3) giải thích điển tích văn học và từ cổ trong những câu thơ sau: Bài cảnh ngày hè nguyễn trãi. Hai câu trong bài nhàn nguyễn bỉnh khiêm: Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi là bài số 43 trong trùm thơ bảo kính cảnh giới của Quốc âm thi tập. Bài thơ cho ta thấy vẻ đẹp bức tranh thiên nhiên và tấm lòng yêu nước thương dân của tác giả. Bài thơ sử dụng từ cổ và điển tích , điển cố Trước hết là hệ thống từ cổ Trong câu thơ thứ nhất: “ Rồi hóng mát ?thuở ngày trường + Rồi là tiếng cổ nghĩa là dỗi dãi, thong thả nhàn hạ cả trong công việc cũng như trong tâm hồn. Câu thơ phản ánh nếp sinh hoạt nhàn nhã trong chuỗi ngày dỗi dãi , lấy việc hóng mát làm niềm vui nuôi dưỡng tinh thần. Đây là lúc ông được sống ung dung, được thỏa ước nguyện hòa mình với thiên nhiên mà ông hằng yêu mến “Hòe lục đùn đùn tán rợp gương” trong văn học cổ hòe gắn với điển tích “ giấc hòe” ( giấc mộng đẹp) , “ sân hòe” chỉ nơi cha mẹ ở.Cây hòe có tán rộng, tỏa bóng mát che rợp sân ngõ nhà, vườn “ giương” lên như 1 chiếc ô.Mỗi từ ngữ là 1 màu sắc tạo hình gợi cả sức sống của cảnh vật đồng quê trong ngày hè lục, đùn đùn, tán rợp giương, ngôn ngữ thơ bình dị, hàm súc và hình tượng “ Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên trì đã tiễn mùi hương” +Đã miêu tả khóm thạch lựu trc nhà trổ hoa rực rỡ . Truyện Kiều cũng có câu “Đầu từng lửa lựu lập lòe đơm bông”.đó là 1 quá trình sáng tạo của ngôn ngữ + câu 4 nói về sen “ tiễn” là ngát ( tiếng cổ). Sen là biểu tượng cho cảnh sắc làng quê, sen trong làng đã ngát mùi hương gợi lên không khí thanh bình +Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương bức tranh ngày hè toàn thịnh vốn đã đầy màu sắc giờ lại tràn ngập cả âm thanh. “ dắng dỏi” là từ cổ chỉ tiếng ve kêu ing ỏi Tiếng ve inh ỏi như một bản đàn làm cho hoàng hôn cũng trở nên náo nhiệt. Phải là một tâm hồn mở, một điệu hồn náo nức thì mới có thể nghe tiếng ve inh ỏi thành tiếng đàn cầm ve như thế. Từ làng ngư phủ xa xa của dân nghèo lớp dưới, đến lầu son gác tía của người lớp trên, chỗ nào cũng rộn rã vui tươi. + Ta bắt gặp từ cổ ở hai câu thơ cuối Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ khắp đòi phương” “ dẽ có”: Nghĩa là hãy để cho ta có; “Đòi” ở đây đc hiểu là số nhiều, nhiều nơi Câu thơ có ý nghĩa làGiá chỉ có cây đàn của vua Thuấn, ta sẽ gảy khúc Nam Phong cầu cho dân giàu đủ khắp muôn phương Bên cạnh từ cổ NT còn sử dụng điển tích điển cố “Ngu cầm”, điển tích về cây đàn của thời vua Nghêu, vua Thuấn, là thời đại thái bình thịnh trị trong lịch sử Trung Hoa cổ, được tác giả mượn để nói lên ước muốn của ông: “dẽ có” được trong tay cây đàn ấy, đàn một tiếng để dân chúng đều được giàu có, no đủ. Ẩn sau khát vọng ấy là sự trách móc nhẹ nhàng mà nghiêm khắc bọn quan thần tham bạo ở triều đình đương thần không còn nghĩ đến dân, đến nước. Vậy mới thấy, dù sống trong tâm trạng “bất đắc chí”, Nguyễn Trãi vẫn cảm nhận được cuộc sống thường ngày, gắn bó với thực tế, không nguôi ngoai nỗi niềm dân nước. Ông luôn khát khao được đem tài trí để thực hành tư tưởng nhân nghĩa yêu nước thương dân. Câu thơ sáu chữ ngắn gọn, súc tích, nhịp 33 đã tạo âm hưởng mạnh mẽ, thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài thơ.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
2đ:
1) ac hiểu thế nào là văn biền ngẫu? hãy chỉ ra tính chất biền ngẫu qua một
số câu văn trích dẫn trong các tác phẩm vh trung đại vn được giảng dạy ở thpt hiện nay.
Văn Biền ngẫu được sử dụng khá phổ biến trong văn học thời trung đại Theo chiết
tự thì:
+Biền: có nghĩa là “song song”
+Ngẫu: là “chẵn, song đôi”
“Biền ngẫu” theo nghĩa đen là hai con ngựa chạy song song cùng kéo cỗ xe Văn biền ngẫu là loại văn sd những cặp câu đối nhau, sóng đôi với nhau để truyền tải nội dung ý nghĩa Văn biền ngẫu thường đc sd ở vh chức năng như chiếu, hịch, cáo, biểu, văn tế
Văn biền ngẫu là kiểu câu chỉnh tề: câu 4 chữ đói với câu 4 chữ, câu 6 chữ đói vớicâu 6 chữ, hoặc câu 4/4 và câu 6/6 đói với nhau
Văn biền ngẫu có vần điệu hài hòa, có sử dụng điển cố, từ ngữ bóng bẩy, khoa trương Trong các đặc điểm trên, yêu cầu đói là quan trọng nhất nguyên tắc đói trong câu văn biền ngẫu có những yêu cầu rất chặt chẽ và phúc tạp
+ đối ý: phải tìm được hay ý có liên quan với nhau nhưng lại đói nhau nhưng lại đói nhau để đạt thành hai vế trong câu, hai ý này có thể trái ngược hoặc thuận chiều với nhau
Vd1:
đến nay nước sông tuy chảy hoài
Mà nhục quân thù chưa rửa nổi
( BĐGP- NT)
Đối tương phảnVd2:
thuyền bè muôn đợi, tinh kì phấp phới
Trang 2Hùng hổ ba quân, giáo gươm sáng chói
(BDGP-THS)+ đối thanh: nghịch đối (trắc đối với bằng)
+ đối từ: đối theo nghĩa (cũng có nghịch đối và thuận đối)
+ đối từ loại: thực từ đối với thực từ, hư từ đối với hư từ
Một số tác phẩm tiêu biểu viết theo lối văn biền ngẫu như: Dự chư tì tướng hịch văn (Trần Quốc Tuấn), Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Ng Đình Chiểu), Chiếu dời đô (Lí Công Uẩn), Bình Ngô Đại Cáo ( Ng Trãi),…
1 số câu văn:
+ văn tế: Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó -> đối việc – tập; cuốc, cày, bừa, cấy – khiên, súng, mác, cờ; tay- mắt; vốn quen làm- chưa từng ngó
Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ.=> Đoái –nhìn; sông-chợ;…
+ Bình Ngô Đại Cáo: Lưu Cung tham công nên thất bại/ Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong.=>…
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn/ Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ=>…
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời/ Nếm mật nằmgai, há phải một hai sớm tối=>…
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương…
2) Anh c hiểu thế nào là thể truyền kì qua tác phẩm chức phán sự đền tản viên?
Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là một trong những chuyện tiêu biểu của
Truyền kì mạn lục Truyện không chỉ hấp dẫn người đọc bởi câu chuyện mà
Nguyễn Dữ đã kể lại mà còn có sức hút từ chính yếu tố thần kì trong đó
Những yếu tố truyền kì trong truyện:
Trang 3- Đây là 1 tác phẩm dày đặc yếu tố truyền kì (yếu tố kì ảo hoang đường) có các: +Nhân vật truyền kì: thần linh và ma quỷ: hồn ma tên tướng giặc phương Bắc, quỷ, quỷ Dạ Xoa, Thổ công, Diêm Vương, các phán quan, thánh Tản Viên Tất cả các nhân vật này đều thuộc về cõi âm.
Nhân vật phản diện trong truyện là hồn ma tên tướng giặc Khi sống, hắn đem quân cướp nước ta và khi chết, hắn cướp nơi thờ tự của Thổ công để trú ngụ Đối lập hoàn toàn với tướng giặc họ là Thổ công, Thổ công chính là nạn nhân trực tiếp của tên tướng giặc Ngôi đền Tử Văn đốt vốn dĩ do ông cai quản, bị hồn ma tướng giặc chiếm giữ Bao nỗi ấm ức của Thổ công chỉ được giãi bày khi Tử Văn có hành động đốt đền trừ tà Nhân vật thần kì thứ ba chúng ta phải nhắc tới là Diêm Vương Diêm Vương là người đứng đầu Minh ti, trực tiếp phán xử vụ án giữa Tử Văn và hồn ma tướng giặc Các nhân vật quỷ, quỷ Dạ Xoa chỉ xuất hiện thoáng qua, không có ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của cốt truyện nhưng chính chúng lại góp phần mang đến không khí rùng rợn, kinh hãi đặc trưng của chốn âm
ti, địa phủ cho câu chuyện Sự kì ảo nhờ đó được gia tăng
+ Yếu tố kì ảo: Tử Văn không nằm trong số các nhân vật thần kì của truyện nhưng lại gắn với sự việc chết đi (hai ngày) Sống lại rồi lại chết và được nhập vàocõi tiên
Yếu tố kì ảo của truyện không chỉ được thể hiện ở phương diện nhân vật mà còn ở các không gian mà Nguyễn Dữ đã mang đến trong đó Có thể thấy truyện có hai không gian kì ảo Trước hết là không gian giấc mơ (giấc mơ của
Tử Văn)
Không gian kì ảo thứ hai của truyện là ở âm ti
Tử Văn đốt đền -> phát bệnh-> quỷ sứ đến bắt đi Phong đô
+ Lưu truyền: sáng tác dựa trên những truyện cũ, sự tích có sẵn nhưng lại phản ánhsâu sắc hiện thực thế kỷ 16
Qua câu chuyện của Ngô Tử Văn, người viết ca ngợi những người trung thực ngay thẳng, khẳng định niềm tin công lí, chính nghĩa nhất định sẽ thắnggian tà Tác phẩm thể hiện những đặc trưng tiêu biểu cho nghệ thuật viết truyện truyền kì của các nhà văn trung đại
Thể truyền kì: là một loại truyện ngắn, có nguồn gốc từ Trung Hoa, dùng yếu tố kì ảo làm phương thức nghệ thuật để phản ánh cuộc sống Các mô típ
kì ảo thường gặp trong truyện tr kì là nằm mộng đi xuống âm phủ, người lấy
Trang 4ma, ng lấy tiên, hàng phục yêu quái, luân hồi báo ứng, tu luyện thành tiên, thi thố pháp thuật, kêu mưa gọi gió, biến hóa khôn lường,….
Ở VN thời TĐ, thể loại này rất đc ưa chuộng các tp tr kì nổi tiếng của VN làThánh Tông di thảo tương truyền của Lê Thánh Tông( thế kỉ XV), Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ( thế kỉ XVI),……
Truyện truyền kì VN thường sd cốt truyện dân gian và dã sử hoặc các mô típdân gian để xây dựng thành truyện mới Truyện truyền kì VN mang đậm yếu
tố hiện thực và chất nhân văn
=> Các yếu tố truyền kì khiến cho mạch kể phát triển tự nhiên, lôi cuốn, hấp dẫn ng đọc, mượn kì nói thực, quan niệm cá nhân nói về đấu tranh: thiện-ác
3) giải thích điển tích văn học và từ cổ trong những câu thơ sau:
Bài cảnh ngày hè- nguyễn trãi.
Hai câu trong bài nhàn- nguyễn bỉnh khiêm:
Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
-Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi là bài số 43 trong trùm thơ bảo kính cảnh giới của Quốc âm thi tập
-Bài thơ cho ta thấy vẻ đẹp bức tranh thiên nhiên và tấm lòng yêu nước thương dâncủa tác giả
*Bài thơ sử dụng từ cổ và điển tích , điển cố
- Trước hết là hệ thống từ cổ
-Trong câu thơ thứ nhất: “ Rồi/ hóng mát ?thuở ngày trường
+ Rồi là tiếng cổ nghĩa là dỗi dãi, thong thả nhàn hạ cả trong công việc cũng như trong tâm hồn Câu thơ phản ánh nếp sinh hoạt nhàn nhã trong chuỗi ngày dỗi dãi ,lấy việc hóng mát làm niềm vui nuôi dưỡng tinh thần Đây là lúc ông được sống ung dung, được thỏa ước nguyện hòa mình với thiên nhiên mà ông hằng yêu mến
- “Hòe lục đùn đùn tán rợp gương” trong văn học cổ hòe gắn với điển tích “ giấc hòe” ( giấc mộng đẹp) , “ sân hòe” chỉ nơi cha mẹ ở.Cây hòe có tán rộng, tỏa bóng mát che rợp sân ngõ nhà, vườn “ giương” lên như 1 chiếc ô.Mỗi từ ngữ là 1 màu sắc tạo hình gợi cả sức sống của cảnh vật đồng quê trong ngày hè lục, đùn đùn, tán rợp giương, ngôn ngữ thơ bình dị, hàm súc và hình tượng
Trang 5-“ Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”
+Đã miêu tả khóm thạch lựu trc nhà trổ hoa rực rỡ Truyện Kiều cũng có câu
“Đầu từng lửa lựu lập lòe đơm bông”.đó là 1 quá trình sáng tạo của ngôn ngữ+ câu 4 nói về sen “ tiễn” là ngát ( tiếng cổ) Sen là biểu tượng cho cảnh sắc làng quê, sen trong làng đã ngát mùi hương gợi lên không khí thanh bình
+Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương bức tranh ngày hè toàn thịnh vốn đã đầy màu sắc
giờ lại tràn ngập cả âm thanh “ dắng dỏi” là từ cổ chỉ tiếng ve kêu ing ỏi
Tiếng ve inh ỏi như một bản đàn làm cho hoàng hôn cũng trở nên náo nhiệt Phải làmột tâm hồn mở, một điệu hồn náo nức thì mới có thể nghe tiếng ve inh ỏi thành tiếng đàn cầm ve như thế Từ làng ngư phủ xa xa của dân nghèo lớp dưới, đến lầu son gác tía của người lớp trên, chỗ nào cũng rộn rã vui tươi
+ Ta bắt gặp từ cổ ở hai câu thơ cuối
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương”
“ dẽ có”: Nghĩa là hãy để cho ta có;
“Đòi” ở đây đc hiểu là số nhiều, nhiều nơi
Câu thơ có ý nghĩa làGiá chỉ có cây đàn của vua Thuấn, ta sẽ gảy khúc Nam Phongcầu cho dân giàu đủ khắp muôn phương
* Bên cạnh từ cổ NT còn sử dụng điển tích điển cố “Ngu cầm”, điển tích về cây đàn của thời vua Nghêu, vua Thuấn, là thời đại thái bình thịnh trị trong lịch sử Trung Hoa cổ, được tác giả mượn để nói lên ước muốn của ông: “dẽ có” được trong tay cây đàn ấy, đàn một tiếng để dân chúng đều được giàu có, no đủ Ẩn sau khát vọng ấy là sự trách móc nhẹ nhàng mà nghiêm khắc bọn quan thần tham bạo ởtriều đình đương thần không còn nghĩ đến dân, đến nước Vậy mới thấy, dù sống trong tâm trạng “bất đắc chí”, Nguyễn Trãi vẫn cảm nhận được cuộc sống thường ngày, gắn bó với thực tế, không nguôi ngoai nỗi niềm dân nước Ông luôn khát khao được đem tài trí để thực hành tư tưởng nhân nghĩa yêu nước thương dân Câu thơ sáu chữ ngắn gọn, súc tích, nhịp 3/3 đã tạo âm hưởng mạnh mẽ, thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài thơ
Trang 6* Trong bài Nhàn
“Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”
Hai câu kết này như phủ định lại chữ nhàn mà tác giả thể hiện từ đầu bài thơ đến giờ, chỉ ra rằng tác giả là “nhàn thân không nhàn tâm”, tức ngoài mặc ông có vẻ thoải mái, nhàn rỗi nhưng trong lòng luôn vướng bận nhiều lo âu, suy nghĩ
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dùng tích điển Thuần Vu Phần uống rượu say Khi say, Thuần Vu Phần mơ thấy đến nước Hòe An, được rất nhiều vinh hoa phú quý, nhưng cuối cùng tỉnh mộng và nhận ra đó chỉ là giấc mơ Khi sử dụng điển tích này, Nguyễn Bỉnh Khiêm như nhấn mạnh bản thân xem nhẹ phú quý, bởi bản thân ông đã từng làm quan cho nhà Mạc, có đủ phú quý nhưng ông không xem trọng
nó, không lấy nó làm mục đích sống, chỉ xem đó như là một giấc mộng không có thật, khiến người ta sa vào để rồi hụt hẫng khi giật mình tỉnh dậy, nên ông đã tìm đến nơi làng quê thanh bình để giữ lại cho mình cốt cách thanh cao Hai câu thơ thể hiện cái nhìn cũng như quan niệm sống của một nhà trí tuệ lớn, có tính triết lí sâu sắc Ngoài ra, với cách ngắt nhịp 1/3/3 đầy mới lạ, Nguyễn Bỉnh Khiêm như muốn nhấn mạnh thêm về cái nhìn của mình
4) Hãy giải thích câu mở đầu “Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ” Câu văn này có ý nghĩa như thế nào đói với tư tưởng bài văn tế?
-Thuộc phần lung khởi: bao quát toàn bộ nội dung tư tưởng, cảm xúc cả bài -Phân tích hình thức: Câu văn TỨ TỰ ( 4 chữ 1 vế): có hình thức đối ngẫu hai vế
-Phương diện ND: Khái quát bối cảnh thời đại chân dung tinh thần của người nghĩa sĩ CG và thể hiện chủ đề tác phẩm: một tượng đài nghệ thuật về những người anh hùng chiến đấu bất khuất, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ Tổ quốc
* “Súng giặc”: Sự kiện TD Pháp XL VN Bác Hồ nói:” Dân ta có một lòng
nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn…”.
“ Đất rền” đc coi là động đất sóng thần của VN -> 1 cuộc chiến khủng khiếp
của giặc ngoại bang có thế mạnh vật chất >< thiếu thốn của dân tộc phương Nam Dân chúng quyết đứng lên đánh giặc cứu nước, tinh thần yêu nước của họcảm thấu tận trời xanh
Trang 7Câu Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ có hình thức đối ngẫu hai vế Vế 1 là
tình huống của vế 2 Khi quân giặc đến xâm lăng nhân dân là những người đầu tiên đứng lên chống giặc cứu nước Câu văn đã khái quát chủ đề của toàn bộ tácphẩm là ca ngợi tấm gương hi sinh tự nguyện của những nghĩa sĩ có tấm lòng yêu nước Nhân dân là hình tượng nghệ thuật của bài thơ bởi họ moíư là người đứng lên cầm vũ khí đánh giặc Họ đã sẵn sàng đứng lên đánh giặc Trong hoàn cảnh đất nước lâm nguy, những người dân hiền lành đã không cần ai thúc giục,
họ đã dũng cảm đứng lên cầm vũ khí đánh giặc Khi đất nước lâm nguy, người đứng lên là dân chứ không phải vua quan Câu thơ này đã thể hiện tấm lòng trọng dân của nhà thơ
* Với một câu văn ngắn ngủi, tác giả đã phác họa lên hoàn cảnh đau thương củanhân dân trong xã hội lúc bấy giờ Kia là cuộc xâm lăng ào ạt, bạo tàn của kẻ thù và kia là bộn phận, ý chí chống quân bạo tàn đó của người nông dân Nhân dân đau xót trước bao tang thương, áp bức nhưng ai có thể hiểu được lòng dân chứ Họ chỉ tin có trời: "Lòng dân trời tỏ" vì chỉ có trời mới thấu hiểu được lòng
dạ họ, chứ cái bọn vua tôi hèn hạ kia nào biết gì, họ chỉ biết tự xưng danh mà thôi Những con người nông dân ngày đêm chỉ quen cuốc quen cày, họ có ngờ đâu những tai biến sẽ xảy ra Những người nông dân ấy đang có cuộc sống rất giản dị trong thôn xóm, lam lũ nghèo khó Họ chỉ biết cui cút làm ăn và chỉ cần
có miếng cơm anh áo Họ chỉ biết có thế, việc gươm đao cung kiếm họ chưa từng biết Thế mà họ vẫn giàu lòng yêu nước và căm thù giặc, họ căm thù đến mức cao độ "muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ" Điều này thể hiện rất rõ cá tình của người nông dân Điều đáng nói là, những người chiến sĩ ấy xuất thân từ những người nông dân nghèo khổ Việc đánh giặc không phải là việc của họ,
mà vì lòng yêu nước căm thù giặc, chờ đợi quân quan mãi nhưng nào thấy, đànhlàm những việc lớn, phải "chém rắn", "đuổi hươu" Thực tế ta thấy được thái
độ ươm hèn của triều đình nhà Nguyễn và càng đề cao hơn vai trò của người nông dân trước vũ đài lịch sử
Những người nông dân chân đất ấy đã không làm sao chịu được cảnh quân giặc giày xéo lên mồ mả tổ tiên và họ quyết định phải đứng lên đánh chúng, đánh bằng được bọn tàn ác đó
a Bối cảnh thời đại và ý nghĩa cái chết của những người nghĩa quân:
Bối cảnh thời đại diễn ra hết sức căng thẳng và ác liệt thể hiện tình hìnhnguy nan của dân tộc "Súng giặc đất rền"
Trang 8 b Nghệ thuật: đối lập giữa "súng giặc"( thế lực xâm lược) >< "lòng dân"(sựyêu nước, lòng căm thù giặc tỏ rõ) Mở đầu sử dụng câu cảm thán =>thểhiện sự hoành tráng cho bức tượng đài nghệ thuật
=> Thể hiện cảm xúc, tình cảm đau đớn tột độ -> người chiến sĩ như bứctượng đài được khắc họa Đề cao được mất, không quan tâm sự được mất ởđời Đề cao ý thức trách nhiệm, lòng yêu nước của nhân dân một cách tựgiác và cái chết của những người chiến sĩ là cái chết bất tử, lưu lại tiếngthơm muôn đời (chết vì độc lập dân tộc luôn hằng in dấu trong lòng concháu đời sau và đặc biệt là trong lòng tác giả)
=> tư tưởng yêu nc, thương dân: Tổ quốc lâm nguy, súng giặc nổ vang rềntrời đất và quê hương
Trong cảnh nước mất nhà tan, chỉ có nhân dân đứng lên gánh vác sứ mệnhlịch sử, đánh giặc cứu nước cứu nhà Và người nông dân chỉ biết cui cút làm
ăn một cách tội nghiệp đã dũng cảm đứng lên đánh giặc giành lại nền độclập cho Tổ quốc thân yêu mà sự dũng cảm đó xuất phát từ tấm lòng yêunước có trong mỗi con người Tấm lòng yêu nước, căm thù giặc của nhữngngười nông dân, của những người áo vải mới tỏ cùng trời đất và sáng ngờichính nghĩa Hình ảnh chính của bài Văn tế chính là những chiến sĩ nghĩaquân Cần Giuộc
2 Chân dung người nghĩa binh nhân dân gây ấn tượng sâu sắc cho người
đọc người nghe ngay từ câu mở đầu của bài văn: “Hỡi ôi! Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ” Câu văn tứ tự mang ý nghĩa khái quát cả bối cảnh thời đại và
chân dung tinh thần của người nghĩa binh Cần Giuộc Chỉ với hai vế câu ngắn
gọn mà cô đúc đặt trong thế đối ngẫu “súng giặc” – “lòng dân”, tác giả đã định
hướng cho chúng ta tâm điểm của hình tượng chính Toàn bộ kết cấu, ngôn từcủa bài văn tế đều tập trung thể hiện cái tâm điểm “lòng dân” đó trong hoàncảnh thử thách ác nghiệt nhất – giặc đến nhà Chữ nghĩa của cụ Đồ Chiểu giản
dị nôm na mà cực kỳ sâu sắc: đối chọi với kẻ ngoại xâm hùng mạnh vũ khí ápđảo lấn lướt, người dân Việt lúc đó chỉ có một tấc lòng yêu nước thấu trời Đốivới bài học chiến tranh giữ nước, phải chăng tư tưởng này không chỉ đơn thuần
là tụng ca mà còn bao hàm cả bi ca và những ý tứ sâu xa muốn phân tích tranhluận? Vận dụng lối đối ngẫu quen thuộc của thể phú Đường luật cũng như tuânthủ thi pháp truyền thống trong một mệnh đề chắc nịch súc tích vừa mang giá trịtượng trưng cao lại vừa đậm hơi thở hiện thực, cụ Đồ Chiểu đã phác họa thậtsắc nét chân dung bi hùng một thời đại đau thương của dân tộc
Trang 95) Thế nào là tính ước lệ trong sáng tác văn học trung đại? lấy ví dụ về ước lệ trong tác phẩm việt nam trung đại được giảng dạy trong chương trình THPT -kn: ước lệ là 1 thủ pháp đặc trưng của văn chương thời trung đại đây là lối diễn
đạt dùng sự vật, hình ảnh,…này để diễn đạt sự vật, hình ảnh,…khác theo quy ước
và thường có tiền lệ từ trước thay vì nói thẳng, trực tiếp điều cần thể hiện
VD:1 Trao duyên- ng du
+Ngày xuân em hãy còn dài-Xót tình máu mủ thay lời nước non: tmm( tình chị
em gái- lời thề nguyền yêu đương của TK dành cho KT); ngày xuân (e tuổi cònhẵng trẻ)
+Bây giờ trâm gãy gương tan (trâm và gương là những vật trai gái ngày xưathường tặng cho nhau để làm kỉ niệm của tình yêu-> tình duyên tan vỡ)
+Ngậm cười chin suối hãy còn thơm lây ( ý nói ở nơi cõi chết cũng vui lòng)2.Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ: Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên ( thờigian từ sáng đến tận chiều)
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên ( tấm lòng trân trọng quý giá tựa nghìn vàng)
3 Bình ngô đại cáo: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn- Vùi con đỏ xuốngdưới hầm tai vạ ( chỉ dân chúng)/ Đánh một trận sạch không kình ngạc ( cá voi(kình), cá sấu (ngạc) Ở đây chỉ quân giặc hung hãn bị tiêu diệt)/ Độc ác thay,trúc Nam Sơn không ghi hết tội – Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạchmùi ( ng xưa thường dùng thẻ tre trúc để ghi chép; ở đây nói tội ác của giặcnhiều vô kể )
6) phân tích ý nghĩa câu lục ngôn kết thúc bài thơ cảnh ngày hè( nguyễn trãi): Dân giàu đủ khắp đòi phương
Nguyễn Trãi là vị anh hùng tên tuổi lừng lẫy trong lịch sử chống quân xâm lượccủa dân tộc ta, tài năng kiệt xuất của ông không chỉ được khẳng định trong lĩnhvực chính trị, quân sự, ngoại giao mà còn được khẳng định băng sự nghiệp vănchương đồ sộ với những đóng góp lớn lao cho nền văn học nước nhà Bên cạnh cáctác phẩm nói về thiên nhiên thì Nguyễn Trãi còn lồng vào trong đó tư tưởng “vìdân vì nước” của mình, và bài cảnh ngày hè là một bài thơ như vậy
-Vị trí: Đây là câu cuối trong bài Cảnh ngày hè trong mục Bảo kính cảnh giới bài
số 43 đc viết theo câu lục ngôn trước đó câu mở đầu đã là câu lục ngôn “Rồi hóngmát thuở ngày trường”
Trang 10Cả bài thơ là bài thơ tả cảnh, tả tình mùa hè Câu cuối của bài thơ là một câu sáu chữ ngắn gọn, thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài Điểm kết tụ của hồn thơ ỨcTrai cuối cùng không phải ở thiên nhiên, tạo vật mà chính là ở con người, ở ng dân.
Ng Trãi mong cho dân đc ấm no, hạnh phúc: “dân giàu đủ” Nhưng đó phải là hạnhphúc cho tất cả mọi người, mọi nơi: “khắp đòi phương” Mặc dù ông đang trong thời kì ở ẩn nhưng trái tim ông vẫn đau đáu hướng về nhân dân và đã trở đi trở lại
trong nhiều bài thơ….kết bài: Tùng “Dành, còn để trợ dân này” Ước vọng đủ khắp
cho người dân mọi nơi có thể thực hiện trong cảnh thanh bình một cách khá thuận lợi thì đây, Nguyễn Trãi không nói tiếp nhưng ta hiểu được nỗi lòng của ông trong chữ lẽ có Đáng lẽ điều ấy sẽ là hiện thực nếu triều đình Hậu Lê bấy giờ cùng một mối đồng tâm Đằng này, việc tranh giành quyền lợi, tham quyền cố vị của họ đã khiến cho sự ấm no, sung túc của người dân còn rất mờ mịt Cảm động biết bao trước tấm lòng của Nguyễn Trãi Tấm lòng “thân dân” ấy canh cánh mãi bên trong lòng ông, theo đuổi ông trong mọi hoàn cảnh, mọi nơi, mọi lúc Tấm lòng ấy thể hiện cả khi Nguyễn Trãi thưởng ngoạn thiên nhiên Đọc hết bài thơ, ta không thể nghi ngờ mà khẳng định rằng Nguyễn Trãi không chỉ là một nghệ sĩ tài hoa, ông còn là một nhân cách lớn của một người suốt đời vì dân, vì nước
Vậy mới thấy, dù sống trong tâm trạng “bất đắc chí”, Nguyễn Trãi vẫn cảm nhận được cuộc sống thường ngày, gắn bó với thực tế, không nguôi ngoai nỗi niềm dân nước Ông luôn khát khao được đem tài trí để thực hành tư tưởng nhân nghĩa yêu nước thương dân Câu thơ sáu chữ ngắn gọn, súc tích, nhịp 3/3 đã tạo âm hưởng mạnh mẽ, thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài thơ
Việt hóa thơ Đường luật, sáng tạo thơ thất ngôn xen lục ngôn, vận dụng những hình ảnh, màu sắc, đường nét, âm thanh vào cảnh vật thiên nhiên và cuộc sống con người, bài thơ đã vẽ nên một bức tranh mùa hè vui tươi, đầy sức sống, qua đó nhà thơ gửi gắm lòng yêu mến quê hương đất nước, hoài bão giúp nhân dân xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc
*ví dụ: tư tưởng vì dân, lo cho dân
Câu nói của Trần Hưng Ðạo phút lâm chung đã đúc kết những triết lý nền tảng đó thành lời dặn dò Ðức vua Trần Anh Tông: “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước” Trong thời đại Hồ Chí Minh, “Lấy dân làm gốc” càng được Bác Hồ diễn giải giản dị, gần gũi, để dễ dàng trở thành kim chỉ nam trong mỗi hành động của Ðảng, của chính quyền, của các cấp cán bộ: “Nước lấy dân làm gốc Gốc có vững cây mới bền”, “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”
CÂU 3Đ
Trang 111 trình bày những yêu cầu cơ bản cần lưu ý đối với việc đọc- hiểu tác phẩm văn học trung đại
- Đọc tác phẩm văn chương TĐ có sự khác biệt so với việc đhtp Vch hiện đại Vìvăn chương TTĐ có đặc trưng riêng ĐH tác phẩm TĐ cần hết sức chú trọng, hếtsức chú ý những vấn đề sau:
+Từ ngữ: chú ý các từ cổ, các từ ngữ biểu tượng, các điển tích, điển cố Nếu là dịch
từ chữ Hán phải đối chiếu vb chữ Hán, bản dịch nghĩa vs bản dịch thơ để thấy đccái đạt và cái ko đạt của bản dịch thơ so vs nguyên tác Nếu là thơ Nôm phải lưu ýcác bản phiên âm, có thể có dị bản
+Cần chú ý tính chất quy phạm, ước lệ, hàm súc, đăng đối của các thể văn cổ; dụngcông chau chuốt, thanh cao, mĩ lệ, đẹp đẽ trong các hình ảnh, từ ngữ Coi trọngtính quy phạm: Khi đọc các tác phẩm văn học chữ Hán, cần đặc biệt lưu tâm vànắm vững tính quy phạm như: niêm, luật trong thơ Đường…Các tác phẩm văn họctrung đại thường bị gò bó trong một niêm luật chặt chẽ
+Biểu hiện tính cách qua tâm hồn, ý chí con ng, lí tưởng nhân cách của nhà văn:đời sống thực tại, thân phận, đời sống cá nhân
+ Nguyễn Trãi là ta nhớ đến nhà văn luôn vì dân vì nước, luôn đau đáu trong lòng
về trách nhiệm của bản thân với thời thế
+ Nguyễn Du: luôn cảm thương cho số phận của những con người tài hoa nhưngbạc mệnh, ông nhìn thấy nỗi khổ của nhân thế
+Chú ý đến đặc trưng thi pháp của văn chương Trung Đại: ước lệ, thiên nhiêntrong văn học đc cảm nhận như chủ thể, con người trong văn học( đạo đức, phi cánhân, vũ trụ), văn sử triết bất phân, thế giới NT phi thời gian)
+Đọc biểu cảm theo đúng đặc trưng thể loại, giọng hào sảng, khúc chiết, mạch lạc(Cáo), Phú ->êm ái, ngân nga xen hùng tráng, mạnh mẽ; thơ -> nhẹ nhàng, da diết +Cũng nên biết vắn tắt đôi điểm về chế độ phong kiến nước ta, đặc biệt là cấu trúc
ý thức xã hội, hệ tư tưởng phong kiến để lĩnh hội tác phẩm văn học trung đại đượctốt
+người đọc, người học cần có một vốn kiến thức về lịch sử, các nhân vật nổi tiếng
để có thể hiểu được nội dung bài đọc
Trang 12+Chú ý đến tính dân tộc hóa cả về hình thức lẫn nội dung của tác phẩm, nhưngđồng thời cũng không được quên sự vay mượn về thể loại, hình ảnh, biện phápnghệ thuật từ văn học nước ngoài mà ảnh hưởng sâu sắc nhất là của văn học Hán.
2) phân tích cấu trúc cân đối của các câu thơ sau, chỉ ra ý nghĩa và vẻ đẹp của chúng:
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
(Nhàn- nguyễn bỉnh khiêm)
Đặc trưng thi pháp hết sức coi trọng tính chất vững chãi, đối xứng, hài hòa đó làtiêu chí cái đẹp của văn chương TĐ
Đặc điểm chung: có biền ngẫu, bình đối
Theo luật thơ Đường mỗi bài có hai cặp đối: 3-4; 5-6 Các cặp đều phải đối thanh,
từ loại, ngữ pháp và đối ý (đối tương quan hoặc tương phản)
Các câu: Ta dại ….-> tuân thủ quy tắc đối của thơ ĐL (Ta><người; dại ><khôn;tìm><đến; nơi><chốn;…)
Phân tích: ->đều đảm bảo thanh, từ loại, ngữ pháp, ý->đẹp hài hòa, cân đối trongkhổ thơ ấy -> tôn chủ đề, tư tưởng tác phẩm ( chọn 1-2 cặp phân tích chính)
+ Cặp 1: Ta >< người; dại >< khôn; tìm>< đến: vắng vẻ >< lao xao
+ Cách sử dụng phép đối: dại >< khôn, nơi vắng vẻ >< chốn lao xao cho thấy được
sự khác nhau giữa lối sống của tác giả và người đời thường Ông cho rằng nơi vắng
vẻ là nơi thôn quê yên bình ở đó không còn bon chen chốn quan trường, đây mớithực là cuộc sống
+ Cách xưng hô “ta”, “người”
>>>> Hai về tương phản làm nổi bật ý nghĩa, nhân mạnh phương châm, quan niệmsống của tác giả khác với thông thường Đồng muốn ngầm ý phê phán thói đời,thói người, và thể hiện cái cao ngạo của kẻ sĩ
Trang 13Đây có thể xem là tuyên ngôn sống của tác giả những năm tháng sau khi cáo quan
về ở ẩn Ông tự nhận mình “dại” khi tìm nơi vắng vẻ đến sống, nhưng đây là cái
“dại” khiến nhiều người ghen tỵ và ngưỡng mộ Ông rất khéo léo trong việc dùng
từ ngữ độc đáo, lột tả được hết phong thái của ông Ông bảo rằng những ngườichọn chốn quan trường là những người “khôn” Một cách khen rất tinh tế, khen màchê, cũng có thể là khen mình và chê người Tứ thơ ở hai câu này hoàn toàn đối lậpnhau từ ngôn ngữ đến dụng ý “dại” –“khôn”, “vắng vẻ” – “lao xao” Nguyễn BỉnhKhiêm tìm về nơi vắng vẻ để ở có phải là trốn tránh trách nhiệm với nước haykhông? Với thời thế như vậy giờ và với cốt cách của ông thì “nơi vắng vẻ” mớithực sự là nơi để ông sống đến suốt cuộc đời Một cốt cách thanh cao, một tâm hồnđáng ngưỡng mộ
- Cặp hai
Thu>< Xuân: Đông>< hạ
Một cặp câu đã lột tả hết tất cả cuộc sống sinh hoạt và thức ăn hằng ngày của “lãonông nghèo” Mùa nào đều tương ứng với thức ăn đấy, tuy không có sơn hào hải vịnhưng những thức ăn có sẵn này lại đậm đà hương vị quê nhà, khiến tác giả anphận và hài long Mùa thu có măng trúc ở trên rừng, mùa đông ăn giá Chỉ với vàinét chấm phá Nguyễn Bỉnh Khiêm đã “khéo” khen thiên nhiên đất Bắc rất hàophòng, đầy đủ thức ăn Đặc biệt câu thơ “Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao” phác họa vàiđường nét nhẹ nhàng, đơn giản nhưng toát lên sự thanh tao không ai sánh được.Một cuộc sống dường như chỉ có tác giả và thiên nhiên, mối quan hệ tâm giao hòahợp nhau
=> ảnh hưởng của tư tưởng lão trang
2.Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương
(Cảnh ngày hè- Nguyễn Trãi)
“Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ…dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”
Trang 14Tầm nhìn trải từ gần ra xa, theo quy luật đăng đối ở hai câu tả thực, khéo léo đan cài sắc đỏ của thạch lựu trước hiên nhà cùng sắc hồng của ao sen Câu trên tả sắc, câu dưới gợi hương Thiên nhiên ấy cũng chứa chan bao cảm xúc, lúc dịu nhẹ lan tòa lúc bừng bừng phun trào Để rồi cuối cùng đọng lại cảm giác man mác tiếc nhớlàn hương thanh thoát của sen hồng lúc cuối hè Phải là một người có tâm hồn tinh
tế mới cùng một lúc diễn tả được nhiều cảm giác trong chỉ vài ba câu thơ cô đọng Giữa khung cảnh thiên nhiên ấy, nhà thơ dường như cũng nguôi ngoai bao nỗi niềm bực dọc, để lòng mình hòa cùng thiên nhiên đầy sức sống
Ăn nhập với thiên nhiên rực rỡ là một đời sông rộn rã Theo đó, bức tranh ngày hè toàn thịnh vốn đã đầy màu sắc giờ lại tràn ngập cả âm thanh:
“Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”
Đối lập tính từ “lao xao”-“dắng dỏi”;danh từ “chợ cá”-“cầm ve”;danh từ” làng ngưphủ”-“ lầu tịch dương” Có một sự chuyển đổi cảm xúc trong cách lắng nghe những âm thanh của cuộc sống Giờ đây, những thanh âm lại được cảm nhận từ xa đến gần, từ "lao xao" đến "dắng dỏi" Thiên nhiên không hề tĩnh lặng u trầm trong thời điểm chiều buông mà trái lại rất sôi động và gần gũi với tấm lòng thiết tha yêu
sự sống của nhà thơ Tiếng “lao xao” từ một chợ cá làng chài xa vọng đến, đó là tín hiệu cuộc đời dân dã đầy muối mặn và mồ hôi Nhà thơ lắng nghe nhịp sống đời thường ấy với bao niềm vui “Lao xao” là từ láy tượng thanh gợi tả sự ồn ào, nhộn nhịp đã nói lên vẻ sầm uất của cuộc đời xung quanh “Chợ” là hình ảnh của
sự thái bình trong tâm thức người Việt Chợ đông vui thì nước thái bình, thịnh trị, dân giàu đủ, ấm no; chợ tan rã thì dễ gặp hình ảnh đất nước có biến, có loạn, có giặc giã, có chiến tranh, đao binh,… Chỉ cần nhìn vào diện mạo chợ, cũng có thể thấy được âm vang của đời sống Cấu trúc đăng đối đã tạo nên sự hòa điệu giữa conngười với thiên nhiên trong sự cân xứng ‘’làng ngư phủ” – bóng” tịch dương” mang đậm sắc thái trang trọng cổ điển Nghệ thuật tương phản tạo nên một cảm hứng hết sức mới mẻ trong thơ Nguyễn Trãi khi ấn tượng ám ảnh nhà thơ không phải ánh” tịch dương “ảm đạm mà lại là âm thanh “dắng dỏi cầm ve” Tiếng ve đặctrưng của mùa hè đến thơ Nguyễn Trãi lại như một bản đàn mạnh mẽ, rạo rực hối
hả nhịp sống căng tràn của thiên nhiên Bức tranh thiên nhiên sống động ấy đã hàmchứa một nội dung thông điệp thẩm mỹ đánh động tâm tư của nhà thơ Bản thân ông có muốn lánh đời thoát tục, ngắm ánh tịch dương, giam mình trong lầu kín cũng không thể không nghe, không thấy bao vẻ đẹp thiên nhiên tươi tắn rộn rã xung quanh Thiên nhiên ấy xôn xao hay chính tấm lòng của nhà thơ cũng đang
Trang 15náo nức muốn hòa cùng niềm vui sự sống? Cuộc sống của ông không phải của một
ẩn sĩ lánh đời mà chính là phản chiếu của tâm hồn yêu đời thiết tha, vẫn đón nhận thưởng thức được niềm vui cuộc sống thanh bình để quên đi nỗi riêng tư sầu
muộn
Như vậy, lối viết cấu trúc cân đối “…” nhà thơ đã có ái nhìn khái quát đã thâu tómđược toàn, cảnh cuộc sống trong đôi nét bút tài hoa, bao trùm toàn bộ chủ đề tác phẩm: tác giả miêu tả bức tranh cuộc sống để từ đó ta thấy đc tấm lòng của ông tc vận mệnh người dân, đất nước Ở sâu thẳm tâm hồn ông vẫn là nỗi niềm "ưu quốc
ái dân", là khát khao hành động của một con người trọn đời vì lợi ích của nhân dân.Trước, vẽ thiên nhiên thì từ cao xuống thấp, giờ, vẽ đời sống lại trải từ thấp đến cao, từ xa lại gần Lối viết đảo ngược cú pháp, đặt những âm thanh” lao xao” và
“dắng dỏi” lên đầu mỗi câu khác nào như tạo nên những điểm nhấn Ta ngỡ như người viết đang muốn phổ vào không gian cả một dàn âm thanh rộn rã Cảnh hưng thịnh của ngày hè, nhờ thế, mà càng trở nên phồn thịnh hơn
3 Chỉ ra điểm khác “ Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu”-“Múa giáo non sông trải mấy thu”
Tác phẩm “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão là một trong số những tác phẩm để đời của văn học TĐ Qua bài thơ người đọc có thể cảm nhạn được vẻ đẹp hình tượng
ng anh hùng vệ quốc hiên ngang, lẫm liệt với lí tưởng và nhân cách lớn lao Để thế
hệ sau có thể tiếp nhận bài thơ một cách thuận lợi hơn, những tác giả đi sau đã dịchnguyên tác thành thơ trong đó có bản dịch của BÙI VĂN NGUYÊN: “múa giáo
…” Tuy nhiên dịch tác phẩm chữ Hán đc sát nghĩa mà lại đạt được sự Hay thì quả thực khó, hiếm khi đạt được Chính vì thế mới xảy ra hai trường hợp: dịch Hay nhưng ko sát nghĩa và sát nghĩa thì sẽ ko hay Để rõ hơn ta sẽ xét trường hợp này:-Nguyên tác là “…” có nghĩa: Cầm ngang ngon giáo gìn giữ non sông đã mấy thu -Dịch thơ “…”So với nguyên văn chữ Hán thì câu thơ dịch chưa lột tả được hết chất oai phong, kiêu hùng trong tư thế của người lính đang chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
+ Múa giáo không thể nào lột tả được hết cái dũng mãnh của hai chữ “hoành sóc”,
“múa giáo” thiên về biểu diễn nghệ thuật là nhiều hơn cả đó là tư thế động khó biểu hiện được oai nghi, sắc thái Không những thế thì “cầm ngang ngọn giáo” thể hiện sự trấn an quốc gia sông núi hơn là “múa giáo” Chưa kể, hình ảnh người anh hùng hiên ngang ấy lại còn cầm ngọn giáo ấy trong tay trải qua biết bao nhiêu thời gian để đánh giặc Ngọn giáo ấy được đo bằng không gian non sông đất nước và
Trang 16chiều dài của lịch sử Hình như giáo cũng có không gian sinh thành và có tuổi đời như chúng ta vậy Hoành sóc là cầm ngang ngọn giáo, luôn ở tư thế tấn công dũng mãnh, áp đảo quân thù Tư thế của những người chính nghĩa lồng lộng in hình trong không gian rộng lớn là giang sơn đất nước trong suốt, một thời gian dài (giang sơn kháp kỉ thu) Có thể nói đây là hình tượng chủ đạo, tượng trưng cho dântộc Việt quật cường, không một kẻ thù nào khuất phục được Từ hình tượng ấy, ánhhào quang của chủ nghĩa yêu nước ngời tỏa sáng.
+ "Dịch giả muốn giữ đúng luật thơ (nhị tứ lục phân minh: chữ 2, 4, 6 đối thanh, bài thơ có luật trắc"thanh 2, 4, 6: T-B-T)
+Tuy nhiên, câu thơ cũng phần nào diễn tả đc gần hết ý nghĩa của nguyên tác và là điều kiện để thế hệ sau tiếp cận được dễ dàng hơn, dễ thuộc hơn Đó cũng là một phần tình cảm và trí lực mà người dịch gửi gắm vào đó Chỉ một câu thơ ngắn gọn, súc tích đã tái hiện chân dung, tư thế, cả ý thức và tinh thần trách nhiệm của người tráng sĩ cắp ngang ngọn giáo trấn giữ đất nước, bato vệ non sông ròng rã mấy năm không nghỉ Hình ảnh người tráng sĩ hiện lên với tầm vóc lớn lao, kì vĩ mang tầm
vũ trụ, với 1 tư thế ngang tàn, hiên ngang, oai phong lẫm liệt, 1 chí khí bền bỉ, 1 hoài bão tung hoành của đấng nam nhi thời loạn lạc Hình ảnh người trai đời Trần
đó cũng chính là bức chân dung tự hoạ về mình của nhà thơ PNL Hình ảnh thơ này làm ta nhớ đến hình ảnh người tráng sĩ trong bài "chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn: "Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo"Câu thơ ý chỉ xông pha ra trận, đối mặt với kẻ thù hung bạo chẳng khác gì "vào ngàn hang beo" Vậy mà tư thế của họ vẫn lẫm liệt uy nghi - một tư thế đẹp như những dũng sĩ trong huyền thoại Đây chính là vẻ đẹp của lòng yêu nước cao độ, của lý tưởng xả thân đầy tinhthần tự nguyện, đáng ngưỡng mộ vì đất nước
5 so sánh nguyên tác chinh phụ ngâm: Sầu tự hải, khắc như niên với bản diễn Nôm : Khắc chờ đằng đẵng như niên-mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Tác phẩm “Chinh phụ ngâm” – Đặng Trần Côn là một trong số những tác phẩm để đời của văn học TĐ Bài thơ đã nói lên sự oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là thể hiện tâm trạng khao khát TY, hạnh phúc lứa đôi vốn ít đc thơ văn các thời kì trước chú ý Do đó tác phẩm đã đc độc giả cùng thời hết sức tán
thưởng Nhiều ng còn dịch Chinh phụ ngâm sang thơ Nôm mà dịch tác phẩm chữ
Hán của văn chương TĐ rất khó hiếm khi đạt được y nguyên tác Tuy nhiên, bản dịch hiện hành tương truyền của Đoàn Thị Điểm lại đặc biệt, đây là bản dịch thành công nhất, bài thơ được người đời sau biết đến hầu hết qua bản diễn Nôm Ng dịch
đã dùng thể thơ song thất lục bát, một thể thơ do ng Việt sáng tạo Bản diễn Nôm
Trang 17vừa trung thành + sáng tạo hết sức tài hoa -> nhiều nhà nghiên cứu khẳng định hay hơn nguyên tác
Nguyên văn: …(Sầu như biển cả/ chờ đợi dài như năm tháng )-> Từ nguyên nghĩa này, bản diễn Nôm : Khắc chờ… Người dịch bám sát vào nguyên tác, chữ trung thành: diễn tả nỗi sầu và sự đợi chờ khắc khoải của ng chinh phụ: Hai câu lục bát, một câu miêu tả thời gian, một câu miêu tả nỗi buồn Cả hai câu đều mang nghệ thuật so sánh Trong tình cảnh lẻ loi ấy thì một giờ là đợi dài tựa một năm, như người xưa thường ví “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề", ngày sau này Xuân Quỳnh tâm sự “Một ngày không gặp nhau / Biển bạc đầu thương nhớ” Thời gian chờ đợi càng dài thì nỗi sầu càng lớn "tựa miền biển xa” Tình cảnh đã bước qua tâm trạng Đấy là tâm trạng nhớ thương của người chinh phụ gửi tới chồng ở miền
xa Nỗi nhớ thương thật tha thiết
Sáng tạo: Từ 1 câu 3 chữ -> lục bát: diễn tả âm điệu triền mien của thời gian trong chờ đợi và không gian mênh mông của biển cả/ thêm các từ láy :”đằng
đẵng”,”dằng dặc” những sự chán chường, mệt mỏi kéo dài vô vọng của người chinh phụ trở nên thật cụ thể, hữu hình và có cả chiều sâu trong đó Kể từ khi chinhphu ra đi, một ngày trở nên dài lê thê như cả một năm, những mối lo toan, nỗi buồnsầu như đông đặc, tích tụ đè nặng lên tâm hồn người phụ nữ đáng thương ấy Từng ngày, từng giờ, từng phút người chinh phụ vẫn đang chiến đấu với nỗi cô đơn, chiến đấu để thoát khỏi cuộc sống tẻ nhạt của chính mình/ Trật tự câu thơ có sự thay đổi:”sầu tự hải” xuống dưới; “khắc như niên” lên trên Sự thay đổi này gợi cảm giác chờ đợi mòn mỏi theo thời gian khiến cho nỗi sầu muộn trải ra vô tận không gian
Như vậy, ta có thể thấy được sự tài hoa của Đoàn Thị Điểm trong việc sử dụng ngôn từ và tận dụng triệt để hóa thể thơ lục bát để có thể diễn tả hết được ý nghĩa của nguyên tác và mang dấu ấn ko thể quên cho thế hệ sau với nhữngcung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở ng chinh phụ khao khát
đc sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi đặc biệt là hai câu thơ trên: sự chờ đợi dài như cả năm trường, mối sầu trào dâng như biển lớn mênh mang
6 Khác nhau “Chi phấn hữu thần liên tử hận-Văn chương vô mệnh lụy phần dư” với “son phấn có thần chôn vẫn hận – văn chương vô mệnh đốt còn
vương”(Vũ Tam Tập dịch)
Tác phẩm “Độc tiểu Thanh kí”- Ng Du là một trong số những tác phẩm để đời của văn học TĐ Bài thơ Độc Tiểu Thanh Kí là bài thơ chữ Hán trác tuyệt, sinh hoa diệu bút của đại thi hào Nguyễn Du, được xếp trong Thanh Hiên Thi Tập Bài thơ
đã thể hiện rõ tinh thần nhân đạo của ông đó là sự đồng cảm của NG DU vs số
Trang 18phận nàng TT có tài năng văn chương mà bất hạnh, NG DU còn thương cho chính bản thân mình và tự hỏi rằng “Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?” ông băn khoăn liệu mình có giống nàng TT Cũng một phần đây là tác phẩm thách đố vs ng yêu thơ, đã có nhiều bản dịch nhưng chưa đạt tr đó có bản dịch của Vũ Tam Tập:
Đây là hai câu đáng bàn nhất về cách dịch Bản dịch nghĩa in trong sách giáo khoa:
Dịch nghĩa: liên: thương -> hận: đổi thay cảm xúc tư tưởng…
Son phấn có thần chắc phải xót xa vì những việc sau khi chết.
Văn chương không mệnh mà mang lụy cả lúc đã thành tro.
Thơ chữ Hán thường nén chữ lại, phá vỡ kết cấu văn phạm thông thường, nên người đọc có thể hiểu theo nhiều cách Riêng trong câu này ba chữ "liên tử hậu" (liên: thương; tử hậu: sau khi chết) Bản dịch in trong sách giáo khoa chắc đã căn
cứ theo tiểu sử Tiểu Thanh mà luận ra, bằng cách coi chủ từ của động từ "thương"
là Tiểu Thanh: Tiểu Thanh xót xa Và "Sau khi chết" (tử hậu) thì phải hiểu là "mọi việc xảy ra sau khi Tiểu Thanh chết", ám chỉ việc người vợ cả đốt những bài thơ của nàng
Cách hiểu này rất văn xuôi, và lập luận lấn hơi nhiều ra ngoài chữ nghĩa của câu thơ Nhưng điều đáng nói là hiểu như thế (Tiểu Thanh xót xa về việc người vợ cả của chồng đốt thơ mình sau khi chết) thì ý thơ bị hẹp lại, tình cảm cũng mất đi vẻ trữ tình thế sự có tính khái quát, để chuyển thành một thứ ước đoán tâm lý Tiểu Thanh bằng phẳng, chật hẹp và bị rời khỏi tư thế trí tuệ của bài thơ
Tôi xin được hiểu sát vào từng chữ của câu thơ "Son phấn có thần - tức nhan sắc vốn có thần - (nên vẫn gây tiếc) thương cả sau (khi nàng đã) chểt" Câu thơ ấy như Nguyễn Du đang tự đọc giữa lòng mình: Ông đang xót thương Tiểu Thanh của ba trăm năm trước Động từ ở thì hiện tại tác động tới đối tượng của quá khứ Một chiêm nghiệm thế sự sâu sắc với thân phận người phụ nữ (trong "Truyện Kiều": Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa)
Câu sau, tức câu thứ tư của bài Bản dịch nghĩa:
Văn chương không có số mệnh mà cũng bị đốt dở.
Dịch thế này e mất ý Mất ý chữ "lụy", vốn là nhãn tự của câu - "Văn chương vô mệnh lụy phần dư" - nó ăn với chữ "liên" ở câu trên - "Chi phấn hữu thần liên tử hậu" Cứ trong nghĩa câu dịch này mà hiểu thì hơi văn lại hóa ngô nghê: "Văn chương không có số mệnh… mà cũng bị đốt dở!" Thế nghĩa là nó đáng phải được
Trang 19đốt cháy cho bằng hết ư (!) Câu thơ này gây hiểu lầm cũng ở ba chữ cuối "lụy" (gây xúc động) "phần" (đốt) "dư" (còn lại) "Lụy" dù chỉ là phần "còn lại sau khi đốt" Nghĩa là "phần còn lại sau khi đốt" còn đủ sức gây xúc động cho người đọc.Người sau khi chết vẫn gây thương và thơ còn sót sau khi cháy vẫn gây khắc khoải(lụy) cho người đời Chính Nguyễn Du đang trải nghiệm cái mối lụy ấy khi đọc bài
ký về Tiểu Thanh Văn chương vô mệnh, nó không như người (ở câu trên), không
là sinh linh, chỉ là chữ trên giấy, mà đã mang đốt đi, thành tro rồi, vẫn còn để bi lụycho người đọc (hay phiền lụy cho người viết) Cái lụy ấy đủ mạnh để cân với sức nặng của chữ thương ở câu trên
Thương người thương sang cả cõi ma Mà lụy thơ thì thành tàn tro còn gây lụy Ý thơ này thoát ra khỏi chuyện Tiểu Thanh, cũng là một chiêm nghiệm về tính bất tử của văn chương Câu trên là bất tử của cái đẹp thể chất (nhan sắc) Câu dưới là bất
tử của cái đẹp tinh thần (văn chương) Phải hiểu như thế, sự đối ý của hai câu mới làm hiện rõ cái lý thú của mạch thơ
Hơn nữa, ý thơ này còn là tiền đề cho ý thơ kết: "Ta, sau ba trăm năm nàng mất, nhỏ lệ thương nàng, thì không biết ba trăm năm nữa (tử hậu của ta) có ai còn nhỏ lệkhóc ta không!" Chủ từ của "thương" không thể là Tiểu Thanh mà phải là ta, Nguyễn Du "Tử hậu" chiếu xuống "dư niên hậu" cho thấy nỗi tủi thân thấm thía của người tài tử Nguyễn Du Cũng không nên coi đây là tài tung hứng trên dưới của bút pháp mà nên hiểu đây là mạch cảm xúc chính của bài Thấy người mà ngẫm đến ta, rất lôgic
Cái lụy văn chương - Nguyễn Du hẳn biết nhiều những "ngục văn tự" của tiền nhân Có bất ngờ chăng là cái lụy ấy lại rơi vào thân phận một cô gái làm lẽ, văn chương rất nghiệp dư này Cái nỗi hận ấy của Tiểu Thanh, mà nào có riêng Tiểu Thanh, Nguyễn Du từng chứng kiến bao liên và lụy khi Gia Long trả thù Tây Sơn trong đó có việc đốt xóa đục đẽo bằng hết mọi văn tự có dính dáng đến Tây Sơn,
và hành hạ tác giả…Oán hận ngút trời! "Cổ kim hận sự thiên nan vấn" Cái nỗi hậnxưa có, nay cũng có ấy, có ngửa mặt kêu trời mà hỏi, trời cũng ú ớ, khó hỏi lắm:
"thiên nan vấn"
Như vậy, dù không dịch hay và sát nghĩa – hai điều kiện khó bài thơ dịch nào từ nguyên tác chữ Hán có thể đạt được nhưng bản dịch của VTT đã lột tả cơ bản tinh thần của tác phẩm: cảm xúc, suy tư của ND về số phận bất hạnh của người phụ nữ
có tài văn chương tr xhpk Điều đó cũng nói lên 1 phương diện quan trọng trong chủ nghĩa nhân đạo của ND: xót xa cho những giá trị tinh thần bị chà đạp
Trang 204 Triết lí Trương Hán Siêu về chiến công lịch sử trong Bạch Đằng Giang phú:
Bạch Đằng Giang phú là tác phẩm ko chỉ nổi tiếng ở thời Trần mà còn là một trongnhững bài phú viết bằng chữ Hán hay vào bậc nhất nc ta thời trung đại, đó là cả hoài niệm và suy ngẫm của Trương Hán Siêu về chiến công lịch sử trên sông Bạch
Đằng Tình yêu thiên nhiên, cảnh vật non sông gấm vóc quê hương vốn không
phải là một đề tài mới mẻ Cũng viết về cảnh sắc của thiên nhiên đất trời, nhà thơ Trương Hán Siêu đã thể hiện tình yêu cũng như niềm tự hào trước vẻ đẹp của đất nước, mà đối tượng ở đây là con sông lịch sử, con sông hào hùng của dân tộc Việt Nam, con sông Bạch Đằng Bên cạnh đó, còn là triết lí của THS về chiến công lịch sử:
Trả lời:
"Bạch Đằng Giang phú" là một kiệt tác trong văn chương cổ Việt Nam Về mặt nghệ thuật, đây là tác phẩm thể hiện đỉnh cao của tài hoa viết phú Về nội dung tư tưởng, Bạch Đằng Giang phú là áng văn tràn đầy lòng yêu nước, tráng chí chất ngất, cùng tinh thần tự hào dân tộc khi kể lại chiến tích lừng lẫy trên con sông Bạch Đằng và bài thơ còn hàm chứa một triết lý lịch sử sâu sắc khi nhìn nhận nguyên nhân thành công của dân tộc trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước
- Triết lí suy nghiệm về người anh hùng, nhân tài, hào kiệt, địa linh nhân kiệt được toát lên qua lời đối đáp của nhân vật khách và các bô lão, có nhiều người có thể là chứng nhân trận Bạch Đằng oanh liệt sau một câu hồi tưởng
về trận “Ngô chúa phá Hoằng Thao”, các bô lão kể với khách về chiến tích
“trùng hưng nhị thánh bắt Ô Mã” lời kể theo trình tự diễn biến tình hình ngay từ đầu, ta xuất quân với khí thế hào hùng: “tì hổ ba quân, giáo gươm sáng chói”, giặc cũng ra oai “tưởng tung roi một lần, quét sạch Nam Bang bốn cõi” Tiếp đến trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt “thư hùng chửa phân”, nhưng rồi ta với ý chí quật cường, tinh thần yêu nước và sự chính nghĩa đã thắng lại quân thù hung bạo “hung đồ hết lối”, chuốc nhục muôn đời:
“Đến nay nước sông tuy chảy hoài
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi”
Sau lời kể của các bô lão là lời suy ngẫm bình luận về nguyên nhân thắng lợi của chiến thắng ta thắng vì đất nước ta tồn tại từ ngàn xưa, trời lại cho thế hiểm,
nhưng điều quyết định là ta có “nhân tài giữ cuộc điện an”:
“kìa trận Bạch đằng mà đại thắng
Trang 21Bởi Đại Vương coi thế giặc nhàn”.
Khẳng định vai trò, vị trí của con người Trương Hán Siêu đã gợi lên hình ảnh TrầnHưng Đạo với câu nói lưu danh sử sách, đó là khi vua hỏi “giặc đến thì làm thế nào?”, Hưng Đạo ung dung trả lời: “năm nay thế giặc dễ đánh” (thiên kim, tặc nhàn) Câu nối thể hiện đây là người đã nắm rõ binh pháp, từ đây thấy rõ vai trò của con người theo binh pháp cổ, muốn thắng trong chiến tranh cần phải có ba yếutố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa Nhưng bài phú chỉ nói tới hai yếu tố là địa lợi (đất hiểm) và nhân hòa (con người) tuy nhiên thắng giặc không cốt ở đất hiểm mà chủ yếu là đức lớn mà là sức mạnh của con người khẳng định sức mạnh và vị trí của con người đó là cảm hứng nhân văn và triết lí sâu sắc Sau những suy ngẫm, bình luận là lời ca như lời tổng kết của các bô lão như một tuyên ngôn chân lí: bất nghĩa(Lưu Cung) thì tiêu vong, anh hùng (Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo) thì lưu danh thiên cổ:
“Những người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn thu chỉ có anh hùng tiêu vong”
ở lời ca của khách tiếp nói các bô lão ca ngợi “hai vị thánh quân” (Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông), đồng thời ca ngợi chiến thắng nhiều lần trên sông Bạch Đằng đem lại nền hòa bình cho dân tộc
“anh minh hai vị thánh quân,
sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh
giặc tan muôn thủa thanh bình,
bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao.”
Hai câu cuối lời ca, khách vừa biện luận vừa khẳng định chân lí: trong mối quan hệgiữa địa linh (đất thiêng) và nhân kiệt (người giỏi) thì nhân kiệt là yếu tố quyết định Ta thắng giặc không chỉ ở “đất hiểm” mà cái quan trọng hơn là dân tộc ta có (đức cao), “đức lành” Khẳng định “địa linh” bởi “nhân kiệt”, nêu cao vai trò và vị trí của con người điều này phản biện lại quan niện truyền thống, lời ca kết thúc bài phú vừa mang niềm tự hào dân tộc vừa mang giá trị nhân văn sâu sắc
Từ đây tác giả đã thể hiện quan điển và triết lí của mình về nguyên nhân thắng lợi và để lại bài học giữ nước sâu sắc cho thế hệ sau
Như vậy, Kết thúc bài phú là phần bình luận của khách với các bô lão về Sông Bạch Đằng, về đất nx và con người Đại Việt Sông Bạch Đằng đã trở
Trang 22thành mồ chôn lũ giặc, là tấm gương thanh lọc phán xét công minh hiền hậu
vs chân lí ngàn đời: những kẻ bất nghĩa như Lưu Cung thì tiêu vong còn những người anh hùng như Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo sẽ được lưu danh tiếng thơm muôn thưở đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ nước: “bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao” Nói như vậy, tác giả muốn khằng định nhân tố quan trọng làm nên chiến thắng là đức độ của người lãnhđạo, là yêu nước thương dân, là tinh thần đoàn kết và cảnh giác trước giặc ngoài Điều này đã nâng ý nghĩa nhân văn của tác phẩm lên tầng sâu sắc vàkhái quát hơn Lời ca của khách đã khép lại bài phú đồng thời ngợi ca hào khí Đông A, gợi lại không khí hào hùng của âm hưởng cuộc chiến Qua nhânvật khách tác giả thể hiện niềm tự hào tự tôn dân tộc rất sâu sắc Hơn thế nữa, bài phúcòn gửi gắm nhiều quan niệm nhân sinh và triết lí tích cực rất cần thiết trog cuộc sống con người Quả là áng văn hay sang mãi đến muôn đời!
CÂU 5Đ: Chỉ ra những đặc trưng của VHTĐ qua các tp sau:
1) Bình Ngô Đại cáo- NG Trãi
2)Bạch đằng giang phú- THS
3)Chinh phụ ngâm- Đoàn Thị Điểm
4) Đoạn trích: Trao duyên (trong tác phẩm Đoạn tr Tân Thanh) của Nguyễn Du
5) Tác phẩm Tự Tình (bài II) của Hồ Xuân Hương
6) Tác phẩm Thương vợ - Trần Tế Xương
Trả lời:
Câu 1: Bình ngô đại cáo
Sau khi quân ta đại thắng, tiêu diệt và làm tan rã mười lăm vạn viện binh của giặc Minh, tướng giặc Vương Thông buộc phải giảng hoà, chấp nhận rútquân về nước Cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, chấm dứt hai mươi năm thảm khốc dưới ách đô hộ của giặc Minh,
mở ra kỉ nguyên hoà bình lâu dài cho dân tộc Nguyễn Trãi thừa lệnh chủ soái Lê Lợi viết Đại cáo bình Ngô Đây là một bản tổng kết về cuộc khảng chiến vĩ đại để báo cáo rộng rãi cho toàn dân được biết Đại cáo bình Ngô được coi là "bản tuyên ngôn độc lập thứ hai" sau Thơ Thần của Lí Thường Kiệt, xứng đảng là áng "thiên cổ hùng văn" trong lịch sử văn chương nước
ta Đặc biệt, đây là tác phẩm thể hiện rất rõ các đặc trưng cơ bản của văn họctrung đại
1 Văn tự
Trang 23- Tác phẩm được sáng tác bằng chữ hán(phù hợp với thể Cáo: có tính chất sang trọng, khái quát hoài cổ-> các tp vch bằng chữ Hán đc sd trong tpvh chức năng thực thi các Công việc hành chính quốc gia, nghi lễ tôn giáo, tập trung vào những nội dung có tính chất triết lí những vấn đề có tính chất khái quát lớn -> ĐCBN có ý nghĩa trọng đại của 1 bản tuyên ngôn độc lập , sau khi quân ta đại thắng, bản tuyên ngôn đc công bố rộng khắp về việc dẹp yên giặc Ngô(giặc Minh xâm lược)) Đây là 1 trong những văn tự chính của văn chương trung đại Đặc điểm này khác với văn chương hiện đại: sáng tác bằng chữ quốc ngữ Chữ Hán có nhưng ít ỏi trong khi Trung Đại là chính, trọng tâm.
2 Thể loại
- Tác phẩm được viết theo thể cáo
+ Cáo là thể văn nghị luận có từ thời cổ ở Trung Quốc, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng biết
+ Trong thể cáo, có loại văn cáo thường ngày như chiếu sách của vua truyềnxuống về một vấn đề nào đó, có loại văn đại cáo mang ý nghĩa một sự kiện trọng đại, có tính chất quốc gia
Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết “BNĐC “ để tuyên ngôn 1 sự kiện : chiếnthắng giặc Minh quân ta giành độc lập để mọi ng cùng biết -> mang ý nghĩa
1 sự kiện trọng đại, có tính chất quốc gia
+ Cáo có thể được viết bằng văn xuôi hay văn vần nhưng phần nhiều được viết bằng văn biền ngẫu, không có vần hoặc có vần, thường có đối, câu dài ngắn không gò bó, mỗi cặp hai vế đối nhau
Bài đại cáo này đc viết theo lối văn biền ngẫu, có vận dụng thể tứ lục (từng cặp câu, mỗi câu mười chữ ngắt theo nhịp 4/6), hình tượng nghệ thuật sinh động, ngợi cảm
+ Cáo là thể văn hùng biện, do đó lời lẽ phải đanh thép, lí luận phải sắc bén,kết cấu phải chặt chẽ, mạch lạc
Lời lẽ:tác giả vạch trần âm mưu xâm lược, sau đó lên án chủ trương cai trị
thâm độc và cuối cùng là tố cáo mạnh mẽ những hành động tội ác của giặc Minh:
Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
Để trong nước lòng dân oán giận.
Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,
Bọn gian tà bán nước cầu vinh.
Trang 24Để diễn tả tội ác chất chổng của giặc và khối căm hờn sôi sục của nhân dân
ta, Nguyễn Trãi đã kết thúc bản cáo trạng bằng hai câu văn mang ý nghĩa khái quát rất cao:
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.
Tác giả đã lấy cái vô hạn (trúc Nam Sơn) để so sánh với cái vô hạn (tội ác của giặc), dùng cái vô cùng (nước Đông Hải) để nói cái vô cùng (sự dơ bẩn của kẻ thù) Câu văn đầy hình tượng ấy đã giúp chúng ta cảm nhận sâu sắc tội ác của giặc Minh xâm lược Dân tộc ta chỉ còn con đường duy nhất là đứng lên hành động:
Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần nhân chịu được?
Lời văn trong bản cáo trạng vừa hùng hồn, vừa thống thiết Khi thì uất hận trào sôi, khi thì cảm thương da diết; lúc muốn thét thật to, lúc nghẹn ngào, cam tức
Lí luận: So với bài Thơ Thần của Lí Thường Kiệt thì Đại cáo binh Ngô
thực sự là một bước tiến dài của Nguyễn Trãi trong việc hoàn chỉnh khái niệm vể quốc gia và dân tộc Đại Việt là một đất nước có cương vực, ranh giới rõ ràng (Tiệt nhiên định phận tại thiên thư - Thơ Thần), từ lâu đời đã song song tổn tại cùng các quốc gia phương Bắc Phong tục tập quán cũng khác hẳn phương Bắc Các triều đại vua Nam xưng đế, hùng cứ một phương,chứ không phải là chư hầu Truyền thống văn hiến có tự ngàn năm củng với hào kiệt đời nào cũng có đã khẳng định Đại Việt là quốc gia cỏ phủ quyển độc lập, tự do chủ quyển của quốc gia Đại Việt là một chân lí tất nhiên, không có bạo lực nào xâm phạm nổi- Tác giả đã chứng minh cho đạo lí nhânnghĩa bằng chính những chứng cứ còn trong lịch sử:
Vậy nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại,
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong.
Của Hàm Tử bất sổng Toa Đô,
Sông Bạch Đàng giết tươi Ô Mã.
Việc xưa xem xét,
Chứng cớ còn ghi.
Sự thất bại thảm hại của Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã Nhi được tác giả đưa ra
để nhấn mạnh ý: những thế lực phi nghĩa ắt phải tiêu vong, đổng thời khẳng định chiến thắng luôn đứng vể phía những người đấu tranh cho chính nghĩa Cách lập luận của Nguyễn Trãi trong đoạn này thật hùng hồn và sắc sảo.Kết cấu:
Trang 25Phần 1: Từ đầu đến Chứng cứ còn ghi :Nêu luận đề chính nghĩa: Khẳng
định tư tưởng nhân nghĩa và chân lý về chủ quyền độc lập của quốc gia Đại Việt
Phần 2: Từ Vừa rồi đến chịu đc : Tố cáo và kết án tội ác tày trời của giặc
Minh
Phần 3: Từ Ta đây đến Cũng là chưa thấy xưa nay: Kể lại quá trình chinh
phạt gian khổ và tất thắng của cuộc khởi nghĩa
Phần 4: Phần còn lại: Khẳng định ý nghĩa to lớn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và lời tuyên bố hoà bình
=> đến thời hiện đại thể loại này không được dùng trong sáng tác nữa
3 Nội dung
*Thiên về tính chất mang tính quốc gia, đại sự: Tác phẩm là lời tuyên bố
đanh thép về độc lập chủ quyền của quốc gia Đại Việt sau thắng lợi của cuộckhởi nghĩa Lam Sơn
- Sau khi nghĩa quân Lam Sơn tiêu diệt và làm tan rã mười lăm vạn viện binh của quân Minh, cuộc kháng chiến của quân dân Đại Việt đã hoàn toàn thắng lợi, chấm dứt hai mươi năm ròng rã phải chịu đựng thảm khốc dưới ách cai trị tàn bạo của quân xâm lược
Thừa lệnh của chủ soái Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã viết Đại cáo bình Ngô đổ tổng kế cuộc kháng chiến vĩ đại, báo cáo rộng rãi cho toàn thể nhân dân được biết
- Nguyên lí chính nghĩa của Nguyễn Trãi:
+ Bài cáo mở đầu bằng nguyên lí chính nghĩa dựa trên nền tảng là tư tưởngthần dân mà Nguyễn Trãi rất coi trọng:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
+ Nhân nghĩa là mối quan hệ giữa con người với con người được xây dựng trên nền tảng tình thương và đạo lí Theo Nguyễn Trãi, trước hết muốn yên dân thì phải lo trừ bạo để cho dân được sống thanh bình, hạnh phúc Cứu nước tức cứu dân bởi nước với dân là một
+ Tư tưởng nhân nghĩa gắn liền với sự nghiệp chống xâm lược Phân định rạch ròi ta là chính nghĩa, giặc là phi nghĩa Chiến đấu chống xâm lược là phù hợp với đạo lí nhân nghĩa
+ Bằng giọng văn hào hùng, Nguyễn Trãi đã thể hiện lòng tự hào, tự tôn
về truyền thống văn hiến lâu đời của dân tộc ta Quốc gia Đại Việt có cương vực, ranh giới rõ ràng, có phong tục tập quán riêng, từ lâu đời đã tồn tại songsong với các quốc gia phương Bắc
Như nước Đại Việt…
…… Cũng khác