I SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN BÁI TRƯỜNG THPT MÙ CANG CHẢI BÁO CÁO SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ (Lĩnh vực Ngữ văn) VẬN DỤNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VÀO GIẢNG DẠY MỘT SỐ VĂN BẢN THƠ TỐ HỮU TRONG CHƯƠN[.]
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN BÁI
TRƯỜNG THPT MÙ CANG CHẢI
BÁO CÁO SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ
(Lĩnh vực: Ngữ văn)
VẬN DỤNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VÀO GIẢNG DẠY MỘT SỐ VĂN BẢN THƠ TỐ HỮU TRONG
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11, 12
Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:
NGUYỄN DUY NINH Đại học Sư phạm Ngữ văn Giáo viên
Trường THPT Mù Cang Chải
Mù Cang Chải, ngày 21 tháng 01 năm 2022
Trang 21
I THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Vận dụng đặc điểm thi pháp văn học hiện đại vào giảng
dạy một số văn bản thơ Tố Hữu trong chương trình Ngữ Văn 11, 12
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Ngữ văn
3 Phạm vi áp dụng sáng kiến: Một số văn bản thơ Tố Hữu thuộc chương
trình Ngữ Văn 11, 12
4 Thời gian áp dụng sáng kiến:
Từ năm học 2020 - 2021 đến nay
5 Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Duy Ninh
Năm sinh: 1982
Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm Ngữ văn
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường THPT Mù Cang Chải
Địa chỉ liên hệ: Tổ 4 – Thị trấn Mù Cang Chải – Huyện Mù Cang Chải – Tỉnh Yên Bái
Điện thoại: 0963.364.815
6 Đồng tác giả: Không
II MÔ TẢ SÁNG KIẾN:
1 Tình trạng các giải pháp đã biết
- Hiện tại, người viết vẫn tiếp tục áp dụng các giải pháp đã biết vào thực tế giảng dạy của mình, cụ thể là vận dụng những đặc điểm thi pháp văn học hiện đại
vào giảng dạy một số văn bản thơ Tố Hữu trong chương trình Ngữ Văn 11, 12
- Những ưu, khuyết điểm của các giải pháp đã, đang được áp dụng:
+ Ưu điểm: Học sinh đã được làm quen và thực hành từ những năm học trước nên chủ động hơn về kĩ năng nhận biết và áp dụng vào các đơn vị kiến thức, bài học
cụ thể sao cho phù hợp và hiệu quả hơn Hơn nữa, người viết cũng đã có những điều chỉnh về định hướng cách thức hoạt động, phát vấn theo hướng phù hợp hơn đối với từng nhóm đối tượng nhận thức
+ Khuyết điểm: Một tồn tại, khuyết điểm dễ nhận thấy trong quá trình áp dụng các sáng kiến là tính không đồng đều trong lĩnh hội, tiếp nhận của các nhóm đối tượng học sinh
- Thực tiễn đã chứng minh, thơ Tố Hữu là một thành tựu nổi bật của thơ ca cách mạng Việt Nam Đó là bài ca của thời đại Hồ Chí Minh đấu tranh anh hùng và thắng lợi vẻ vang, bài ca về lẽ sống lớn, về ân tình cách mạng sâu nặng, về niềm tin tưởng lạc quan vào tương lai tất thắng của sự nghiệp cách mạng Hơn nửa thế kỉ qua, kể từ khi xuất hiện, thơ Tố Hữu đã thực sự trở thành một bộ phận không thể tách rời của đời sống tâm hồn Việt Nam Nếu lấy mức độ phổ cập, sức mạnh chinh phục trái tim quần chúng nhân dân làm thước đo tầm vóc tiếng thơ thì thơ Tố Hữu
có thể sánh với bất cứ nhà thơ lớn nào có trong lịch sử dân tộc và nhân loại Tố Hữu thực sự là nhà thơ lớn của văn học dân tộc Việt Nam thế kỉ XX, là lá cờ đầu của thơ
ca cách mạng và hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 32
- Trong các bộ môn của ngành nghiên cứu văn học hiện nay như lịch sử văn học, lí luận văn học, phê bình văn học,… thì thi pháp học là một bộ môn nghiên cứu
có nhiệm vụ đặc thù Nhu cầu nghiên cứu thi pháp văn học hiện đại trong thơ Tố Hữu là bức thiết bởi đó là hiện tượng thơ tiêu biểu cho thơ ca tiếng Việt, vai trò to lớn của thơ ca cách mạng trong việc góp phần đổi mới tiếng thơ Việt Nam từ cổ điển sang hiện đại Nhu cầu này cho thấy truyền thống nghệ thuật dân tộc có một vị trí như thế nào trong đời sống văn học ngày nay, và nó chứng tỏ sự thể hiện của đường lối của Đảng trong việc xây dựng một nền văn nghệ “có nội dung xã hội chủ nghĩa trong sáng và đậm đà tính dân tộc” Mục tiêu cần đạt tới là hiệu quả giáo dục
cụ thể trong hoạt động dạy học của người giáo viên: vận dụng những thành tựu nghiên cứu thi pháp văn học hiện đại để trong quá trình giảng dạy, học sinh sẽ được tiếp nhận thơ Tố Hữu qua các bài đọc Văn một cách bài bản, sâu sắc và chủ động hơn Hơn nữa, chọn vấn đề này, người viết hướng tới mục đích áp dụng các giải pháp cụ thể theo hướng tích hợp vào các văn bản văn học trong chương trình Ngữ Văn 12 thuộc giai đoạn 1945 - 1975, đặc biệt là những tác phẩm mang khuynh
hướng sử thi, trữ tình - chính luận
- Một nguyên nhân nữa khiến người viết áp dụng những giải pháp từ đặc điểm thi pháp văn học hiện đại là tư duy dạy học phân hóa và dạy học tích hợp nhằm phát hiện, phát huy và bồi dưỡng những học sinh có khả năng nhận thức, cảm nhận tốt về văn chương để lựa chọn, tạo nguồn ôn tập giáo dục mũi nhọn, hướng tới tham gia các kỳ thi học sinh giỏi các cấp và đáp ứng yêu cầu bức thiết là nâng cao chất lượng trong công tác ôn thi tốt nghiệp THPT cho học sinh khối lớp 12
Với sáng kiến kinh nghiệm này, tôi mong muốn được góp phần đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông Mù Cang Chải nói riêng và nhà trường THPT nói chung
Qua nhiều năm giảng dạy Ngữ văn tại trường THPT tôi nhận thấy phương pháp dạy học các bài đọc – hiểu văn bản văn học nói chung và của lớp 11, 12 nói riêng đã áp dụng chưa có nhiều đổi mới nên hiệu quả mang lại chưa cao Vì vậy, tôi
nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp Vận dụng đặc điểm thi pháp văn học hiện đại vào giảng dạy một số văn bản thơ Tố Hữu trong chương trình Ngữ Văn 11, 12
2 Nội dung các giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
2.1 Mục đích của các giải pháp:
Nhằm tăng cường kỹ năng tiếp nhận, cảm nhận hình tượng nghệ thuật theo hướng đào sâu khả năng cảm thụ của học sinh, đặc biệt là học sinh khối lớp 12 và cũng tăng cường, củng cố thêm kĩ năng tư duy so sánh, liên hệ theo hướng tích hợp kiến thức với các văn bản văn học cùng đề tài, chủ đề, tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật
Vì vậy, các giải pháp được trình bày trong sáng kiến kinh nghiệm sẽ nhằm
giải quyết các vấn đề sau:
Thứ nhất, tăng cường năng lực cảm nhận về các giá trị của văn bản văn học, hình thành và phát triển động cơ, thái độ học tập tích cực cho các em học sinh
Thứ hai, thông qua thái độ chủ động, tích cực, giáo viên sẽ phát hiện được những nhân tố để ôn luyện, bồi dưỡng nâng cao góp phần làm tốt công tác giáo dục mũi nhọn của nhà trường
Trang 43
Về thời gian, mặc dù việc áp dụng các giải pháp không liên tục do yêu cầu công việc, phân công nhiệm vụ qua từng năm học nhưng chủ yếu là được phân công giảng dạy các khối lớp 11, 12 nên thời gian áp dụng là tương đối dài Việc áp dụng lien tục bắt đầu từ năm học 2020 – 2021 đến nay
2.2 Nội dung các giải pháp:
- Tính mới:
Thứ nhất, những giải pháp mới nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập các bài đọc hiểu văn bản văn học thơ Tố Hữu lớp 11 và 12, đặc biệt là việc phát triển năng lực cho học sinh, đó là: Tích cực tạo tâm thế cho học sinh trước khi vào tìm hiểu nội dung bài học, giáo viên đã tích hợp kiến thức Văn học với kiến thức các môn học khác có nội dung lên quan, xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với đặc trưng bài học, tích cực áp dụng hình thức thảo luận nhóm vào quá trình giảng dạy
Thứ hai, khi áp dụng các giải pháp mới học sinh tích cực, chủ động lĩnh hội tri thức, các em có ý thức chuẩn bị bài ở nhà, trong giờ học nhiều em đều cảm thấy thích thú với việc học tập theo hướng mới, thực sự chủ động và tích cực
Thứ ba, học sinh vận dụng kiến thức phần Lí luận văn học vào giải quyết phần định hướng nâng cao kiến thức và đề xuất cách giải quyết trong đề nghị luận văn học
- Sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ:
+ Giải pháp cũ:
Giáo viên chủ yếu là cung cấp kiến thức sẵn có trong các bài đọc hiểu văn bản văn học cho học sinh theo trình tự nhất định của bài, chủ yếu là đọc – chép, tiếp nhận một chiều
Giáo viên chủ yếu sử dụng hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa
Học sinh tiếp nhận kiến thức một cách máy móc, thụ động, thiếu sự sáng tạo, ghi chép nhiều
+ Giải pháp mới:
Các giải pháp mới được áp dụng để dạy đọc hiểu văn bản văn học theo định hướng phát triển năng lực như năng lực tự học qua quá trình chuẩn bị bài ở nhà, năng lực phát hiện tri thức - tích hợp kiến thức liên môn, năng lực tư duy qua hệ thống câu hỏi, năng lực tổng hợp và khái quát kiến thức qua hệ thống bảng biểu, sơ
đồ Nhờ đó mà giáo viên linh hoạt trong tiết dạy; học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo trong việc lĩnh hội kiến thức
2.3 Nội dung các giải pháp:
Nhất thiết rằng: dạy Văn là dạy trong bản thân môn Văn và cả ngoài môn Văn Với một cách suy nghĩ giản đơn, thiếu kinh nghiệm thực tiễn, lại thiếu một cách tiếp cận đồng bộ thì cho dù ta có tinh thần trách nhiệm cao đi chăng nữa vẫn dễ đi đến những nhận định sai lệch về một vấn đề phức tạp như dạy môn Văn trong nhà trường
Vấn đề đã rõ, như đã nói ở trên, đổi mới phương pháp là chìa khoá thành công của
người giáo viên trên hành trình dạy học
Mục tiêu Giáo dục và đào tạo học sinh toàn diện các mặt đã có được những nhận thức rõ ràng và chuyển biến theo chiều hướng tích cực Thực tiễn dạy học cho thấy, những vấn đề về dạy học Văn nói riêng và các bộ môn khác nói chung còn nhiều tồn tại, sửa chữa và đổi mới nhằm phát huy tính chủ động, tích cực của học
Trang 54
sinh, giúp học sinh nhận thức được học tập là nhu cầu tự giác Tuy vậy, xu thế phát triển đi lên giúp học sinh tiếp cận, làm quen và thực hiện theo những cấp độ nhận thức, học tập mới là hợp quy luật phát triển
Do trình độ- khả năng và phạm vi- giới hạn của vấn đề nghiên cứu; hơn nữa, cần nhấn mạnh tính hiệu quả và tính phù hợp trong thực tế giảng dạy bộ môn nên người viết chỉ tập trung vào vấn đề vận dụng thi pháp văn học hiện đại (thi pháp tác giả- Tố Hữu) vào giảng dạy một số bài đọc Văn trong chương trình Ngữ Văn 11 và
12 để học sinh nắm được sự liên quan và tính thống nhất Và dưới đây là những biện pháp, đặc điểm thi pháp đã được áp dụng trong quá trình giảng dạy một số bài đọc Văn trong chương trình Ngữ Văn 11 và 12 qua các bài đọc Văn cụ thể
Giải pháp 1: Tìm hiểu không gian nghệ thuật
Không gian nghệ thuật hình thành, theo Gachev, là bởi hai nhân tố: Nhân tố địa lý- chủng tộc và nhân tố văn hóa truyền thống Trong thơ ca Việt Nam cổ xưa, đất- nước là yếu tố địa lý- chủng tộc, nhân tố văn hóa truyền thống là không gian vũ trụ đất trời Trong thơ ca cách mạng hiện đại, ngoài hai yếu tố trên, chính thế giới
quan mới và thực tiễn cách mạng đã làm cho không gian con đường trở thành trục
chính, hướng tiến tới mang nội dung chính trị, kết hợp với nét phát triển của văn hóa truyền thống làm thành hướng tiến lên
Từ tiền đề về mặt lý luận, trong quá trình giảng dạy, đặc điểm thi pháp này thường được người giáo viên vận dụng để học sinh thấy rõ dụng ý nghệ thuật khi xây dựng, khắc họa hình tượng nhân vật (tự sự) và lột tả tâm trạng, cảm xúc của chủ thể (trữ tình) với góc độ cảm hứng chủ đạo, phông nền văn hóa và để học sinh phân biệt với không gian- địa lý, lịch sử
Không gian nghệ thuật, hiểu ở mức độ khái quát và phổ biến, là hình thức tồn tại chủ quan của hình tượng Giữa không gian nghệ thuật và không gian- địa lý, lịch
sử có một độ vênh, khúc xạ; mức độ như thế nào phụ thuộc vào ý đồ nghệ thuật của chủ thể sáng tạo
Về không gian nghệ thuật (trong thơ Tố Hữu biểu hiện rõ nhất là ở tính sử thi), có thể chỉ ra những biểu biện cụ thể của đặc điểm thi pháp này trong văn bản văn học:
- Đề tài, chủ đề: Thường hướng tới tầm vóc vĩ mô, khái quát trong nghệ thuật khắc họa hình tượng Cụ thể hơn, đề tài, chủ đề mang tính sử thi thường hướng tới những vấn đề có ý nghĩa lớn lao, trọng đại của đời sống cộng đồng, dân tộc trong những thời điểm có tính chất quyết định của lịch sử Đó là vấn đề sống- còn; độc lập, tự do- nô lệ của dân tộc
Thơ Tố Hữu là tư duy thơ hướng tới những vấn đề lớn lao, trọng đại Trong
Từ ấy, đó là đề tài cách mạng, lý tưởng tranh đấu của người chiến sĩ trẻ tuổi vừa giác ngộ sâu sắc lý tưởng và lẽ sống lớn; trong Việt Bắc, đó là khúc hùng ca về cuộc
kháng chiến và khúc tình ca đầy ân nghĩa thủy chung giữa cán bộ cách mạng – đồng bào Việt Bắc, miền xuôi - miền ngược
- Nhân vật: Mang cảm quan về không gian rộng lớn – mang tính biểu tượng của thời đại Hồ Chí Minh, đó không phải là những con người của đời sống riêng tư, tình cảm cá nhân mà thực chất, họ là sự hội tụ, kết tinh những phẩm chất tốt đẹp nhất của cộng đồng, dân tộc Có khi mang tầm vóc của lịch sử, thời đại Đó có thể là
Trang 65
Người con gái Việt Nam Trần Thị Lý hay những chàng Thạch Sanh của thế kỷ XX,… Đó là những con người như chân lý sinh ra Trong Từ ấy, đó là hình tượng người chiến sĩ trẻ tuổi mang lẽ sống lớn, tình cảm lớn; trong Việt Bắc, đó là hình
tượng anh bộ đội Cụ Hồ, là lãnh tụ Hồ Chí Minh – vị Cha già của dân tộc và quần
chúng nhân dân gắn bó thắm thiết trong tình quân dân như cá với nước
- Ngôn ngữ, hình tượng, giọng điệu: Thiên về chất hào sảng, hùng tráng, trang
nghiêm của sự biểu đạt ví như: Kính chào Anh, con người đẹp nhất/ Lịch sử hôn Anh, chàng trai chân đất/ Sống hiên ngang, bất khuất trên đời/ Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi/ Một dây ná, một cây chông cũng tấn công giặc Mĩ/ Không tự ngắm mình, Anh chẳng hay đâu, hỡi chàng dũng sĩ/ Cả năm châu, chân lý đang nhìn theo/ Trong Từ ấy, đó là ngôn ngữ mang sắc thái trang trọng, going điệu tràn đầy nhiệt huyết của người chiến sĩ trẻ tuổi giác ngộ lý tưởng cách mạng; trong Việt Bắc,
đó là ngôn ngữ, giọng điệu với hình thức bề ngoài là lời của mình – ta, người ở lại –
người ra đi nhưng thực chất, chủ đạo là tiếng hát ân tình thủy chung sau 15 năm
thiết tha mặn nồng, đại diện cho những con người kháng chiến trong giờ phút chia
ly nhưng đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ nên tràn đầy niềm vui, lạc quan, tin
tưởng
Khi áp dụng vào thực tế bài dạy, người viết có thể lấy một số ví dụ thực tế
như sau:
- Khi học sinh được hỏi: Thế nào là không gian nghệ thuật? Chỉ ra những
biểu hiện về những đặc điểm thi pháp này trong những bài thơ của Tố Hữu? Giáo viên định hướng nêu vấn đề để các em học sinh tiến hành thảo luận nhóm, sử dụng
kỹ thuật dạy học khăn trải bàn để giải quyết vấn đề, tình huống Thực tế, học sinh chưa phân biệt rõ ràng về khái niệm không gian- địa lý, không gian- lịch sử với không gian trong văn chương nghệ thuật Khi đó, giáo viên cần dẫn dắt, gợi ý (cung cấp những khái niệm về không gian nghệ thuật để học sinh chỉ ra được những biểu hiện của không gian nghệ thuật (còn gọi là không gian sử thi) trong thơ Tố Hữu và chốt lại: Thơ Tố Hữu là đỉnh cao của thơ trữ tình- chính trị Việt Nam, biểu hiện lẽ
sống lớn, tư tưởng lớn, tình cảm lớn của dân tộc Ví dụ: Chào 61, đỉnh cao muôn trượng/ Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng/ Trông lại ngàn xưa, trông tới mai sau/ Trông Bắc, trông Nam, trông cả địa cầu/ hay: Đã nghe nước chảy lên non/ Đã nghe đất chuyển thành con sông dài…
- Một ví dụ khác, khi được hỏi: Hiểu như thế nào về kiểu thơ trữ tình- chính trị? Vì sao thơ Tố Hữu là đỉnh cao của thơ trữ tình- chính trị Việt Nam? Muốn lý
giải được, giáo viên cần định hướng, dẫn dắt cho học sinh hiểu và nắm vững về dạng thơ trữ tình- chính trị, nhấn mạnh cho các em khắc sâu một điểm cốt yếu về Tố Hữu và thơ ông, đó là: đường đời, đường cách mạng, đường thơ là một (những chặng đường trong đời thơ Tố Hữu luôn gắn với những thăng trầm, những sự kiện trọng đại của lịch sử dân tộc, thể hiện tư tưởng lớn - lẽ sống lớn - tính cảm lớn trên
cơ sở đại diện, nhân danh cộng đồng, nhân dân và ý thức sâu sắc về cái tôi công dân
của mình) bởi Tố Hữu tâm niệm: Trái tim anh đó/ Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ/ Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều/ Phần cho thơ và phần để em yêu…/ Em xấu hổ: Thế cũng nhiều anh nhỉ!/
Trang 76
Trường Chinh (Sóng Hồng) chia sáng tác thơ ra làm hai loại: một loại chủ yếu
là viết ra để phục vụ tuyên truyền cách mạng và loại khác là để ghi lại một số tình cảm sâu sắc của mình
Tố Hữu là kiểu nhà thơ mang cái tạng viết chỉ để phục vụ cách mạng từ trước
đến sau Nhất quán là như vậy! không xê dịch, không chệch hướng trong suốt đời
thơ của mình Có lần trả lời một phóng viên về thơ viết cho mình hay cho người?,
Tố Hữu trả lời: Nhưng có nên phân biệt mình và người? Khi mình là người và người cũng là mình thì vấn đề ấy con đặt ra làm gì nữa Không nên nghĩ cái này viết cho mình, viết cái kia cho người Có lẽ nào viết cho mình mới là thật, là hay; còn viết cho người thì có thể dối, có thể tồi? Thơ cho người phải là thơ hết mình mới đúng Trong Một khúc ca xuân, ông quan niệm: Nếu là con chim, chiếc lá/ Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh./ Lẽ nào vay, mà không có trả/ Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình/ Chính vậy nên, thơ trữ tình- chính trị, với sự kết hợp giữa yếu tố
tuyên truyền và trữ tình luôn có nhiều tiềm năng phát triển như các thể tài khác
Áp dụng vào thực tế giảng dạy, khi đọc hiểu văn bản Từ ấy (Ngữ văn 11),
người giáo viên có thể vận dụng đặc điểm thi pháp này để dẫn dắt, định hướng học
sinh lý giải rõ ràng về thời điểm từ ấy- từ khi ấy- từ thời điểm người thanh niên bắt
gặp và giác ngộ lý tưởng cộng sản của chủ nghĩa Mác- Lê nin để từ đó nguyện dấn thân, hi sinh trọn đời cho lý tưởng cách mạng Một thế giới đầy hương sắc, một không gian bao la, chói ngời, khoáng đạt được mở ra theo chiều kích, nhân lên theo niềm hứng khởi, niềm vui sống của tác giả:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim…
Không gian nghệ thuật quy định đường nét tạo hình trong thơ Tố Hữu Nhà thơ đã tạo ra nhiều hình ảnh đa dạng, đẹp đẽ bậc nhất về con người đi lên, xốc tới,
vươn mình, khác hẳn thơ truyền thống nhưng vẫn rất hiện đại Trong bài thơ Việt Bắc (Ngữ văn 12), với hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu thì đó là tư thế
của con người vượt lên trên hoàn cảnh với phong thái ung dung, tự tại trên cái nền không gian rộng lớn của núi rừng bao la, ngút ngàn:
Nhớ Người những sáng tinh sương Ung dung yên ngựa trên đường suối reo Nhớ chân Người bước lên đèo Người đi rừng núi trông theo bóng Người
Không chỉ nhà thơ Tố Hữu mà những nhà thơ khác cũng thường sử dụng không gian nghệ thuật trong diễn tả tâm trạng, xúc cảm của mình Với nhà thơ Chế Lan Viên, ngày vào Đảng là một ngày không thể nào quên, tràn đầy thiêng liêng và
lâng lâng xúc cảm: Ngày vào Đảng đất trời như đổi khác/ Những vật vô tri cũng làm rơi nước mắt/ Đá sỏi cây cằn sao bỗng thấy thiêng liêng/ Giọng nói quen nghe, màu mắt quen nhìn/ Bỗng chan chứa bao điều chưa nói hết/ (Kết nạp Đảng trên quê Mẹ)
Giải pháp 2: Tìm hiểu thời gian nghệ thuật
Thời gian nghệ thuật trong văn học không phải giản đơn chỉ là quan điểm của tác giả về thời gian, mà là một hình tượng thời gian sinh động, gợi cảm, là sự cảm
Trang 87
thụ, ý thức về thời gian được dùng làm hình thức nghệ thuật để phản ánh hiện thực,
tổ chức tác phẩm
Là sự phản ánh của thời gian khách quan, thời gian nghệ thuật cũng có độ dài,
có quảng tính, có nhịp độ, tốc độ, có ba chiều quá khứ- hiện tại- tương lai và có hướng vận động không đảo ngược, theo một trật tự trước sau liên tục
Nhưng văn học không thể hiện đời sống theo kiểu thời gian lịch, thời gian đồng hồ, thời gian cơ học đồng chất, đều đặn kiểu định luật Niutơn Đối tượng chiếm lĩnh của văn học là đời sống con người; sự phát triển tính cách, số phận, sự vận động của các quan hệ giữa người và người, quá trình tự ý thức- tự phát hiện ra mình trong lịch sử, sự trở về với quá khứ, sự bay vượt lên trước vào tương lai,…
Thời gian nghệ thuật trong thơ Tố Hữu nằm trong quỹ đạo của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa thế giới, là bước phát triển của thời gian nghệ thuật trong thơ
ca dân tộc với nhiều những biểu hiện phong phú Nổi bật nhất là nhà thơ đã xây dựng thành công hình tượng thời gian lịch sử trong thơ với các biểu hiện khác nhau, khắc họa dòng thời gian vận động mang nhịp sống lớn lao, vĩ đại của thời đại mà cụ thể là 2 cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc
Ví dụ thưc tế: Thế nào là thời gian nghệ thuật? Chỉ ra những biểu hiện về
những đặc điểm thi pháp này trong những bài thơ của Tố Hữu? Giáo viên định hướng để các em học sinh tiến hành thảo luận nhóm, sử dụng những kỹ thuật dạy học để giải quyết vấn đề, tình huống Và thực tế, học sinh chưa phân biệt rõ ràng về khái niệm thời gian- vật lý, cơ học với thời gian- tâm lý Khi đó, giáo viên cần dẫn dắt, gợi ý (cung cấp những khái niệm về không gian, thời gian nghệ thuật để học sinh chỉ ra được những biểu hiện của thời gian nghệ thuật (còn gọi là thời gian sử thi) trong thơ Tố Hữu và chốt lại: Thơ Tố Hữu mang cảm quan về thời gian đậm tính lịch sử, thời đại vì thơ ông là tấm gương phản chiếu trung thực và đầy đủ những chặng đường đầy vẻ vang và gian nan của cách mạng Việt Nam, biểu hiện lẽ sống
lớn, tư tưởng lớn, tình cảm lớn của dân tộc Ví dụ: Đã nghe gió ngày mai thổi lại/
Đã nghe hồn thời đại lên cao/
Áp dụng vào thực tế giảng dạy, người giáo viên cần nhấn mạnh cho học sinh
về điểm này: Thời gian nghệ thuật bao giờ cũng là một hiện tượng cụ thể, lịch sử Thời gian trong thơ Tố Hữu là thời gian của Con Người, của Nhân dân, của Dân tộc
Ở Từ ấy, nhà thơ đã đan lồng một cách tài tình bối cảnh thời gian lịch sử- xã
hội vào mạch cảm xúc và hình tượng thơ Thời gian lịch sử mới xuất hiện như một viễn cảnh của thời gian cá nhân:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim…
Ở đây, ở thời điểm này, thời gian đời tư được tính bằng sự gặp gỡ và giác ngộ
lý tưởng cách mạng
Trong phần đầu bài thơ Việt Bắc, giây phút chia tay quyến luyến, bịn rịn, chất
chứa nỗi lòng kẻ ở- người đi bỗng trở thành thời khắc thiêng liêng, trọng đại mà tất
cả những chứng nhân trong cuộc chia ly đáng nhớ ấy đều ý thức rõ ràng lịch sử đã sang trang, mở ra một viễn cảnh hòa bình tươi sáng:
Trang 98
Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
Còn ở cuối tập thơ, thời gian lịch sử đóng vai trò chủ đạo nổi bật, thể hiện rõ
tư tưởng nghệ thuật của tác giả qua lời tâm sự: Chia tay với Việt Bắc là chia tay với quãng thời gian đẹp nhất của đời mình…Việt Bắc là tiếng hát ân tình, thủy chung và… day dứt Đến thời điểm này thời gian lịch sử đã trở thành thời gian nghệ thuật,
chỉ khoảng thời gian trong tâm tưởng, thời khắc không thể nào quên trong cuộc đời hoạt đông cách mạng của tác giả
Giải pháp 3: Khai thác chất thơ và phương thức thể hiện
Nếu các phương diện quan niệm con người, không gian, thời gian chủ yếu đề cập tới các nguyên tắc nắm bắt và phản ánh hiện thực đời sống của tác giả, thì chất thơ và phương thức thể hiện sẽ cho thấy đặc điểm hình thức thơ Tố Hữu Cần nhớ rằng, một trong hai đặc điểm nổi bật của phong cách thơ Tố Hữu chính là hình thức biểu hiện mang tính dân tộc đậm đà Đặc điểm phong cách này được hình thành từ cội nguồn văn hóa dân gian nuôi dưỡng hồn thơ ông từ thủa ấu thơ qua những làn
điệu Nam ai, Nam bình của vùng xứ Huế và qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, gắn
bó sâu sắc với vận mệnh của quần chúng, dân tộc Thơ Tố Hữu rõ ràng là tiếng nói lớn của thời đại Hình thức thơ bao gồm lời thơ, thể thơ, từ ngữ, nhịp điệu, hình ảnh, các hình thức tổ chức bài thơ, câu thơ Thơ Tố Hữu mang tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, đậm đà, đồng thời đạt đến mức nhuần nhị, thấm thía Ngôn ngữ thơ Tố Hữu đa phần được cấu trúc theo lối trữ tình điệu nói, thể hiện trước hết ở chỗ thường sử dụng các lời chêm, hô ngữ, thán từ, tiếng chào,… Một số bài thơ, tập thơ,
sử dụng nhiều lời nói tranh biện, lý lẽ, tuyên bố, khẳng định, ví như: Ôi trái tim em, trái tim vĩ đại/ Còn một giọt máu tươi còn đập mãi/ Không phải cho em Cho lẽ phải trên đời/ Cho quê hương em, cho Tổ quốc, cho loài người/ Đa dạng và phong phú
hơn trong chất thơ và hình thức thể hiện là xu hướng dùng nhiều kết cấu logic làm câu thơ rành rọt, mạnh mẽ Và phổ biến hơn cả là giọng điệu thơ trữ tình nhập vai khiến thơ ca vốn đã giàu nhạc tính, tình cảm lại càng dễ đi vào lòng người hơn, chẳng phải Tố Hữu quan niệm thơ là tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình, đồng
điệu đó sao?! Nhà nghiên cứu- GS Nguyễn Văn Hạnh đã kết luận: Tố Hữu đã mở rộng kích thước, biến đổi hình dáng của câu thơ bảy chữ, GS Lê Đình Kỵ càng nhấn mạnh hơn: Có thể nói, Tố Hữu đã tháo tung câu thơ bảy chữ cổ truyền (thơ luật Đường) hay có sẵn (thơ Mới) và làm một sự lắp ghép lại, ví dụ: Cả muôn triệu một lời đáp: Có/ Như Trường Sơn say gió biển Đông/ Vâng Bác nói Chúng con nghe rõ/ Mỗi tiếng Người mang nặng núi sông…/ Một tiểu dạng khác trong hình
thức thể hiện là loại thơ cách ngôn Mặc dù là loại thơ giản dị, hồn nhiên mà mạnh
mẽ, nhưng lại là rất khó viết Không có những xung đột lớn lao, gay gắt làm cho tình cảm nung nấu rung lên tột độ thì khó mà viết ra những câu thơ ấy Thực chất, giọng điệu của nhà thơ không phải giản đơn là cái chất giọng trời phú tự nhiên của một danh ca, cũng không phải chỉ là giọng quê hương mang theo từ nơi chôn rau cắt rốn, mà cái chính là hình tượng giọng nói do chính nhà thơ tạo ra, mang một tầm khái quát xã hội nhất định
Trang 109
Ví dụ thưc tế: Khi giáo viên đạt vấn đề: Em hiểu thế nào là chất thơ, phương thức biểu hiện? Chỉ ra những biểu hiện về những đặc điểm thi pháp này trong những
bài thơ của Tố Hữu? Học sinh tiến hành thảo luận nhóm, sử dụng những kỹ thuật dạy học để giải quyết vấn đề, tình huống Và thực tế, học sinh chưa hình dung được một cách rõ ràng về những khái niệm này thì sẽ không thể giải quyết trọn vẹn vấn
đề giáo viên đặt ra Khi đó, giáo viên cần dẫn dắt, gợi ý và chốt lại: Có thể hiểu chất thơ của Tố Hữu chính là nét phong cách nổi bật của thơ ông, đó chính là màu sắc dân tộc rất đậm đà (giọng thơ tâm tình, thể thơ lục bát, song thất lục bát, thất ngôn
đã được Việt hóa thuần dân tộc, rất gần gũi với ca dao – dân ca) Về phương thức
biểu hiện, đó là cái tôi nhân danh cộng đồng, dân tộc (cái ta chung) Đó là tính dân tộc và tính nhân dân trong văn học – những phạm trù thẩm mỹ thuộc lĩnh vực Lý
luận văn học,
Áp dụng vào thực tế giảng dạy, khi dạy học người giáo viên có thể vận dụng đặc điểm thi pháp này để dẫn dắt, định hướng nhận biết, phân tích cụ thể về những biểu hiện của đặc điểm thi pháp này qua các bài học
Thời kỳ sáng tác tập thơ Từ ấy, Tố Hữu thiên về khai thác giọng nói nhiệt
huyết, trẻ trung, tìm lối nói cường điệu, giàu ý vị lãng mạn Giọng thơ lãng mạn của
Từ ấy chính là một hình tượng giọng điệu mà nhà thơ cố ý tạo ra, bởi ông muốn thay
thế tiếng thơ tỏ lòng điệu ngâm, kín đáo bằng tiếng thơ mới có sức bay bổng, ngân
vang, có thể xốc lên cả một thế hệ trẻ Giọng nói trong Từ ấy chủ yếu là giọng mà vị
sứ giả của thế giới mới nói với những tù nhân của bần cùng, là giọng của người lính trong đoàn quân quyết chiến Ở Từ ấy, giọng nói lãng mạn và khí thế cách mạng không tách rời nhau Lãng mạn là cái vỏ mới của lời huyết thệ Tôi chưa chết nghĩa
là chưa hết hận, của niềm tin và niềm vui chiến thắng Từ âm điệu và cảm hứng
chung của cả tập thơ, người giáo viên có thể dễ dàng hơn trong việc định hướng cho các em nhận biết, phân tích cụ thể về biểu hiện của đặc điểm thi pháp này qua bài thơ:
Tôi đã là con của mọi nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm, cù bất cù bơ
Rõ ràng, đây là lời khẳng định chắc nịch cho cái tôi nhân danh thể hiện tâm
nguyện được gắn bó, hi sinh với quần chúng lao khổ trong khối đại đoàn kết chung, chiến đấu vì mục tiêu chung cao cả và gắn kết nhau bằng tình hữu ái vô sản
Trong bài thơ Việt Bắc nói riêng và tập thơ cùng tên nói chung, nhà thơ
chuyển sang xây dựng hình tượng giọng nói quần chúng đậm đà, thân thiết, bởi lẽ, đối tượng của tiếng thơ ông bây giờ là anh bộ đội, anh thợ máy, chị dân công, là các
bà bầm, bà mế, bà bủ Vấn đề cũng không giản đơn là có điều kiện gần gũi đời sống thực tế, nâng cao vốn sống, mà vấn đề còn là công chúng trực tiếp của thơ đã đổi thay Học sinh có thể căn cứ từ tiền đề này để chỉ ra, nhận biết, phân tích cụ thể về biểu hiện của đặc điểm thi pháp này Đó là kết cấu đối- đáp giao duyên với mình- ta
trong suốt bài thơ Việt Bắc: