo xuống, chống tay nằm nghiêng lại trên giường,chuẩn bị vào vai tham mưu” [31, tr.58], và thúc giục bạn kể tiếp câu chuyệntình cảm của mình: “nào, kể nghe đi!”, “Rồi, kể đi! Dim lại giục”[31, tr.59].Những cử chỉ “hất vội”, chống tay”, “nằm nghiêng” và thái độ “giục” chỉthường được thấy ở những con người cởi mở, sốt sắng trong mọi vấn đề, đặc
Trang 39biệt là trong tình yêu Trong tình yêu, Dim luôn quan niệm: “yêu là chỉ có hiếndâng chớ không có hạ mình” [31, tr.61], không gì hạnh phúc bằng việc sốnghết mình trong tình yêu Khao khát yêu và được yêu luôn cháy bỏng trong tráitim nàng khi “người đàn ông của Dim” xuất hiện Không dè chừng, không giữmình như Bạch, Dim đã sống hết mình cho tình yêu.
Truyện ngắn Đừng nói điều ơn nghĩa lại là một cung bậc khác trong bản
nhạc tình yêu của Dạ Ngân Nếu nhân vật Phụng là sự khát khao đi tìm hạnhphúc đích thực của cuộc đời mình thì trái ngược với điều đó là cái e ngại, nhútnhát của Thà Trong truyện, Dạ Ngân để nhân vật “tôi” (là Phụng) kể lại cuộcđời mình khi tham gia công tác in ấn truyền đơn ở cứ Ở đó, cô đã từ chối tìnhyêu của Thà vì không tìm thấy sự đồng nhịp trong trái tim Phụng luôn rạo rực,
ấp ủ một tình yêu đẹp “không thể vì chiến tranh mà gấp gáp Tôi thầm chờ đợi,tôi hướng con tim ra chiến trường Ở đó, sẽ có những người vừa dũng mãnh,vừa từng trải, vừa tinh tế” [29, tr.39] Trong mắt cô, Thà không thể là ngườiyêu lý tưởng được vì: “phàm là đàn ông con trai thì phải mạnh dạn, tự tin trongkhi tiếp xúc với phụ nữ Những ai lóng ngóng trước bọn con gái, tôi liền đánhgiá họ “thiếu đàn ông” [29, tr.35] Cũng ở trong đơn vị, có một cô gái tên Tươiđem lòng yêu Thà, nhưng lại nhút nhát không dám thổ lộ với anh Tình yêu củaTươi được Dạ Ngân miêu tả thông qua cử chỉ thẹn thùng, vẻ e ngại mỗi khi nóichuyện với Thà: “Tươi bước theo Thà, một thoáng, đôi mắt cô lấp lánh, gươngmặt đầy mụn ửng hồng Nó còn đặc biệt vui sướng khi được “cặp bồ” với anhtrong một ván Tulơkhơ Những lúc đó nó gửi tới Thà ánh mắt tin yêu và nhữngcâu trao đổi bằng cái giọng âu yếm không cần che giấu” [29, tr.43] Dạ Ngânrất chú trọng chọn lựa những chi tiết đắt nhất để vẽ lên cái thần thái, cái đẹpcũng như khắc họa sâu đậm tâm trạng của từng nhân vật Đối với nhân vậtTươi, Dạ Ngân chú ý miêu tả ánh mắt, đôi mắt Đôi mắt ấy chứa đựng niềmhạnh phúc khi được ở gần người đàn ông mình đem lòng cảm mến Ngoài việc
Trang 40sử dụng nghệ thuật miêu tả ngoại hình và hành động nhân vật, Dạ Ngân cònchú ý cách xây dựng tình huống truyện Không như tiểu thuyết, truyện ngắnthường tập trung vào một tình huống/ tình thế, một chủ đề tư tưởng nhất định.
Là cây bút già dặn trong nghệ thuật viết truyện ngắn, Dạ Ngân thường chọncho mình một cách xây dựng tình huống truyện chứa đựng những dấu ấn sángtạo riêng Trong một cuộc càn quét của địch vào căn cứ, Thà đã bị trọngthương khi dũng cảm cứu mọi người, trong đó có má của Phụng Lúc anh nằmviện, Phụng đã tìm đến thăm, nhìn ngắm “vầng trán xanh xao của anh”, nhìnngắm “cánh tay anh” và cô bắt gặp “những quầng nước nho nhỏ đang thấmdần vào bông băng” [29, tr.48] Trước hoàn cảnh đó đã ít nhiều đọng lại trong
cô một tình yêu trắc ẩn, để rồi cô thì thào với Thà: “Em sẽ nuôi anh suốt đời”[29, tr.48] Khi nghe lời đề nghị của Phụng, Thà chỉ “khẽ nhếch môi cười” [29,tr.48] Nụ cười ấy dường như khiến Phụng run người Anh biết Phụng nói ra lờinói trên chỉ vì “nghĩa vụ, sự tự giác trả ơn, sự thương hại hay gì gì nữa” [29,tr.48] trước tình cảnh đau thương của mình Cái anh cần không phải là sựthương hại, cái anh cần là tình yêu chân thành Để rồi, nhân duyên không bén,Thà có được cuộc sống hạnh phúc bên Tươi Phụng cũng có gia đình riêng, chịthường ngắm cái ngôi nhà có niềm hạnh phúc vững vàng ấy, rồi lại ngẫm đếnngôi nhà của mình: “ngôi nhà giống như nhà của họ và của nhiều người khác ởchỗ nó lịch sự nhờ bàn tay tháo vát, vén khéo của chủ nhân nhưng nó khác ở
độ nồng ấm bên trong nó” [29, tr.48] Điều duy nhất an ủi chị lúc này là “họđang hạnh phúc, những bạn bè một thời gian khổ của tôi” [29, tr.48] Thôngqua người kể chuyện nhân vật “Tôi”, Dạ Ngân đã phản ánh sâu sắc tâm tư, tìnhcảm của con người trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt Dù nguy hiểm luôn rìnhrập, nhưng trong họ luôn khát khao, tìm kiếm hạnh phúc đích thực của mình
Trong quan niệm của Dạ Ngân, người phụ nữ luôn là sự kết tinh của mọi
vẻ đẹp Khi xây dựng nhân vật nữ, có khi nhà văn miêu tả trực tiếp, có khi gián