1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Truyện ngắn các nhà văn nữ đương đại tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại

170 431 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu đặc trưng thể loại của truyện ngắn nữ đương đại sẽ tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi đó, đồng thời sẽ làm sáng rõ đóng góp của các sáng tác nữ vào sự vận động và biến đổi của thể

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

_

PHẠM THỊ THANH PHƯỢNG

TRUYỆN NGẮN CÁC NHÀ VĂN NỮ ĐƯƠNG ĐẠI-

TƯ DUY NGHỆ THUẬT VÀ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

_

PHẠM THỊ THANH PHƯỢNG

TRUYỆN NGẮN CÁC NHÀ VĂN NỮ ĐƯƠNG ĐẠI-

TƯ DUY NGHỆ THUẬT VÀ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI

Chuyên ngành: Lý luận Văn học

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC Người hướng dẫn khoa học : PGS TS ĐOÀN ĐỨC PHƯƠNG

XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA LUẬN ÁN THEO QUYẾT NGHỊ CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS Đoàn Đức Phương

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN

PGS.TS Phạm Thành Hưng

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

- Luận án Tiến sĩ này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học, chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu của ai khác

- Luận án đã được tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc, cầu thị

- Kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác đã được tiếp thu một cách trung thực, cẩn trọng trong luận án

NGHIÊN CỨU SINH

Phạm Thị Thanh Phƣợng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đoàn Đức Phương- người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn cơ sở đào tạo, các thầy cô giáo, cơ quan, bạn bè

và gia đình đã luôn động viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này

NGHIÊN CỨU SINH

Phạm Thị Thanh Phƣợng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp mới của luận án 4

6 Cấu trúc luận án 4

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Một số vấn đề lí luận về tư duy nghệ thuật 5

1.1.1 Khái niệm tư duy nghệ thuật 5

1.1.2 Đặc trưng của tư duy nghệ thuật 7

1.1.3 Tư duy nghệ thuật theo thể loại văn học 8

1.2 Đặc trưng thể loại truyện ngắn 9

1.2.1 Định nghĩa truyện ngắn 10

1.2.2 Các yếu tố thi pháp đặc trưng 11

1.3 Tình hình nghiên cứu truyện ngắn nữ đương đại Việt Nam 15

1.3.1 Lí giải sự “lên ngôi” của các cây bút nữ 16

1.3.2 Tổng kết, đánh giá thành tựu của các cây bút nữ 18

1.3.3 Tiếp cận văn xuôi nữ dưới góc nhìn phê bình nữ quyền 22

Chương 2 DIỆN MẠO TRUYỆN NGẮN NỮ ĐƯƠNG ĐẠI TRONG SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM THỜI KÌ ĐỔI MỚI 28

2.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa và sự đổi mới văn học 28

2.2 Sự “lên ngôi” và biến đổi của thể loa ̣i truyê ̣n ngắn 32

2.2.1 Vụ “được mùa” và ưu thế cu ̉a thể loại truyê ̣n ngắn 32

2.2.2 Như ̃ng biến đổi của thể loại truyê ̣n ngắn 33

2.3 “Hiện tươ ̣ng” truyê ̣n ngắn nữ đương đa ̣i 39

2.3.1 Truyê ̣n ngắn nữ trước thời kì đổi mới 39

2.3.2 Truyê ̣n ngắn nữ thời kì đổi mới 43

Trang 6

2.3.3 Sự hòa nhịp chung với văn chương nữ thế giới 53

Chương 3 TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI DƯỚI GÓC NHÌN TƯ DUY NGHỆ THUẬT 56

3.1.Quan niệm sáng tác của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại……… 56

3.2 Cảm quan mới về cuộc sống của các nhà văn nữ 59

3.2.1 Hình tượng cuộc sống qua góc nhìn đạo đức, thế sự 59

3.2.2 Yếu tố tự truyện như một phương thức tư duy nghệ thuật đặc thù của phái nữ 66

3.3 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại 69

3.3.1 Hình tượng người phụ nữ 70

3.3.2 Một nửa còn lại của thế giới 76

3.4 Thế giới biểu tượng trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại 80

3.4.1 Con người dị biệt- khát vọng hướng thiện và khát vọng được cứu rỗi 81

3.4.2 Sex- bản năng hay là khát vọng tình yêu 84

3.4.3 Giấc mơ- thế giới tâm linh thẳm sâu của con người 85

3.4.4 Thiên nhiên- dấu vết cổ mẫu và những ẩn dụ về cuộc đời con người 87

3.5 Không gian, thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại 91

3.5.1 Những cặp tương quan không gian tiêu biểu trong truyện ngắn nữ 91

3.5.2 Cảm thức thời gian trong truyện ngắn nữ 96

Chương 4 ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 102

4.1 Người kể chuyện ngôi thứ nhất trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại 102

4.1.1 Các kiểu loại người kể chuyện ngôi thứ nhất trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại 103

4.1.2 Đặc trưng điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ nhất trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại 110

4.2 Nghệ thuật xây dựng tình huống 116

4.2.1 Tình huống giàu kịch tính 117

Trang 7

4.2.2 Tình huống tâm trạng 118

4.2.3 Tình huống tự nhận thức 120

4.3 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện 122

4.3.1 Các loại hình cốt truyện trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại 123

4.3.2 Thủ pháp độc thoại nội tâm và “dòng ý thức” 126

4.3.3 Xây dựng các kiểu kết truyện theo nguyên lí “đồng sáng tạo” 128

4.4 Những sáng tạo về mặt kết cấu 132

4.4.1 Kết cấu đảo lộn thời gian tuyến tính 132

4.4.2 Kết cấu vòng tròn 133

4.4.3 Kết cấu truyện lồng trong truyện 135

4.4.4 Kết cấu liên văn bản 136

4.4.5 Kết cấu lắp ghép, phân mảnh 137

4.5 Ngôn ngữ và giọng điệu 138

4.5.1 Ngôn ngữ đa phong cách 139

4.5.2 Giọng điệu đa sắc thái 143

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC 161

Trang 8

Năm 1986 Đại hội Đảng VI với việc nhấn mạnh “đổi mới tư duy” đã được coi là một cái mốc quan trọng tạo ra bước ngoặt mới cho sự phát triển của văn học Sự năng động của tư duy chính là nhân tố chìa khóa mở ra thành công của công cuộc đổi mới trên mọi lĩnh vực Trong đời sống nghiên cứu, lí luận, phê bình văn học, “tư duy nghệ thuật” cũng trở thành “điểm nóng” Nó được coi là yếu tố căn cốt tạo nên những thành tựu to lớn của văn học thời kì đổi mới Nghiên cứu truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại dưới góc độ tư duy nghệ thuật

sẽ lý giải được sự “lên ngôi” của các cây bút nữ từ chính yếu tố chủ quan- chủ thể sáng tạo nữ Qua đó chúng ta sẽ phần nào tìm ra được đặc điểm “khu biệt” trong tư duy nghệ thuật của truyện ngắn nữ so với truyện ngắn của những cây bút nam

Đa số tác giả nữ xuất hiện và thành công với truyện ngắn- sự lựa chọn thể loại này của họ hẳn không ngẫu nhiên, vô tình Liệu có một mối liên hệ nào đấy giữa giới tính- phái tính nữ với đặc trưng thể loại truyện ngắn, khiến các cây bút

nữ tỏ ra rất “vừa tay” (chữ dùng của Lý Hoài Thu) với thể loại này? Tìm hiểu đặc trưng thể loại của truyện ngắn nữ đương đại sẽ tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi đó, đồng thời sẽ làm sáng rõ đóng góp của các sáng tác nữ vào sự vận động

và biến đổi của thể loại truyện ngắn trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam

Trang 9

Nghiên cứu truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại qua hai góc độ: tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại, chúng tôi hi vọng sẽ khai mở được nhiều giá trị còn tiềm ẩn trong hiện tượng độc đáo này

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích: trên cơ sở so sánh với truyện ngắn nữ giai đoạn trước và

truyện ngắn nam cùng thời, luận án muốn tìm ra chất nữ tính trong bề sâu của tư duy nghệ thuật, tạo nên những nét đặc trưng thể loại của truyện ngắn nữ đương đại- đó chính là những nét “khu biệt” làm nên giá trị, sự “thăng hoa” của truyện ngắn nữ đương đại

2.2 Nhiệm vụ: trước tiên, qua việc tổng hợp tư liệu, luận án sẽ làm sáng

rõ những vấn đề lí luận cơ bản về tư duy nghệ thuật, đặc trưng thể loại truyện ngắn, đồng thời phân tích, đánh giá các xu hướng nghiên cứu truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại từ 1986 đến nay Tiếp theo, luận án sẽ đưa ra một cái nhìn khái quát về “hiện tượng” truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại, đặt nó trong những bối cảnh rộng lớn hơn để soi chiếu: bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, văn học thời kì đổi mới; sự “lên ngôi” và biến đổi của thể loại truyện ngắn; sự vận động của truyện ngắn- văn xuôi nữ Việt Nam từ trung đại đến đương đại; sự

“bùng nổ” của văn chương nữ thế giới đương đại Nhiệm vụ trọng tâm của luận

án được xác định trong hai nhiệm vụ tiếp theo: thứ nhất, từ việc tìm hiểu quan niệm sáng tác của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại, luận án sẽ chỉ ra chất “nữ tính” trong bề sâu của tư duy nghệ thuật truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại (được khảo sát qua bốn phương diện: hình tượng cuộc sống, thế giới nhân vật, thế giới biểu tượng và không- thời gian nghệ thuật); thứ hai, qua việc phân tích các yếu tố cơ bản nhất làm nên đặc trưng thể loại truyện ngắn trong truyện ngắn

nữ Việt Nam đương đại: người kể chuyện ngôi thứ nhất, nghệ thuật xây dựng tình huống, nghệ thuật tổ chức cốt truyện, những sáng tạo về mặt kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu, luận án muốn khẳng định đóng góp to lớn của các nhà văn nữ trong việc cách tân hình thức thể loại truyện ngắn

Trang 10

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: các phương diện biểu hiện của tư duy nghệ thuật và các yếu

tố làm nên đặc trưng thể loại trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại

- Phạm vi: khái niệm “đương đại” được chúng tôi lựa chọn từ thời điểm năm 1986- năm diễn ra Đại hội Đảng VI, đánh dấu mốc thời kì văn học đổi mới- đến nay, do đó phạm vi nghiên cứu của luận án là các truyện ngắn của các tác giả nữ Việt Nam từ 1986 đến nay, tập trung vào những tác phẩm đăng trên các tuyển tập truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại và những tác phẩm tiêu biểu của các tác giả tiêu biểu (Lê Minh Khuê, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy…)

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận án, ngoài phương pháp phân tích, tổng hợp, chúng tôi kết hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau:

- Phương pháp lịch sử- xã hội: nhằm tìm ra những tác động của hoàn cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam thời kì đổi mới đến sự phát triển của truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại, đồng thời đặt truyện ngắn nữ trong các tiến trình lịch sử khác nhau (tiến trình văn học dân tộc, thể loại,…) để đánh giá chính xác, khoa học đặc điểm, đóng góp của hiện tượng này

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: để phân tích yếu tố “hình thức mang tính quan niệm” (không gian- thời gian nghệ thuật) trong truyện ngắn nữ đương đại

- Phương pháp loại hình: bao quát đặc trưng thể loại truyện ngắn từ các phương diện biểu hiện cụ thể trong truyện ngắn nữ đương đại

- Phương pháp so sánh: được sử dụng thường xuyên trong sự liên hệ với truyện ngắn nữ các giai đoạn trước và truyện ngắn của các tác giả nam cùng thời

để tìm ra nét đặc trưng của truyện ngắn nữ đương đại

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn học với văn hóa, tâm lí học): những mã văn hóa sẽ được vận dụng để tìm hiểu biểu tượng trong truyện ngắn

Trang 11

nữ đương đại, còn những lí thuyết về tâm lí giới tính sẽ giúp giải mã những biểu hiện của “bản tính nữ” trong truyện ngắn nữ đương đại

- Phương pháp tiểu sử: được sử dụng khi tìm hiểu yếu tố tự thuật như một phương thức tư duy nghệ thuật đặc thù của phái nữ

Ngoài ra, trong luận án có tiếp cận phương pháp từ lí thuyết phê bình nữ quyền

5 Đóng góp mới của luận án

- Qua việc tìm hiểu truyện ngắn nữ đương đại từ góc độ tư duy nghệ thuật

và đặc trưng thể loại, luận án bổ sung một cách nhìn, một cách đánh giá về một giai đoạn văn học dân tộc đang còn tiếp tục vận động và phát triển- giai đoạn văn học Việt Nam sau 1975

- Luận án cũng làm sáng tỏ, cụ thể hóa những lý thuyết về tư duy nghệ thuật và về cấu trúc thể loại văn học qua một trường hợp tiêu biểu, độc đáo là truyện ngắn nữ đương đại

6 Cấu trúc luận án

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Diện mạo truyện ngắn nữ đương đại trong sự vận động của truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới

Chương 3: Truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật

Chương 4: Đặc trưng thể loại truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Một số vấn đề lí luận về tư duy nghệ thuật

1.1.1 Khái niệm tư duy nghệ thuật

Các nhà nghiên cứu văn học đều thống nhất nhận định rằng: công cuộc đổi mới là trung tâm của dòng chảy văn chương Việt Nam đương đại Bắt đầu từ cái mốc này (năm 1986), diễn trình văn học nước ta có sự “gia tốc” mạnh mẽ với những biến chuyển lớn lao trên tất cả các phương diện (sáng tác, lí luận- phê bình ) Cũng bắt đầu từ thời điểm này, với yêu cầu của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương khóa VI (thể hiện qua Nghị quyết 05) là “đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm” trong văn nghệ, vấn đề “tư duy nghệ thuật- tư duy văn học” đã trở thành một đối tượng cần được nghiên cứu Những ghi nhận nhanh

nhạy của các nhà lí luận- phê bình văn học: Mấy ghi nhận về sự đổi mới của tư

duy nghệ thuật và hình tượng con người trong văn học ta thập kỷ qua- Trần Đình

Sử (1986) [78], Đôi nét về một tư duy văn học mới đang hình thành- Nguyên Ngọc (1990) [58], Đổi mới tư duy văn học và đóng góp của một số cây bút văn

xuôi- Mai Hương (2006) [35] chứng tỏ vai trò “hạt nhân” của tư duy nghệ

thuật đối với sự đổi mới văn học Tuy nhiên, việc xuất phát từ những kiến thức lí luận để tường minh khái niệm, đặc trưng, các phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật trước khi đi vào những biểu hiện cụ thể của nó dường như chưa được chú trọng trong các bài viết trên

Theo Từ điển tiếng Việt, tư duy là “giai đoạn cao của quá trình nhận thức,

đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí” [67, tr.1070] Trong các giáo trình triết học, theo quan điểm phép biện chứng duy vật của triết học Mác- Lênin, thuật ngữ “tư duy” xuất hiện gắn liền với thuật ngữ “tư duy trừu tượng” trong sự khái quát con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn- đó

Trang 13

là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [12, tr.114] Với tư cách là một khâu trong quá trình nhận thức, tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính) là giai đoạn cao hơn (so với giai đoạn nhận thức cảm tính) của quá trình nhận thức “Đó là sự phản ánh gián tiếp, trừu tượng

và khái quát những thuộc tính, những đặc điểm bản chất của sự vật, hiện tượng khách quan Đây là giai đoạn nhận thức thực hiện chức năng quan trọng nhất là tách ra và nắm lấy cái bản chất, có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng ( ) được thực hiện thông qua ba hình thức cơ bản là: khái niệm, phán đoán và suy lý” [12, tr.117] Như vậy, qua hai định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra những khía cạnh mang tính bản chất của khái niệm “tư duy”: đó là hoạt động nhận thức

lí tính của con người; mục đích là nhận thức và phản ánh thế giới khách quan; đặc trưng là phản ánh, truy tìm các mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, của con người đối với thế giới khách quan, con người với con người, từ đó rút ra tri thức mới về sự vật, hiện tượng Dựa trên các tiêu chí khác nhau chúng ta có thể

có nhiều cách phân loại tư duy Tuy nhiên, theo chúng tôi, cách phân loại căn cứ vào các tập hợp của hình thái ý thức xã hội như tác giả Nguyễn Bá Thành là khá hợp lý Theo đó, tư duy có thể được phân loại thành các nhóm lớn sau đây: tư duy khoa học, tư duy tôn giáo và tư duy nghệ thuật (xin xem thêm phần “Phân loại tư duy theo phương pháp” [86, tr.21])

Trong các sách giáo trình Lí luận văn học ([25],[50]), thay vì việc đưa ra

một định nghĩa về tư duy nghệ thuật các tác giả thường chỉ trình bày những đặc trưng của nó Thiết nghĩ việc định hình khái niệm này bằng một định nghĩa (dẫu không thể toàn vẹn về nó) là một việc làm cần thiết để từ đó chúng ta đi sâu phân tích các khía cạnh đặc thù của kiểu tư duy này Chúng tôi đồng thuận với quan điểm của tác giả Nguyễn Bá Thành khi ông dùng thuật ngữ “tư duy nghệ thuật”

để chỉ phương thức tư duy sáng tác trong các ngành nghệ thuật như văn học, hội họa, âm nhạc, điêu khắc Và theo đó, tư duy nghệ thuật có thể được định nghĩa

“là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan” [86, tr.54]

Trang 14

1.1.2 Đặc trưng của tư duy nghệ thuật

Về bản chất, tư duy nghệ thuật cũng là một hoạt động nhận thức hiện thực cuộc sống của người nghệ sĩ Nhưng khác với tư duy khoa học lấy tư duy lôgic làm nòng cốt, kiểu tư duy đặc thù của nghệ thuật là tư duy hình tượng Trong sự đối sánh hai kiểu tư duy này (lôgic và hình tượng), chúng ta có thể rút ra được những nét đặc trưng của tư duy nghệ thuật

Tư duy lôgic là quá trình thâm nhập vào bản chất của đối tượng để tìm ra bản chất và quy luật nội tại của chúng Trong quá trình tư duy lôgic, những cái ngẫu nhiên, cá biệt từng bước bị gạt bỏ để nắm bắt cái cốt lõi, cái phổ quát, cái chung của các lớp sự vật, hiện tượng Sự trừu tượng hóa trong tư duy lôgic là quá trình phản ánh thế giới bằng các khái niệm, phán đoán, công thức, mô hình Trong khi đó, tư duy hình tượng lại phản ánh cái chung qua cái cụ thể mang tính đại diện, mang tính quy luật- sự khái quát hóa không rời bỏ mà gắn liền, thể hiện qua cái cá thể, các biểu tượng trực quan Ở đây cần nhấn mạnh là cái cụ thể, cá thể trong tư duy nghệ thuật không phải là sự nhận thức mang tính cảm tính đơn thuần mà nó đã có sự lựa chọn, liên tưởng, là kết quả của một quá trình tổng hợp Mặt khác sự khái quát nghệ thuật để nắm bắt bản chất đối tượng không đồng nhất với sự khái quát của khoa học bởi nhận thức thực tại trong khoa học tương đối thống nhất, còn trong nghệ thuật thì vô cùng phong phú và đa dạng, có khi trái ngược nhau bởi nó chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan, nhân sinh quan và trình độ văn hóa của người sáng tạo

Nếu tư duy khoa học mang tính khách quan thì trong tư duy nghệ thuật tính chất chủ quan lại được thể hiện đậm nét Nghệ thuật không chỉ phản ánh quy luật của đời sống mà còn phản ánh cách đánh giá thẩm mĩ về đời sống – nó bao hàm thái độ của nghệ sĩ đối với hiện thực được tái hiện Yếu tố tình cảm và lí tưởng xã hội trong tư duy nghệ thuật khiến cho nó mang tính biểu hiện cao, thể hiện được thế giới tinh thần phong phú, đa dạng của con người trong mối quan

hệ với thế giới xung quanh Bên cạnh đó, sự thể nghiệm và hư cấu trong tư duy nghệ thuật cũng góp phần tạo ra nét đặc trưng của nhận thức nghệ thuật Sự

Trang 15

“hình tượng hóa hiện thực khách quan” trong tư duy nghệ thuật không đơn giản

là bằng những hình tượng nghe- nhìn mà chủ yếu là trên cơ sở những hình tượng tưởng tượng Quá trình tư duy nghệ thuật với sự tham gia tích cực của cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ đã tạo ra những hình tượng nghệ thuật độc đáo, giàu sức biểu cảm biểu hiện, mang tầm khái quát lớn lao, có sức sống lâu bền trong

sự tiếp nhận của người thưởng thức

Tư duy nghệ thuật đòi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật làm “hiện thực trực tiếp” cho nó “Ngôn ngữ đó là hệ thống các kí hiệu nghệ thuật, các hình tượng, các phương tiện tạo hình và biểu hiện” [27, tr.325] Sự vận động của ngôn ngữ nghệ thuật là biểu hiện trực tiếp của quá trình tư duy Thứ ngôn ngữ ấy (của các ngành nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, văn học, ) “dường như đã thoát khỏi thứ ngôn ngữ thường ngày mà vươn tới một hệ thống kí hiệu thẩm mĩ riêng biệt” [86, tr.56] Vì thế tư duy nghệ thuật đã phản ánh trình độ tư duy trừu tượng và khái quát ở giai đoạn cao

1.1.3 Tư duy nghệ thuật theo thể loại văn học

Trước hết, cần nhìn nhận lại đối tượng nhận thức của văn học, bởi chúng

ta đã chỉ ra rạch ròi sự khác nhau giữa tư duy nghệ thuật và tư duy khoa học (ở tính hư cấu, lí tưởng thẩm mĩ về cuộc sống và tình cảm chủ quan của người nghệ sĩ) Nếu cùng mang bản chất là hoạt động nhận thức thế giới khách quan, cùng nhận thức một đối tượng, tại sao nhận thức khoa học không chấp nhận những đặc trưng của tư duy nghệ thuật (trong đó có tư duy văn học) như chúng ta đã chỉ

ra ở trên? Giải thích điều này bằng việc chỉ ra đối tượng đặc thù của văn học:

“Văn học như là tư duy về cái khả nhiên” [82], ý kiến của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử là những gợi ý rất xác đáng giúp ta giải thích được cơ chế nội tại của tư duy văn học Theo ông thì “tư duy chẳng phải gì khác, mà là hành động xuyên qua hiện thực để tiến đến các khả năng bị che giấu trong đó” “Cái khả năng” có thể gọi cách khác là “cái khả nhiên”- “cái có thể như thế” “Hiện thực tồn tại trong dạng cái dĩ nhiên (cái đã có như vậy rồi) và “cái tất nhiên” (cái bắt buộc phải có theo qui luật tất yếu) Chỉ có trong văn học là có cái khả nhiên do nhà

Trang 16

văn sáng tạo dựa trên cái khả năng của cuộc sống mà nhà văn phát hiện ra ( ) Cái khả nhiên không phải là sự bịa đặt tùy tiện mà là sản phẩm sáng tạo trên cơ

sở cái khả năng mang ý nghĩa nhân sinh” [82, tr.10] Với đối tượng đặc thù ấy (cái khả nhiên), chúng ta không thể kiểm nghiệm tính chân thật của văn học bằng hiện thực, thực tiễn mà chỉ có thể kiểm nghiệm bằng kinh nghiệm, cảm giác, sự suy luận, ước muốn và tình cảm

Nói đến tư duy văn học là nói đến kiểu tư duy nghệ thuật ngôn từ Ở phần trên chúng ta đã nói thứ ngôn ngữ làm “hiện thực trực tiếp” cho tư duy nghệ thuật “là hệ thống các kí hiệu nghệ thuật, các hình tượng, các phương tiện tạo hình và biểu hiện” Trong văn học, mỗi thể loại có một phương thức biểu hiện đặc trưng để tiếp cận, nhận thức đối tượng đặc thù của mình (ví dụ trong thơ là

sự thể hiện cảm xúc của nhân vật trữ tình, là vần điệu, nhịp điệu; trong thể loại

tự sự là cốt truyện, nhân vật; trong kịch là xung đột, ngôn ngữ và hành động của nhân vật; ) Do đó, xét về nội dung, đặc điểm, chất liệu của các hình tượng- công cụ của tư duy nghệ thuật, chúng ta có thể phân loại tư duy văn học theo thể loại (ví dụ tư duy thơ, tư duy tiểu thuyết, tư duy kịch, ) Tuy nhiên, trong đời sống nghiên cứu, lí luận, phê bình văn học, tư duy nghệ thuật theo thể loại văn học không chỉ dừng lại ở nghĩa hẹp của nó là tư duy văn học trong một thể loại

cụ thể mà nó được mở rộng nghĩa, được dùng như một khái niệm chỉ hệ hình tư duy (ví dụ “tư duy sử thi” và “tư duy tiểu thuyết”)

Tìm hiểu tư duy nghệ thuật trong truyện ngắn nữ đương đại Việt Nam, bên cạnh việc chỉ ra những đặc điểm mang tính đặc trưng được thể hiện qua hệ thống các hình tượng nghệ thuật, chúng tôi còn muốn tìm ra sự cộng hưởng của các loại tư duy theo thể loại văn học trong tác phẩm của các nhà văn nữ

1.2 Đặc trƣng thể loại truyện ngắn

Trong thực tiễn đời sống văn học, khi tổng kết một giai đoạn, một thời kì, truyện ngắn với tư cách một thể loại bao giờ cũng được nhắc đến với một vị trí

tiêu biểu làm nên diện mạo một nền văn học (Quá trình văn học đương đại nhìn

từ phương diện thể loại- Vũ Tuấn Anh [2], Sự vận động của các thể loại văn

Trang 17

xuôi trong văn học thời kỳ đổi mới- Lý Hoài Thu [92], Đời sống thể loại văn học sau 1975- Trần Ngọc Dung [19], ) Tuy nhiên trên phương diện lí luận, sự tồn

tại của truyện ngắn với tư cách là một thể loại độc lập không phải đã được định danh một cách thống nhất Biểu hiện rõ nhất cho vấn đề này là trong giáo trình

Lí luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên [25], phần nói về “Loại thể văn học”,

thể loại truyện ngắn đã không được đề cập với tư cách là một thể loại “quan trọng thường bắt gặp trong quá trình nghiên cứu và thưởng thức văn học” (với mục đích “hiểu sâu đặc điểm của một số thể loại văn học chính, từ đó có thể mở rộng sự bàn luận ra các thể loại văn học khác” [25, tr.164], các tác giả chỉ đề cập đến bốn thể loại: thơ, tiểu thuyết, kịch, các thể kí văn học) Trong chuyên luận

Truyện ngắn- những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại, tác giả Bùi Việt

Thắng cũng khẳng định: “Truyện ngắn được quan niệm là một bộ phận của tiểu thuyết, vì thế trên nguyên tắc không có lí thuyết riêng cho truyện ngắn, lí thuyết của nó dựa vào lí thuyết của tiểu thuyết” [91, tr.61] Nhận diện thể loại truyện ngắn là một nỗ lực liên tục của cả người sáng tác và giới nghiên cứu lí luận Thiết nghĩ, nguyên tắc về tính lịch sử, tính thời đại, tính dân tộc và tính biến đổi của thể loại luôn luôn là những nguyên tắc khoa học giúp ta có những nhận định đúng đắn khi nghiên cứu về bất cứ thể loại văn học nào Mặc dù có nhiều quan điểm về sự ra đời cũng như khái niệm truyện ngắn, nhưng chúng tôi lựa chọn phạm vi là “truyện ngắn hiện đại” (trong sự đối sánh với “truyện ngắn trung đại”, và có thể là “truyện ngắn cổ đại” như sự phân chia các giai đoạn phát triển thể loại truyện ngắn của một số nhà nghiên cứu) để làm điểm tựa lựa chọn các vấn đề lý thuyết nhằm xác lập nội hàm khái niệm thể loại này

1.2.1 Định nghĩa truyện ngắn

Định nghĩa truyện ngắn được hiện hữu trong các sách lí luận, từ điển về văn học, trong các ý kiến bàn luận của chính những người sáng tác (Pautôpxki, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Kiên, Nguyên Ngọc, ) Nó phong phú, đa dạng đến mức có nhiều ý kiến cho rằng không thể và không nên định nghĩa truyện ngắn, bởi đó là thể loại “nghìn mặt”, thể loại “không thể nắm bắt” (trích theo

Trang 18

[92, tr.40]) Về nguyên tắc, chúng tôi tán đồng với quan điểm của Lê Huy Bắc khi ông cho rằng: “truyện ngắn không thể lệ thuộc vào tiểu thuyết về mặt kĩ thuật, phản ánh Nên những định nghĩa về truyện ngắn cần phải xuất phát từ chính đặc trưng của thể loại” [9, tr.89] Theo chúng tôi, cách định nghĩa truyện

ngắn của Phan Cự Đệ [96, tr.782] là bao gồm một hệ thống đặc điểm nhằm phản

ánh những đặc trưng về nội dung và hình thức thể loại là khá hợp lí Theo đó, nội hàm khái niệm thể loại truyện ngắn thể hiện ở những đặc điểm sau:

Tất nhiên trên đây chỉ là những đặc điểm cơ bản mang tính khái quát nhất

về thể loại truyện ngắn Trong quá trình phát triển, truyện ngắn sẽ thâu nạp thêm những đặc điểm mới do sự tác động của những thay đổi trong lịch sử xã hội và trong chính đời sống nội tại của nền văn học Nội hàm khái niệm truyện ngắn sẽ được soi rọi rõ hơn qua các yếu tố thi pháp đặc trưng của thể loại

1.2.2 Các yếu tố thi pháp đặc trưng

Thuộc loại hình tự sự nên về mặt lí thuyết, trước hết truyện ngắn phải mang những đặc trưng cốt lõi của loại hình này (trong sự phân biệt với loại hình trữ tình, kịch) Đó là “phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố

và hành vi con người làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về một cái gì đó Cho nên tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện Gắn liền với cốt truyện là một hệ thống nhân vật được khắc họa đầy đủ nhiều mặt hơn hẳn nhân vật trữ tình và kịch ( ) Nguyên tắc phản ánh hiện thực trong tính khách quan đã đặt trần thuật vào vị trí của nhân tố tổ chức ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm tự sự, đòi hỏi nhà văn phải sáng tạo ra hình tượng người trần thuật”

Trang 19

(mục từ “Tự sự” trong Từ điển thuật ngữ văn học [27, tr.328]) Trong sự “cạnh

tranh” với các thể loại khác cùng thuộc loại hình tự sự, muốn khẳng định tính

“độc lập” của mình, truyện ngắn phải “khoanh vùng” những đặc trưng thẩm mĩ riêng biệt Về mặt này, các nhà nghiên cứu tương đối thống nhất khi cho rằng

“ngắn” là nét đặc trưng nhất, quan trọng nhất, tạo nên những quy chuẩn khu biệt thể loại này với các thể loại lân cận Sự so sánh với tiểu thuyết là thao tác thường xuyên được tiến hành khi “nhận dạng” truyện ngắn Vấn đề đặt ra là, sự khác biệt giữa hai thể loại này là về cấp độ (degree) hay về chủng loại (kind)?

Theo sự thu nhận của chúng tôi, sự khác nhau giữa truyện ngắn và tiểu thuyết không phải nằm ở dung lượng dài- ngắn, mà ở đặc trưng của nguyên tắc phản ánh Như ở phần định nghĩa đã nêu, truyện ngắn là một hình thức hư cấu tự

sự cỡ nhỏ, trong khi tiểu thuyết là hình thức hư cấu tự sự cỡ lớn Cả hai đều nằm trong khu vực tiếp xúc trực tiếp với cái hiện thực đang vận động và phát triển, đều huy động kinh nghiệm sống và từng trải của chính tác giả, đều sử dụng một thứ ngôn ngữ văn xuôi giàu chất tạo hình và đa thanh, nhưng nếu tiểu thuyết mở rộng biên độ phản ánh, việc thiết lập thường phong phú, đa diện thì truyện ngắn chọn lấy một nút thắt, đi thẳng vào trung tâm xung đột (có thể là xung đột xã hội hoặc xung đột tâm lý), từ đó bung ra, đập mạnh vào ấn tượng người đọc “Nó cắt

ra một mảnh nhỏ của hiện thực, đặt mảnh ấy vào trong những giới hạn nào đó, nhưng nhờ vậy tác phẩm sẽ bung ra như một cú nổ làm mở toang một hiện thực rộng lớn hơn rất nhiều” (Julio Cotázar, trích theo [41]) Điều đó có nghĩa là, truyện ngắn dĩ nhiên phải ngắn, nhưng không phải là một chương của tiểu thuyết, một cái sườn truyện từ đó có thể phát triển ra thành tiểu thuyết, mà thực

sự như một bài hai-kư “một sự tình vắn tắt đã tìm được hình thức vừa vặn với

mình” (Roland Barthes) Với nguyên tắc “tinh lọc”, “nén gọn”, thể loại truyện

ngắn dung nạp một hệ thống thi pháp đặc trưng để tạo nên hiệu quả riêng biệt của mình

Trang 20

1.2.2.1 Tình huống truyện ngắn

Có ý kiến cho rằng đây là hạt nhân của cấu trúc thể loại truyện ngắn (Chu Văn Sơn [76]) Xuất phát từ những trang viết của Hêghen về tình huống trong

tác phẩm Mỹ học, nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng đã rút ra những kết luận chính

để giúp chúng ta hiểu về tình huống [91, tr.96]:

- Tình huống là một trạng thái có tính chất riêng biệt

cơ thể con người cũng như trên cơ thể cuộc sống, có những huyệt, điểm vào đó,

có thể làm rung động toàn thể Truyện ngắn nhằm vào đó Truyện ngắn điểm

huyệt hiện thực bằng cách nắm bắt trúng những tình huống cho phép phơi bày

cái chủ yếu nhưng lại bị che giấu trong muôn mặt cuộc sống hàng ngày Nhìn chung, mỗi truyện ngắn bao giờ cũng được xây dựng trên một tình huống, khai thác tình huống ấy” [23, tr.355]

Có nhiều cách phân loại tình huống Dựa theo kiểu nhân vật chính trong tác phẩm chúng ta có thể phân thành ba dạng cơ bản: tình huống giàu kịch tính, tình huống tâm trạng và tình huống tự nhận thức

1.2.2.2 Cốt truyện truyện ngắn

Như ở trên đã đề cập, về mặt lí thuyết, khi thuộc loại hình tự sự thì truyện ngắn bao giờ cũng là một câu chuyện về ai đó hay về một cái gì đó Cho nên tác phẩm truyện ngắn bao giờ cũng có cốt truyện Đó là “một hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến của cuộc sống và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan

Trang 21

hệ qua lại của chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề và tư tưởng tác phẩm” [25; 137] Tuy nhiên, quan niệm về đặc điểm cốt truyện trong truyện ngắn mang tính lịch

sử chứ không phải là một “công thức đóng khung” bất biến theo thời gian Theo trường phái “cổ điển” mà tiêu biểu là quan niệm của Edgar Poe (thế kỉ XIX) về tính “hiệu quả duy nhất” trong truyện ngắn thì cốt truyện truyện ngắn phải hết sức chặt chẽ với sự phát triển giàu kịch tính của các sự kiện và đặc biệt phải chú trọng tạo ra những cái kết bất ngờ (có thể kể đại diện xuất sắc cho những sáng tác cốt truyện “kinh điển” kiểu này là O‟Henry ở Mỹ, Môpatxăng ở Pháp, Nguyễn Công Hoan ở Việt Nam, ) Đến nửa sau thế kỉ XX, giới lí luận phê bình

và cả những người sáng tác lại phản ứng khá gay gắt với quan niệm “kịch hóa” cốt truyện như thế Họ khẳng định những phẩm chất mới của cốt truyện, dùng những cốt truyện không có kịch tính nhưng được trình diễn bằng một lối kể tinh xảo để thay thế cho những cốt truyện giàu kịch tính- cái mà tác phẩm đó phản ánh là suy nghĩ, cảm giác, diễn biến nội tâm của con người chứ không phải tính cách nhân vật hay những xung đột xã hội Nhưng dù nằm trong ô phân loại nào (cốt truyện sự kiện, cốt truyện tâm lí hay sự hỗn hợp sự kiện- tâm lí) thì với đặc trưng là ngắn gọn, muốn tạo được sự “dồn nén” trong dung lượng- khả năng phản ánh hiện thực, muốn gây được dư âm cộng hưởng trong nhận thức của người đọc, cốt truyện truyện ngắn phải đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng chi tiết và đoạn kết Đó là những yếu tố quan trọng góp phần tạo ra khả năng “bùng nổ” của hình thức hư cấu tự sự cỡ nhỏ này

Trang 22

- Cấp độ trần thuật (tổ chức điểm nhìn, bố cục, các thành phần của trần thuật…)

Đặc trưng “hình thức hư cấu tự sự cỡ nhỏ” khiến việc sáng tác truyện ngắn được liên tưởng đến việc thực hiện một tác phẩm thủ công mĩ nghệ đòi hỏi

sự tinh xảo, chính xác cao: “Gọt giũa một văn bản ngắn, làm cho nó tròn trịa, toàn bích trong phạm vi vài trang giấy là một thú vui lớn, đồng thời đòi hỏi người viết phải có nghệ thuật cao Viết một truyện ngắn, giống như sáng tác một tác phẩm nghệ thuật nhỏ, nhưng tinh xảo, cần phải hết sức chú ý và thận trọng, ( ) tạo cho người đọc có cảm giác rằng những điều ta nói ra không thể nói khác được” (Régine Deforges- trích theo [92, tr.60]) Như vậy, để mỗi một yếu tố đạt được hiệu quả nghệ thuật cao nhất trong khuôn khổ một giới hạn “kích cỡ” tự sự nhỏ bé, vai trò của việc “bày binh bố trận”, sắp xếp vị trí, tạo ra các mối liên hệ giữa các yếu tố một cách lôgic, hợp lí, nghệ thuật là vô cùng quan trọng

Sự biến hóa năng động của thể loại truyện ngắn khiến chúng ta thật khó có thể liệt kê tất cả các dạng kết cấu của nó Trong đời sống thể loại tự sự, tồn tại phổ biến một số kiểu kết cấu như: kết cấu theo trình tự thời gian, kết cấu tâm lí, kết cấu vòng tròn, kết cấu mở, kết cấu lồng ghép, kết cấu phân mảnh

1.3 Tình hình nghiên cứu truyện ngắn nữ đương đại Việt Nam

Từ năm 1986, bắt đầu từ một vài tên tuổi “gây hấn”, và liên tiếp các gương mặt đạt danh hiệu “thủ khoa” trong các cuộc thi truyện ngắn trên tạp chí

Văn nghệ quân đội, báo Văn nghệ, sáng tác của các nhà văn nữ trong suốt thập

kỉ 90 và cho đến ngày nay đã trở thành một “hiện tượng” trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam Điều đặc biệt là “sự trỗi dậy” của phái đẹp trong sáng tác văn học lại “bén duyên” và gắn bó bền chặt với thể loại truyện ngắn Với những thành tựu không thể phủ nhận trên cả phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật, truyện ngắn nữ đương đại đã có đóng góp không nhỏ cho sự vận động, biến đổi của thể loại truyện ngắn nói riêng và nền văn xuôi đương đại nói chung Sức hấp dẫn của một “sắc diện” mới, một “giới tính” đã từng bị “lấn lướt” trong đời sống sáng tác văn chương (ở thể loại văn xuôi) đã đem lại nhiều “hứng khởi”

Trang 23

cho giới nghiên cứu, lí luận và phê bình văn học Không kể những bài viết về các tác giả nữ cụ thể ngay khi họ vừa xuất hiện và tạo tiếng vang trên văn đàn, ngay

từ đầu những năm 90 cho đến những năm đầu thế kỉ XXI, liên tiếp xuất hiện những bài viết tổng kết về thành tựu của văn xuôi nữ (trong đó có truyện ngắn nữ) Giới nữ “đăng đàn” và thành công vang dội đã tạo ra một niềm tin đầy hân hoan vào tương lai nền văn học nước nhà cho các nhà thẩm định văn chương Bên cạnh xu hướng “tổng kết”, “đánh giá” thành tựu đó, từ năm 2005, truyện ngắn nữ nói riêng và văn xuôi nữ nói chung được soi rọi ở những khía cạnh cụ thể hơn về nội dung và nghệ thuật, dựa trên những lí thuyết lí luận phê bình hiện đại phương Tây Trong phạm vi khảo sát của chúng tôi, nghiên cứu về truyện ngắn nữ (có thể lồng trong “văn xuôi nữ”), có một số khuynh hướng chính như sau:

1.3.1 Lí giải sự “lên ngôi” của các cây bút nữ

Như một lẽ tự nhiên, khi phụ nữ bỗng trở nên xuất sắc ở một lĩnh vực nào

đó, mọi người đều đổ dồn đi tìm nguyên nhân Năm 1993, trong bài viết Văn

chương nữ giới- một cách thế hiện diện ở đời [70, tr.132], Huỳnh Như Phương

đã lí giải rằng: “Nhìn dọc suốt thế kỷ XX này, rõ ràng là tầm nhìn của người phụ

nữ trong sáng tác văn học, cũng như cõi lòng của họ biểu hiện trong thơ văn ngày càng mở rộng hơn với tất cả các chiều kích của nó” [70, tr.135], và theo ông, đối với người phụ nữ, “làm văn chương là một cách thế hiện diện trong xã hội”, bởi qua văn chương, “người phụ nữ không muốn để cho nam giới độc quyền kết luận về ý nghĩa cuộc đời này, độc quyền đau khổ trước những bi kịch

và độc quyền tìm cách ứng phó với những tình huống bi kịch đó” [70, tr.136] Dưới sự kiến giải của tác giả (qua sự so sánh với văn chương nữ giới trong quá khứ), chính sự giành được vai trò tương xứng trong xã hội, mở rộng phạm vi hoạt động xã hội đã giúp người phụ nữ làm chủ văn hóa và nghệ thuật Với những gì văn chương nữ giới đã thể hiện trong thời hiện đại, tác giả bài viết hi vọng rằng “thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của văn hóa nghệ thuật, đồng thời là thế kỷ của phụ nữ”

Trang 24

Năm 1996, trong cuộc trao đổi ý kiến về Phụ nữ và sáng tác văn chương

trên tạp chí Văn học [59], các cây bút phê bình, các nhà văn, nhà thơ đã rất cởi

mở nói lên suy nghĩ của mình về mặt mạnh và mặt yếu của người phụ nữ với tư cách là một chủ thể sáng tác, từ đó chỉ ra những nguyên nhân khiến cho văn xuôi

nữ phát triển nổi trội trong thời gian vừa qua Nói về mặt mạnh của các cây bút

nữ, Vương Trí Nhàn cho rằng “hình như do sự nhạy cảm riêng của mình, phụ nữ bắt mạch thời đại nhanh hơn nam giới”, còn Văn Tâm thì đề cao sự đóng góp

“một cái mảng khá bí ẩn là tâm hồn họ” Cùng chung quan điểm ấy của Văn Tâm, Đặng Anh Đào cũng nhấn mạnh đến đặc điểm “họ đưa tất cả cuộc đời và tâm hồn họ vào trang sách hoặc nói như phương Tây, người ta vẫn nói, họ tự ăn mình” Bà đặc biệt khâm phục các cây bút nữ đương thời bởi bà nhận thấy rằng

“mình không bao giờ dám viết những điều mình nghĩ, như lớp trẻ hơn hiện nay” Bên cạnh mặt mạnh, những người trong nghề văn cũng rất thẳng thắn chỉ ra giới hạn của các cây bút nữ: đó là “nguy cơ lặp lại mình” (Đặng Anh Đào), “không bao giờ có cái sự gọi là đồ sộ, vĩ đại” (Lê Minh Khuê) Tuy nhiên, vấn đề thu hút nhiều sự cắt nghĩa nhất trong buổi tọa đàm là hiện tượng “âm thịnh dương suy”,

và “tại sao gần đây, phụ nữ đi viết văn xuôi có vẻ nổi hơn so với số chị em làm thơ” Đã có nhiều lí do được đưa ra: “trước tiên là cái hoàn cảnh đất nước sau chiến tranh Phụ nữ vốn là những người hiểu một cách sâu sắc, hiểu bằng cả tâm hồn mình, cái sức ép trước đây của hoàn cảnh Nỗi đau hôm qua ở họ thấm thía, nên sự hồi sinh của dân tộc những năm này họ cũng cảm thấy đầy đủ hơn”(Ngô Thế Oanh), “trong cái diện tìm tòi đã khá rộng, hình như xu hướng hiện nay vẫn

là tìm vào những cái suồng sã, thô nhám, xô lệch của hiện thực, mà thiếu sự thăng hoa quý phái, nên thơ không khởi sắc lên được” (Vương Trí Nhàn); sự thay đổi trong quan niệm về nghề văn (trở nên cởi mở, dân chủ hơn, trong đó có một bộ phận mang tính cách thị trường có một vị trí rõ rệt) đã khiến nhiều chị

em thử vận may trong văn chương và coi đây như một nghề để kiếm sống, vì thế mới có trường hợp “vừa nhảy vào nghề” “đã viết ào ào”, vì “phải tính cho nhanh, nếu không ra sao thì còn rút chứ” (Đặng Minh Châu) Có nhiều cách

Trang 25

diễn đạt và nhiều “trọng tâm” khác nhau cho các nguyên nhân, nhưng các nhà bàn luận đều thống nhất ở lí do hoàn cảnh xã hội dân chủ sau chiến tranh đã tạo

ra một môi trường thuận lợi cho các cây bút nữ thử sức và phát triển Và họ đều đặt niềm tin vào sự “hưng thịnh” của nền văn chương do chị em viết nên

1.3.2 Tổng kết, đánh giá thành tựu của các cây bút nữ

Mặc dù có ý kiến không nên phân biệt giới tính trong sáng tác văn học nhưng trên thực tế, suốt từ đầu thập kỉ 90 đến những năm đầu thế kỉ XXI, liên tiếp xuất hiện những bài viết chọn sáng tác văn xuôi (đặc biệt là truyện ngắn) của các cây bút nữ để làm đối tượng nghiên cứu, đánh giá Ngay từ năm 1990,

Nguyễn Thị Như Trang đã tổng kết Thành tựu và đội ngũ các nhà văn nữ Việt

Nam [105] Mặc dù chỉ là “những nét khái quát còn hạn hẹp sơ lược” “trong việc

điểm lại những hoạt động phong phú, đa dạng và những thành công trong sáng tác văn học của các nhà văn nữ Việt Nam” như chính tác giả đã viết, nhưng qua

đó chúng ta cũng thấy được tài năng và vai trò to lớn của các thế hệ nhà văn nữ trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước

Năm 1993, bằng “con mắt xanh” của một nhà phê bình có nghề, Bùi Việt

Thắng trong Khi người ta trẻ (I) (Tản mạn về truyện ngắn của những cây bút nữ

trẻ) [89, tr.189] đã sớm nhận ra “dung nhan” “lấp lánh” trong sáng tác của các cây bút nữ trẻ mới xuất hiện trên văn đàn (Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Ấm, Y Ban, Nguyễn Minh Dậu và Phan Thị Vàng Anh) Theo tác giả, “làm nên đặc trưng của những cây bút nữ trẻ là cái nhu cầu đến như là mê say được tham dự, được hòa nhập vào những nỗi niềm đau khổ và hy vọng của con người” Tác giả cũng rất tinh tế chỉ ra những biểu hiện của “nữ tính” được

“phát lộ” rất rõ “trong sự quyết liệt đấu tranh giành giữ tình yêu và sự bình

quyền trong tình cảm” (Bức thư gửi mẹ Âu Cơ- Y Ban), trong sự “chan chứa nỗi

lo lắng mơ hồ về cuộc đời vốn mênh mông vừa là thiên đường vừa là địa ngục”, trong cái “đa sự đa đoan” Bên cạnh nét đặc trưng về nội dung, Bùi Việt Thắng còn chỉ ra những “ấn tượng” trong hình thức “lạ hóa” đối tượng, trong lối viết

“phá cách” rất tự do, khoáng đạt và uyển chuyển linh hoạt ở các truyện ngắn nữ

Trang 26

Mặc dù vẫn còn cảm thấy “thiếu một cái gì đó thật căn cốt, thật dư ba” ở sáng tác của các cây bút nữ trẻ nhưng tác giả bài viết “vẫn tin vào thế hệ thứ năm này như tin vào tiền đồ của văn học nước nhà sẽ tới một thời kỳ phục hưng”

Cùng mang một niềm tin như thế vào sức sáng tạo của các nhà văn nữ,

năm 1995, trong bài viết Những tác giả nữ trong nền văn xuôi cách mạng mở

đầu tập truyện ngắn các tác giả nữ 1945-1995 [60], Hà Minh Đức đã nêu ra nhiều yếu tố mới xuất hiện trong truyện ngắn của các thế hệ nhà văn nữ nổi lên

từ sau 1975 Đó là “các nhân vật mở rộng nếp cảm nghĩ, bộc lộ rõ cá tính trong các mối quan hệ, trong thị hiếu thẩm mĩ và ngôn ngữ xử sự Cấu trúc câu chuyện cũng vần xoay theo những kiểu dáng mới không theo nếp truyền thống” Đó là

“sự mạnh dạn của nhiều cây bút nữ trong việc bộc lộ phần rất riêng tư của tình yêu kể cả những khao khát thầm kín có tính chất bản năng ở mỗi con người” Đó

là “cái tôi của mỗi người đều không giấu kín mà bộc lộ chân tình linh hoạt trên trang viết” Bên cạnh đó ông cũng rất nhấn mạnh đến “chất nữ tính” trong văn chương các tác giả nữ: “Đáng quý khi đọc những trang viết của các tác giả nữ, chúng ta đã tiếp nhận được những cảm xúc mềm mại, tinh tế, phần thì bộc lộ vẻ đẹp khách quan của những tâm hồn nữ, phần thì làm dịu đi ở người đọc những mệt mỏi trăn trở trước những khó khăn của cuộc đời Chính cái chất tâm lý ấy góp phần tạo nên chất thơ riêng của tác giả nữ” Theo đánh giá của tác giả, trong khoảng hơn thập kỷ qua sáng tác của các nhà văn nữ “đã thành dòng chảy xiết mạnh mẽ, hứa hẹn nhiều thành quả tươi đẹp” [60, tr.8]

Bước sang thế kỉ XXI, truyện ngắn nữ nói riêng và văn xuôi nữ nói chung vẫn tiếp tục khẳng định được vị thế của mình trên văn đàn- bằng chứng là vẫn liên tục có các bài viết đánh giá về đóng góp, đặc điểm sáng tác của “hiện

tượng” này Năm 2001, Bích Thu trong Văn xuôi của phái đẹp [95] đã chỉ ra khá

cặn kẽ những biểu hiện của sự vận động và đổi mới trong sáng tác của các nhà văn nữ trên cả phương diện nội dung và hình thức biểu đạt Theo tác giả, văn chương của phái đẹp hôm nay “đã không thi vị hóa những chuyện đời, không tỏ

ra đài các hoặc đa cảm trong những giọt lệ khóc chồng hay giấc mộng phù du mà

Trang 27

sắc sảo và sâu sắc khi tiếp cận và khai thác đề tài thế sự, đời tư, với nỗi đau nhân tình thế thái bằng lối viết dịu dàng và bén ngọt, riết róng mà đồng cảm, sẻ chia với những thân phận, những con người sống quanh mình” Với việc chỉ ra “sở trường” của các nhà văn nữ như một “ưu thế riêng của giới tính” trong việc khai thác “đối tượng” sáng tạo phong phú mà bí ẩn là cuộc đời và tâm hồn của chính mình”, tác giả cho rằng “ngay từ những sáng tác khởi đầu, những người viết nữ

đã đưa vào tác phẩm “một đời sống, một lối viết và một kiểu hệ lụy riêng” rất phụ nữ” Nói về đề tài “muôn thuở” trong sáng tác của các cây bút nữ- đề tài tình yêu với đủ cung bậc cảm xúc, tác giả đã nêu ra một nhận định khá thú vị: “sự vỡ

lẽ về đàn ông qua các trang viết của các nhà văn nữ đã bộc lộ lòng vị tha, nhân ái của phụ nữ với con người và cuộc đời Suy cho cùng đó cũng là một cách dung hòa, cân bằng các mối quan hệ, ứng xử ở đời” Không chỉ đề cao sự hòa nhập nhanh của văn xuôi nữ vào sự đổi mới của văn học nghệ thuật nước nhà nói chung trên phương diện nội dung, Bích Thu còn rất đề cao đóng góp làm nên “sự

đa dạng của loại hình văn xuôi nghệ thuật” ở các cây bút nữ Đó là khả năng biểu đạt và phân tích sâu sắc, tinh tế thế giới tâm hồn con người, là kiểu xây dựng cốt truyện theo dòng tâm trạng nhân vật, là việc phát hiện các tình huống tâm lí, thế giới nội tâm nhân vật với bút pháp tự sự trữ tình, là cố gắng không ngừng làm mới cách diễn đạt, biểu cảm Với cảm nhận sáng tác của các nhà văn nữ đã có một “tiếng nói riêng, hương sắc riêng” trong nền văn xuôi đương đại, tác giả tin rằng “phụ nữ với tác phẩm của phụ nữ sẽ là lời mời, tiếng gọi của văn chương và người đọc trong thế kỷ 21”

Nhận diện đặc điểm của văn xuôi nữ qua một số phong cách tác giả nữ tiêu biểu (Thùy Linh, Phan Thị Vàng Anh, Trần Thùy Mai, Lý Lan, Lê Minh

Khuê), năm 2003, Vũ Đức Tân trong Văn xuôi của một số cây bút nữ [85] đã rút

ra xu thế trong cách viết của nhiều cây bút nữ hiện nay là “không né tránh hiện thực phức tạp của cuộc sống”, “những nhân vật lý tưởng trở nên hiếm hoi hơn”- điều đó thể hiện thái độ dũng cảm của các nhà văn nữ khi nhìn nhận cuộc sống Nhận thấy “bút pháp hiện thực vẫn là bút pháp chủ đạo khi hướng tới việc phê

Trang 28

phán hay khen ngợi, nêu bật những nét nhân bản của nhân vật”, tác giả cho rằng những trang viết của các cây bút nữ “dường như vẫn còn ít có sự bay bổng nâng cao con người hơn những cơm áo đời thường Cái chân trời trong văn xuôi của

họ còn mong manh biết bao nhiêu”

Năm 2004, khi Phác thảo vài nét về diện mạo truyện ngắn đương đại và

sự góp mặt của một số cây bút nữ [88], Nguyễn Thị Thành Thắng đã liệt kê khá

đầy đủ sự “lên ngôi” của một số cây bút nữ, qua đó thấy được phái đẹp đã “tự cân bằng văn chương, cân bằng chính thiên chức của họ, bằng sự tinh tế dịu dàng, hồn nhiên mà khoan hậu” Điểm nổi bật trong bài viết là khi nói về hướng tiếp cận đời sống trong truyện ngắn của một số cây bút nữ, tác giả đã chỉ ra sự khác biệt giữa hình tượng người đàn ông của xã hội hiện đại và cách nhìn người đàn ông của các cây bút nữ trước đây Theo tác giả, việc xuất hiện một loạt các cây bút nữ viết về đề tài tình yêu mang bóng dáng của “một nửa thế giới” là

“phái mạnh” trong cuộc sống hiện đại hôm nay đã khiến truyện ngắn “sâu sắc và tinh tế hơn, dịu dàng và khoan hậu hơn”- đó phải chăng cũng là nét hấp dẫn mà truyện ngắn hiện đại Việt Nam mang đến cho người đọc

Nếu Nguyễn Thị Thành Thắng đặt truyện ngắn nữ trong cái nền là truyện

ngắn đương đại để đánh giá thì Lê Hương Thủy trong Điểm qua về sự vận động

của truyện ngắn các cây bút nữ [101] lại xem xét hiện tượng này trong dòng

chảy của thời gian từ đầu thế kỉ XX đến thời điểm hiện tại (năm 2006) để thấy được sự vận động và phát triển của nó Theo tác giả, “với sự đổi mới quan niệm hiện thực về con người, với đặc thù trong cách lựa chọn đề tài và xử lí chất liệu hiện thực, truyện ngắn nữ thời kì đổi mới đã có được dấu ấn riêng trong tương quan với truyện ngắn nữ trước thời kì đổi mới” Với sự đánh giá khách quan, tác giả đã chỉ ra cả lợi thế lẫn những hạn chế của các cây bút nữ, và nếu biết tận dụng tối đa những lợi thế vốn có và khắc phục những điểm yếu thì truyện ngắn

nữ sẽ tiếp tục có những đóng góp vào sự vận động và phát triển của truyện ngắn dân tộc

Trang 29

Gần đây, bài viết của Trần Thục: Một góc nhìn về văn xuôi nữ [98] (vốn là

tham luận tham dự tọa đàm “Văn xuôi nữ trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại”, Viện Văn học, 29/11/2012) đã điểm lại những đặc điểm trong sáng tác của các cây bút nữ ở các khía cạnh đề tài, nhân vật, giọng điệu Tác giả cũng điểm qua mảng sáng tác văn học mạng của những cây bút nữ để thấy diện mạo phong phú của hiện tượng này Mặc dù về cơ bản chỉ là sự khẳng định lại những ý kiến đã từng được các nhà nghiên cứu đưa ra trước đó về sáng tác của các nhà văn nữ, nhưng bài viết của Trần Thục một lần nữa là lời khẳng định giá trị, đóng góp không thể phủ nhận của văn xuôi nữ trong nền văn học Việt Nam đương đại

1.3.3 Tiếp cận văn xuôi nữ dưới góc nhìn phê bình nữ quyền

Cùng với nhiều khuynh hướng phê bình văn học ra đời trong thế kỉ XX

như Phê bình hiện tượng luận, Phê bình cấu trúc, Phê bình hậu thực dân, Phê

bình nữ quyền (Feminist Criticism) phát triển mạnh trong khoảng hơn 40 năm

trở lại đây ở các nước phương Tây, đặc biệt là ở Mỹ, Anh và Pháp Hình thành

và ra đời trong phong trào của phụ nữ chống áp bức, đòi các quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, giáo dục và các quyền công dân khác trong xã hội (thế kỉ

XVIII), hạt nhân lí luận của khuynh hướng phê bình này là học thuyết Quyền

bình đẳng của phụ nữ (Feminism) Trên thế giới, lí thuyết phê bình văn học nữ

quyền có nhiều giai đoạn phát triển, nhiều trường phái với những chủ trương, mục đích khác nhau Ở nước ta, khi vận dụng lí thuyết này vào nghiên cứu văn xuôi nữ, có một số khuynh hướng như sau:

1.3.3.1 Đi tìm biểu hiện của “đặc trưng tính nữ” trong văn xuôi nữ

Có lẽ, “khơi mở” cho hướng nghiên cứu này là bài viết Suy nghĩ về đặc

điểm của nữ văn sĩ của Phương Lựu vào năm 1998 [51] Từ việc chỉ ra mặt

mạnh và mặt yếu trong tâm lý nữ giới đối với việc sáng tạo văn học, tác giả đã nêu ra một số “tính chất và phạm vi nhất định” mà các sáng tác văn học nữ thường tập trung vào: mang màu sắc tự truyện, tập trung về đề tài tình yêu Mặc

dù tác giả có nói rằng “cố gắng vận dụng một số điểm hữu quan trong Tâm lý

Trang 30

học nữ giới (Women psychology) để tiếp cận vấn đề” nhưng với việc nêu lên

một nhận định rằng “đặc điểm giới tính trong văn học là có thật ( ) Vấn đề nữ tính, thuyết âm dương trong nghệ thuật không phải hoàn toàn là vô căn cứ”, bài viết thực sự là những lời “dẫn nhập” rất gần với cách tiếp cận từ góc độ phê bình

nữ quyền nở rộ sau này

Một trong những mục đích của phê bình nữ quyền là đi tìm đặc trưng của

“lối viết nữ”- nghĩa là một phương thức tư duy và thể hiện văn bản nghệ thuật mang phong cách nữ giới (trong sự đối sánh khác biệt với sáng tác của nam

giới) Đi theo định hướng này, năm 2012, Hồ Khánh Vân trong bài viết Một vài

lý giải về hiện tượng tự thuật trong sáng tác văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ 1990 đến nay [115] đã chỉ ra rằng: “Phương thức tự thuật đã tạo nên một

mô thức tự sự bao trùm từ phương diện nội dung đến hình thức nghệ thuật của tác phẩm ( ) Đây thực sự là một đặc trưng tư duy nghệ thuật của lối viết nữ, tạo nên điểm nhìn sáng tác riêng biệt của người phụ nữ so với nam giới trong thế giới văn chương”

Gần đây, “đặc trưng tính nữ” còn được Lê Thị Hường soi rọi từ những

phương diện rất cụ thể như: Tư duy biểu tượng trong văn xuôi nữ [39] và Chiến

tranh qua cảm thức nữ giới [38] Rõ ràng, dấu ấn thiên tính nữ in đậm nét trên

mỗi trang văn của phái đẹp, từ thủ pháp nghệ thuật (hệ biểu tượng) đến cách triển khai đề tài (chiến tranh) Khẳng định tồn tại một bản sắc riêng khác biệt với phái nam trong sáng tác văn chương của các nhà văn nữ cũng là một cách để khẳng định sự bình quyền nam- nữ trong sáng tạo nghệ thuật của các nhà phê bình nữ quyền

1.3.3.2 Đi tìm biểu hiện của ý thức phái tính và tinh thần nữ quyền trong văn xuôi nữ

Bài viết tiêu biểu mở đầu cho khuynh hướng này là của Nguyễn Đăng

Điệp vào năm 2006: Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt

Nam đương đại [24] Theo tác giả, “âm hưởng nữ quyền” trong văn học đương

đại Việt Nam (chủ yếu tác giả đề cập đến sáng tác của các cây bút nữ) được bộc

Trang 31

lộ qua bốn phương diện cơ bản: a- ngôn ngữ quyết liệt, mạnh mẽ không kém gì nam giới; b- công khai xét lại lịch sử và các điển phạm nghệ thuật bằng cái nhìn riêng của cá nhân và giới nữ; c- công khai bày tỏ thái độ chống lại sự lệ thuộc vào thế giới đàn ông và dám xông vào các đề tài cấm kị một cách tự do, nhất là

đề tài tình dục; d- tuy quyết liệt, mạnh mẽ nhưng hơi ấm nữ tính trong nhiều trường hợp vẫn được “bảo lưu một cách vô thức” đã tạo hương vị riêng cho tác phẩm của các nhà văn nữ Mặc dù bài viết chỉ là “những suy nghĩ ban đầu” về vấn đề này như tác giả nói, nhưng những ý tưởng đó đã trở thành những gợi ý định hướng cho những triển khai cụ thể ở các bài viết sau này của các nhà nghiên cứu khác

Năm 2011, trong Ý thức phái tính trong văn xuôi nữ đương đại [15], từ

nhận định “tiếng nói các cây bút nữ mang âm sắc nữ quyền rất rõ”, tác giả Nguyễn Thị Bình đã đặt ra mục đích của bài viết là “tìm xem trong văn xuôi nữ

ý thức phái tính có dồi dào như trong thơ không và nó có diện mạo như thế nào?” Theo tác giả, vấn đề này được thể hiện trên ba phương diện: những tuyên ngôn về “viết”, những nhân vật in đậm ý thức phái tính và ngôn ngữ của ý thức

phái tính Trên tinh thần cơ bản của Phê bình nữ quyền là xây dựng những tiêu

chí riêng trong việc cảm thụ và đánh giá các hiện tượng văn học của giới nữ, tác giả Nguyễn Thị Bình đã nhận diện, lí giải vai trò của ý thức phái tính đối với hoạt động sáng tạo văn chương giới nữ một cách khá thuyết phục Đó là một cách đọc văn xuôi nữ đương đại Việt Nam rất hiện đại, nhân văn Tuy nhiên, việc tác giả đồng nhất hai khái niệm “phái tính” và “giới tính”, coi đó “là cái được qui định bởi Tự nhiên/Tạo hóa, gắn với cấu tạo sinh học phức tạp và bí ẩn

của mỗi người” thì có lẽ cần phải bàn thêm Bởi trên thực tế, phái tính (sex) và

giới tính (gender) là có sự khác nhau: khái niệm phái tính dựa trên đặc điểm thuần sinh học của cơ thể con người còn khái niệm giới tính lại dựa trên cấu trúc văn hoá – xã hội (sự khác biệt của từng giới do quy định của văn hóa, đó là sản

phẩm của một phức hợp rộng, gồm các tập tục, phong tục phổ biến và những

khuôn mẫu của một nền văn hoá đặc thù, điều đó tạo ra “nam tính” và “nữ tính”

Trang 32

chứ không phải là “nam giới” và “nữ giới”) Mặt khác, lập luận của tác giả (ngay

trong phần mở đầu) có vẻ trái ngược khi tác giả nói rằng “dùng cách gọi “ý thức phái tính” để chỉ một dạng thức nữ quyền ”, nhưng ngay sau đó lại khẳng định:

“ý thức nữ quyền có thể xem như biểu hiện mạnh nhất, tự giác nhất của ý thức

nữ tính” Thiết nghĩ, việc dùng chính xác các thuật ngữ, khái niệm cũng như sự thống nhất trong lập luận là vô cùng cần thiết để tạo ra tính khoa học cho việc áp dụng một lý thuyết mới vào nghiên cứu các hiện tượng văn học

Năm 2012, văn xuôi nữ tiếp tục được “lật xới” những “vỉa tầng” thể hiện

tinh thần nữ quyền qua bài viết của Nguyễn Mạnh Hà: Người ta sinh ra không là

đàn bà, người ta trở thành đàn bà (về tinh thần nữ quyền trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1986) [108, tr.40] Bắt đầu từ việc “lần về nguồn gốc,

tìm hiểu nguyên nhân” của tình trạng bất công đối với giới nữ tồn tại hàng chục thế kỉ (từ lợi ích kinh tế hình thành các thiết chế xã hội, văn hóa), tác giả Nguyễn Mạnh Hà đã khẳng định: “văn học nữ quyền không tách khỏi nữ quyền trong kinh tế- xã hội, nếu không muốn nói nó là một bộ phận đặc trưng, có được là nhờ

nữ quyền trong kinh tế- xã hội” Điều này giải thích cho việc “bùng nổ về tinh thần nữ quyền” trong văn học Việt Nam từ sau mốc Đại hội Đảng lần VI, đặc biệt trong truyện ngắn và tiểu thuyết, biểu hiện nổi bật ở ba điểm: đả phá trật tự nam quyền, tìm lại chính mình và khẳng định những ưu việt Có thể thấy những

“luận điểm” cơ bản của tư tưởng “nữ quyền” đã được bài viết đề cập, triển khai:

sự phản kháng lại chế độ “nam quyền”, sự khẳng định bản ngã, bản sắc, giá trị,

vị trí bình đẳng của giới nữ Tác giả cũng chỉ ra được một số hạn chế trong việc thể hiện vấn đề này ở các nhà văn Việt Nam: sự cực đoan thái quá nhiều khi dẫn đến cái nhìn lệch lạc (về nam giới, về tính dục), những khoảng trống cần bổ sung: mức độ chịu đựng các áp lực, giảm stress của giới nữ; một cái nhìn triết học về nữ giới Tuy nhiên, theo chúng tôi, nếu áp nguyên toàn bộ tư tưởng nữ quyền của phương Tây để tìm và đòi hỏi sự thể hiện của nó trong văn học Việt Nam thì e rằng hơi khiên cưỡng (vì vấn đề nữ quyền ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc

sẽ có nội hàm, ngoại diên khác nhau)- và quả là trong bài viết của Nguyễn Mạnh

Trang 33

Hà một số thuật ngữ của phong trào nữ quyền trên thế giới được áp vào nội dung của tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1986 đã tạo ra sự “lên gân” không đáng có: “cuộc chiến chống nam quyền đang còn rất cam go”, “cuộc chiến đòi công lí, trả lại bản nguyên”

Cuối năm 2012, trong buổi Tọa đàm Văn xuôi nữ trong bối cảnh văn học

Việt Nam đương đại do Viện Văn học tổ chức, đã có khá nhiều bài tham luận đề

cập đến sự biểu hiện của vấn đề nữ quyền trong các sáng tác nữ: Văn học nữ

(quyền) thời đổi mới (khảo sát truyện ngắn Võ Thị Hảo) của Đoàn Ánh Dương,

“Xét lại” thế giới đàn ông bằng cái nhìn đàn bà- một trong những biểu hiện của

âm hưởng nữ quyền trong văn xuôi nữ Việt Nam những năm gần đây của

Nguyễn Thị Thanh Xuân, Tự thuật tính dục- một lối viết nữ trong văn xuôi VN từ

năm 1990 đến nay của Hồ Khánh Vân, Gần đây nhất, luận án tiến sĩ Ngữ văn

của Nguyễn Thị Thanh Xuân: Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn

xuôi Việt Nam đương đại (qua sáng tác của một số nhà văn nữ tiêu biểu) [120]

cũng đưa ra một hướng tiếp cận văn xuôi nữ đương đại dưới ánh sáng của lý thuyết phê bình văn học nữ quyền trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật

Có thể thấy, nghiên cứu truyện ngắn nữ/ văn xuôi nữ đương đại Việt Nam- một hiện tượng đang “khuấy đảo” nền văn học dân tộc từ lí thuyết Phê bình nữ quyền đang là “miền đất hứa”, hứa hẹn nhiều sự “giải mã” lí thú, logic

- Hiện tượng này gần 30 năm qua (kể từ mốc 1986) luôn là “điểm nóng” thu hút sự chú ý của dư luận, và đã được nghiên cứu từ nhiều góc độ, trong đó

Trang 34

nổi bật là hướng nghiên cứu đánh giá thành tựu (điểm đặc trưng và những cách tân bứt phá của các cây bút nữ trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật) và hướng nghiên cứu vận dụng lý thuyết phê bình nữ quyền (đi tìm lối viết nữ, sự thể hiện của ý thức phái tính và tinh thần nữ quyền)

- Tuy nhiên vẫn còn những khoảng trống để ngỏ mà giới nghiên cứu hoặc chưa giải quyết thấu đáo hoặc chưa dành trọn sự quan tâm:

+ Lý giải sự “lên ngôi” của các cây bút nữ, thường các tác giả bài viết đi vào phân tích yếu tố khách quan là hoàn cảnh xã hội thời kì đổi mới đã tạo ra môi trường thuận lợi cho các nhà văn nữ phát triển Nhưng còn yếu tố chủ quan- trực tiếp nhất và quyết định nhất đối với sự đổi mới, bứt phá trong văn học: yếu

tố tư duy (ở lĩnh vực này là tƣ duy nghệ thuật) thì chưa được phân tích một

cách cặn kẽ trong các bài viết (nếu có được đề cập thì chỉ được nhìn nhận trên một đặc điểm hoặc một phương diện của tư duy- ví dụ tư duy tự thuật, tư duy biểu tượng)

+ Giới nữ đăng đàn và tạo tiếng vang, nhưng lại thành công trước nhất

và bền lâu ở thể loại truyện ngắn Rõ ràng giữa giới tính- phái tính và thể loại truyện ngắn có một mối liên hệ “đồng thuận” nào đấy Và rõ ràng đóng góp của các sáng tác nữ vào sự vận động và biến đổi của thể loại truyện ngắn trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam là không nhỏ Nhưng khía cạnh này dường như bị

“lướt qua” trong đời sống lí luận, phê bình văn học hiện nay

Với mong muốn “lấp đầy” những khoảng trống đó để góp phần hoàn thiện hơn các góc nhìn về một hiện tượng độc đáo của nền văn xuôi Việt Nam đương đại, chúng tôi đã lựa chọn đề tài này với định hướng tiếp cận truyện ngắn nữ đương đại từ góc độ tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại Những vấn đề lí luận về tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại truyện ngắn mà chúng tôi đã trình bày ở trên sẽ là bộ công cụ mang tính chất “kim chỉ nam” định hướng cho chúng tôi những triển khai cụ thể khi áp dụng vào nghiên cứu một thực thể: truyện ngắn

nữ Việt Nam đương đại

Trang 35

Chương 2 DIỆN MẠO TRUYỆN NGẮN NỮ ĐƯƠNG ĐẠI TRONG SỰ VẬN ĐỘNG

CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM THỜI KÌ ĐỔI MỚI

2.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa và sự đổi mới văn học

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuô ̣c chiến tranh ái quốc vĩ đa ̣i chống đế quốc

Mĩ đã kết thúc thắng lợi , mở ra một thời kì mới của lịch sử dân tộc - thời kì đô ̣c

lâ ̣p, tự do và thống nhất đất nước Nhưng cũng từ đây, chúng ta lại phải đối mặt với những khó khăn phức ta ̣p đến nghiê ̣t ngã của thời kì hâ ̣u chiến Cơ chế quản lí

tâ ̣p trung quan liêu bao cấp thời chiến đã bô ̣c lô ̣ tính chất tiêu cực trên tất cả mo ̣i

mă ̣t của đời sống , kìm hãm sức sáng tạo của con người và sự phát triển của đất nước, nhất là đối với kinh tế, xã hội và văn hóa, văn nghê ̣ Trong nước sản xuất trì trê ̣, đời sống nhân dân nghèo nàn , lạc hậu; bên ngoài chúng ta phải tiếp tu ̣c đối

mă ̣t với cuô ̣c chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc , thêm vào đó là chính sách cấm vận cô lập Việt Nam của các thế lực thù địch Tất cả những điều đó đã đẩy đất nước ta rơi vào cuô ̣c khủng hoảng trầm tro ̣ng Trước tình hình đó, đổi mới đất nước trở thành “nhu cầu bức thiết” , là “vấn đề có ý nghĩa sống còn” đối với toàn dân tô ̣c Đa ̣i hô ̣i Đảng lần thứ VI diễn ra vào năm 1986 với viê ̣c xác đi ̣nh đường lối đổi mới toàn diê ̣n trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thâ ̣t” , “đổi mới tư duy” đã trở thành mô ̣t sự kiê ̣n chính tri ̣ đă ̣c biê ̣t quan tro ̣ng, mở ra mô ̣t thời kì mới cho đất nước vượt qua thời kì khủng hoảng để bước vào giai đoa ̣n phát triển ma ̣nh

mẽ và ngày càng vững chắc

Đất nước bước vào công cuộc đổi mới thúc đẩy nền văn học cũng phải đổi mới phù hợp với nguyê ̣n vo ̣ng của nhà văn và người đo ̣c cũng như quy luâ ̣t phát triển khách quan của nền văn ho ̣c Trước đó, trong khoảng thời gian từ sau 1975 đến 1985, văn ho ̣c rơi vào mô ̣t khoảng “chân không” đáng sợ như nhâ ̣n xét của nhà văn Nguyên Ngo ̣c Công chúng dửng dưng quay lưng la ̣i với văn ho ̣c , sự nỗ lực của nhà văn không mấy hiê ̣u quả Cuô ̣c sống thời bình đã khác trước rất nhiều mà văn ho ̣c vẫn trượt theo “quán tính” của thời chiến với đă ̣c trưng riêng

Trang 36

của nó về đề tài , nô ̣i dung , bút phá p, nghê ̣ thuâ ̣t , Trước nguy cơ la ̣c hâ ̣u ,

“nghèo nàn” đầy bức bách của văn ho ̣c , Đa ̣i hô ̣i Đảng lần thứ VI với chủ trương

“đổi mới tư duy” đã thâ ̣t sự đáp ứng được nhiều đòi hỏi bức xúc của văn chương, nghê ̣ thuâ ̣t , trở thành điểm tựa vững chắc cho văn ho ̣c bắt đầu những chuyển

đô ̣ng ma ̣nh mẽ và mới mẻ Đặc biệt, cuô ̣c gă ̣p mă ̣t thân mâ ̣t của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với gần 100 văn nghê ̣ sĩ trong hai ngày 6 và 7- 10- 1987 tại

Hà Nội là một sự kiện quan trọng, đươ ̣c giới văn nghê ̣ sĩ thừa nhâ ̣n như mô ̣t biểu tươ ̣ng cho sự khởi phát của phong trào đổi mới văn nghê ̣ Vớ i tinh thần nói thẳng, nói thật, với nhu cầu “cởi trói” , các ý kiến phát biểu và bài nói của đồng chí Nguyễn Văn Linh đã thổi một luồng sinh khí mới , tạo ra một sức mạnh khai phóng cho nền văn học nước nhà Hơn mô ̣t tháng sau cuô ̣c gă ̣p gỡ đó , ngày 28- 11- 1987 Bộ Chính tri ̣ Trung ương Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam ra Nghi ̣ quyết 05 về

“Đổi mới và nâng cao trình đô ̣ lãnh đa ̣o, quản lý văn học, nghê ̣ thuâ ̣t và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo , đưa văn ho ̣c , nghê ̣ thuâ ̣t và văn hóa phát triển lên

mô ̣t bước mới” Đây là Ng hị quyết riêng đầu tiên của Bộ Chính trị về văn hóa , văn nghê ̣, có giá trị và ý nghĩa quan trọng cho việc giải phóng tiềm năng sáng tạo của văn nghệ sĩ Những sự kiê ̣n chính tri ̣ quan tro ̣ng nêu trên đã ta ̣o ra mô ̣t bầu không khí dân chủ và cởi mở , thúc đẩy một cuộc “nhận đường” sôi nổi , đầy nhiê ̣t huyết của các thế hê ̣ nhà văn

Tác động mạnh mẽ đến sự đổi mới của văn học ngoài đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng không thể không kể đến n hững yếu tố thuô ̣c về kinh tế , xã

hô ̣i, văn hóa, Có thể thấy bước chuyển biến sang nền kinh tế thị trường của đất nước đã ảnh hưởng ma ̣nh mẽ đến quá trình văn ho ̣c , từ khâu sáng tác (đề tài, bút pháp, ý thức của nhà văn, ) đến khâu tiếp nhận (tâm lí, thị hiếu công chúng) và hoạt động xuất bản , phát hành lưu thông sản phẩm Bên ca ̣nh đó đường lối mở cửa, hô ̣i nhâ ̣p quốc tế của Đảng đã ta ̣o điều kiê ̣n cho nền văn hóa trong nước tiếp xúc rô ̣ng rãi với văn hóa nhiều nước trên thế giới , mở ra cơ hô ̣i tiếp thu , học tập những thành tựu và kinh nghiê ̣m lí luâ ̣n cũng như sáng tác văn ho ̣c của nước ngoài, đă ̣c biê ̣t của phương Tây (những trào lưu tư tưởng , trường phái, khuynh

Trang 37

hướng sáng tác và lí luâ ̣n văn ho ̣c nghê ̣ thuâ ̣t hiê ̣n đa ̣i , hâ ̣u hiê ̣n đa ̣i, ), mang la ̣i sự sinh đô ̣ng, mới mẻ cho đời sống văn ho ̣c nước nhà

Đổi mới văn học nói như GS Trần Đình Sử “là sự bùng phát ma ̣nh mẽ ra bề ngoài của một nhu cầu và quá trình đổi mới trong giới sáng tác và lí luận văn học đã âm ỉ từ lâu” [23, tr.759] Nghĩa là ý thức đổi mới tư duy của chủ thể sáng tạo là một sự tự giác sẵn có , thường trực, nay gă ̣p được những điều kiê ̣n thuâ ̣n

lơ ̣i đã “phát lô ̣” , trỗi dâ ̣y mãnh liê ̣t Sự đổi mới của văn ho ̣c thể hiê ̣n rõ trên cả phương diê ̣n quan niê ̣m lẫn thực tiễn sáng tác

Sau bao cuô ̣c thảo luâ ̣n bàn tròn về mối quan hê ̣ giữa văn ho ̣c với chính trị, hiê ̣n thực, giờ đây văn ho ̣c đã được nhâ ̣n thức la ̣i đúng bản chất , chức năng đích thực của nó Không còn bi ̣ nhấn ma ̣nh ở phương diê ̣n ý thức xã hô ̣i như trước kia, bản chất của văn học được khẳng định là bản chấ t nghê ̣ thuâ ̣t Chính vì thế chức năng hàng đầu của nó là chức năng thẩm mĩ (chứ không phải chức năng giáo du ̣c như quan niê ̣m trước thời kì đổi mới) Bên ca ̣nh ba chức năng đã được thừa nhâ ̣n từ trước (giáo dục, thẩm mĩ, nhâ ̣n thức), văn ho ̣c được khẳng đi ̣nh thêm mô ̣t số chức năng khác như: giao tiếp, dự báo, giải trí Quan niê ̣m về văn ho ̣c thay đổi tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi về quan niê ̣m nhà văn Từ chỗ hiê ̣n diê ̣n như nhà cách mạng, người chiến sĩ, nhà văn đã dần ý thức rõ hơn vai trò là “nghệ sĩ - nhà tư tưởng” Không chỉ phát ngôn, nói tiếng nói chung của cộng đồng, dân tô ̣c, nhà văn còn và cần khẳng định giá trị của kinh nghiệm cá nhân - thể hiê ̣n tư tưởn g, quan niê ̣m, chính kiến của người nghệ sĩ về con người, xã hội, thời đa ̣i Khi giá tri ̣ của mỗi cá nhân được thừa nhâ ̣n , ý thức về cá tính sáng tạo đã trở thành một phẩm chất vô cùng quan tro ̣ng trong quan niê ̣m về nhà văn Mă ̣t khác điều này cũng làm thay đổi rõ rê ̣t mối quan hê ̣ nhà văn - bạn đọc: những phát hiê ̣n, đề xuất của nhà văn không bao giờ là áp đă ̣t , đi ̣nh hướng mà là trình bày , gợi mở để cùng người

đo ̣c suy ngẫm, bàn bạc, giải quyết- đó là mô ̣t mối quan hê ̣ bình đẳng và cởi mở , mang tinh thần đối thoa ̣i

Những quan niê ̣m mang tính dân chủ về văn ho ̣c , nhà văn cùng với sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã đưa tới sự phát triển phong phú , sôi nổi, đa da ̣ng của

Trang 38

các sáng tác văn học Từ tư duy sử thi chuyển sang tư duy tiểu thuyết , từ cảm hứng li ̣ch sử, dân tô ̣c chuyển sang cảm hứng thế sự, đời tư, từ chất liê ̣u anh hùng

ca chuyển sang chất liê ̣u đời thường , văn ho ̣c đã mở rô ̣ng khám phá nhiều chiều kích của hiện thực một cách toàn diện , sâu sắc nhất Phá vỡ cái gọi là “chủ nghĩa

đề tài” của giai đoạn văn học 1945- 1975, văn ho ̣c thời kì đổi mới là sự “bùng phát” về đề tài với việc đề cập l ại nhiều đề tài trước đây với một cái nhìn mới , mạnh dạn đi vào các đề tài một thời xem là “vùng cấm” và xuất hiện một loạt các đề tài mới Trở về với viê ̣c quan tâm đến mỗi số phâ ̣n , con người cá nhân , văn ho ̣c đã lấ y con người làm điểm quy chiếu li ̣ch sử (thay vì viê ̣c lấy li ̣ch sử làm điểm quy chiếu như trước đây ), từ đó khám phá con người trên nhiều phương diê ̣n, nhiều vi ̣ thế , nhiều thang bâ ̣c giá tri ̣, ở cả bình diện ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng , tình cảm và đời sống tự nhiên , bản năng, cả con người

cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại phổ quát Trong các tác phẩm văn ho ̣c thời kì đổi mới , con người hiê ̣n lên không còn nhất phiến , đơn tri ̣ mà luôn đa diê ̣n , lưỡng phân, đa tri ̣ Văn ho ̣c đã “mở ra những tầng sâu mới mẻ và thú vị về đời sống đầy bí ẩn, vô cùng vô tâ ̣n của những cá thể người sinh đô ̣ng và gần gũi” [1, tr.82]

Sự đổi mới trong cách tiếp c ận, phản ánh, lí giải hiện thực và con người tất yếu sẽ đi cùng với sự đổi mới cách viết , lối viết của các nhà văn Sau năm

1986, văn học chứng kiến sự nở rô ̣ của các phong cách , bút pháp , bộc lô ̣ hết mình các cá tín h sáng ta ̣o với viê ̣c ra sức kiếm tìm , thử nghiê ̣m nhiều hình thức

và thủ pháp thể hiện mới , kể cả tiếp thu và vâ ̣n du ̣ng những yếu tố của các trường phái nghê ̣ thuâ ̣t hiê ̣n đa ̣i phương Tây Điều này ta ̣o ra “mô ̣t cảnh tượng rất đa sắc màu , hương vị, nhiều dáng vẻ thâ ̣m chí có cả những hiê ̣n tượng kì di ̣ ,

lạ lùng” [49, tr.16] của khu vườn văn học Việt Nam đương đại

Với sự đổi mới toàn diê ̣n, có thể thấy văn học Việt Nam từ sau 1975, nhất

là từ giữa những năm 80 trở la ̣i đây , “đã đi những bước tiếp xa hơn trên con đường hiê ̣n đa ̣i hóa nền văn ho ̣c dân tô ̣c , để hòa nhập đầy đủ vào tiến trình văn học thế giới” [49, tr.25]

Trang 39

2.2 Sƣ ̣ “lên ngôi” và biến đổi của thể loa ̣i truyê ̣n ngắn

2.2.1 Vụ “được mùa” và ưu thế của thể loại truyện ngắn

Trong những “bản phác ho ̣a” diê ̣n ma ̣o đời sống văn xuôi Viê ̣t Nam đương

đa ̣i, truyê ̣n ngắn luôn đươ ̣c các nhà nghiên cứu , phê bình văn ho ̣c ưu ái “khắc nhấn” như là một điểm nổi bật chiếm vị trí “mũi nhọn” trong các thể loại văn xuôi hiê ̣n nay Nói về “lôgic quanh co” của các thể loại văn xuôi thời kì đổi mới , Nguyên Ngo ̣c viết: “Văn ho ̣c đã cho ̣n lấy mô ̣t thể loa ̣i khác để làm cái c ông viê ̣c

mà tiểu thuyết chưa làm được, mô ̣t thể loa ̣i tự bản thân nó, do chính đă ̣c điểm thể loại của nó , đòi hỏi khái quát : truyê ̣n ngắn Đây có thể coi là mô ̣t giai đoa ̣n có nhiều truyê ̣n ngắn hay trong văn ho ̣c Viê ̣t Nam , tiếp theo những “vu ̣ được mùa truyê ̣n ngắn” những năm 60 và một vụ mùa khác, trong chiến tranh” [49, tr.174] Quả thực, từ năm 1986, nhất là từ đầu thâ ̣p kỉ 90 trở đi, truyê ̣n ngắn đã có sự

“bùng nổ” cả về số lượng lẫn chất lượng Mô ̣t loa ̣t các cuô ̣c thi truyê ̣n ngắn do các báo, tạp chí, nhà xuất bản tổ chức đã thu hú t đông đảo các thế hê ̣ tham gia : vừa có sự “hồi xuân”, “tái xuất” của những cây bút “lão làng” như Nguyễn Khải,

Ma Văn Kháng , Nguyễn Kiên, , vừa có sự “trình làng” của những tên tuổi lần đầu tiên xuất hiê ̣n nhưng đầy tiềm n ăng như La ̣i Văn Long , Nguyễn Minh Dâ ̣u,

Phạm Hải Vân, Chỉ tính riêng báo Văn nghê ̣ và tạp chí Văn nghê ̣ Quân đội, số

lươ ̣ng tác phẩm dự thi hàng năm đã lên con số hàng nghìn truyê ̣n ngắn Cho đến những năm đầu thế kỉ XXI , lực lượng sáng tác thể loa ̣i tự sự cỡ “nhỏ” này ngày càng trở nên “hùng hậu” nhờ sự bổ sung liên tục đội ngũ , đă ̣c biê ̣t là các cây bút trẻ thế hệ 7X, 8X, 9X Quan sát đời sống “sôi đô ̣ng” của thể loa ̣i truyê ̣n ngắn từ khâu tiếp nhâ ̣n, tiêu thu ̣, nhà nghiên cứu- phê bình Bùi Viê ̣t Thắng đã nhâ ̣n xét :

“Sức mua của xã hô ̣i thâ ̣t lớn và sự ưu đãi của người đo ̣c với truyê ̣n ngắn thâ ̣t cảm động và đáng để giới nghiên cứu, phê bình văn ho ̣c quan tâm” [90]

Sự “hưng thi ̣nh” của thể loa ̣i truyê ̣n ngắn hiê ̣n nay là sự tiếp nối truyền thống đã đa ̣t nhiều thành tựu rực rỡ của thể loa ̣i này qua các giai đoa ̣n 1930-

1945, 1945- 1975 Tuy nhiên, giữa cuô ̣c sống đương đa ̣i đầy biến đô ̣ng , thể loại truyê ̣n ngắn tỏ rõ có sức “ca ̣nh tranh” vượt trô ̣i trong tương quan so sánh với các

Trang 40

thể loa ̣i khác (thơ, kịch, tiểu thuyết, ) Với ưu thế đă ̣c trưng thể loa ̣i là nhỏ go ̣n ,

đi thẳng vào bản chất vấn đề cuô ̣c sống và mang tính khái quát cao, truyê ̣n ngắn rất phù hợp với nhi ̣p đô ̣ sống gấp gáp của thời đa ̣i công nghiê ̣p như hiê ̣n nay (nhịp độ nhanh chóng hơn trong sáng tạo cũng như tiếp nhận nghệ thuật ) Mặt khác, ưu thế thể loa ̣i khiến truyê ̣n ng ắn luôn nhạy bén với cái mới, nắm bắt đươ ̣c kịp thời những đổi thay của muôn mặt cuộc sống thường ngày Ngược trở la ̣i chă ̣ng đường “khởi đô ̣ng” trong hành trình đổi mới của văn ho ̣c Viê ̣t Nam sau năm 1975, có thể thấy truyện ngắn đã “khởi đô ̣ng” sớm nhất , liên tu ̣c và ma ̣nh

mẽ nhất Với ba tác phẩm tiêu biểu: Cái mặt- Nguyễn Minh Châu (được sáng tác năm 1976, sau đổi tên thành Bức tranh năm 1982), Hai người trở lại trung đoàn- Thái Bá Lợi (1976), Có một đêm như thế - Phạm Thị Minh Thư (1981), thể loa ̣i

truyê ̣n ngắn đã đánh dấu mốc cho sự thay đổi cách tiếp câ ̣n và phản ánh hiê ̣n thực theo mô ̣t nguyên tắc thẩm mĩ mới trong văn ho ̣c , đồng thời là sự đổi mới

cách thức trần thuâ ̣t cho loa ̣i hình tự sự (Có một đêm như thế) Đến giai đoa ̣n sôi

nổi nhất của thời kì đổi mới văn ho ̣c (từ năm 1986 đến giữa những năm 90), những tác phẩm ta ̣o ra “hiê ̣u ứng chói gắt” trong dư luâ ̣n cũng thuô ̣c về thể loa ̣i truyê ̣n ngắn (sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài) Từ giữa những năm 90 đến nay, trong sự ổn đi ̣nh và có phần trầm lắng hơn của văn ho ̣c thời kì đổi mới, thể loa ̣i tự sự cỡ “nhỏ” này vẫn “bền bỉ” thể hiê ̣n “ sức sống” ma ̣nh mẽ của mình qua những nỗ lực cách tân không ngừng về nội dung phản ánh cũng như hình thức nghê ̣ thuâ ̣t Với thành tựu và ưu thế của mình , truyê ̣n ngắn luôn khẳng đi ̣nh là thể loa ̣i “có vi ̣ trí và công năng lớ n trong văn ho ̣c hiê ̣n đa ̣i , đương

đa ̣i Viê ̣t Nam” [90]

2.2.2 Như ̃ng biến đổi của thể loại truyê ̣n ngắn

Theo cách hiểu phổ biến nhất thì thể loa ̣i là các da ̣ng thức tổ chức tác phẩm, qui tu ̣ những hình thức nhìn nhâ ̣n và phản á nh đời sống Nó vừa có tính

ổn định- lưu giữ những yếu tố “ha ̣t nhân”, những “mã di truyền” cần thiết cho sự

“sống còn” của thể loa ̣i, đồng thời vừa có sự hồi sinh và đổi mới liên tu ̣c để thích ứng với sự phát triển c ủa văn học qua các thời đại khác nhau Vốn đươ ̣c xem là

Ngày đăng: 25/07/2017, 10:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí Văn học (4), tr.14-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển”," Tạp chí Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
2. Vũ Tuấn Anh (1996), “Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại”, Tạp chí Văn học (9), tr.28-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại”," Tạp chí Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1996
3. Thái Phan Vàng Anh (2010), Người kể chuyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Luận án tiến sĩ Văn học, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người kể chuyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Năm: 2010
4. Phan Thị Vàng Anh (2012), Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh
Tác giả: Phan Thị Vàng Anh
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2012
5. M. Bakhtin (2003), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2003
6. R. Barthes (2006), “Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể” (Tôn Quang Cường dịch), http://docsach.dec.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể
Tác giả: R. Barthes
Năm: 2006
7. Lê Huy Bắc (2008), “Cốt truyện trong tự sự”, Tạp chí Nghiên cứu văn học (7), tr.34-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cốt truyện trong tự sự”, Tạp chí "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 2008
8. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí Văn học (9), tr.66-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
9. Lê Huy Bắc (2004), “Truyện ngắn: nguồn gốc và thể loại”, Tạp chí Nghiên cứu văn học (5), tr.84-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn: nguồn gốc và thể loại”, Tạp chí "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 2004
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2013
13. Nguyễn Thị Bình (2008), “Tư duy thơ trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, Tạp chí Nghiên cứu văn học (5), tr.41-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy thơ trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, Tạp chí "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2008
14. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975- 1995- Những đổi mới cơ bản, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975- 1995- Những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
15. Nguyễn Thị Bình (2011), “Ý thức phái tính trong văn xuôi nữ đương đại”, Tạp chí Nghiên cứu văn học (9), tr.74-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức phái tính trong văn xuôi nữ đương đại"”," Tạp chí "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2011
16. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (2015), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Jean Chevalier, Alain Gheerbrant
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2015
17. Nguyễn Văn Dân (2010), “Sức sống dai dẳng của kỹ thuật “dòng chảy ý thức””, Tạp chí Nghiên cứu văn học (8), tr.17-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức sống dai dẳng của kỹ thuật “dòng chảy ý thức””, Tạp chí "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2010
18. Đỗ Hoàng Diệu (2005), Bóng đè, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bóng đè
Tác giả: Đỗ Hoàng Diệu
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2005
19. Trần Ngọc Dung (2006), “Đời sống thể loại văn học sau 1975”, Tạp chí Nghiên cứu văn học (2), tr.91-97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống thể loại văn học sau 1975"”," Tạp chí "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Trần Ngọc Dung
Năm: 2006
20. Đoàn Ánh Dương (2007), “Cánh đồng bất tận, nhìn từ mô hình tự sự và ngôn ngữ trần thuật”, Tạp chí Nghiên cứu văn học (2), tr.96-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cánh đồng bất tận", nhìn từ mô hình tự sự và ngôn ngữ trần thuật”, Tạp chí "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Năm: 2007
21. Trần Thanh Đạm (2003), “Nhìn lại văn học Việt Nam sau 1975: 3 giai đoạn, 3 xu hướng”, Báo Văn nghệ (34), tr.10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại văn học Việt Nam sau 1975: 3 giai đoạn, 3 xu hướng”, Báo "Văn nghệ
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Năm: 2003
22. Đặng Anh Đào (1996), “Truyện cực ngắn”, Tạp chí Văn học (2), tr.9-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cực ngắn”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w